1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề Án Phát Triển Chăn Nuôi Trên Địa Bàn Huyện Thăng Bình Giai Đoạn 2013 – 2015 Và Đến Năm 2020

11 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 294 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, ngành chăn nuôi của huyện có bước chuyển biến tích cực, tổng đàn gia súc, gia cầm ổn định nhưng chất lượng ngày càng tăng. Tổng giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi trong ngành nông nghiệp chiếm 19,2% (BCTKNN năm 2012). Tuy nhiên, tốc độ phát triển chăn nuôi còn chậm, năng suất, chất lượng và giá trị số lượng sản phẩm còn thấp, chưa tương xứng tiềm năng của huyện. Việc xây dựng “Đề án phát triển chăn nuôi trên địa bàn huyện Thăng Bình giai đoạn 2013 - 2015 và đến năm 2020” là yêu cầu bức thiết, nhằm tìm các giải pháp để khai thác có hiệu quả hơn các lợi thế tiềm năng, tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển mạnh hơn trong những năm tới.

Trang 1

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH GIAI ĐOẠN 2013 – 2015 VÀ ĐẾN NĂM 2020

Trang 2

Thăng Bình, tháng năm 2013

UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THĂNG BÌNH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số 581/ĐA-UBND Thăng Bình, ngày 03 tháng 7 năm 2013

ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH GIAI ĐOẠN 2013 - 2015 VÀ ĐẾN NĂM 2020

Trong những năm qua, ngành chăn nuôi của huyện có bước chuyển biến tích cực, tổng đàn gia súc, gia cầm ổn định nhưng chất lượng ngày càng tăng Tổng giá trị sản phẩm ngành chăn nuôi trong ngành nông nghiệp chiếm 19,2%

(BCTKNN năm 2012) Tuy nhiên, tốc độ phát triển chăn nuôi còn chậm, năng

suất, chất lượng và giá trị số lượng sản phẩm còn thấp, chưa tương xứng tiềm năng của huyện Việc xây dựng “Đề án phát triển chăn nuôi trên địa bàn huyện Thăng Bình giai đoạn 2013 - 2015 và đến năm 2020” là yêu cầu bức thiết, nhằm tìm các giải pháp để khai thác có hiệu quả hơn các lợi thế tiềm năng, tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển mạnh hơn trong những năm tới

Những căn cứ pháp lý:

- Căn cứ Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc “phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020”;

- Căn cứ Quyết định số 2390/QĐ-UB ngày 07/6/2004 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc “Phê duyệt các dự án quy hoạch phát triển ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2004 - 2015";

- Căn cứ Nghị quyết số 57/2012/NQ- HĐND ngày 19/9/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam về Cơ chế hỗ trợ khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa, an toàn dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2012-2015;

- Căn cứ Quyết định số 35/QĐ-UBND ngày 21/12/2012 của UBND tỉnh Ban hành quy định thực hiện Cơ chế hỗ trợ khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa, an toàn dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2012-2015;

- Căn cứ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Thăng Bình lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2010 - 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 09-NQ/HU ngày 17/12/2012 của Huyện uỷ Thăng Bình về phương hướng nhiệm vụ năm 2013;

Trang 3

- Căn cứ Nghị quyết số 06/2012/NQ- HĐND ngày 19/12/2012 của Hội đồng nhân dân huyện Thăng Bình về Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng năm 2013

Phần thứ I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI

I Điều kiện tự nhiên.

1.1 Vị trí:

Huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, có toạ độ 15025’ - 150 45’ vĩ độ Bắc,

108007’ - 108030’ kinh độ Đông

Phía Nam giáp thành phố Tam Kỳ, huyện Tiên Phước, huyện Phú Ninh Phía Tây giáp huyện Hiệp Đức và huyện Tiên Phước

Phía Bắc giáp huyện Duy Xuyên và huyện Quế Sơn

Phía Đông giáp biển Đông

1.2 Khí hậu, thời tiết.

Huyện Thăng Bình nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, thuộc vùng khí hậu duyên hải Trung Trung bộ, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm

1.3 Tình hình thuỷ văn.

Trên địa bàn huyện có hai con sông chảy qua, đó là con sông Trường Giang và sông Ly Ly Sông Trường Giang có chiều dài 25 km, chịu tác động triều cường của hai cửa biển là Cửa Đại và cửa An Hoà nên gây chua mặn một diện tích lớn đất sản xuất nông nghiệp ở 7 xã vùng Đông của huyện Sông Ly Ly

có độ dốc lớn, chỉ có nước nhiều trong mùa mưa, mùa khô lưu lượng rất thấp

Địa hình: Địa hình có độ dốc nghiêng từ Tây sang Đông, địa hình bị chia cắt bởi sông, suối, núi đồi, cồn cát Độ cao từ 20m đến 300m so với mặt nước biển

II Điều kiện kinh tế - xã hội.

2.1 Địa hình đất đai và tình hình sử dụng đất.

Tổng diện tích tự nhiên: 38.560,24 ha, trong đó diện tích đất nông lâm nghiệp toàn huyện là 24.986,88ha, diện tích đất trồng lúa chủ động nước 7.390ha

Địa hình của huyện có độ dốc lớn từ Tây sang Đông và được phân chia thành 3 vùng

Vùng Tây (vùng đồi núi thấp) giáp với các huyện miền núi của tỉnh (Hiệp

Đức, Tiên Phước) mang đặc điểm của vùng bán địa sơn, bao gồm xã: Bình Quế,

Bình Phú, Bình Chánh, Bình Định Nam, Bình Định Bắc, Bình Trị, Bình Lãnh với diện tích đất nông nghiệp gồm 6.489 ha, có địa hình tương đối phức tạp, phần lớn đất được hình thành tại chổ và bao gồm các loại đất: Fralít vàng đỏ, đá

mẹ Granít, Gnai Diện tích đất canh tác bình quân đầu người của vùng

Trang 4

1.047m2/người Diện tích đất bằng và chưa sử dụng 2.530 ha Hiện nay đang đưa vào đề án trồng rừng Điều kiện cơ sở hạ tầng, giao thông, thuỷ lợi còn gặp nhiều khó khăn và đang dần dần khắc phục

Vùng Trung (vùng đồng bằng): Có địa hình tương đối bằng phẳng, hầu

hết là đất xám, đất bạc màu và phù sa cổ Vùng Trung có 6 xã, thị trấn: Bình Nguyên, Bình Quý, Thị trấn Hà Lam, Bình Phục, Bình Tú, Bình Trung, Bình An

có diện tích đất nông nghiệp 4.981,8 ha chiếm trung bình 35,5% so với tổng diện tích đất canh tác nông nghiệp của huyện Bình quân diện tích đất canh tác 686,67 m2/người điều kiện cơ sở hạ tầng, thuỷ lợi, giao thông tương đối thuận lợi

Vùng Đông (vùng đất cát ven biển): hầu hết là đất cát, cát pha, thịt nhẹ,

đất cát ven biển chiếm tỷ lệ tương đối lớn Vùng Đông có 8 xã: Bình Dương, Bình Giang, Bình Đào, Bình Triều, Bình Minh, Bình Sa, Bình Hải, Bình Nam Diện tích đất canh tác nông nghiệp 3.147,3 ha, bình quân diện tích đất canh tác chiếm 23,5% tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện, bình quân diện tích đất canh tác 497,5 m2/người, có diện tích đất cồn cát, đất chưa sử dụng 1.031 ha hiện nay đang đưa vào sử dụng

Chính vì những đặc điểm tự nhiên, điều kiện thổ nhưỡng, nước tưới và tập quán canh tác của mỗi vùng đã chi phối và ảnh hưởng sâu sắc đến việc bố trí cây trồng, con vật nuôi khác nhau của huyện

2.2 Dân số và lao động.

Thăng Bình có 48.183 hộ với 179.794 nhân khẩu, 87.101 lao động, trong

đó lao động Nông - Lâm - Thuỷ sản: 65.667 người, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, lực lượng lao động dồi dào, lao động nông nghiệp chiếm khoảng 75,4% nhưng đất canh tác tăng không đáng kể, các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ còn kém phát triển chưa giải quyết cũng như chưa thu hút được nguồn lao động dẫn đến tình trạng thất nghiệp Đây là áp lực lớn về giải quyết việc làm và các vấn đề khác về xã hội

(Nguồn NGTK năm 2012)

2.3 Thực trạng phát triển kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất: 2.3.1 Kinh tế:

Cơ cấu kinh tế Nông nghiệp - CN-TTCN và TM-DV đến cuối năm 2012

là 30% - 30,4% - 39,6%; tốc độ tăng trưởng 23,1%, trong đó nông nghiệp đạt

546 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng 5,2% Tỉ lệ hộ nghèo năm 2012 còn 15,79%

Trong sản xuất nông nghiệp trồng trọt là chủ yếu, chăn nuôi chiếm 19,2%

tỷ trọng ngành nông nghiệp Trong trồng trọt cơ cấu lúa - lạc - sắn - khoai - ngô

- rau màu, diện tích 15.570 ha Tổng sản lượng lương thực năm 2012 là: 87.439 tấn Mỗi vụ đều có quy hoạch cánh đồng sản xuất giống lúa cấp 1 để phục vụ sản xuất tại chỗ Toàn huyện có 33 cánh đồng, trong đó 06 xã làm điểm có 12 cánh đồng mẫu, diện tích 573,25 ha

2.3.2 Hình thức tổ chức sản xuất:

Số hộ sản xuất nông nghiệp: 163.189 hộ, lao động 65.667người

Trang 5

Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp: 19 HTX, có 01 HTX dùng nước chuyên khâu thuỷ lợi Hợp tác xã dùng nước kênh N16 liên xã Bình Chánh, Bình Quý, Bình Tú được thành lập năm 2012 phục vụ 2 khu tưới mẫu theo đề án hỗ trợ thuỷ lợi Việt Nam (WRAP), bước đầu mới hình thành hoạt động có hiệu quả

III Thực trạng ngành chăn nuôi:

3.1 Tình hình phát triển chăn nuôi:

Thăng Bình những năm gần đây mặc dù dịch bệnh gia súc, gia cầm liên tục xảy ra nhưng tổng đàn vẫn tương đối ổn định về số lượng, biến động không lớn và đã có hướng cải thiện về chất lượng (tỉ lệ bò lai từ 17,5% năm 2008 nay

đã tăng lên 35%/ tổng đàn), tuy nhiên về tổng đàn bò có giảm so với cùng kỳ các năm

Hình thức chăn nuôi gia đình từng bước được cải tiến theo hướng nuôi bán công nghiệp, có đầu tư, có chuồng trại kiên cố cho từng loại vật nuôi

Các xã vùng Đông có kinh nghiệm và lợi thế để phát triển nuôi heo nái sinh sản, sản xuất heo sữa Các xã vùng Trung phát triển nuôi heo thịt, nuôi trâu, nuôi vịt đàn, gà đẻ công nghiệp Các xã vùng Tây có điều kiện để phát triển trồng cỏ chăn nuôi bò và nuôi bò nhốt bán thâm canh

Những năm gần đây đang hình thành một số mô hình chăn nuôi heo có hiệu quả tại các xã như Bình Chánh, Bình Quý, Bình Trung, Bình Tú, Bình Nguyên, Bình Đào…; nuôi bò nhốt bán thâm canh ở Bình Quý, Bình Lãnh, Bình Quế, Bình Chánh; trang trại nuôi gà đẻ ở Bình Nguyên, Bình An; nuôi vịt ở Bình Giang, Bình Triều, Bình Chánh, Bình An…

Từ chăn nuôi nhỏ lẻ nông hộ đến nay đã bước đầu hình thành và phát triển chăn nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa Tuy các gia trại chưa đủ tiêu chí

để công nhận trang trại (theo Thông tư 27 của Bộ NN&PTNT), nhưng đã có

nhiều mô hình chăn nuôi khá, đàn heo thịt 30 - 50 con/ hộ, đàn bò 10 - 15 con/

hộ, đàn gia cầm 1.000 - 3.000 con/ hộ; sản phẩm chăn nuôi đã được xuất bán ra các địa bàn trong và ngoài tỉnh Nhận thức của người dân trong việc phát triển kinh tế chăn nuôi đã được chú ý đầu tư, nhất là phát triển bò lai, lợn hướng nạc; hiệu quả thu được từ chăn nuôi ngày càng cao

Giá trị ngành chăn nuôi năm 2012 (theo giá số định 1994) là 105 tỉ đồng, đạt 19,2% giá trị cơ cấu ngành nông nghiệp

3.1.1 Chăn nuôi trâu, bò:

Năm 2013 đàn trâu có 9.630 con, tổng đàn trâu tương đối ổn định qua các năm Với lợi thế tự nhiên có đất hoang, đồng ruộng sau vụ thu hoạch, bãi thả, lượng rơm dự trữ từ sản xuất lúa, do vậy nông dân có điều kiện chăn nuôi để ổn định đàn trâu

Tổng đàn bò: 18.612 con, trong đó bò lai Sind 6.514 con (tỉ lệ 35%/ tổng đàn); số bò đực giống lai Sind do chương trình khuyến nông của tỉnh và khuyến khích nông nghiệp của huyện hằng năm hỗ trợ hiện còn 18 con và hơn 30 con của người dân tự mua nuôi làm giống tại các địa phương

Trang 6

Chương trình cải tạo đàn bò từng bước đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi nhờ nâng cao tầm vóc và khả năng tăng trọng, vì vậy đã làm thay đổi tâm lý, tập quán chăn nuôi của nông dân

Tranh thủ sự hỗ trợ của các chương trình dự án chuyển giao những tiến bộ KHKT mới trong chăn nuôi như: Ủ men sinh học làm thức ăn, mô hình vổ béo

bò, ủ rơm bằng Urê, phát triển trồng cỏ để chăn nuôi bò tại chuồng được Trạm Khuyến nông, Hội nông dân, Hội phụ nữ, ở các xã, thị trấn triển khai đã được nông dân đồng tình hưởng ứng bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi đại gia súc

3.1.2 Chăn nuôi heo:

Năm 2013, tổng đàn heo có: 107.120 con, trong đó heo nái 32.759 con chiếm 30,5%/ tổng đàn, (trong đó heo nái ngoại, nái lai F1, F2 là 1.934 con, heo nái Móng cái 30.825 con)

Đàn heo nái người dân đang nuôi để đáp ứng nhu cầu heo sữa cho thị trường thời gian qua chủ yếu là heo nái Móng Cái nhưng đã qua nhiều năm nuôi dưỡng, chọn lọc bằng nguồn giống tại địa phương nên chất lượng đàn giống đã dần bị thoái hóa do đồng huyết, bị chết do dịch tai xanh nên người dân đang có nhu cầu về con giống tốt để tái lập đàn mỗi khi hết dịch và cải tạo lại đàn heo giống theo hướng heo nạc

Nhằm tạo điều kiện khôi phục lại đàn heo giống sau dịch tai xanh, giúp cho người chăn nuôi bình ổn phục hồi sản xuất đáp ứng nhu cầu heo sữa trên thị trường và để phát huy ưu thế về nghề nuôi heo nái sinh sản của người dân các

xã vùng Đông và vùng Trung, yêu cầu bức thiết phải có đàn heo giống tốt, đạt các yêu cầu chất lượng về giống Để thực hiện cải tạo, nâng cấp đàn heo giống được tốt, đạt yêu cầu phục vụ chăn nuôi cho người dân các xã trên địa bàn huyện cần phải có kế hoạch phục tráng, chọn lọc, thay thế lại đàn heo Móng Cái bằng các hình thức như bình tuyển, chọn lọc hoặc mua mới bằng các con giống gốc, giống thuần bố mẹ để cung ứng cho người chăn nuôi

Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu thị trường và tăng hiệu quả kinh tế cần tiếp tục tuyên truyền, khuyến cáo người chăn nuôi thực hiện chương trình nuôi heo hướng nạc bằng các biện pháp cải tạo giống như nuôi heo nái lai 2 máu F1, F2

và nuôi heo nái ngoại để sản xuất đàn heo giống nuôi thịt có tỉ lệ nạc cao

3.1.3 Tình hình chăn nuôi gia cầm:

Chăn nuôi gia cầm phát triển về số lượng tổng đàn; nhiều hộ gia đình chăn nuôi đã chuyển tập quán chăn nuôi từ nuôi quảng canh sang hướng bán

thâm canh ngày càng nhiều, quy mô 300 - 2.000 con (vừa cho ăn thức ăn công

nghiệp vừa tận dụng thức ăn sẳn có ở địa phương) do đó rút ngắn được thờigian

nuôi, tăng số lứa nuôi/năm, nên trọng lượng thịt xuất chuồng tăng cao

Chăn nuôi vịt đàn thời vụ phổ biến tại các xã vùng Trung của huyện như Bình An, Bình Trung, Bình Tú, Bình Phục, Bình Nguyên và các xã vùng Đông dọc sông Trường Giang như Bình Giang, Bình Dương, Bình Đào, Bình Hải, Bình Nam

Trang 7

Chăn nuôi gà chủ yếu là thả vườn, mỗi hộ từ vài con đến vài chục con, một số gia trại, trang trại nuôi từ 100 con trở lên có hơn 300 hộ, đặc biệt có một

số hộ chăn nuôi trang trại tập trung có thường xuyên 1.000 con gà trở lên tại các

xã như Bình Nguyên, Bình An, Bình Chánh, Bình Quý, Bình Giang, Bình Phục, Bình Nam, Bình Tú, đang có hiệu quả rất tốt, song để đảm bảo về môi trường và

an toàn dịch bệnh cần phải có địa điểm quy hoạch cách ly khu vực dân cư để tổ chức chăn nuôi

Tổng đàn gia cầm huyện Thăng Bình có hơn 500.000 con (trong đó gà

300.000 con, vịt 150.000 con và gia cầm khác 50.000 con ).

3.2 Cơ sở vật chất nguồn lực của chăn nuôi:

Trên địa bàn huyện có 1 trại giống heo của Trung tâm giống Nông – Lâm nghiệp Quảng Nam nên thuận lợi cho việc giao lưu, tiếp cận con giống tốt và nguồn tinh lỏng phục vụ dẫn tinh cho đàn nái hiện có trên địa bàn huyện

Toàn huyện có 2 trại heo đực giống chuyên sản xuất tinh lỏng (hộ ông Phan Công Toàn tại xã Bình Nguyên, bà Nguyễn Thị Bích Ngọc tại xã Bình Quý) và có hơn 200 con heo đực giống rãi rác ở các xã, thị trấn đã đáp ứng được nhu cầu phối tinh cho đàn heo nái tại các địa phương

Công tác cải tạo đàn bò, toàn huyện hiện có 29 cán bộ dẫn tinh viên đã góp phần rất lớn vào chương trình cải tạo đàn bò cho các địa phương Phong trào trồng cỏ chăn nuôi trâu, bò còn ít phát triển, tại một số xã như: Bính Quý, Bình Lãnh, Bình Chánh, thị trấn Hà Lam …trồng cỏ với diện tích khoảng 20 ha, phần nào giải quyết được tình trạng khan hiếm thức ăn về mùa Đông và mùa khô hạn

Thực hiện dịch vụ thú y trọn gói nhằm chủ động công tác phòng, chống dịch bệnh cho vật nuôi, ngân sách huyện đã trang bị cho các địa phương 10 tủ lạnh để bảo quản vắc xin phục vụ công tác tiêm phòng

Hoạt động công tác chăn nuôi thú y Thăng Bình với 06 cán bộ trạm Thú

y, 02 cán bộ phòng NN&PTNT và 22 cán bộ Thú y cơ sở có nghiệp vụ chuyên môn từ trung cấp trở lên, đã tích cực chỉ đạo công tác chăn nuôi - thú y, bảo vệ

an toàn dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm

3.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ, chế biến sản phẩm chăn nuôi:

Trên địa bàn huyện chưa có cơ sở chế biến sản phẩm chăn nuôi và lò giết

mổ tập trung, việc giết mổ chủ yếu ở các điểm giết mổ gia súc tư nhân Mức tiêu thụ các sản phẩm thịt trâu, bò, heo trên địa bàn huyện không lớn; một số sản phẩm heo sữa chưa đảm bảo tiêu chí vệ sinh thú y nên chưa đáp ứng yêu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu

Chăn nuôi heo trong những năm qua có chiều hướng phát triển, song sản phẩm thịt chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường (tỉ lệ nạc còn thấp), bên cạnh đó sản phẩm chăn nuôi còn được các thương lái vận chuyển từ các nơi khác đến tiêu thụ do vậy thị trường không ổn định, giá cả bấp bênh

3.4 Một số tồn tại khuyết điểm và những nguyên nhân trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y:

Trang 8

Kết quả sản xuất chăn nuôi vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của huyện và còn bộc lộ một số tồn tại, khuyết điểm, những khó khăn cần phải tiếp tục khắc phục tháo gỡ như:

- Chăn nuôi trong những năm qua tuy có chuyển biến tích cực nhưng tốc

độ phát triển còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong sản xuất nông nông nghiệp còn thấp, chưa ngang tầm và chiếm tỷ trọng tưng ứng trong giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện

- Chất lượng đàn gia súc, gia cầm có cải tiến nhưng còn chậm (nhất là cải

tạo giống lợn) Chưa có nguồn giống chất lượng tốt để người chăn nuôi chuyển

đổi, thay thế dần con giống

- Việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi của người dân đang còn hạn chế Công tác chỉ đạo, triển khai, thực hiện đôi lúc chưa đồng

bộ, quản lý ngành chưa chặt chẻ

- Công tác phòng trừ dịch bệnh, kiểm soát quản lý dịch bệnh, vệ sinh thú

y chưa thực sự được chính quyền địa phương và người dân quan tâm đúng mức

- Tình hình dịch bệnh thường xảy ra làm ảnh hưởng đến tổng đàn gia súc, gia cầm, nhất là các bệnh LMLM, bệnh Tai xanh ở lợn, dịch Cúm gia cầm

* Nguyên nhân của những khuyết điểm trên:

- Chưa quy hoạch được vùng để phát triển chăn nuôi tại các địa phương, chưa xác định được đối tượng vật nuôi ưu tiên phát triển, chưa có chính sách, khuyến khích đầu tư thích đáng nên chăn nuôi đang phát triển dưới dạng tự phát, nhỏ lẻ và không tập trung

- Công tác quản lý giết mổ, vệ sinh thú y chưa được chặt chẻ, một số địa phương chưa thực hiện được Mạng lưới dịch vụ cơ sở vật chất chưa đáp ứng phục vụ phát triển chăn nuôi và công tác thú y

- Sự phối kết hợp giữa các phòng ban và tổ chức, đoàn thể với cơ quan chuyên môn đôi lúc chưa đồng bộ nên kết quả một số mô hình trình diễn có hiệu quả nhưng đang dừng lại trong phạm vi thực nghiệm mà chưa được nhân rộng trên địa bàn huyện

- Thị trường tiêu thụ không ổn định, giá thức ăn tăng liên tục nên ảnh hưởng rất lớn đến việc đầu tư, mở rộng quy mô chăn nuôi

- Công tác tuyên truyền, tập huấn về cơ chế, chủ trương, chính sách, Pháp lệnh thú y và tình hình dịch bệnh còn hạn chế chưa đi vào cuộc sống của người chăn nuôi

- Chất lượng đội ngũ cán bộ chăn nuôi - thú y cơ sở còn yếu trong công tác quản lý và giám sát phát hiện dịch bệnh

- Việc khuyến cáo thụ tinh nhân tạo cho bò, lợn đang dừng lại ở công tác cải tạo giống bò; công tác cải tạo giống lợn còn mang tính tự phát, công tác quản

lý giống vật nuôi thực hiện chưa tốt, thiếu sự kết hợp đồng bộ giữa các cơ quan chức năng và các tổ chức đoàn thể

Trang 9

Phần thứ II PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI GIAI ĐOẠN 2013 – 2015 VÀ ĐẾN NĂM 2020

I Phương hướng:

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX, Nghị quyết của Huyện uỷ, HĐND huyện và các quy định về phát triển chăn nuôi, cần tập trung như sau:

- Nhân rộng các mô hình chăn nuôi có hiệu quả, các mô hình chăn nuôi an toàn sinh học có ứng dụng chế phẩm sinh học để giảm thiểu ô nhiễm môi trường

- Mỗi xã có điều kiện phải phát triển 02 trang trại chăn nuôi tập trung

- Phát triển chăn nuôi bò sữa

- Tiếp tục cải tạo giống bò, giống heo và giống gia cầm chất lượng cao

- Tập trung đẩy mạnh công tác quy hoạch, khuyến khích đầu tư có trọng điểm để phát triển và hình thành các vùng chăn nuôi hàng hóa nhằm đảm bảo tiêu thụ trên địa bàn và các vùng lân cận Liên kết liên doanh với các Công ty sản xuất thức ăn gia súc có uy tín trong và ngoài nước, tổ chức các trang trại nuôi heo gia công để giải quyết lao động, tăng thu nhập

- Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo hướng chăn nuôi tập trung, phát triển trang trại, gia trại chăn nuôi, xây dựng chuồng trại kiên cố, hợp vệ sinh, áp dụng chăn nuôi theo hướng thâm canh, chăn nuôi công nghiệp, đa dạng hóa sản phẩm vật nuôi

- Khuyến khích các hộ gia đình, cá nhân tập thể phát triển trang trại, gia trại chăn nuôi heo giống thuần ngoại, giống Móng cái nhằm cung ứng con giống tại chổ, chất lượng tốt

- Phát triển chăn nuôi gắn liền với xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh nhằm bảo vệ tốt đàn gia súc, gia cầm và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

- Xúc tiến đầu tư thương mại, liên doanh, liên kết, kêu gọi khuyến khích đầu tư cơ sở chế biến sản phẩm chăn nuôi, tìm kiếm thị trường nhằm giải quyết tốt đầu ra ổn định cho các sản phẩm chăn nuôi, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có điều kiện và kinh nghiệm để đầu tư xây dựng một số trang trại chăn nuôi trên địa bàn theo mô hình trang trại chăn nuôi công nghiệp

- Khuyến khích phát triển trồng cỏ, trồng cây sản xuất thức ăn phục vụ chăn nuôi, mạnh dạn chuyển một số diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cỏ, trồng ngô, nhằm từng bước chuyển từ chăn nuôi theo hình thức chăn thả sang nuôi tập trung Thành lập cơ sở chế biến thức ăn gia súc, gia cầm nhằm đáp ứng lượng thức ăn tinh cho đàn gia súc, gia cầm

- Thực hiện Quyết định số 87/QĐ-UBND ngày 11/01/2013 của UBND tỉnh Quảng Nam, toàn huyện đến năm 2015 còn 08 điểm giết mổ gia súc, gia cầm và đến năm 2020 còn 02 lò giết mổ tập trung trên địa bàn huyện

Trang 10

II Mục tiêu:

Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái, theo nhu cầu thị trường, có hiệu quả kinh tế cao và bền vững Phấn đấu đến năm 2015 giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 623 tỷ đồng trong

đó giá trị ngành chăn nuôi 249 tỷ đồng chiếm 40% giá trị sản xuất nông nghiệp Tổng đàn gia súc, gia cầm ổn định, tăng và nâng cao về chất lượng Đàn gia súc 142.000 con, đàn gia cầm 700.000 con, chú trọng chăn nuôi theo hướng hàng hoá và phát triển trang trại chăn nuôi tập trung, an toàn dịch bệnh

Trong đó: Đàn bò: 22.000 con (Tỉ lệ bò lai đạt >40%/ tổng đàn), bò sữa

2.000 con; Đàn trâu : 10.000 con; Đàn heo : 110.000 con; Đàn gia cầm : 700.000 con

Trang trại chăn nuôi: Khoảng 40 trang trại Trồng cỏ : 200 - 400 ha

III Nhiệm vụ:

Trên cơ sở xem xét về tiềm năng và thế mạnh, cũng như truyền thống của từng địa phương, từng vùng, huyện sẽ chú trọng, chỉ đạo, định hướng phát triển các đối tượng nuôi phù hợp

Gắn với đề án xây dựng nông thôn mới, tại mỗi xã phải quy hoạch được diện tích đảm bảo chăn nuôi phù hợp với tập quán chăn nuôi của người dân, đảm bảo các yêu cầu về môi trường, an toàn sinh học, khuyến khích các hộ dân phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại, hạn chế chăn nuôi nhỏ lẻ

3.1 Chăn nuôi trâu bò:

- Định hướng quy hoạch, kế hoạch, khai thác và phát huy tốt ưu thế của từng xã, từng vùng Đẩy mạnh chăn nuôi đại gia súc, tập trung phát triển nuôi bò thương phẩm theo mô hình nuôi nhốt thâm canh và khuyến khích nuôi bò sữa

- Thực hiện Sind hóa đàn bò đạt trên 40% tổng đàn nhằm nâng cao tầm vóc, trọng lượng từ 180 - 200 kg như hiện nay lên 250 - 280 kg/con

- Phát triển và mở rộng các dịch vụ thụ tinh nhân tạo bò bằng tinh của đực giống Sind và các giống bò nhập nội

- Từng bước tuyển chọn và đưa vào sử dụng đàn bò cái lai Sind 50% máu ngoại, để thay thế đàn bò cái địa phương

- Tập huấn, đào tạo nghề, tham quan, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nâng cao trình độ kiến thức chăn nuôi bò lai cho người chăn nuôi bò

- Về thức ăn: Hướng dẫn kỹ thuật cho bà con nông dân bảo quản rơm dự trử, ủ rơm, ủ chua, ủ xanh thức ăn, để tận dụng hết các nguồn phụ phẩm nông sản như rơm, thân ngô, thân lạc…Khuyến khích hỗ trợ nông dân chuyển đổi một

số diện tích các loại cây trồng kém hiệu quả sang trồng cỏ, trồng ngô lấy thân, lá phục vụ nuôi trâu bò Kế hoạch đến 2015 trồng 100 - 200 ha và định hướng năm

2020 có trên 400 ha cỏ để chăn nuôi trâu, bò

Tải bản FULL (22 trang): https://bit.ly/2TVeebA

Dự phòng: fb.com/TaiHo123doc.net

Ngày đăng: 03/12/2021, 09:32

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w