Từ đặc tính nước thải ngành chăn nuôi và thực tế các công nghệ đã áp dụng để xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí (biogas), công nghệ SBR (các quá trình xử lý chất hữu cơ và nitơ được thực hiện trong một bể) dễ dàng đáp ứng các yêu cầu của xử lý nước thải chăn nuôi. Đề tài “Nghiên cứu xử nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí bằng phương pháp SBR tại trung tâm thực hành thực nghiệm Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên” được thực hiện nhằm mục đích tìm ra khả năng ứng dụng của phương pháp SBR trong nỗ lực đảm bảo nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
MÃ SỐ: TN 2012 - 82
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI LỢN SAU QUÁ
TRÌNH XỬ LÝ YẾM KHÍ BẰNG PHƯƠNG PHÁP SBR TẠI TRUNG TÂM THỰC HÀNH THỰC NGHIỆM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI: ĐẶNG THỊ HỒNG PHƯƠNG
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM KHOA TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
MÃ SỐ: TN 2012 - 82
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHĂN NUÔI LỢN SAU QUÁ
TRÌNH XỬ LÝ YẾM KHÍ BẰNG PHƯƠNG PHÁP SBR TẠI TRUNG TÂM THỰC HÀNH THỰC NGHIỆM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
Chủ trì đề tài: ĐẶNG THỊ HỒNG PHƯƠNG Thời gian thực hiện: 1/2012 – 12/2012
Địa điểm nghiên cứu: ĐH Nông lâm Thái Nguyên
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài: “Nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí bằng phương pháp SBR tại trung tâm thực hành thực nghiệm Đại học Nông lâm Thái Nguyên”
Mã số: T2012-82
Chủ nhiệm đề tài: Đặng Thị Hồng Phương
Tel.: 0976177083 E-mail: hongphuong83@gmail.com
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Cơ quan và cá nhân phối hợp thực hiện:
Thời gian thực hiện: 1/2012-1/2013
Trang 4SUMMARY
Project Title: “Research on pig livestock wastewater treatment process
after anaeration treatment by SBR method in the practical center of Thai
Nguyen University of Agriculture and Forestry ”
Code number:
Coordinator: Đặng Thị Hồng Phương
Tel: 0976177083 Email: hongphuong83@gmail.com Implementing Institution: Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry
Trang 5PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi là lĩnh vực gắn liền với cuộc sống của con người Để đáp ứng nhu cầu ăn uống của con người thì lượng thịt để tiêu thụ cũng phải luôn đảm bảo đáp ứng được nhu cầu đó Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, việc phát triển chăn nuôi lợn đã để lại những tác động tiêu cực đến môi trường, làm suy thoái chất lượng đất, chất lượng nước và không khí xung quanh các khu vực nuôi lợn Chất thải chăn nuôi lợn đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh, đến sức khỏe con người và đặc biệt, chúng đóng góp một phần lớn khí gây hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu
Ở Việt Nam, chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn được coi là thế mạnh của ngành nông nghiệp Hiện nay, trong bối cảnh thức ăn chăn nuôi, vật tư chăn nuôi đều tăng, cùng với đó là sức cạnh tranh, vấn đề kiểm soát dịch bệnh nên việc chăn nuôi trong các hộ gia đình có xu hướng giảm trong khi chăn nuôi gia trại, trang trại tăng nhanh và tạo được khả năng cạnh tranh trên thị trường Do vậy, vấn đề chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi lợn cần phải được quản lý tốt Chất thải của các trang trại chăn nuôi lợn với thành phần chủ yếu là phân lợn và nước thải hiện đang là vấn đề lo lắng của các nhà quản lý Hầu hết việc xử lý chất thải của các hộ chăn nuôi là lắp đặt hệ thống
xử lý chất thải Biogas, nhưng hệ thống này chưa đủ công suất đáp ứng nhu cầu xử lý toàn bộ chất thải mà chỉ đạt được 50% - 70% lượng chất thải của trang trại Tuy nhiên, với nhiều trang trại đã có hầm biogas, có hệ thống xử lý chất thải nhưng chất thải chưa được xử lý triệt để [15] Việc sử dụng bể Biogas tại các trại chăn nuôi thuận tiện cho sử dụng chất thải và khai thác nguồn năng lượng nhưng nước thải sau bể Biogas vẫn còn nhiều chất gây ô nhiễm môi trường cần được xử lý trước khi thải vào môi trường
Từ đặc tính nước thải ngành chăn nuôi và thực tế các công nghệ đã áp
Trang 6dụng để xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí (biogas), công nghệ SBR (các quá trình xử lý chất hữu cơ và nitơ được thực hiện trong một bể) dễ dàng đáp ứng các yêu cầu của xử lý nước thải chăn nuôi Đề tài
“Nghiên cứu xử nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí bằng phương pháp SBR tại trung tâm thực hành thực nghiệm Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên” được thực hiện nhằm mục đích tìm ra khả năng ứng
dụng của phương pháp SBR trong nỗ lực đảm bảo nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn môi trường, giảm thiểu ô nhiễm môi trường
1.2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá khả năng loại COD, N trong nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí của công nghệ SBR;
- Nghiên cứu đưa ra chế độ vận hành tối ưu cho hệ thiết bị SBR
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Lắp đặt hệ thí nghiệm xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử
lý yếm khí bằng phương pháp SBR
- Lấy mẫu, phân tích hàm lượng hữu cơ, tổng N, COD, NO3-, NO2-, NH4+ trong nước thải đầu vào và nước thải sau khi qua hệ thống thí nghiệm, đưa ra được hiệu suất xử lý
- Đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất xử lý COD, Nitơ trong nước thải chăn nuôi lợn bằng phương pháp SBR
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học
Kết quả của đề tài là nền móng cho các nghiên cứu tiếp theo về việc xử
lý triệt để các chất hữu cơ, N, P trong nước thải chăn nuôi lợn ở Việt Nam
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài rất có ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài sẽ góp phần đưa
ra mô hình xử lý nước thải chăn nuôi lợn sau quá trình xử lý yếm khí, có thể
phổ cập sử dụng trong các hộ, trang trại chăn nuôi lợn
Trang 7PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO): Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất Chăn nuôi Việt Nam, giống như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăng trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển với tốc độ nhanh, bình quân giai đoạn 2001 - 2006 đạt 8,9%
Trong số các nước thuộc khối Asean, Việt Nam là nước chịu áp lực về đất đai lớn nhất Tốc độ tăng dân số và quá trình đô thị hóa đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp Để đảm bảo an toàn về lương thực và thực phẩm, biện pháp duy nhất là thâm canh chăn nuôi trong đó chăn nuôi lợn là một thành phần quan trọng trong định hướng phát triển
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn phát triển với tốc độ rất nhanh nhưng chủ yếu là tự phát và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật
về chuồng trại và kỹ thuật chăn nuôi Do đó, năng suất chăn nuôi thấp và gây
ô nhiễm môi trường một cách trầm trọng Ô nhiễm môi trường không những ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi, năng suất chăn nuôi mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người và môi trường sống xung quanh Mỗi năm ngành chăn nuôi gia súc gia cầm thải ra khoảng 75 - 85 triệu tấn phân, với phương thức sử dụng phân chuồng không qua xử lý ổn định và nước thải không qua
xử lý xả trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng [3]
Cho đến nay, chưa có một báo cáo nào đánh giá chi tiết và đầy đủ về ô nhiễm môi trường do ngành chăn nuôi gây ra Theo báo cáo tổng kết của Viện Chăn nuôi, hầu hết các hộ chăn nuôi đều để nước thải chảy tự do ra môi trường xung quanh gây mùi hôi thối nồng nặc, đặc biệt là vào những ngày oi bức Nồng độ khí H2S và NH3 cao hơn mức cho phép khoảng 30 - 40 lần Tổng số VSV và bào tử nấm cũng cao hơn mức cho phép rất nhiều lần Ngoài
ra nước thải chăn nuôi còn có chứa COD, coliform, e.coli, v.v., và trứng giun sán cao hơn rất nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép
Khả năng hấp thụ Nitơ và Photpho của gia súc, gia cầm rất kém, nên khi thức ăn có chứa Nitơ và Photpho vào thì chứng sẽ bị bào tiết theo phân và
Trang 8nước tiểu Trong nước thải chăn nuôi thường chứa hàm lượng Nitơ và Photpho rất cao [14]
Theo Jongbloed và Lenis (1992), đối với lợn trưởng thành, khi ăn vào 100g Nitơ thì: 30g giữ lại cơ thể, 50g bài tiết ra ngoài theo nước tiểu dưới dạng ure, còn 20g ở dạng phân Nitơ vi sinh khó phân hủy và an toàn cho môi trường
Nitơ bài tiết ra ngoài theo nước tiểu và phân dưới dạng ure, sau đó ure
sẽ tiết ra enzime ureaza chuyển hóa ure thành NH3, NH3 phát tán vào không khí gây mùi hôi hoặc khuếch tán vào nước làm ô nhiễm nguồn nước Nồng độ NH3 trong nước thải phụ thuộc vào lượng urê trong nước tiểu và pH của nước thải Khi pH tăng, NH4+ sẽ chuyển thành NH3 Ngược lại, khi pH giảm, NH3 chuyển thành NH4+ Hợp chất nitơ bền và không có hậu quả xấu với môi trường là khí N2 Xử lý hợp chất N trong nước thải với mục tiêu cao nhất về phương diện công nghệ là chuyển chúng về dạng khí nitơ
Khả năng loại bỏ N, P qua các quá trình xử lý nước thải:
- Trong quá trình xử lý sơ bộ lắng nồng độ N giảm khoảng 5-10% do hợp chất N được giữ lại ở trong các hợp chất lắng
- Trong quá trình xử lý yếm khí quá trình oxy hóa amoni hầu như không diễn ra chỉ một phần nhỏ tham gia tổng hợp sinh khối Trong quá trình yếm khí chỉ chuyển hóa từ dạng N-hữu cơ về dạng N-vô cơ qua quá trình thủy phân
- Trong quá trình xử lý hiếu khí so với quá trình phân hủy COD thì quá trình oxy hóa N-amoni thành Nitrit và Nitrat diễn ra chậm hơn nhiều Như vậy đối với nước thải chăn nuôi lợn có hàm lượng N, P cao – thành phần N, P luôn dư so với nhu cầu tổng hợp tế bào Vậy cần có quá trình thiếu khí để thực hiện quá trình khử nitrat
Bảng 2.1 Hiệu quả xử lý N bằng các công trình xử lý thông thường
N hữa cơ N-NH 4 + N-NO 3 - Tổng N
Trang 9(Nguồn: Trần Thanh Hải (2009) Giải pháp công nghệ xử lý nước thải
chăn nuôi lợn bằng phương pháp sinh học phù hợp với điều kiện Việt Nam)
Trong quá trình xử lý nước thải luôn tồn tại nhiều chủng loại VSV có khả năng cùng sống trong một môi trường Tỷ lệ của các loại VSV trong quần thể phụ thuộc vào thành phần nước thải Trong cùng điều kiện hiếu khí, tỷ lệ VSV hiếu khí dị dưỡng (oxy hóa Chữa cơ) và loại VSV hiếu khí tự dưỡng (oxy hóa NH4+), tỷ lệ các VSV trên phụ thuộc vào tỷ lệ BOD/N được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 2.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ BOD/T-N đến (%) VSV tự dưỡng trong hệ hiếu khí
(Nguồn: Mecalf & Eddy Wastewater engineering, Treatment, disposal and reuse.)
Cơ sở lý thuyết loại bỏ hợp chất N trong nước thải: Quá trình khử hợp chất N có thể được sơ đồ hóa như sau:
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Nước thải chăn nuôi thuộc loại giàu SS, COD, N, P, vì vậy để xử lý nước thải chăn nuôi kĩ thuật yếm khí luôn là sự lựa chọn đầu tiên Ở các nước châu Âu và Mĩ, nhất là ở Anh, nước và chất thải chăn nuôi được coi là nguồn nguyên liệu để sản xuất biogas thu hồi năng lượng Ở Đức, năng lượng biogas
từ chất thải chăn nuôi và các nguồn thải hữu cơ khác đã được đưa vào cán cân năng lượng quốc gia để đạt mục tiêu 20% năng lượng sử dụng là năng lượng tái tạo vào 2020
Tuy nhiên, do nước thải chăn nuôi lợn là một nguồn thải ô nhiễm trầm
Khử nitrat Nitrat hóa
Amôn hoá
( → NO2→ N2 ) ( → NO2-→ NO3-)
Trang 10trọng đối với môi trường, loại nước thải này rất khó xử lý, bởi vì nồng độ hữu
cơ cũng như nitơ trong nước thải rất cao Vì vậy, phát triển công nghệ xử lý nước thải chăn nuôi lợn có hiệu quả và kinh tế đang là sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam Đối với loại nước thải này, nếu chỉ xử lý bằng các quá trình sinh học yếm khí thường không triệt
để, vấn còn một lượng lớn các chất hữu cơ và phần lớn thành phần dinh dưỡng là N, P Do vậy, sau quá trình xử lý yếm khí, bước tiếp theo là quá trình sinh học hiếu khí – thiếu khí kết hợp (xử lý phần hữu cơ còn lại và phần lớn thành phần dinh dưỡng N, P), cuối cùng có thể là bước xử lý bổ sung nhằm giảm thiểu tối đa thành phần dinh dưỡng Một số quá trình hiếu khí – thiếu khí cơ bản thường được nghiên cứu ứng dụng nhiều trong xử lý nước thải chăn nuôi lợn như sau: Phương pháp bùn hoạt tính hiếu khí – thiếu khí kết hợp, phương pháp lọc sinh học ngập nước thiếu – hiếu khí kết hợp, phương pháp mương oxy hóa, phương pháp anamox và phương pháp SBR
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi lợn cũng như nhiều loại nước thải công nghiệp khác (nước thải chế biến thực phẩm, nước thải nhà máy sữa, nước thải giết mổ gia súc, v.v.) bằng phương pháp SBR [17] Kết quả nghiên cứu của Kim [19] đối với nước thải chăn nuôi lợn (COD = 1000 mg/L, N-NH4+ = 3400 mg/L, T-P = 145 mg/L), trong khoảng tải trọng 0,063 – 0,25 kg-COD/m3-ngày, với chu trình xử lý 12h cho thấy hiệu suất xử lý đạt 57,4 – 87,4% đối với COD, 90,8 – 94,7% đối với N-NH4+ Kết quả nghiên cứu của Edgerton [3], với nước thải đầu vào có COD
= 4500 mg/L, N-NH4+ = 250 mg/L, T-P = 383 mg/L, với các quá trình yếm khí/hiếu khí/thiếu khí, ở tải trọng 1,18 kg-COD/m3-ngày, chu trình xử lý 12 h cho hiệu quả xử lý là 79%, 99% và 49% tương ứng với COD, N-NH4+ và T-
P Một số nghiên cứu cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả xử lý của phương pháp SBR cũng đã được thực hiện Nghiên cứu của Bortone [22] và Filali [28] về
xử lý nước thải chăn nuôi lợn cho thấy chế độ cấp nước thải 2 lần trong chu
kỳ xử lý cho hiệu suất xử lý cao hơn chế độ cấp nước thải 1 lần
Cho đến nay, việc nghiên cứu môi trường chăn nuôi ở nước ta chưa được quan tâm một cách đầy đủ Chỉ có một số công trình nghiên cứu chất lượng môi trường tại các điểm chăn nuôi đơn lẻ đã được công bố trong một vài năm trở lại đây như: Báo cáo kết quả nghiên cứu môi trường các khu vực chăn nuôi hai xã Trực Thái (Nam Định) và Trung Châu (Hà Tây) của Viện Chăn nuôi; Báo cáo của Viện Công nghệ môi trường kết hợp với Viện Thú y
Trang 11Quốc gia kiểm tra mức độ nhiễm khuẩn chuồng nuôi gà tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương; Báo cáo kết quả thực hiện Dự án của liên minh Châu Âu – chương trình Asia ProEco “Phát triển chăn nuôi lợn, quản lý chất thải động vật và bảo vệ môi trường”, v.v
Các công trình nghiên cứu ở trên đều đưa ra nhận định chung là hầu hết lượng chất thải chăn nuôi của Việt Nam đều không được quản lý và xử lý mà
đổ tự do ra môi trường xung quanh Các công trình nghiên cứu cũng đã đề xuất một số phương pháp xử lý chất thải bằng Biogas và De-odorase kết hợp với biện pháp cải thiện điều kiện vệ sinh chuồng trại như: nâng độ cao chuồng nuôi, cải tạo mái tạo độ thông thoán, lắp dàn phun mưa, v.v
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cũng chỉ thực hiện ở một khu vực chăn nuôi nhỏ, các mô hình công nghệ đều mới dừng lại ở quy mô thử nghiệm mà chưa có số liệu theo dõi, đánh giá với thời gian đủ dài và thường xuyên để đưa ra những số liệu hệ thống, làm cơ sở cho việc đề xuất áp dụng các phương pháp xử lý chất thải một cách rộng rãi Một số nơi công nghệ xử
lý cũng chưa đạt được các kết quả như mong đợi Vì vậy, khả năng triển khai
áp dụng trên diện rộng các biện pháp cải thiện môi trường chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn
Chỉ có một số ít các nghiên cứu được thử nghiệm trong thực tế như đề tài nghiên cứu công nghệ lọc sinh học trong xử lý nước thải chăn nuôi tại Vĩnh Phúc được Viện Công nghệ Môi trường thực hiện trong năm 2007, đề tài nghiên cứu công nghệ Aeroten trong xử lý nước thải chăn nuôi tại trại lợn Hoàng Liễn – Vũ Thư – Thái Bình được Viện Công nghệ Môi trường thực hiện trong giai đoạn 2006 – 2007 Tuy nhiên, hiệu quả xử lý của 2 công nghệ này chưa cao và chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tế về suất đầu tư và chi phí vận hành Chính vì vậy tuy nhu cầu có đã lâu nhưng mô hình xây dựng và vận hành thành công hệ xử lý nước thải chăn nuôi ở nước ta rất hiếm Công nghệ SBR (quá trình yếm khí, hiếu khí, thiếu khí trong một thiết bị) đã được
áp dụng để xử lý nước thải cho các ngành khác tại Việt Nam (Bệnh viện, nước thải sinh hoạt, v.v.) đạt hiệu quả cao về kỹ thuật cũng như kinh tế Mặc
dù vậy đối với nước thải chăn nuôi vẫn chưa được nghiên cứu ứng dụng
Đối với nước thải chăn nuôi lợn, đặc tính nước thải thay đổi rất lớn phụ thuộc vào phương pháp chăn nuôi, quy mô trang trại, quản lý chuồng trại (như việc có tách lỏng rắn hay không), điều kiện của từng địa phương Những điều này ảnh hưởng lớn đến quy mô xử lý cũng như lựa chọn phương pháp xử lý
Trang 12Ở Việt Nam do tập quán chăn nuôi còn lạc hậu nên đặc tính nước thải chăn nuôi khác với các nước trên thế giới Vì thế để có thể đưa phương pháp SBR vào ứng dụng thực tế tại Việt Nam cần thiết phải tiến hành các nghiên cứu để xác định các điều kiện và thông số công nghệ của quá trình: thời gian sục khí/ngừng sục khí, tỷ lệ COD:N, tỷ lệ cấp nước thải, hiệu suất xử lý và tải lượng giới hạn cho phép Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài này nghiên cứu tìm
ra các chế độ vận hành thích hợp đối với công nghệ SBR để xử lý nước thải chăn nuôi lợn có chứa thành phần chất hữu cơ và NH4+ cao, từ đó có cơ sở ứng dụng thực tiễn để xử lý nước thải chăn nuôi
2.2 Tổng quan về tình hình chăn nuôi lợn
Trong báo cáo "Hiện trạng lương thực và nông nghiệp" công bố ngày 23/2/2010, FAO nhấn mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của hơn 1 tỷ người nghèo trên thế giới, tạo thu nhập, cung cấp thực phẩm chất lượng cao, nhiên liệu, sức kéo, vật liệu xây dựng và phân bón FAO nêu rõ chăn nuôi là lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong nông nghiệp Vì vậy, đầu tư lớn hơn và xây dựng cơ sở lớn hơn là cần thiết để lĩnh vực này tiếp tục đảm nhiệm vai trò thiết yếu tăng cường an ninh lương thực
và giảm đói nghèo
Theo Tổ chức này, thế giới cần tăng đầu tư để phát triển chăn nuôi bền vững, đáp ứng nhu cầu đang tăng nhanh trên toàn cầu về các sản phẩm từ động vật như thịt, sữa, v.v
Tổng Giám đốc FAO, Jacques Diouf, cho rằng phát triển chăn nuôi là nền tảng để phát triển nông nghiệp Để đáp ứng nhu cầu đang tăng nhanh, sản lượng thịt hàng năm trên toàn cầu phải tăng từ mức 228 triệu tấn hiện nay lên
463 triệu tấn vào năm 2050 Nhu cầu sản phẩm thịt tăng là cơ hội để ngành chăn nuôi phát triển, góp phần phát triển kinh tế và xoá đói nghèo ở các nước đang phát triển Ngoài ra, chăn nuôi còn có thể đóng vai trò quan trọng cả trong việc thích nghi với biến đổi khí hậu và giảm tác động của biến đổi khí hậu đối với phúc lợi của con người
Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển với tốc độ nhanh (Bình quân giai đoạn 2001-2006 đạt 8,9%) Riêng năm 2009, tuy tình hình kinh tế vẫn còn gặp nhiều khó khăn nhưng so với năm 2008 thì tổng đàn gia cầm đạt 208.18 triệu con, tăng 12.83%; đàn lợn đạt 27.6 triệu con, tăng 3.47%, (Thống kê năm 2009 - Cục Chăn nuôi) Theo thống kê ngày 01/10/2010 thì đàn lợn đạt 27.37 triệu con và bằng 99% cùng kỳ năm 2009