Trong giờ học văn, GV cần cung cấp kiến thức theo mục tiêu bài dạy thông qua một số phương pháp, kĩ thuật dạy học cụ thể. Từ đó khắc sâu, mở rộng, nâng cao kiến thức cho HS nhằm đáp ứng từng mức độ nhận thức, khêu gợi sự hứng thú trong học tập, làm cho tiết học sôi nổi hơn, giúp cho các em chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức. Hơn nữa trong các tiết ôn tập – tiết học có vai trò hệ thống hóa kiến thức thì việc sử dụng SĐTD càng cần thiết đem lại không chỉ hiệu quả cao cho bài học mà sẽ tạo hứng thú cho HS.Đó chính là mục đích để GV vận dụng SĐTD nhằm hỗ trợ cho công tác giảng dạy các tiết học ôn tập
Trang 1SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY TIẾT ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN LỚP 8 - 9 Ở
TRƯỜNG THCS
I.PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Văn học cũng như bất cứ môn học nào khác ở nhà trường đều cung cấp kiến thức khoa học, hình thành thế giới quan khoa học cho HS và đóng góp vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy người học.Hơn nữa bộ môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong nhà trường phổ thông Ngoài là môn học công cụ, môn ngữ văn giúp các em hình thành nhân cách con người hướng đến giá trị cao đẹp: Chân – Thiện – Mỹ
Trong quá trình giảng dạy, người thầy luôn phải đặt ra cái đích, đó là giúp HS nắm vững kiến thức cơ bản, hình thành phương pháp, kỹ năng, kỹ xảo, tạo thái độ và động
cơ học tập đúng đắn Để từ đó HS có khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh những nội dung kiến thức mới theo xu thế của thời đại và giải quyết phù hợp các vấn đề nảy sinh
Trong quá trình giảng dạy bộ môn Ngữ văn ở trường THCS Mạo Khê I, tôi nhận thấy rằng hiện nay nhiều học sinh chưa biết cách học, cách ghi kiến thức vào bộ não
mà chỉ học thuộc lòng, học vẹt, thuộc một cách máy móc, thuộc nhưng không nhớ được kiến thức trọng tâm, không nắm được “sự kiện nổi bật” trong tài liệu đó, hoặc không biết liên tưởng, liên kết các kiến thức có liên quan với nhau
Để nâng cao chất lượng dạy học, cần phải đổi mới phương pháp dạy học các môn học ở trường phổ thông nói chung và môn Ngữ văn nói riêng Công nghệ thông tin được ứng dụng vào môn Ngữ văn đã góp phần cải thiện sự nhàm chán và gây hứng thú học tập bộ môn cho HS Để đa dạng hóa các hình thức dạy học, để khắc sâu kiến thức trong bộ não một cách lôgic mà lại phát huy được khả năng tiềm ẩn trong bộ não của HS, trong quá trình giảng dạy của mình, đặc biệt là ở các tiết ôn tập tôi thường hướng dẫn HS ghi nhớ bài học dưới dạng từ khóa và chuyển cách ghi bài truyền thống
Trang 2sang phương pháp ghi bài bằng BĐTD Tôi nhận thấy phương pháp này là thực sự cần thiết nhằm giúp HS rút ngắn thời gian học, giúp các em dễ nhớ, nhớ lâu, dễ dàng hệ thống hoá kiến thức với lượng lớn, đồng thời phát triển tư duy cho các em Đặc biệt
hơn nữa là trong tiết Ôn tập Ngữ văn thì sử dụng KTDH bằng sơ đồ tư duy thực sự rất
hiệu quả Bởi Ôn tập là một tiết học hệ thống hóa kiến thức của một giai đoạn văn học, thể loại văn học, nhóm kiến thức về tiếng Việt, các kiểu bài trong môn Tập làm văn của từng phân môn Vì vậy, tôi đã đưa phương pháp dạy học bằng Bản đồ tư
duy vào áp dụng cho các tiết học Ôn tập trong chương trình môn Ngữ văn lớp 8 và lớp
9
2 Mục đích nghiên cứu:
Trong giờ học văn, GV cần cung cấp kiến thức theo mục tiêu bài dạy thông qua một
số phương pháp, kĩ thuật dạy học cụ thể Từ đó khắc sâu, mở rộng, nâng cao kiến thức cho HS nhằm đáp ứng từng mức độ nhận thức, khêu gợi sự hứng thú trong học tập, làm cho tiết học sôi nổi hơn, giúp cho các em chủ động trong việc lĩnh hội kiến thức Hơn nữa trong các tiết ôn tập – tiết học có vai trò hệ thống hóa kiến thức thì việc sử dụng SĐTD càng cần thiết đem lại không chỉ hiệu quả cao cho bài học mà sẽ tạo hứng thú cho HS.Đó chính là mục đích để GV vận dụng SĐTD nhằm hỗ trợ cho công tác giảng dạy các tiết học ôn tập
3 Thời gian và địa điểm:
- Thời gian: Năm học 2013 – 2014
- Địa điểm: tại trường THCS Mạo Khê I
- Đối tượng: học sinh lớp 8 – 9
4 Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác
Trang 3nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
BĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng (các nhánh) Có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì thực sự rất hiệu quả, giúp phát triển năng lực tư duy cho HS, giúp các em nhớ lâu và nắm chắc kiến thức một cách có hệ thống
II PHẦN néi dung nghiªn cøu
Chương I: Tæng quan
Từ lâu các nhà sư ph mạ ti nề b iố ãđ t ngừ tâm c:đắ tri th cứ c aủ tu iổ trẻ là di nệ m oạ
c aủ tđấ n cướ trong t ngươ lai.Từ nh ngữ n mă 60 c aủ thế kỉ tr cướ ngđồ chí Ph mạ V nă Đ
ng
ồ ãđ t ngừ c nă d nặ th yầ giáo ph i:ả “ gõ vào trí thông minh” c aủ h cọ sinh, giáo
d cụ là àođ t oạ h cọ sinh thành nh ngữ thế hệ thông minh sáng t o.ạ Sự thông minh
sáng t oạ ph iả xu tấ phát từ nh ngữ hi uể bi tế r ngộ l n,ớ nó t oạ cho n nề t ngả tư duy
c
đượ v ngữ vàng h n.ơ Ph iả hi uể r ng,ộ bi tế nhi uề m iớ có thể chuyên sâu, m i“ớ làm
c
đượ cu cộ tr ngườ chinh v nạ d mặ trên conđườ h cng ọ v n”.ấ Mu nố đượ như v y,c ậ
thì ngay hôm nay, ngườ th yi ầ giáo ph iả tích c c,ự chủ ngđộ v nậ d ngụ
nh ngữ thành t uự d yạ h cọ tiên ti nế c aủ loài ng iườ vào gi ngả d yạ cho h cọ sinh, trong óđ
sơ đồ tư duy là m tộ cách d yạ h cọ m iớ d aự trên cơ sở sơ đồ hóa ki nế th cứ mà từ
trướ ncđế nay chúng ta v nẫ v nậ d ngụ để phân t ngầ ki nế th c,ứ hệ th ngố chu iỗ sự
Trang 4ki nệ ho cặ thi tế l pậ bi uể b ngả ôn t pậ t ng k t….ổ ế Với phạm vi bài viết này tôi xin trao
đổi với các đồng nghiệp cách sử dụng bản đồ tư duy nhằm phát huy tính tích cực của
HS trong dạy học môn Ngữ văn lớp 9 qua các tiết Ôn tập
1 Cơ sở lý luận:
Bản đồ tư duy do Tony Buzan là người đầu tiên nghiên cứu tìm ra hoạt động của não bộ và ứng dụng vào cuộc sống Bản đồ tư duy ( còn gọi là sơ đồ tư duy hay lược
đồ tư duy ) là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực
Theo các nhà nghiên cứu, thông thường ở trường phổ thông, HS mới chỉ sử dụng bán cầu não trái ( thông qua chữ viết, kí tự, chữ số, ) để tiếp thu và ghi nhớ kiến thức
mà chưa sử dụng bán cầu não phải ( nơi ghi nhớ thông tin kiến thức thông qua hình ảnh, màu sắc ) tức là mới chỉ sử dụng 50% khả năng của não bộ Kiểu ghi chép của BĐTD thể hiện bằng hình ảnh, đường nét, màu sắc được trải theo các hướng không có tính tuần tự và có độ thoáng nên dễ bổ sung và phát triển ý tưởng Vì vậy, việc sử dụng BĐTD là một công cụ hữu ích cả trong giảng dạy của giáo viên và trong học tập của HS
Bản đồ tư duy có những ưu điểm sau :
- Lôgic, mạch lạc
- Trực quan, dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ
- Nhìn thấy “bức tranh tổng thể mà lại chi tiết”
- Dễ dạy, dễ học
- Kích thích hứng thú học tập và sáng tạo của học sinh
- Giúp mở rộng ý tưởng, đào sâu kiến thức
- Giúp hệ thống hóa kiến thức, ôn tập kiến thức
- Giúp ghi nhớ nhanh , nhớ sâu, nhớ lâu kiến thức
- Giúp phân tích, so sánh, tổng hợp năm được tính chất hoá học của từng loại hợp chất So sánh được tính chất hoá học khác nhau của các chất trong cùng loại họp chất
Trang 5Điểm mạnh nhất của BĐTD là giúp phát triển ý tưởng và không bỏ sót ý tưởng, từ
đó phát triển óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo
Với những ưu điểm trên, có thể vận dụng BĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập, hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi học kì, cũng như giúp lập kế hoạch học tập, công tác sao cho hiệu quả nhất mà lại mất ít thời gian
2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Để góp phần tạo nên sự chuyển biến trong dạy học bộ môn, đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội, để phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, phương pháp dạy học sử dụng sơ đồ tư duy tỏ ra có ưu thế Mỗi bài học chứa đựng một số vấn đề
cơ bản của , bằng sự hiểu biết của mình, giáo viên nêu vấn đề, tổ chức cho học sinh giải quyết bằng cách sáng tạo thành sơ đồ tư duy nhằm phát huy tính tích cực và huy động bộ não các em làm việc hết công suất cho mỗi bài học, sẽ không còn tình trạng học sinh ngồi im thụ động chỉ có vài em được phát biểu và làm việc với giáo viên trong tiết học
Phương tiện dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phong phú và được
sử dụng đạt hiệu quả cao Nếu biết khai thác tốt sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá trình giảng dạy các tiết ôn tập Cùng với sự kết hợp các phương pháp, phương tiện trực quan và kỹ thuật sẽ góp phần ghi nhớ và hiểu sâu, hiểu mạch lạc kiến thức có hiệu quả Việc sử dụng sơ đồ tư duy cùng phương tiện trực quan và
kỹ thuật đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư công sức và trí tuệ cho bài giảng Rõ ràng làm tốt công việc này sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các tiết hệ thống hóa kiến thức
Trước đây, các tiết ôn tập chương một số GV cũng đã lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, biểu đồ,… và cả lớp có chung cách trình bày giống như cách của GV hoặc của tài liệu, chứ không phải do HS tự xây dựng theo cách hiểu của mình, hơn nữa, các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét Gần đây, sau một số đợt tập
Trang 6huấn của Dự án THCS II, nhiều GV đã áp dụng thành công dạy học với việc thiết kế BĐTD Có thể kể đến một số trường tham gia dự án THCS II sau khi được tập huấn
về đổi mới PPDH (trong đó có nội dung thiết kế, sử dụng BĐTD) đã triển khai và bước đầu tạo một không khí sôi nổi, hào hứng của cả thầy và trò trong các sinh hoạt ở
tổ chuyên môn cũng như hoạt động dạy học của nhà trường, là một trong những nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” mà Bộ GD&ĐT đang đẩy mạnh triển khai
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN.
1.1 Thuận lợi khi thực hiện đề tài SKKN
Năm học 2011 – 2012 Bộ Giáo dục và Đào tạo giảm tải nội dung sách giáo khoa tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc dạy và học hơn những năm qua
Từ 3 năm học gần đây trường THCS Mạo Khê I được trang bị máy chiếu và máy tính để bàn, mỗi tổ chuyên môn có một máy tình xách tay để giáo viên giảng dạy tại lớp Đặc biệt trong kì II năm học 2013 – 2014 nhà trường đã nối mạng Internet lên tận các phòng học Vì vậy mỗi giáo viên chỉ cầng dùng một USB ghi nội dung bài dạy hay trực tiếp gửi bài và sử dụng qua mạng và đến lớp là có thể sử dụng CNTT ngay trong tiêt dạy tại lớp Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh khi áp dụng phương pháp giảng dạy mới sử dụng sơ đồ tư duy
Một số phần mềm sơ đồ tư duy được phổ biến rộng rãi nên đã hỗ trợ cho giáo viên và học sinh khi trình bày sơ đồ tư duy trên máy chiếu
1.2 Khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN
Trong quá trình dạy học, chúng ta vẫn thường sử dụng các mô hình, sơ đồ, biểu đồ để cô đọng, khái quát kiến thức cho học sinh, nhất là ở những bài tổng kết các chương, các phần của môn học hay các bài ôn tập Cách làm này có thể nói đã đem lại những hiệu quả thiết thực nhất định trong việc ôn tập, củng cố, hệ thống kiến thức cho học sinh bởi cách trình bày gọn, rõ, lô-gic Thế nhưng, bên cạnh những ưu điểm ấy,
Trang 7cách làm này vẫn còn những hạn chế nhất định, bởi trước hết là cả lớp cùng có chung
cách trình bày giống như cách của giáo viên hoặc của tài liệu, chứ không phải do học sinh tự xây dựng theo cách hiểu của mình Các bảng biểu đó chưa chú ý đến hình ảnh, màu sắc và đường nét Cách làm này chưa thật sự phát huy được tư duy sáng tạo, chưa thật sự kích thích, lôi cuốn được các em trong việc tích cực, chủ động tìm tòi, phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức của bài học Hơn nữa, phạm vi sử dụng hẹp vì chúng ta chỉ sử dụng chúng trong một số tiết dạy có tính chất tổng kết các chương, các phần, các mảng kiến thức của môn học hay các bài ôn tập mà thôi chứ chúng không được sử dụng đại trà cho tất cả các bài học, các giờ lên lớp cũng như các khâu của tiến trình bài dạy
Trong thời gian gần đây, chúng ta đã bước đầu được tiếp cận với những phương pháp, kĩ thuật dạy học mới Trong đó có việc sử dụng SĐTD Có thể nói, đây là một bước tiến đáng kể trong việc đổi mới PPDH hiện nay khi mà khoa học công nghệ phát triển như huyền thoại, nhất là sự bùng nổ của ngành Công nghệ thông tin Việc sử dụng SĐTD thay thế cho những mô hình, sơ đồ, biểu đồ đã lạc hậu, lỗi thời để khái quát, cô đọng kiến thức cho học sinh là một sự tất yếu, bởi SĐTD có rất nhiều điểm
ưu việt hơn Do đó, việc ứng dụng SĐTD vào trong quá trình dạy học môn Ngữ văn không chỉ lôi cuốn sự hứng thú, làm “sống lại” niềm đam mê, yêu thích môn học ở các em học sinh mà còn làm dấy lên một “phong trào” đưa SĐTD vào bài giảng ở giáo viên
Tuy nhiên, hiện nay, việc đưa Sơ đồ tư duy vào ứng dụng trong quá trình dạy học đối với môn học Ngữ văn còn là vấn đề gặp không ít khó khăn, trở ngại đối với giáo viên, cụ thể như trong việc tổ chức, thiết kế các hoạt động dạy học với việc sử dụng SĐTD Qua dự giờ, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn đối với các đồng nghiệp trong tổ, trong trường, tôi nhận thấy, hầu hết giáo viên mới chỉ dừng lại ở việc sử dụng SĐTD để hệ thống hóa kiến thức sau mỗi bài học, một mảng kiến thức nào đó mà thôi Họ chưa mạnh dạn đưa Sơ đồ tư duy vào các tiết ôn tập
cụ thể Họ chưa phát huy được tính phổ biến và đa năng của Sơ đồ tư duy Do đó,
Trang 8chưa phát huy một cách đầy đủ công dụng của SĐTD trong quá trình dạy học môn Ngữ văn
2 Các giải pháp thực hiện
2.1 Giáo viên tự bồi dưỡng nâng cao nhận thức :
Để có được một tiết dạy ôn tập đạt hiệu quả cao khi sử dụng các kĩ thuật dạy học
tích cực thì trước hết GV cần nắm vững kĩ thuật Sơ đồ tư duy về khái niệm, cấu tạo, các bước thiết kế, quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp và những tiện ích:
a Khái niệm:
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind Map) là PPDH chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Đặc biệt, đây là một dạng sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồ địa lí, các em có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi em có thể vẽ một kiểu khác nhau, dùng những màu sắc, hình ảnh, chữ viết và các cụm từ diễn đạt khác nhau, Tuy cùng một chủ đề nhưng mỗi em có thể “thể hiện” nó dưới dạng Sơ đồ tư duy theo cách riêng của mình Do đó, việc lập Sơ đồ tư duy phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
b Cấu tạo:
Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề
Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm rõ chủ đề
Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ý chính
Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâm thì
ý càng cụ thể, chi tiết Có thể nói, SĐTD là một bức tranh tổng thể, một mạng lưới tổ
Trang 9chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một đơn vị kiến thức nào đó
Ảnh minh họa cấu tạo Sơ đồ tư duy
c Các bước thiết kế một SĐTD:
Để thiết kế một SĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy , hay trên phần mềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:
Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình ảnh minh
họa cho chủ đề - nếu hình dung được)
Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ chủ đề, thì
ta đưa ra những ý chính nào Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt tiêu đề các nhánh chính, nối chúng với trung tâm
Trang 10Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm rõ mỗi ý
chính ấy Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính Cứ thế ta triển khai thành mạng lưới liên kết chặt chẽ
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý, tạo tác
động trực quan, dễ nhớ
*Lưu ý:
Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ các nhánh con
Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu hút sự chú ý của mắt, như vậy SĐTD sẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn
Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn
Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ đồng thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ
Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nên dùng các
từ, cụm từ một cách ngắn gọn
Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần thiết góp phần làm rõ các ý, chủ đề
Có thể đánh số thứ tự ở các ý chính cùng cấp
Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết, tô màu
Không vẽ quá chi tiết, cũng không vẽ quá sơ sài
Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình
d Quy trình tổ chức hoạt động vẽ SĐTD trên lớp:
Hoạt động 1: Cho học sinh lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân thông qua gợi ý
của giáo viên
Hoạt động 2: Học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết
minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập