A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Người cao tuổi (NCT) là nhóm tuổi luôn được Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, khi thế giới đang trong quá trình già hóa dân số. Tại Điều 2, chương I trong Luật NCT được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23112009, NCT được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam đủ 60 tuổi trở lên. Theo thống kê, năm 1995, tỷ lệ NCT trên toàn thế giới là 9% thì vào năm 2025, Quỹ dân số của Liên Hợp Quốc dự báo dự báo sẽ là 14%. Ở Việt Nam, theo số liệu tổng điều tra dân số 1989, 1999, 2009, tỷ lệ NCT (60 tuổi trở lên) đã tăng từ 7.25% (năm 1989) lên 8,2% ( năm 1999) và 9% ( năm 2009) trong tổng dân số, gần đến ngưỡng của già hóa dân số mà thế giới quy định (10%).1 Bước vào giai đoạn tuổi già là bước vào giai đoạn sức chống đỡ và sự chịu đựng của con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như bên trong kém đi rất nhiều, đó chính là điều kiện thuận lợi để bệnh tật phát sinh, phát triển. Ngoài ra, ở người cao tuổi bệnh thường phát triển chậm chạp, âm thầm khó phát hiện và khi mắc bệnh thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, gây suy sụp sức khỏe rất nhanh chóng. Vì vậy, đối với người cao tuổi, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe toàn diện như việc rèn luyện nâng cao sức khỏe về thể chất và tinh thần, khám phát hiện và điều trị bệnh kịp thời, tiếp cận với các mô hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi là rất cần thiết. 2. Mục đích ngiên cứu Phân tích đánh giá nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam hiện nay Phân tích, đánh giá các nguồn lực kết nối trợ giúp chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam Đề xuất các biện pháp nhằm kết nối nguồn lực chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam.
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Người cao tuổi (NCT) là nhóm tuổi luôn được Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt, đặc biệt là trong tình hình hiện nay, khi thế giới đang trong quá trình già hóa dân số Tại Điều 2, chương I trong Luật NCT được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/11/2009, NCT được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam đủ 60 tuổi trở lên
Theo thống kê, năm 1995, tỷ lệ NCT trên toàn thế giới là 9% thì vào năm 2025, Quỹ dân số của Liên Hợp Quốc dự báo dự báo sẽ là 14% Ở Việt Nam, theo số liệu tổng điều tra dân số 1989, 1999, 2009, tỷ lệ NCT (60 tuổi trở lên) đã tăng từ 7.25% (năm 1989) lên 8,2% ( năm 1999) và 9% ( năm 2009) trong tổng dân số, gần đến ngưỡng của già hóa dân số mà thế giới quy định (10%).[1]
Bước vào giai đoạn tuổi già là bước vào giai đoạn sức chống đỡ và sự chịu đựng của con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như bên trong kém đi rất nhiều, đó chính là điều kiện thuận lợi để bệnh tật phát sinh, phát triển Ngoài ra, ở người cao tuổi bệnh thường phát triển chậm chạp, âm thầm khó phát hiện và khi mắc bệnh thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, gây suy sụp sức khỏe rất nhanh chóng Vì vậy, đối với người cao tuổi, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe toàn diện như việc rèn luyện nâng cao sức khỏe
về thể chất và tinh thần, khám phát hiện và điều trị bệnh kịp thời, tiếp cận với các mô hình dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi là rất cần thiết
2 Mục đích ngiên cứu
- Phân tích đánh giá nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam hiện nay
- Phân tích, đánh giá các nguồn lực kết nối trợ giúp chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam
Trang 2- Đề xuất các biện pháp nhằm kết nối nguồn lực chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu chăm sóc sức khỏe và sử dụng dịch
vụ chăm sóc sức khỏe của NCT ở Việt Nam hiện nay
* Phạm vi nghiên cứu: Trên toàn lãnh thổ Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
* Mô hình nghiên cứu: Nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng
* Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phân tích tài liệu
5 Nhiệm vụ của đề tài
- Đánh giá được thực trạng NCT ở Việt Nam hiện nay.
- Phân tích, đánh giá về nhu cầu của NCT ở Việt Nam hiện nay
- Phân tích, đánh giá về tình trạng tiếp cận và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam hiện nay
- Đưa ra một số kiến nghị về chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam hiện nay
Trang 3B NỘI DUNG
1 Thực trạng NCT ở Việt Nam [3]
Cùng với xu hướng chung của thế giới, quá trình già hóa dân số ở Việt Nam cũng đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, quy mô ngày càng lớn Quá trình già hóa dân số ở Việt Nam sẽ là “ già ở nhóm già nhất”, nghĩa là tốc
độ tăng và số lượng NCT (NCT) ở độ tuổi cao nhất ( từ 80 tuổi trở lên) sẽ ngày càng lớn Số liệu từ bốn cuộc Tổng điều tra Dan số và Nhà ở gia đoạn 1979- 2009 cho thấy, tỷ lệ NCT ở nhóm tuổi thấp nhất ( từ 60-69) tăng chậm, trong khi tỷ lệ NCT ở nhóm cao tuổi trung bình (70-79) và già nhất (80+) có
xu hướng tăng nhanh hơn Dự báo của GSO (2010) cho giai đoạn 2009- 2049, khi VIệt Nam bước vào giai đoạn dân số “già” cũng là lúc nhóm dân số cao tuổi nhất tăng với tốc độ cao nhất
Nhóm tuổi (%
tổng dân số)
1979 1989 1999 2009 2019 2029 2039 2049
60-64 2,28 2,40 2,31 2,26 4,29 5,28 5,80 7,04 65-69 1,90 1,90 2,20 1,81 2,78 4,56 5,21 6,14 70-74 1,34 1,40 1,58 1,65 1,67 3,36 4,30 4,89 75-79 0,90 0,80 1,09 1,40 1,16 1,91 3,28 3,87 80+ 0,54 0,70 0,93 1,47 1,48 1,55 2,78 4,16
Nguồn: Tổng điều tra dân số 1989, 1999 và 2009 và
dự báo dân số của GSO (2010)
So với các quốc gia khác trên thế giới, thậm chí với nhiều nước phát triển hoặc có mức thu nhập trung bình cao hơn, tốc độ già hóa dân số Việt Nam khá cao Cụ thể, số năm để tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên ở Việt Nam tăng từ 7% lên 14 % tổng dân số là ngắn hơn nhiều nước: Pháp mất 115 năm, Thụy Điển mát 85 năm, Mỹ mất 69 năm, Nhật Bản và Trung Quốc mất 26
Trang 4năm, trong khi Việt Nam mất 20 năm Với điều kiện kinh tế, xã hội phát triển như hiện nay thì đay thực sự là thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với một dân số “ già hóa” nhanh
Cơ cấu NCT hiện nay cho thấy, ở Việt Nam đa phần NCT sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp dù rằng quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng ở Việt Nam Tổng điều tra Dân số năm 2009 cho thấy có 72,9% NCT sống ở nông thôn Trong số NCT, chỉ có khoảng 16 - 17% được hưởng lương hưu hoặc mất sức, hơn 10% hưởng trợ cấp người có công với nước Như vậy, còn trên 70% NCT hiện nay sống bằng lao động của mình, bằng nguồn
hỗ trợ của con cháu và gia đình Trong khi đó, ở nông thôn ruộng đất ít, thu nhập thấp, ít có tiết kiệm phòng khi bất trắc tuổi già Thực tế này đòi hỏi chính sách đối với NCT cần hướng đến nông thôn, cần xây dựng và triển khai chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân, đẩy mạnh nghiên cứu các hình thức hoạt động phù hợp cho NCT ở nông thôn, đặc biệt NCT cô đơn, không nơi nương tựa, NCT có hoàn cảnh khó khăn…
2 Tình trạng sức khỏe của người dân Việt Nam hiện nay [2]
Điều tra về NCT Việt Nam năm 2011 cho thấy, hơn 55% và trên 10% số người đánh giá sức khỏe bản thân là yếu và rất yếu Nghiên cứu này cũng cho thấy tỷ lệ NCT gặp ít nhất một loại khó khăn về vận động là gần 72% và gặp ít nhất một trở ngại trong sinh hoạt hằng ngày là 37,6% Tỷ lệ mắc các bệnh mãn tính khác cao và thường mắc nhiều bệnh đồng thời với tỷ
lệ trung bình một người mắc gần 2,7 bệnh Theo nghiên cứu của Bệnh viện Lão khoa trung ương, tăng huyết áp là bệnh phổ biến với tỷ lệ mắc lên tới 45,6% (trong đó những người từ 60- 74 tuổi là 42% và những người từ 75 tuổi trở lên là 54,6%), tỷ lệ mắc bệnh mạch vành là gần 10% Những bệnh lý tim mạch này thực sự là những bệnh đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính ( vốn có nguyên nhân
từ các bệnh về đường hô hấp kéo dài) cũng xuất hiện ở 12,6% NCT và tuổi càng cao thì tỷ lệ này càng lớn, từ 10,8% ở nhóm tuổi từ 60 đến 74, lên tới
Trang 517,2 % ở nhóm tuổi trên 75 Một số loại bệnh khác thể hiện sự thoái hóa chức năng ở cơ thể NCT gây ảnh hưởng đến sức khỏe như bệnh về xương khwps, thị giác, thính giác Bệnh về xương khớp phổ biến là thoái hóa khớp (33,9%), thấp khớp (9%) và loãng xương (10,4%) Có tới 76,7% NCT có dấu hiệu giảm thị lực, 70,3% ở nhóm tuổi 60- 74 và tăng lên 93% ở nhóm tuổi trên 75; gần 58% số người mắc bệnh đục thủy tinh thể và đặc biệt cao ở người trên 75 tuổi (79,6%) Tương tự, tỷ lệ người bị giảm thính lực là trên 40% Các tình trạng sa sút về sức khỏe đáng kể khác ở cả nam giới và nữ giới cao tuổi là các bệnh tiểu đường và bệnh của tiêu hóa như loét dạ dày, viêm đại tràng, nuốt nghẹn có tỷ lệ mắc tương ứng là 15,4%., 9,7% và 10,2%
Về tinh thần, những thay đổi về xã hội, tâm lý, lo toan trong cuộc sống, sự cô đơn khi mất đi người bạn đời, người thân làm cho NCT bị suy sụp
về tinh thần và mắc các bệnh lý tâm thần trầm trọng Theo nghiên cứu tại một
số địa phương, tỷ lệ NCT gặp phải tình trạng khó ngủ là 67%, lo lắng về cuộc sống là 51%, buồn rầu là 40%, chán nản là 42% và mệt mỏi thương xuyên là 34% Tỷ lệ NCT sa sút trí tuệ là 4,9% ( trong đó, người trên 75 tuổi có tỷ lệ là 9,8%, cao hơn hẳn so với tỷ lệ 3,9% ở nhóm người từ 60 đến 70 tuổi)
Những chỉ số về sức khỏe, những thông tin về chăm sóc sức khỏe chung nói trên cho thấy nhu cầu cao về chăm sóc sức khỏe của NCT Việt Nam Để đáp ứng nhu cầu này, cần phải có những chính sách giải pháp phù hợp, sự đáp ứng hiệu quả hệ thống y tế, sư hỗ trợ và quan tâm thỏa đáng của cộng đồng đối với NCT
3 Nhu cầu chăm sóc sức khỏe NCT [3]
Nhu cầu là một khái niệm mang tính khách quan, có thể được hiểu là những thiếu hụt về một vấn đề nào đó
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe là người bệnh thực sự mắc bệnh hoặc cần CSSK, cần được sử dụng các DVYT thích hợp để giải quyết vấn đề sức khỏe
đó
Trang 6Nhu cầu hàng đầu đối với CSSK là phòng bệnh, phát hiện sớm bệnh, chữa bệnh kịp thời để tránh hoặc kéo dài thời gian chuyển sang mãn tính, di chứng Thực hiện công tác phục hồi chức năng, điều dưỡng, chăm sóc cả tinh thần và thể chất nhằm giúp người bệnh hòa nhập trở lại với sinh hoạt bình thường của cộng đồng xã hội
Chăm sóc sức khỏe cho NCT là phòng, chống sự già hóa quá sớm, đề
ph ng và chữa trị các bệnh tuổi già sinh ra bằng nhiều biện pháp khác nhau qua
đó nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe (về cả thể xác lẫn tinh thần), giảm thiểu các bệnh mạn tính, tàn phế và tử vong khi bước vào tuổi già Nhu cầu CSSK ở NCT khác với những nhóm tuổi khác Các nhu cầu chăm sóc của NCT gồm: CSSK tâm thần, tâm lý, phục hồi về thính lực và thị lực, chăm sóc vệ sinh răng miệng, dinh dưỡng đầy đủ, hợp lý và an toàn, phục hồi chức năng, nhà ở, môi trường sống và phòng, chống, giảm các yếu tố nguy cơ Nhu cầu CSSK
là những yêu cầu cấp thiết của NCT không chỉ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan
mà còn phụ thuộc khá nhiều vào chất lượng, giá thành, mức độ bệnh, khoảng cách và khả năng tiếp cận với các cơ sở CSSK của từng người
Ở Việt Nam, nhu cầu CSSK của NCT là rất lớn (chiếm 84,4%) trong khi điều kiện tự thân của NCT còn rất hạn chế Tình trạng NCT sống không có vợ/chồng chiếm tỷ lệ cao (14%), trong đó NCT nữ cô đơn cao gấp 5,44 lần so với NCT nam; phụ nữ cao tuổi sống ly hôn, ly thân gấp 2,2 lần so với nam giới Việc phải sống một mình là điều kiện rất bất lợi đối với NCT, bởi gia đình luôn là chỗ dựa cơ bản cho mỗi thành viên khi về già Về tình trạng kinh tế, thu nhập của NCT là rất thấp, 70% NCT không có tích lũy vật chất Tình hình càng trở nên khó khăn đối với NCT sống ở khu vực nông thôn và miền núi Kết quả điều tra của Viện Lão khoa Quốc gia tại 3 tỉnh/thành: Hà Nội, Thừa Thiên Huế
và Bà Rịa - Vũng Tàu cho thấy, trong nhiều lý do khiến NCT không được KCB, lý do chính là không đủ khả năng kinh tế (45,3%), điều kiện đi lại khó khăn (17,3%), y tế địa phương không đáp ứng được (16,5%), lý do khác (20,9%) Nhu cầu KCB giữa 2 khu vực thành thị và nông thôn không có nhiều
Trang 7khác biệt song ở khu vực nông thôn một tỷ lệ không nhỏ nhu cầu KCB chưa được đáp ứng Tỷ lệ NCT điều trị 1 lần trong 12 tháng chiếm 29,6%, điều trị 2 lần chiếm 28,7%, điều trị 3 lần chiếm 15,8%, điều trị 4 lần chiếm 9,3% và điều trị 5 lần trở lên chiếm 16,7%
Số lần khám chữa bệnh trong vòng 12 tháng qua của NCT
Số lần điều trị
trong 12 tháng
Thành thị Nông thôn
Nguồn: Kết quả điều tra của Viện Lão khoa Quốc gia tại 3 tỉnh/thành: Hà Nội,
Thừa Thiên Huế và Bà Rịa - Vũng Tàu
Nhu cầu chăm sóc sức khỏe ở NCT không chỉ là đơn thuần là những chăm sóc hằng ngày như nuôi dưỡng, chăm sóc khi ốm đau, NCT còn có nhu cầu rất cao đó là được chăm sóc về tinh thần Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, gia đình nhiều thế hệ bắt đầu có xu hướng chuyển thành gia đình hạt nhân Hiện tượng này thường gặp ở khu vực thành thị, nhưng hiện tại cũng đã trở nên phổ biến ở khu vực nông thôn Mặt khác, dưới tác động của nền kinh tế thị trường, tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng nhanh, người dân sống ở vùng nông thôn có xu hướng di dân vào thành phố để tìm kiếm việc làm đặc biệt là những thanh niên trẻ làm quy mô gia đình giảm, phụ nữ trở thành lao động chính, dẫn tới sự hỗ trợ từ phía gia đình trong CSSK NCT là rất hạn chế Đây là một gánh nặng đối với NCT và làm cho nhu cầu chăm sóc về tinh thần của NCT từ con cái không được đáp ứng như mong đợi Vì vậy, nhà nước, gia đình, cộng đồng cần quan tâm hơn nữa, cải thiện đời sống vật chất của NCT
Trang 8nhưng đồng thời phải chăm sóc hơn về mặt tinh thần thông qua những việc làm
cụ thể, thiết thực như giáo dục cho con cháu biết quan tâm, kính trọng ông bà, cha mẹ, xây dựng mô hình CSSK toàn diện cho NCT, đảm bảo cho NCT được chăm sóc tốt hơn ngay tại nơi họ sinh sống
4 Các nguồn lực hỗ trợ
Các chính sách xã hội của Nhà nước về chăm sóc sức khỏe cho NCT ở Việt Nam
– Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều về mức trợ cấp xã hội hang tháng, hỗ trợ chi phí mai táng cho người khuyết tật nặng là NCT
– Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó
có đối tượng là NCT là hộ nghèo hay NCT trên 80 tuổi
– Thông tư số 17/2011/TT-BLĐTBXH ngày 19/5/2011 của Bộ lao động Thương binh và xã hội quy định hồ sơ, tủ tục trợ cấp xã hội hàng tháng,
hỗ trợ chi phí mai táng và tiếp nhận NCT vào cơ sở bảo trợ xã hội
– Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH ngày 12/11/2012 của Bộ lao động Thương binh và xã hội hướng dẫn một số điều của Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết va hướng dẫn thi hành một số điều Luật người khuyết tật trong đó có quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành về bảo trợ xã hội cho người khuyết tật nặng là NCT
– Thông tư số 21/2011/TT-BTC ngày 18/2/2011 của Bộ tài chính quy định quản lý và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NCT tại nơi cư trú, chúc thọ, mừng thọ và biểu dương, khen thưởng NCT
– Thông tư 35/2011/TT-BYT ngày 15/10/2011 của Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện chăm sóc sức khỏe NCT
– Nghị định 13/2010/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội
Trang 9– Nghị định 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó có nhóm đối tượng là NCT cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; NCT còn vợ hoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa, thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời kỳ) và người từ 85 tuổi trở lên không
có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội
Các mô hinh dịch vụ chăm sóc sức khỏe NCT ở Việt Nam hiện nay
- Mô hình trung tâm bảo trợ xã hội
- Mô hình cơ sở nuôi dưỡng và chăm sóc NCT
- Mô hình trung tâm tư vấn và chăm sóc sức khỏe NCT
- Mô hình chăm sóc sức khỏe NCT tại cộng đồng
5.Tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của NCT[3]
a Khái niệm về tiếp cận
Trong y tế, khái niệm tiếp cận có thể được xem là khả năng đến và tiếp xúc được các dịch vụ CSSK, nơi đáp ứng việc khám chữa bệnh của NCT Khả năng tiếp cận DVYT hoàn toàn khác việc sử dụng dịch vụ y tế Việc có sử dụng DVYT hay không phụ thuộc vào mức độ bệnh tật, sự sẵn có của DVYT
và nhiều yếu tố khác Tiếp cận bao gồm cả 2 phía, phía NCT và dịch vụ y tế, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: không gian, thời gian, chi phí, sự sẵn có, chất lượng dịch vụ, văn hóa xã hội và con người
- Không gian: mặc dù Đảng và Nhà nước đã hết sức quan tâm tới
tuyến y tế cơ sở nhưng do điều kiện kinh tế nên hầu hết các TYT xã vẫn chưa
có khu vực KCB dành riêng cho NCT cũng như quy định nhiệm vụ riêng trong KCB cho NCT Tuy nhiên, mỗi TYT cũng đã cố gắng trong việc tạo ra một không gian thân thiện, gần gũi đối với NCT nhằm giúp NCT dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với các dịch vụ CSSK
- Khoảng cách và thời gian: đây là những yếu tố quyết định việc có
hay không tiếp cận các dịch vụ CSSK của NCT Ngày nay, với phương tiện
Trang 10giao thông và thông tin liên lạc ngày càng hiện đại, NCT có thể tiếp cận đến các cơ sở y tế nhanh chóng và thuận tiện hơn, thời gian được rút ngắn đến mức tối thiểu, bệnh tật được phát hiện sớm và xử trí kịp thời
- Chi phí: như đắt, rẻ, có khả năng chi trả hay không có khả năng chi
trả Đây là yếu tố quan trọng nhất, điều mà người sử dụng DVYT rất quan tâm, có tính chất quyết định trong việc lựa chọn dịch vụ, đặc biệt là những người có thu nhập thấp Họ sẽ đến cơ sở y tế nào có giá thành rẻ mà chất lượng dịch vụ lại đảm bảo và tin cậy Chi phí KCB bao gồm chi phí trực tiếp (chi phí trực tiếp cho khám và điều trị tại cơ sở y tế) và những chi phí gián tiếp (chi phí cho thuốc ngoài cơ sở y tế, cho ăn uống, đi lại, bồi dưỡng sức khỏe…) Pháp lệnh NCT quy định NCT từ 80 tuổi trở lên được Nhà nước bảo đảm chi phí KCB thông qua thẻ bảo hiểm y tế Tuy nhiên, phần lớn NCT từ
60 - 80 tuổi vẫn chưa có một chế độ ưu đãi riêng nào về vấn đề này Vì vậy, chi phí KCB cho NCT dưới 80 tuổi cũng là vấn đề cần được quan tâm Đặc biệt, những NCT sống ở khu vực nông thôn, có nguồn thu nhập thấp và chủ yếu là từ sản xuất nông nghiệp, rất nhiều người trong số đó không đủ tiền để đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh
- Sự sẵn có và chất lượng dịch vụ: trình độ chuyên môn, phương tiện kỹ
thuật, trang thiết bị là những điểm mấu chốt trong việc lựa chọn dịch vụ của
NCT Mong muốn chung của NCT là được thầy thuốc giỏi, có kinh nghiệm KCB và CSSK Vì vậy, để nâng cao chất lượng dịch vụ CSSK cho NCT tại tuyến y tế cơ sở cần phải quan tâm hơn nữa tới việc đào tạo đội ngũ cán bộ y
tế, đặc biệt là cán bộ chuyên ngành lão khoa cùng với đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị
- Văn hóa xã hội: Đây là yếu tố liên quan đến thái độ ứng xử và khả
năng giao tiếp trong CSSK cho NCT, thái độ của các thành viên trong gia đình, tâm lý ngại phiền hà con cái, muốn được chết ở nhà… là những yếu tố