Câu hỏi 1: Dự thảo đề cương tranh luận khi luật sư của bị cáo Đỗ Văn Mạnh cho rằng việc bà Vũ Thị Hà sang đường nhanh, bất ngờ, khuất tầm nhìn, đó là lỗi hoàn toàn thuộc về nạn nhân nên thân chủ Đỗ Văn Mạnh không phạm tội (Hồ sơ ĐTC 22HSHV bị can Đỗ Văn Mạnh Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)Câu hỏi 2: Dự thảo về phần mở đầu, phần kết luận và phần đề nghị xử lý trong luận tội của Kiểm sát viên (Mẫu số 13XS) theo hồ sơ LS.HS 07 Trần Hồng Đức và đồng bọn Mua bán trái phép chất ma túy.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO CHUNG NGUỒN THẨM PHÁN, KIỂM SÁT VIÊN, LUẬT SƯ
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ HỒ SƠ TÌNH HUỐNG MÔN HỌC: KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA KIỂM SÁT VIÊN
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ
(Mã học phần: HSCB1 Số tín chỉ: 4)
Chuyên đề 02:
Câu hỏi 1: Dự thảo đề cương tranh luận khi luật sư của bị cáo Đỗ Văn Mạnh cho
rằng việc bà Vũ Thị Hà sang đường nhanh, bất ngờ, khuất tầm nhìn, đó là lỗi hoàn toàn thuộc về nạn nhân nên thân chủ Đỗ Văn Mạnh không phạm tội (Hồ sơ ĐTC 22/HS-HV bị can Đỗ Văn Mạnh - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
Câu hỏi 2: Dự thảo về phần mở đầu, phần kết luận và phần đề nghị xử lý trong luận
tội của Kiểm sát viên (Mẫu số 13/XS) theo hồ sơ LS.HS 07 - Trần Hồng Đức và đồng bọn
- Mua bán trái phép chất ma túy
Họ và tên: Nguyễn Thành Đức
Ngày, tháng, năm sinh: 17/07/1994
SBD 16 Lớp đào tạo chung nguồn
Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, khóa 5.1 tại Hà Nội
Hà Nội, Ngày 26 tháng 09 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
ĐỀ BÀI CHUYÊN ĐỀ 02 1 BÀI LÀM 2 Câu hỏi 1: Dự thảo đề cương tranh luận khi luật sư của bị cáo Đỗ Văn Mạnh cho rằng việc bà Vũ Thị Hà sang đường nhanh, bất ngờ, khuất tầm nhìn, đó là lỗi hoàn toàn thuộc về nạn nhân nên thân chủ Đỗ Văn Mạnh không phạm tội (Hồ sơ ĐTC 22/ HS-HV bị can Đỗ Văn Mạnh - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ) 2 Câu hỏi 2: Dự thảo về phần mở đầu, phần kết luận và phần đề nghị xử lý trong luận tội của Kiểm sát viên (Mẫu số 13/XS) theo hồ sơ LS.HS 07 - Trần Hồng Đức và đồng bọn - Mua bán trái phép chất ma túy 5 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
sửa đổi, bổ sung năm 2017
Trang 4ĐỀ BÀI CHUYÊN ĐỀ 02 Câu hỏi 1: Dự thảo đề cương tranh luận khi luật sư của bị cáo Đỗ Văn Mạnh cho
rằng việc bà Vũ Thị Hà sang đường nhanh, bất ngờ, khuất tầm nhìn, đó là lỗi hoàn toàn thuộc về nạn nhân nên thân chủ Đỗ Văn Mạnh không phạm tội (Hồ sơ ĐTC 22/HS-HV bị can Đỗ Văn Mạnh - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
Câu hỏi 2: Dự thảo về phần mở đầu, phần kết luận và phần đề nghị xử lý trong luận
tội của Kiểm sát viên (Mẫu số 13/XS) theo hồ sơ LS.HS 07 - Trần Hồng Đức và đồng bọn
- Mua bán trái phép chất ma túy
Trang 5BÀI LÀM Câu hỏi 1: Dự thảo đề cương tranh luận khi luật sư của bị cáo Đỗ Văn Mạnh cho
rằng việc bà Vũ Thị Hà sang đường nhanh, bất ngờ, khuất tầm nhìn, đó là lỗi hoàn toàn thuộc về nạn nhân nên thân chủ Đỗ Văn Mạnh không phạm tội (Hồ sơ ĐTC 22/HS-HV bị can Đỗ Văn Mạnh - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
ĐỀ CƯƠNG TRANH LUẬN CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA SƠ
THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Đối với vụ án bị cáo Đỗ Văn Mạnh bị truy tố về tội về tội “Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Bộ luật Hình
sự, Kiểm sát viên dự kiến tranh luận với các tình huống sau:
Tình huống luật sư của bị cáo Đỗ Văn Mạnh cho rằng việc bà Vũ
Thị Hà sang đường nhanh, bất ngờ, khuất tầm nhìn, đó là lỗi hoàn toàn
thuộc về nạn nhân nên thân chủ Đỗ Văn Mạnh không phạm tội:
1 Bị cáo Đỗ Văn Mạnh không bị truy tố oan vì các lý do sau:
*Tại Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông (BL 54,55):
- Đỗ Văn Mạnh đã xuất trình được đăng ký xe motô BKS: 29F1-222.09 mang tên Đỗ Văn Mạnh nhưng Mạnh không có bằng lái xe mô tô Vì vậy, Mạnh đã vi phạm về điều kiện của người lái xe tham gia giao thông tại Khoản 2, Điều 58 Luật Giao thông đường bộ
năm 2008 có quy định: “2 Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các
giấy tờ sau:a) Đăng ký xe; b) Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này; c) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe cơ giới quy định tại Điều 55 của Luật này;”
- Phần khám nghiệm kỹ thuật an toàn phương tiện: Xe của Đỗ Văn Mạnh không có gương chiếu hậu, có phanh trước, phanh phải sau không hoạt động được do bị hỏng Xe của Mạnh không đủ điều kiện tham gia giao thông theo điểm a và e Khoản 2, Điều 53
LGTĐB 2008 có quy định: “2 Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy đúng
kiểu loại được phép tham gia giao thông phải bảo đảm các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường quy định tại các điểm a, e, khoản 1 Điều này a) Có
đủ hệ thống hãm có hiệu lực; e) Có đủ gương chiếu hậu và các trang bị, thiết bị khác bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển;”
Mẫ u số 14/
XS (ho ặc XP )
The o QĐ số 505 /Q Đ-VK ST C ngà y 18 thá ng 12 nă m 201 7
Trang 6- Ngoài ra, xe của Mạnh còn bị hỏng Công tơ mét, mà Công tơ mét là dùng để người điều khiển phương tiện xem xem mình đang đi vận tốc bao nhiêu Vì vậy, Công tơ mét của xe Mạnh không đo được vận tốc thì dẫn tới nguy hiểm khi tham gia giao thông
*Tại Phiếu xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu (BL 109), và Biên bản ghi lời khai (BL 122)
- Khoản 7, Điều 8 LGTĐB quy định về các hành vi bị nghiêm cấm: “Điều khiển
phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy” Tại biên bản ghi lời
khai Mạnh nói đã mua ma túy đá vào chiều ngày 06/3/2018 Vì vậy, Đỗ Văn Mạnh khi tham gia giao thông đã vi phạm Khoản 7, Điều 8 LGTĐB
- Tại phiếu xét nghiệm chất ma túy, Đỗ Văn Mạnh đã dương tính với AMP Amphetamin là ma túy tổng hợp được dùng để chống lại cơn buồn ngủ, hiện được rất nhiều tài xế xe tải, xe đầu kéo sử dụng Khi phê thuốc, lái xe sẽ bị hưng phấn quá độ, có
xu hướng phóng nhanh, vượt ẩu Vì vậy, người lái xe mà sử dụng ma túy khi tham ra giao thông rất dễ gây tai nạn
*Không làm chủ tốc độ, vượt khi chưa đảm bảo an toàn
Theo lời khai của nhân chứng Vũ Văn Thành tại 02 bản tường trình (BL 88, 89, 90)
và 03 biên bản lời khai (BL 114 - 117; 118 - 120; 121 - 124) thì: Trước khi gây tai nạn, đang đi cùng chiều với Đỗ Văn Mạnh phía trước có một chiếc xe tải 2,5 tấn đang đi giữa làn đường thứ 2 Và trong khoản thời gian đó, trên đường đang có rất nhiều xe đang lưu thông Vì muốn vượt chiếc xe tải nên Mạnh đã tăng tốc độ và đi dần về phía giữa làn đường thứ ba, và lúc đó đã đâm phải bà Hà đang đi qua đường
Từ lời khai của Thành, có thể thấy Đỗ Văn Mạnh vượt xe tải ẩu, không quan sát, khi gặp bà Hà chạy qua đường không kịp xử lý vì xe phanh không ăn nên gây tai nạn chết người Tuy nhiên, Bà Hà cũng có lỗi là đi bộ qua đường không đúng chỗ, chạy tắt qua đầu
xe ô tô tạo tình huống nguy hiểm cho chính bản thân mình
Vì vậy, Đỗ Văn Mạnh đã vi phạm quy định tại:
- Khoản 1, Điều 12 về tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe: “Người lái xe, người
điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình”.
- Điểm a, Khoản 5 Điều 14 dẫn chiếu đến Khoản 2 Điều 14 LGTĐB quy định về Vượt xe:
“5 Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây: a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;
2 Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.”
Trang 7*Qua biên bản khám nghiệm tử thi, giấy chứng nhận thương tích, tài liệu hiện trường
có đầy đủ căn cứ kết luận nguyên nhân chết của bà Vũ Thị Hà là dập não, tụ máu dưới màng cứng 2 bán cầu (bl 34-37; 41-43;81-82)
2 Kết luận:
Người gây tai nạn giao thông là Đỗ Văn Mạnh đã có lỗi khi tham gia giao thông không quan sát, vượt ẩu, không làm chủ được tốc độ, dẫn đến gây tai nạn chết người
Từ những lập luận trên, Viện Kiểm sát khẳng định bị cáo Đỗ Văn Mạnh không bị truy
tố oan Việc truy tố bị cáo Đỗ Văn Mạnh là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật
Trang 8Câu hỏi 2: Dự thảo về phần mở đầu, phần kết luận và phần đề nghị xử lý trong luận
tội của Kiểm sát viên (Mẫu số 13/XS) theo hồ sơ LS.HS 07 - Trần Hồng Đức và đồng bọn
- Mua bán trái phép chất ma túy
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN 7
BẢN LUẬN TỘI
Vụ án: Trần Hồng Đức, Đỗ Văn Tùng, Nguyễn Thị Hồng, Lê Minh
mua bán trái phép chất ma túy, quy định tại Điều 251 BLHS.
“Thưa Hội đồng xét xử”,
Căn cứ Điều 321 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Hôm nay, Tòa án nhân dân quận 7, thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với các bị cáo Trần Hồng Đức, Đỗ Văn Tùng, Nguyễn Thị Hồng,
Lê Minh bị xét xử về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b, Khoản 2, Điều 251 Bộ luật Hình sự
Căn cứ Điều 321 BLTTHS, Tôi tên là Nguyễn Nguyễn Ngọc Toàn - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, được phân công thực hành quyền công tố, kiểm sát xét
xử tại phiên toà trình bày quan điểm của Viện kiểm sát về việc xử lý đối với các bị cáo và giải quyết vụ án như sau:
Như vậy khẳng định cáo trạng số /CT-VKS của Viện Kiểm sát nhân dân Quận
7 ngày 22 tháng 08 năm 2018 truy tố bị cáo Trần Hồng Đức, Đỗ Văn Tùng, Nguyễn
Thị Hồng, Lê Minh về tội " Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại Khoản 2,
Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, không oan, sai;
- Tuy nhiên khi lượng hình HĐXX cũng cần xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, đó là:
Tình tiết tăng nặng:
Bị cáo Trần Hồng Đức có 02 tiền án gồm một tiền án về tổ chức đánh bạc, một tiền
án về đánh bạc là tình tiết tăng nặng (tái phạm) được quy định tại điểm h, Khoản 1, Điều
52 BLHS; Ngoài ra, Trong quá trình điều tra Trần Hồng Đức bán ma túy cho Huỳnh Văn Chính khoảng 10 lần (phạm tội có tính chất chuyên nghiệp), bán cho nhóm của Thanh, Hiệp vào ngày 15/3/2018, bán cho nhóm của Cường, Trinh, bán cho Nguyễn Văn Lành 3 lần, mua ma túy của Minh 3 lần, ngoài ra còn mua của Dũng Nên Trần Hồng Đức còn được áp dụng các tình tiết tăng nặng quy định tại điểm b và g Khoản 1, Điều 52 BLHS
Mẫu số 13/XS
Theo QĐ số 505/QĐ-VKSTC ngày
18 tháng 12 năm 2017
Trang 9như phạm tội có tính chất chuyên nghiệp1 và phạm tội 02 lần trở lên Tuy nhiên, vì Trần Hồng Đức cũng bị truy tố theo điểm b, Khoản 2, Điều 251 BLHS nên không tính tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên (các tình tiết đã được Bộ luật Hình sự quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng)2
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo Trần Hồng Đức, Đỗ Văn Tùng, Nguyễn Thị Hồng, Lê Minh quá trình điều tra đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1, Điều 51 BLHS
Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Kết quả điều tra, xét thấy các bị cáo Trần Hồng Đức,
Đỗ Văn Tùng, Nguyễn Thị Hồng, Lê Minh là người không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, thu nhập từ việc bất chính không đáng kể, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung Đề nghị xem xét miễn
Về vật chứng thu giữ trong vụ án:
Đối với 0,0500 gam Methamphetamine (vật chứng sau giám định) thu giữ của Trần Hồng Đức khi bắt quả tang cần thiết phải tiêu hủy;
Đối với 2,1820 gam Methamphetamine (vật chứng sau giám định) thu giữ của Nguyễn Thị Hồng khi bắt quả tang cần thiết phải tiêu hủy;
Đối với 3,9643 gam Methamphetamine (vật chứng sau giám định), số dụng cụ dùng
để sử dụng ma túy (01 cây kẹp gắp bằng kim loại, 01 cây kéo bằng kim loại, 01 tấm kiến,
01 số bao nilon và ống hút) thu giữ của Đỗ Văn Tùng khi bắt quả tang cần thiết phải tiêu hủy;
Đối với 05 điện thoại di động (01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA thu giữ của
Đỗ Văn Tùng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu MOBELL thu giữ của Trần Hồng Đức, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA thu giữ của Nguyễn Thị Hồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA thu giữ của Lê Minh)
cả 05 chiếc điện thoại và sim trong điện thoại này các bị cáo dùng vào việc trao đổi mua bán ma túy, cần thiết tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;
Đối với 300.000 đồng là số tiền do Trần Hồng Đức bán cho đối tượng nghiện trong hẻm 75, phường tân Kiểng, quận 7 tên là Nguyễn Văn Lành (tự là Năm) sinh năm 1967, HKTT: 964W6 Đoàn Văn Bơ, phường 10, quận 4, cần truy thu
Đối với 600.000 đồng là số tiền do Nguyễn Thị Hồng có được do thu lợi bất chính trong việc buôn bán trái phép chất ma túy, cần truy thu
Đối với 3.500.000 đồng là số tiền do Đỗ Văn Tùng cầm cố xe mà có
1 Căn cứ Tại Mục 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự có hướng dẫn về tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” như sau: “Chỉ áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khi có đầy đủ các điều kiện sau đây: Cố ý phạm tội từ 5 lần
trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích; Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội là nghề sinh sông và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.”
2 Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03 tháng 4 năm 2019: “4 Mục I Về hình sự”
Trang 10Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA NOUVO, BKS: 54Z4 2723 Qua xác minh, điều tra chiếc xe trên chủ sở hữu chiếc xe là Nguyễn Đỗ Tuấn Kiệt, sinh năm:
1988, ngụ tại 570/59/5 Đoàn Văn Bơ, phường 16, quận 4; Chỗ ở: 502/45/11 Huỳnh Tấn Phát, phường Bình Thuận, quận 7 đứng tên đăng ký xe Anh Kiệt đã bán chiếc xe trên cho người bạn là Võ Quốc Cường, sinh năm 1985, ngụ tại: 450/110 Đoàn Văn Bơ, phường
14, quận 4 nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ cũng như giấy tờ mua bán Trần Hồng Đức nhờ Võ Quốc Cường dùng chiếc xe trên chờ đi công chuyện, còn việc Đức đi bán ma túy Cường hoàn toàn không biết, Võ Quốc Cường có ý kiến xin lại chiếc xe máy; Đối với chiếc xe gắn máy BKS: 54Z6 0089, số máy 1512399, số khung: 5055490 Qua xác minh, điều tra chiến xe này do chị Phan Thị Hoa đứng tên đăng ký Chị Hoa đã bán chiếc xe này cho Bà Trương Thị Kim Sa (mẹ bị can Đỗ Văn Tùng), ngụ tại: 92/2 khu phố 3, phường Tân Thuận Đông, quận 7 nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ Bà Sa đưa chiếc xe cho con bà là Đỗ Văn Tùng dùng làm phương tiện chạy xe ôm, còn Tùng dùng chiếc xe này làm phương tiện buôn ma túy bà Sa không biết, bà Sa có ý kiến xin lại chiếc xe máy
Với các căn cứ nêu trên, tôi đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Trần Hồng Đức,
Đỗ Văn Tùng, Nguyễn Thị Hồng, Lê Minh phạm tội mua bán trái phép chất ma túy;
- Áp dụng điểm b, c, Khoản 2, Điều 251 BLHS; điểm b, h, Khoản 1, Điều 52 BLHS
và điểm s Khoản 1, Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Trần Hồng Đức phạt tù từ 14 năm đến
15 năm
- Áp dụng điểm a, b, c Khoản 2, Điều 251 BLHS và điểm s, Khoản 1, Điều 51 BLHS
xử phạt bị cáo Đỗ Văn Tùng phạt tù từ 09 năm đến 11 năm
- Áp dụng điểm b, c, Khoản 2, Điều 251 BLHS và điểm s, Khoản 1, Điều 51 BLHS
và bị cáo Hồng thực hiện hành vi phạm tội đang dưới 18 tuổi nên xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng phạt tù từ 07 năm đến 08 năm
- Áp dụng điểm a, b, c Khoản 2, Điều 251 BLHS và điểm s, Khoản 1, Điều 51 BLHS
xử phạt bị cáo Lê Minh phạt tù từ 09 năm đến 11 năm
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu, tiêu hủy 0,0500 gam Methamphetamine (vật chứng sau giám định) thu giữ của Trần Hồng Đức;
Tịch thu, tiêu hủy 2,1820 gam Methamphetamine (vật chứng sau giám định) thu giữ của Nguyễn Thị Hồng;
Tịch thu, tiêu hủy 3,9643 gam Methamphetamine (vật chứng sau giám định) và 01 số dụng cụ dùng để sử dụng ma túy thu giữ của Đỗ Văn Tùng;
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 05 điện thoại di động (01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA thu giữ của Đỗ Văn Tùng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu MOBELL thu giữ của Trần Hồng Đức, 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG và 01 điện thoại
di động nhãn hiệu NOKIA thu giữ của Nguyễn Thị Hồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu