MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Kể từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đang ngày càng dần chuyển mình mạnh mẽ hơn bao giờ hết, là quốc gia có quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương... Việt Nam đồng thời còn là thành viên tích cực của các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới như ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, AFTA – Khu vực thương mại tự do ASEAN, ASEM – Diễn đàn Hợp tác Á – Âu, WTO – Tổ chức thương mại thế giới... Và sự kiện nổi bật gần đây nhất là việc Việt Nam được chọn làm nước chủ nhà và tổ chức đăng cai thành công Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương APEC 2017, góp phần quảng bá một Việt Nam với nền kinh tế năng động, sáng tạo, nền chính trị ổn định, môi trường xã hội thân thiện, đồng thời mở rộng và thắt chặt được quan hệ ngoại giao với nhiều nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì vấn đề không chỉ dừng lại ở việc tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch, hiện đại, “Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động”, mà nó còn nằm ở việc nâng cao chất lượng và hoàn thiện cơ sở vật chất – cơ sở hạ tầng xã hội và giao thông chính là một trong những vấn đề đang thu hút được rất nhiều sự quan tâm của Nhà nước và xã hội trong bối cảnh hiện nay vì sự tác động trực tiếp và mạnh mẽ của nó đến cuộc sống hàng ngày của người dân (xuất hiện với độ phủ sóng dày đặc hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng) cũng như sự phát triển chung của đất nước. Khi nói tới hội nhập, người ta thường nói tới hội nhập kinh tế, thương mại, đầu tư, mà ít người nói tới hội nhập văn hóa giao thông, trong khi đây có thể coi là thước đo hội nhập của một quốc gia. Vậy trình độ văn hóa giao thông của chúng ta đang đứng ở đâu so với thế giới mà chúng ta đang hội nhập? Và làm thế nào để xây dựng được một nền văn hoá giao thông hiện đại nhưng vẫn mang màu sắc riêng của Việt Nam đáp ứng yêu cầu thực tiễn xã hội cũng như trong thời đại hội nhập quốc tế hiện nay. Việt Nam là một trong những quốc gia tiêu thụ xe máy với số lượng rất lớn (xếp thứ 4 thế giới) và đa số người dân đều sử dụng xe máy để phục vụ 85% nhu cầu đi lại hàng ngày. Theo thống kê số lượng mô tô, xe máy, bao gồm cả những xe không còn lưu hành, từ năm 2016 là khoảng hơn 42 triệu xe, tính theo số dân 92 triệu người thì bình quân cứ 1.000 người dân sẽ sở hữu khoảng 460 xe máy (xếp thứ 2 thế giới) và con số này vẫn không ngừng tăng lên theo tốc độ tăng trưởng của dân số. Theo đó, mỗi năm cả nước ta có khoảng hơn 12.000 người chết và bị thương do tai nạn giao thông gây ra, con số này được so sánh thiệt hại còn lớn hơn thiệt hại do thảm hoạ động đất ở Nhật Bản. Còn chưa kể đến việc tiêu tốn tiền của và thời gian của xã hội mỗi khi xảy ra tai nạn hoặc ùn tắc giao thông. Theo một cuộc điều tra khảo sát trước đây cho thấy, trung bình một ngày, người dân Hà Nội lãng phí khoảng 58 phút chỉ vì ùn tắc giao thông. Tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 4 Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội khoá XV (sáng ngày 372017) đưa ra một con số cảnh báo về việc ùn tắn giao thông “thiêu đốt” của thành phố gần 13 nghìn tỷ đồng, tương đương gần 600 triệu USD mỗi năm. Như vậy rõ ràng có thể coi những vấn đề liên quan đến giao thông đã trở thành “quốc nạn” hàng năm của đất nước. Hà Nội – Thủ đô kinh tế chính trị – văn hoá xã hội, là trái tim của cả nước nhưng cũng là một trong hai “trung tâm lớn” về điểm tắc nghẽn và các bài toán phức tạp liên quan đến giao thông bởi lẽ văn hoá đô thị gắn liền với văn hoá giao thông, trong đó có bài toán liên quan đến việc phải làm sao để xây dựng văn hoá giao thông đô thị, đặc biệt là “xây dựng văn hoá giao thông ở phố cổ Hà Nội hiện nay” – nơi chứa đựng linh hồn, tinh hoa chốn Kinh kỳ, nghìn năm văn hiến của đất nước.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Mở đầu 9
Nội dung 10
Chương II - Thực trạng văn hoá giao thông ở phố cổ Hà Nội 10
Kết luận 10
CHƯƠNG I 13
VĂN HOÁ GIAO THÔNG Ở PHỐ CỔ HÀ NỘI – 13
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1.1 Khái niệm văn hoá và văn hoá giao thông 13
1.1.1 Khái niệm văn hoá 13
1.1.2 Khái niệm văn hoá giao thông 16
1.2 Xây dựng văn hoá giao thông 21
1.3 Không gian văn hoá giao thông 22
1.4 Khái quát đặc trưng phố cổ Hà Nội 23
CHƯƠNG II 35
THỰC TRẠNG VĂN HOÁ GIAO THÔNG Ở PHỐ CỔ HÀ NỘI 35
2.1 Thực trạng ý thức của người dân, người tham gia giao thông ở phố cổ Hà Nội 35 2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng và phương tiện giao thông ở phố cổ Hà Nội 39
2.3 Thực trạng việc điều hành, quản lý giao thông ở phố cổ Hà Nội 48
2.4 Đánh giá chung thực trạng văn hoá giao thông ở phố cổ Hà Nội (chỉ ra nguyên nhân)54 CHƯƠNG III – MỘT SỐ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG 59
VĂN HOÁ GIAO THÔNG Ở PHỐ CỔ HÀ NỘI 59
3.1 Giải pháp nâng cao ý thức của người dân, người tham gia giao thông ở phố cổ Hà Nội hiện nay 59
3.2 Giải pháp hạn chế vấn đề ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông ở phố cổ Hà Nội hiện nay 64
3.3 Giải pháp nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng và phương tiện giao thông ở phố cổ Hà Nội hiện nay 68
3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành, quản lý giao thông ở phố cổ Hà Nội hiện nay 71
KẾT LUẬN 74
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đang ngày càng dần chuyển mìnhmạnh mẽ hơn bao giờ hết, là quốc gia có quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốcgia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới 230 thịtrường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thương mạisong phương Việt Nam đồng thời còn là thành viên tích cực của các tổ chứckinh tế, thương mại khu vực và thế giới như ASEAN – Hiệp hội các quốc giaĐông Nam Á, AFTA – Khu vực thương mại tự do ASEAN, ASEM – Diễn đànHợp tác Á – Âu, WTO – Tổ chức thương mại thế giới Và sự kiện nổi bậtgần đây nhất là việc Việt Nam được chọn làm nước chủ nhà và tổ chức đăngcai thành công Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương APEC
2017, góp phần quảng bá một Việt Nam với nền kinh tế năng động, sáng tạo,nền chính trị ổn định, môi trường xã hội thân thiện, đồng thời mở rộng và thắtchặt được quan hệ ngoại giao với nhiều nước khác trên thế giới
Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hộinhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì vấn đề không chỉ dừng lại ở việc tạo ramột môi trường pháp lý minh bạch, hiện đại, “Chính phủ kiến tạo, liêm chính,hành động”, mà nó còn nằm ở việc nâng cao chất lượng và hoàn thiện cơ sởvật chất – cơ sở hạ tầng xã hội và giao thông chính là một trong những vấn đềđang thu hút được rất nhiều sự quan tâm của Nhà nước và xã hội trong bốicảnh hiện nay vì sự tác động trực tiếp và mạnh mẽ của nó đến cuộc sống hàngngày của người dân (xuất hiện với độ phủ sóng dày đặc hàng ngày trên cácphương tiện thông tin đại chúng) cũng như sự phát triển chung của đất nước.Khi nói tới hội nhập, người ta thường nói tới hội nhập kinh tế, thương mại,đầu tư, mà ít người nói tới hội nhập văn hóa giao thông, trong khi đây có thể
Trang 3coi là thước đo hội nhập của một quốc gia Vậy trình độ văn hóa giao thôngcủa chúng ta đang đứng ở đâu so với thế giới mà chúng ta đang hội nhập? Vàlàm thế nào để xây dựng được một nền văn hoá giao thông hiện đại nhưngvẫn mang màu sắc riêng của Việt Nam đáp ứng yêu cầu thực tiễn xã hội cũngnhư trong thời đại hội nhập quốc tế hiện nay
Việt Nam là một trong những quốc gia tiêu thụ xe máy với số lượng rấtlớn (xếp thứ 4 thế giới) và đa số người dân đều sử dụng xe máy để phục vụ85% nhu cầu đi lại hàng ngày Theo thống kê số lượng mô tô, xe máy, baogồm cả những xe không còn lưu hành, từ năm 2016 là khoảng hơn 42 triệu xe,tính theo số dân 92 triệu người thì bình quân cứ 1.000 người dân sẽ sở hữukhoảng 460 xe máy (xếp thứ 2 thế giới) và con số này vẫn không ngừng tănglên theo tốc độ tăng trưởng của dân số Theo đó, mỗi năm cả nước ta cókhoảng hơn 12.000 người chết và bị thương do tai nạn giao thông gây ra, con
số này được so sánh thiệt hại còn lớn hơn thiệt hại do thảm hoạ động đất ởNhật Bản Còn chưa kể đến việc tiêu tốn tiền của và thời gian của xã hội mỗikhi xảy ra tai nạn hoặc ùn tắc giao thông Theo một cuộc điều tra khảo sáttrước đây cho thấy, trung bình một ngày, người dân Hà Nội lãng phí khoảng
58 phút chỉ vì ùn tắc giao thông Tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 4 Hội đồngNhân dân Thành phố Hà Nội khoá XV (sáng ngày 3/7/2017) đưa ra một con
số cảnh báo về việc ùn tắn giao thông “thiêu đốt” của thành phố gần 13 nghìn
tỷ đồng, tương đương gần 600 triệu USD mỗi năm Như vậy rõ ràng có thểcoi những vấn đề liên quan đến giao thông đã trở thành “quốc nạn” hàng nămcủa đất nước
Hà Nội – Thủ đô kinh tế - chính trị – văn hoá - xã hội, là trái tim của cảnước nhưng cũng là một trong hai “trung tâm lớn” về điểm tắc nghẽn và cácbài toán phức tạp liên quan đến giao thông bởi lẽ văn hoá đô thị gắn liền vớivăn hoá giao thông, trong đó có bài toán liên quan đến việc phải làm sao để
Trang 4xây dựng văn hoá giao thông đô thị, đặc biệt là “xây dựng văn hoá giao thông
ở phố cổ Hà Nội hiện nay” – nơi chứa đựng linh hồn, tinh hoa chốn Kinh kỳ,
nghìn năm văn hiến của đất nước
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
Năm 2012 là năm Chính phủ lựa chọn là “Năm An toàn giao thông” vớithông điệp “Giảm tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông là trách nhiệm củamỗi người trong chúng ta” nhằm nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi công
dân Hưởng ứng thông điệp đó, cuốn sách Văn hoá giao thông của TS Phạm
Ngọc Trung được xuất bản và trở thành một nguồn tài liệu giúp bạn đọc hiểuhơn về Văn hoá giao thông ở Việt Nam Cuốn sách tập hợp gồm 23 tham luậntrình bày tại Hội thảo khoa học ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền “Văn hoágiao thông ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của các nhàkhoa học, giảng viên, sinh viên Khoa Văn hoá và Phát triển và một số nhàkhoa học, nhiều cán bộ giảng dạy cùng sinh viên trong và ngoài trường côngnhận, đem đến cho độc giả những góc nhìn khác nhau về Văn hoá giao thông.Nội dung cụ thể từng tham luận đi từ khái niệm đến những phân tích về đặcđiểm, tính chất của Văn hoá giao thông ở nước ta để từ đó đề xuất những giảipháp nhằm xây dựng Văn hoá giao thông Việt Nam trong thời kỳ công nghiệphoá, hiện đại hoá Tiếp cận từ nhiều khía cạnh đi từ thực trạng đến nhữngnhận xét đánh giá qua nghiên cứu và khảo sát thực tế của từng tác giả nhưngtựu chung ở đây là những đánh giá từ khía cạnh văn hoá của lĩnh vực giaothông: cách xử sự, giao tiếp khi tham gia giao thông, văn hoá vùng, khu vực
và điều kiện về địa lý tác động đến các yếu tố trong Văn hoá giao thông(văn hoá tiểu nông, văn hoá miền núi ) kết cấu nội dung gồm 3 phần: Kháiniệm văn hoá giao thông và phân tích những khái niệm của Văn hoá giaothông trong giai đoạn công nghiệp hoá – hiện đại hoá hiện nay, Đặc điểm giaothông Việt Nam từ góc nhìn văn hoá (tập trung phân tích đặc điểm vùng miền,
Trang 5phương tiện, đặc trưng văn hoá dân tộc ), Giải pháp xây dựng Văn hoá giaothông ở nước ta trong bối cảnh mới ngày nay.
Cuốn Văn hoá giao thông trong môi trường học đường của TS Huỳnh
Văn Sơn do NXB Đại học Sư phạm phát hành năm 2012 bàn về những vấn đề
cơ bản của văn hoá giao thông như khái niệm của văn hoá giao thông, mốiquan hệ giữa văn hoá và hành vi giao thông, tiêu chí cơ bản và các yếu tố ảnhhưởng đến văn hoá giao thông, những biểu hiện của hành vi văn hoá giaothông Từ đó, tìm hiểu thực trạng của văn hoá giao thông trong tầng lớp họcsinh, sinh viên hiện nay về các khía cạnh như sự nhận thức, thái độ, hành vi
và một số biểu hiện tâm lí của học sinh, sinh viên khi tham gia giao thônghiện nay Trên cơ sở đó, nghiên cứu và đưa ra những khái niệm cơ bản về giáodục, giáo dục hành vi giao thông, ý nghĩa, nội dung của việc giáo dục hành vigiao thông, đề ra những định hướng giáo dục văn hoá giao thông cho học sinhtrong môi trường học đường qua việc tổ chức dạy học các kiến thức, tổ chứccác hoạt động ngoài giờ lên lớp góp phần tăng cường hiệu quả cho công tácgiáo dục về văn hoá giao thông cho học sinh, sinh viên trong môi trường họcđường chất lượng và hiệu quả
Cạnh đó việc giáo dục về văn hoá giao thông cho học sinh ngay từ cáclớp ở bậc tiểu học cũng được xã hội và Nhà nước ta rất quan tâm, chú trọngđến công tác nghiên cứu, cập nhật và sửa đổi để đưa vào những nội dung phù
hợp, thiết thực Bộ sách Văn hoá giao thông dành cho học sinh Tiểu học của
NXB Giáo dục Việt Nam năm 2017 do Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn giúpnâng cao hiểu biết về luật giao thông, chấp hành đúng luật giao thông mà cònhướng đến việc rèn luyện các em thói quen ứng xử có văn hoá khi tham giagiao thông Bộ sách đưa những bài học gắn với thực tế cuộc sống hàng ngàynhư Chấp hành luật và đảm bảo an toàn khi tham gia giao thông, Văn minh,lịch sự khi tham gia giao thông, Ứng xử khi xảy ra giao thông, Ý thức trách
Trang 6nhiệm với an toàn giao thông, Giữ gìn môi trường giao thông an toàn, sạch đẹp.
Bộ sách còn là tài liệu tham khảo thiết thực cho giáo viên và các bậc phụ huynh
để giáo dục, nhắc nhở con em những điều cần thiết giúp các em an toàn khi đilại và biết cách ứng xử đúng mực các tình huống xảy ra trên đường
Tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, do đặc thù chuyên ngành đàotạo, một số môn học cung cấp hiểu biết, đồng thời tạo cơ hội cho sinh viênnghiên cứu tri thức chuyên ngành, giúp hình thành nền tảng kiến thức vữngchắc, phục vụ cho quá trình học tập và rèn luyện
- Môn học Cơ sở Văn hoá Việt Nam trên cơ sở cung cấp những tri
thức hiểu biết chung về lĩnh vực Văn hoá học Việt Nam, , tiến trình lịch sửnền Văn hoá Việt Nam, sinh viên còn có điều kiện được tìm hiểu chuyên sâucác giá trị, thành tố, các bộ phận, lĩnh vực khác nhau trong Văn hoá, nghiêncứu về mối quan hệ giữa văn hoá với môi trường tự nhiên, mối quan hệ giữavăn hoá với môi trường xã hội, sự giao lưu và tiếp biến trong bản thân nềnvăn hoá và sự giao lưu và tiếp biến giữa văn hoá Việt Nam với các nền vănhoá khác trên thế giới Từ đó hiểu thêm về quá trình xây dựng và phát triểnVăn hoá Việt Nam trong thời đại ngày nay
- Môn học Xây dựng Văn hoá Cộng đồng là một môn khoa học độc
lập, đặc biệt trong bối cảnh xu thế hội nhập, cùng sự vận động và biến chuyểncủa sự giao lưu về kinh tế, chính trị, văn hoá ngày càng sâu sắc và dần biếnthế giới trở thành “ngôi làng toàn cầu” (global village), nó tác động đến cácquốc gia ở những bình diện nhất định, thậm chí là mạnh mẽ hơn bao giờ hếtthì môn học này càng trở nên quan trọng và cấp thiết Người học trên cơ sởtiếp cận những tri thức hiểu biết về những yếu tố tổng hợp của văn hoá, từnhững cá nhân trong xã hội, với những nhận thức, hành vi, cách ứng xử, giaotiếp khác nhau, dưới sự ảnh hưởng của môi trường tự nhiên – xã hội xungquanh để hình thành nên những sắc thái, giá trị văn hoá cộng đồng, mà trong
Trang 7đó có văn hoá giao thông gắn liền với văn hoá đô thị và cả văn hoá doanhnghiệp đều là những lĩnh vực chủ yếu, có tác động lớn tới đời sống văn hoácộng đồng Việt Nam nói riêng và sự phát triển chung của đất nước hiện nay.Môn học cung cấp cho người học những tri thức về diện mạo văn hoá giaothông, văn hoá đô thị Việt Nam cùng quá trình phát triển của nó trong các giaiđoạn lịch sử (đặc biệt trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngàynay), những vấn đề cơ bản, tác động ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa doanhnghiệp với văn hoá doanh nghiệp đến Vì vậy, nghiên cứu và xây dựng vănhoá cộng đồng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cũng chính là góp phầnnghiên cứu, tìm hiểu thực trạng và xu hướng vận động của bối cảnh xã hội, từ
đó góp phần nâng cao nhận thức cho người dân, đồng thời đưa ra những kiếngiải, phương và dự báo xu thế phát triển của nó trong tương lai
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận chung về xây dựng văn hoágiao thông, đáng giá thực trạng xây dựng văn hoá giao thông ở phố cổ HàNội, đề tài xin đề xuất một số phương hướng, giải pháp nâng cao sự hiểu biết,
ý thức của người dân về xây dựng văn hoá giao thông ở phố cổ Hà Nội tronggiai đoạn hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, đề tài cần tập trung giải quyết nhữngnhiệm vụ sau:
- Xây dựng cơ sở lý luận chung cho đề tài nghiên cứu về xây dựngvăn hoá giao thông ở phố cổ Hà Nội
- Phân tích, chỉ rõ thực trạng văn hoá giao thông ở phố cổ cũng nhưtrên địa bàn thành phố Hà Nội
- Từ việc phân tích trên, chỉ ra nguyên nhân, tìm ra giải pháp nhằmxây dựng văn hoá giao thông ở phố cổ Hà Nội
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu văn hoáchuyên ngành nói riêng và các ngành nghiên cứu khoa học khác nói chung
Trang 84 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về vấn đề xây dựng văn hoá giao thông ở phố cổ HàNội hiện nay
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu đan xen phương pháp logic: tậphợp các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu phân loại, phân tích, tổnghợp, xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
- Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
- Phương pháp quan sát: qua việc quan sát thực tiễn để rút ra thựctrạng văn hoá giao thông của người dân ở Hà Nội trong việc nghiên cứu đềtài
6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài
6.1 Đóng góp của đề tài (Chỉnh lại)
Đề tài trên cơ sở tổng kết, hệ thống hoá các khái niệm, tài liệu xoayquanh những vấn đề về xây dựng văn hoá giao thông, góp phần làm rõ thựctrạng văn hoá giao thông ở Hà Nội, đặc biệt ở phố cổ của Hà Nội như thựctrạng về cơ sở vật chất - hạ tầng, phương tiện giao thông, thực trạng các cấpquản lý điều hành hệ thống giao thông của thành phố, ý thức của người thamgia giao thông cho thấy được tầm quan trọng của việc cần thiết phải nghiêncứu, tìm hiểu, phổ biến các giá trị tích cực, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực
Trang 9trong việc xây dựng văn hoá giao thông Qua đó, cung cấp sự hiểu biết, giúphình thành và nâng cao ý thức, thúc đẩy việc hoàn thiện nhân cách công dân,đồng thời gìn giữ và phát huy các giá trị tốt đẹp của dân tộc, trong văn hoágiao thông nói riêng, văn hoá cộng đồng nói chung, góp phần tạo dựng môitrường văn hoá xã hội lành mạnh, văn minh, xây dựng nền tảng đời sống vănhoá tinh thần – vật chất làm động lực phát triển cho xã hội Nhận thức đượcđiều này, đề tài đưa ra một số giải pháp xây dựng văn hoá giao thông ở thànhphố Hà Nội, đặc biệt ở phố cổ của Hà Nội.
6.2 Ý nghĩa của đề tài
Dựa trên cơ sở tìm hiểu đóng góp của đề tài phần nào cho thấy đượcviệc xây dựng văn hoá cộng đồng, trong đó có văn hoá giao thông là vấn đềcấp bách, có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn Xây dựng văn hoá giaothông không chỉ là nguyện vọng thiết thực của cá nhân con người, nhu cầucấp thiết của xã hội, mà còn là nhu cầu thiết thân của hệ thống chính trị Xâydựng được văn hoá giao thông không chỉ là yêu cầu của thực tiễn vốn luônbiến đổi đa dạng, mà còn là yếu tố thể hiện trình độ phát triển tất yếu của bất
kỳ cộng đồng, dân tộc, quốc gia nào Với đất nước ta, xây dựng được văn hoágiao thông còn là nhu cầu và điều kiện cần thiết để gìn giữ, phát huy các giátrị đậm bản sắc văn hoá của dân tộc, đồng thời góp phần củng cố, phát huysức mạnh cộng đồng phục vụ thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổquốc Xã hội Chủ nghĩa
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, đề tài còn có kết cấu gồm 3 chương và phần kếtluận như sau:
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
4.2 Phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
3.1 Phương pháp luận
3.2 Phương pháp nghiên cứu
6 Ý nghĩa và đóng góp của đề tài
6.1 Đóng góp của đề tài
6.2 Ý nghĩa của đề tài
7 Kết cấu của đề tài
Trang 11Nội dung Chương I - Văn hoá giao thông ở phố cổ Hà Nội – cơ sở lý luận và t
thực tiễn
1.1 Khái niệm văn hoá và văn hoá giao thông
1.1.1 Khái niệm văn hoá
1.1.2 Khái niệm văn hoá giao thông
1.2 Xây dựng văn hoá giao thông
1.3 Không gian văn hoá giao thông
1.4 Khái quát đặc trưng phố cổ Hà Nội
Chương II - Thực trạng văn hoá giao thông ở phố cổ Hà Nội
2.1 Thực trạng ý thức của người dân, người tham gia giao thông ở phố
Chương III – Một số giải pháp xây dựng văn hoá giao thông ở phố
cổ Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
3.1 Giải pháp nâng cao ý thức của người dân, người tham gia giaothông ở phố cổ Hà Nội hiện nay
3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng và phương tiệngiao thông ở phố cổ Hà Nội hiện nay
3.3 Giải pháp hạn chế vấn đề ùn tắc giao thông và tai nạn giao thông ởphố cổ Hà Nội
3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả điều hành, quản lý giao thông ở phố cổ
Hà Nội hiện nay
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
1 Xây dựng Văn hoá Cộng đồng, TS Nguyễn Thị Hồng, Khoa Tuyên
truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2014
Trang 122 Văn hoá học và Văn hoá Việt Nam, TS Nguyễn Thị Hồng, NXB
Lao động, 2015
3 Tâm lý học đại cương, TS Trần Thị Minh Ngọc, Khoa Tâm lý Giáo
dục, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2014
4 Văn hoá giao thông, TS Ngọc Trung, NXB Hà Nội, 2012.
5 Văn hoá giao thông trong môi trường học đường, TS Huỳnh Văn
Sơn, NXB Đại học Sư phạm, 2012
6 Luật Giao thông Đường Bộ, 2008
7 Ký sự địa chí Hà Nội, Giang Quân, NXB Quân đội Nhân dân, 2010.
8 Hỏi đáp về 36 phố cổ Hà Nội, Hoàng Hải – Hoàng Anh, NXB
Quân đội Nhân dân, 2010
9 Hà Nội là Hà Nội, Nguyễn Trương Quý, NXB Trẻ, 2012.
10 Khu phố cổ Hà Nội nửa đầu thề kỷ XX qua tư liệu địa chính, Phan
Phương Thảo chủ biển, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, 2013
11 Phố phường Hà Nội xưa, Hoàng Đạo Thuý, NXB Quân đội Nhân
dân, 1974
12 Hà Nội là Hà Nội, Nguyễn Trương Quý, NXB Trẻ, 2012.
13 Khu phố cổ Hà Nội nửa đầu thề kỷ XX qua tư liệu địa chính, Phan
Phương Thảo chủ biển, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, 2013
14 Bài báo Khi tai nạn giao thông được gọi là quốc nạn, Báo Tuổi trẻ
Trang 14http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Doi-ngoai/884887/ha-noi-chuan-bi-CHƯƠNG I VĂN HOÁ GIAO THÔNG Ở PHỐ CỔ HÀ NỘI –
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Khái niệm văn hoá và văn hoá giao thông
1.1.1 Khái niệm văn hoá
Văn hoá là khái niệm xuất hiện rất sớm trong đời sống xã hội phương
Đông và phương Tây với những nội dung khác nhau Trong văn minh TrungHoa, chữ “văn” xuất hiện sớm nhất trong Chu Dịch với nghĩa ban đầu là vẻđẹp bên ngoài do màu sắc, sự giao hoà của muôn vật tạo nên Sau đó, “văn”được mở rộng sang con người và xã hội: biết mặc đẹp, nói lời hay, cử chỉ nhãnhặn; chế độ điển chương, đạo đức, lễ nghi, phong tục
Đến thế kỷ XVIII, văn hoá trở thành một thuật ngữ được dùng rộng rãitrong các ngành học mới xuất hiện do nhu cầu tìm hiểu nền văn hoá của cácdân tộc ngoài châu Âu Đây cũng là cơ sở thực tiễn thúc đẩy sự ra đời củangành học này Năm 1774, nhà luật học người Đức tên là Pufendor lần đầutiên sử dụng văn hoá như một thuật ngữ chỉ những gì do hoạt động của con
người sáng tạo nên Đến năm 1855, công trình Khoa học chung về văn hoá
của nhà văn hoá học người Đức tên là Cơlem đã chính thức đặt nền móng chongành nghiên cứu lịch sử văn hoá Trong công trình này, ông trình bày sự phátsinh và phát triển toàn diện của loài người như là sự phát triển văn hoá củamột cá thể đơn nhất, để từ đó người ta nghiên cứu lịch sử loài người như làlịch sử phát triển của văn hoá
Thế kỷ XIX, khoa học văn hoá hay Văn hoá học (Culturology) thực sự
ra đời trước hết là ở nước Anh, gắn với tên tuổi E.B.Tylor cùng tác Văn hoá nguyên thuỷ của ông, tiếp sau là các nước Pháp, Đức, Nga, Mỹ mở ra một
phổ rộng cho việc nghiên cứu văn hoá các dân tộc, các khu vực trên thế giới.Culturology chính là Văn hoá học, ra đời năm 1898 trong Hội nghị của các nhà
Trang 15sinh ngữ họp ở thủ đô Viên, nước Áo khẳng định sự ra đời chính thức mộtngành học mới thuộc khoa học xã hội – nhân văn, ngành khoa học về văn hoá.
Định nghĩa đầu tiên của E.Tylor trong tác phẩm Văn hoá nguyên thuỷ
(1871): Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể baogồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục cùngnhững khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là mộtthành viên của xã hội Cho tới đầu những năm 70 của thế kỷ trước, người ta
đã thống kê được vài trăm định nghĩa văn hoá, song nhiều định nghĩa rất hạnhẹp Triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã giúp các nhà khoa họcthoát khỏi tình trạng phiến diện và đi tới những định nghĩa khái quát đúng đắnbản chất của văn hoá
Nghiên cứu định nghĩa của các nhà văn hoá đi trước, thấy có hai cách
quan niệm cơ bản: thứ nhất, văn hoá gồm toàn bộ những gì con người sáng
tạo ra, khác với tự nhiên; mặc nhiên, văn hoá hàm chức cả cái đúng, cái sai,
trong văn hoá có cả mặt sáng và mặt tối Quan niệm thứ hai cũng hướng tới
thế giới nhân tạo song phải là thế giới đã được sàng lọc theo định chuẩn xãhội, chỉ những gì là tốt đẹp đối với cuộc sống của con người (theo quan điểmlịch sử) mới được xem là văn hoá, còn lại là “phản văn hoá”
Kế thức các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, ta có thể đi đến một
định nghĩa về văn hoá: Văn hoá là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích luỹ trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội, được xã hội gìn giữ, trao chuyển cho thế hệ sau Văn hoá thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc Định nghĩa
này thể hiện được những tính chất cơ bản của văn hoá: tính hệ thống, tính giátrị, tính truyền thống, tính sáng tạo và tính dân tộc
Khi nghiên cứu văn hoá, các nhà nghiên cứu đã đưa ra hoặc lựa chọn
nhiều kiểu cấu trúc, tuỳ góc tiếp cận và mục đích nghiên cứu Dưa trên hai
Trang 16khu vực sản xuất cơ bản của loài người là sản xuất vật chất và sản xuất tinhthần, văn hoá cũng được phân thành văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần Đây
là hệ thống cấu trúc đã thành truyền thống, dựa hẳn vào triết học Cách gọi đó
có những ưu thế của nó, song không phải là khái niệm có ý nghĩa đặc thù củangành văn hoá học Dựa vào tính chất hữu hình và vô hình của văn hoá, tổchức UNESCO đã đưa ra một mô hình cấu trúc mới, phân chia văn hoá thànhhai lĩnh vực: văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể trong cái nhìn không biệtlập giữa hai lĩnh vực văn hoá này (trong cái này chứa đựng cái kia) Đây là
mô hình cấu trúc thuận lợi cho việc quản lý văn hoá
Ngoài hai kiểu cấu trúc phổ biển trên, nhiều nhà nghiên cứu còn đưa racác mô hình cấu trúc khác tuỳ điểm nhìn và mục đích nghiên cứu Học giảĐào Duy Anh nhìn văn hoá Việt Nam theo cấu trúc ba bộ phận: kinh tế sinhhoạt, xã hội sinh hoạt, trí thức sinh hoạt GS.TS Trần Ngọc Thêm lại đưa ramột hệ thống cấu trúc gồm bốn thành tố cơ bản và các vi hệ: văn hóa nhậnthức; văn hoá tổ chức cộng đồng, văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên;văn hoá ứng với môi trường xã hội
Trước đây, người ta thường chỉ nói đến các chức năng nhận thức, giáo
dục, thẩm mỹ; hiện nay, hệ chức năng của văn hoá được bổ sung và tìm hiểumột cách thấu đáo hơn nhờ sự phát triển của tư duy lý luận và giá trị thực tiễncủa bản thân văn hoá Ngoài các chức năng quen thuộc, khoa học văn hoáhiện nay còn quan tâm nhiều tới chức năng tích luỹ, giao tiếp, thông tin, kýhiệu, đặc biệt nhấn mạnh chức năng xã hội hoá cá nhân và chức năng làmđộng lực phát triển kinh tế - xã hội của văn hoá Đây cũng là một trong nhữngđiểm trọng yếu trong tư duy mới về văn hoá Các chức năng trên tồn tại trongmột tổng thể thống nhất, tác động tới quá trình hình thành nhân cách của mỗi
cá nhân và sự tồn tại, phát triển của xã hội
1.1.2 Khái niệm văn hoá giao thông
Trang 17Giao thông là một hình thức dịch chuyển của con người bằng các loạiphương tiện khác nhau vì mục đích cho sự tồn tại và phát triển của chính conngười Ban đầu, khi người Việt sống trong môi trường văn hoá núi hay vănhoá biển thì cách thức đi lại của con người dựa vào chính bản thân, họ đi lạitrên đôi chân trần và in dấu chân lên mặt đất tạo thành những con đường Khi
xã hội sống của con người được tổ chức cao, con người bắt đầu biết thuần hoásúc vật, chó để giữ nhàm trâu bò làm sức kéo Con người cũng đồng thời sửdụng súc vật đã được thuần hoá làm phương tiện giao thông bấy giờ như đi lạibằng voi, bằng ngựa Từ văn hoá núi xuống văn hoá đồng bằng, con ngườidựa vào sức nước và phương tiện đi lại ở vùng văn hoá sông nước chủ yếubằng thuyền Có thể đó là thuyền thúng, có thể là thuyền độc mộc được tạodựng từ một thân cây, có thể đó là những bè nứa bắt đầu từ thượng nguồnxuôi về vùng hạ lưu Sự đa dạng và phong phú của các phương tiện giaothông sông nước cho ta thấy tính năng động linh hoạt của người Việt khi ứngphó với môi trường tự nhiên để sinh tồn Hình ảnh chiếc thuyền còn được thểhiện trên hoa văn trống đồng Đông Sơn Người Việt còn biết làm cầu, thô sơnhất là cầu khỉ, rồi đến cầu đá Có loại cầu di động linh hoạt như cầu phao,cầu thuyền Cầu cũng là hình ảnh thường gặp và quen thuộc trong đời sốngngười Việt
Một điểm rất đáng chú ý xét trên phương diện văn hoá là tất cả nhữngdụng cụ, phương tiện, không gian sông nước đều có khả năng trở thành nhữngbiểu tượng tinh thần sống động, thể hiện nét văn hoá đặc thù của dân tộc ViệtNam: thuyền – bến, non – nước, con sào cắm đợi, song bờ, thuyền lành bếnrách, cánh bèo trôi dạt, lên nguồn xuống bể, lên thác xuống ghềnh, Do sốngtrong không gian sông nước, đi lại bằng phương tiên thô sơ như vật, cho nêncách cảm thụ về không gian, thời gian có những nét đặc thù: thời gian tínhbằng con nước ròng, con nước cạn, mùa nước nổi Không gian sông nước là
Trang 18không gian cách trở, ngàn trùng, bất trắc: mặt nước, chân mây, lên thác xuốngghềnh Giao thông đường thuỷ của người Việt là loại hình giao thông có ýnghĩa quan trọng, bởi Việt Nam có mật độ sông hồ, kênh rạch vào loại lớnnhất nhì trên thế giới Văn hoá giao thông đường thuỷ trở thành đặc trưng chovăn hoá giao thông Việt Nam, được hiểu là giao thông trên nước, ban đầu làđường thuỷ nội địa, về sau phát triển, mở rộng thêm hệ thống đường thuỷquốc tế Hiện nay giao thông đường thuỷ có đóng góp rất lớn đối với kinh tếViệt Nam, vận tải đường thuỷ nội địa đảm nhiệm khoảng 70% tổng khốilượng vận tải hàng hoá trong khu vực vận chuyển than cho các nhà máy, vậnchuyển hàng hoá đến các vùng sâu, vùng xa Đường thuỷ nội địa, vì thế, cóvai trò rất lớn trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệpnông thôn của nước ta hiện nay Giao thông đường thuỷ quốc tế góp phần tạo
ra sự giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và các nước trong khu vực nói riêng,trên thế giới nói chung Loại hình giao thông này không chỉ góp phần quantrọng để văn hoá Việt Nam vươn lên hội nhập với thế giới, thực hiện hiệu quảcác chính sách hợp tác quốc tế
Văn hoá ngày càng phát triển, kéo theo sự phát triển của văn hoá giaothông Từ những cỗ xe: xe tay kéo, xe ngựa rồi đến xe đạp xuất hiện, cùngvới nó là xe xích lô, ban đầu còn bỡ ngỡ nhưng đã rất nhanh chóng trở thànhquen thuộc trong đời sống người Việt Bởi bên cạnh văn hoá nông thôn là vănhoá đô thị và sự giao lưu giữa những vùng văn hoá diễn ra tự nhiên, nên sựtồn tại song song của các phương tiện giao thông sông nước và giao thông đôthị là điều tất yếu Sự vận hành của cuộc sống làm xuất hiện ngày càng nhiềucác loại hình, các phương tiện hiện đại Bên cạnh những cầu tre lắt léo, cầukhỉ chênh vênh là những chiếc cầu xi măng cố thép vươn dài trên những dòngsông Trên những chiếc cầu mang hơi thở thời đại mới ấy không chỉ có nhữngđôi chân trần hay những chiếc xe kéo, mà giờ đây còn lưu hành cả những
Trang 19phương tiện giao thông mới của văn hoá phương Tây như ôtô, tàu hoả ; dướinước cũng không chỉ nổi trôi mấy con thuyền tre mà còn xuất hiện nhữngchiếc tàu thuỷ trọng tải lớn, tăng khả năng vận chuyển lên gấp nhiều lần.Cùng với phương tiện giao thông là sự phát triển của các tuyến đường ngàycàng hiện đại hoá với bê tông cốt thép
Ngày nay, Văn hoá giao thông là một biểu hiện cụ thể của khái niệmVăn hoá nói chung Do vậy nó cũng phải được nhìn nhận ở khía cạnh vật thể
và phi vật thể, ở việc thể hiện trình độ phát triển và đặc tính riêng của mỗi dântộc Văn hoá giao thông là một khái niệm khá mới mẻ với nhiều cách hiểukhác nhau: có người bảo thực hiện tốt luật lệ giao thông là Văn hoá giaothông, có người lại bảo nội dung Văn hoá giao thông rộng hơn nhiều nội dungluật lệ giao thông, người khác thì nói Văn hoá giao thông là cách ứng xử củamọi người khi tham gia giao thông
Theo Uỷ ban an toàn giao thông quốc gia: “Văn hoá giao thông được biểu hiện bằng hành vi xử sự đúng pháp luật, theo các chuẩn mực của
xã hội về lẽ phải, cái đẹp, cái thiện của người tham gia giao thông Xây dựng Văn hoá giao thông nhằm tạo nên thói quen cư xử có văn hoá, đúng pháp luật; coi việc tự giác tuân thủ pháp luật về đảm bảo trật tự an toàn giao thông như một chuẩn mực đạo đửc truyền thống và là biểu hiện văn minh hiện đại của con người khi tham gia giao thông” Cũng theo Uỷ ban an toàn
giao thông quốc gia, trong Văn hoá giao thông có ba tiêu chí: một là, về nhận
thức và hành động, hiểu biết đầy đủ và tự giác chấp hành đúng các quy định
của pháp luật về đảm bảo trật tự an toàn giao thông; hai là: có trách nhiệm
với bản thân và cộng đồng, tôn trọng, nhường nhịn và giúp đỡ người
khác; ba là, có thái độ ứng xử văn minh lịch sự khi xảy ra va chạm giao
thông và tinh thần thượng tôn pháp luật.
Trang 20Theo báo Văn hoá: “Văn hoá giao thông là tự giác chấp hành trật tự
an toàn giao thông, ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông, tôn trọng, nhường nhịn người khác, tận tình giúp đỡ người tham gia giao thông gặp hoạn nạn, giúp đỡ người tàn tật, trẻ em, người cao tuổi để hướng tới một xã hội giao thông an toàn, thân thiện”.
Theo TS Nguyễn Thị Hồng – Học viện Báo chí & Tuyên
truyền: “Văn hoá giao thông hiểu theo nghĩa hẹp là cách ứng xử có văn hoá của mọi người khi tham gia giao thông Đó chính là sự tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh luật lệ giao thông, có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng, biết nhường nhịn và giúp đỡ người khác, có thái độ ứng xử văn minh, lịch sự khi xảy ra va chạm ”
Theo TS Phạm Ngọc Trung – Học viện Báo chí & Tuyên truyền: “Văn hoá giao thông cần được hiểu là: sự ứng xử một cách có ý thức và có trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội khi tham gia giao thông hoặc tham gia vào những hoạt động có liên quan đến giao thông để tạo lập nên một môi trường giao thông an toàn, văn minh, thân thiện và hiệu quả” Khái niệm này
nhấn mạnh đến sự ứng xử một cách có ý thức và có trách nhiệm của mọingười trên bình diện xã hội chứ không phải chỉ nói đến ý thức tự giác củangười trực tiếp tham gia giao thông Khái niệm này phản ánh được tính tựgiác mang tính cá nhân và tính xã hội mang tính cộng đồng, đó là hai yêu cầu
cơ bản tạo nên hành vi ứng xử có văn hoá của người tham gia giao thông
Theo GS.VS Hồ Sĩ Vịnh – Học viện Báo chí & Tuyên truyền: “Văn hoá giao thông là một thành tố của lối sống đô thị, của văn hoá thẩm mỹ, là gương mặt của đô thị Khi ta nói người Hà Nội văn minh thanh lịch, hiện đại thì tín hiệu đầu tiên gây ấn tượng mạnh đối với khách công vụ hay khách du lịch là Văn hoá giao thông”.
Trang 21Còn theo TS Lê Thị Anh – Học viện Báo chí & Tuyên truyền: “Văn hoá giao thông là văn hoá của người trực tiếp tham gia giao thông và văn hoá của các thành viên khác trong xã hội có tác động, ảnh hưởng đến quá trình hình thành Văn hoá giao thông như: Nhà làm luật giao thông; cơ quan quy hoạch giao thông; cảnh sát giao thông; thanh tra giao thông; ban quản
lý các khu công nghiệp, khu đô thị, khu chế xuất; ban quản lý các chợ, các công trình xây dựng; người phụ trách và nhân viên ở các trung tâm đào tạo, sát hạch, cấp bằng lái xe, trung tâm đăng kiểm phương tiện Đây là khía cạnh phi vật thể của Văn hoá giao thông Khía cạnh vật thể của Văn hoá giao thông là hệ thống cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống, hệ thống đèn chiếu sáng, biển báo Trong những yếu tố trên đây thì người trực tiếp tham gia giao thông đóng một vai trò quan trọng tạo nên Văn hoá giao thông Văn hoá
của người trực tiếp tham gia giao thông biểu hiện cụ thể như: trước tiên là phải hiểu biết đầy đủ và nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông; hai
là phải có tính cộng đồng khi tham gia giao thông, khi lưu thông trên đường
phải biết không chỉ vì lợi ích bản thân mình mà còn phải đảm bảo an toàn cho những người khác gặp trường hợp người bị nạn cần giúp đỡ phải chia
xẻ kịp thời; ba là cư xử có văn hoá khi lưu thông trên đường như tham gia
giao thông từ tốn, bình tĩnh, ưu tiên cho người già, trẻ nhỏ, biết xin lỗi, cảm
ơn khi có va quệt ” Văn hoá giao thông phải được nhìn nhận từ hai phía, đó
là người tham gia giao thông và các lực lượng chức năng quản lý giao thôngtrong đó quan trọng nhất là người thực thi- cảnh sát giao thông
Theo G.S Hoàng Chương thì nhận thức về văn hóa giao thông (VHGT)trong xã hội hiện nay còn chưa thực sự chính xác, dường như chỉ tập trungvào ý thức văn hóa, tinh thần chấp hành pháp luật của người tham gia giaothông mà chưa quan niệm đầy đủ các thành tố tạo nên văn hóa giao thôngcũng như mối quan hệ biện chứng giữa các thành tố đó Từ quan điểm lệch
Trang 22lạc đó dẫn đến các nội dung xây dựng Văn hoá giao thông cũng chỉ nhằm vàovận động mọi người chấp hành tốt luật giao thông và ứng xử có văn hóa khitham gia giao thông Đây cũng là một trong những lý do khiến việc xây dựngvăn hóa giao thông chậm tiến triển, thiếu đột phá Nói đến Văn hoá giao thông
là nói đến cái phải, cái đẹp, cái thiện của con người trong quá trình xây dựng,
sử dụng các công trình, phương tiện giao thông, trong xây dựng và thực thipháp luật về giao thông và trong tham gia giao thông Văn hóa giao thông vừa
là động lực, vừa là mục tiêu tạo nên một hệ thống giao thông hiện đại, vănminh, hiệu quả, một môi trường giao thông an toàn, nhân ái, thân thiện
Văn hóa giao thông bao gồm cả hai mặt văn hóa vật chất và văn hóatinh thần Văn hóa vật chất bao gồm các hạ tầng kỹ thuật giao thông (các loạiđường giao thông, hệ thống chỉ dẫn giao thông), phương tiện giao thông, thiết
bị diều hành giao thông Văn hóa tinh thần bao gồm luật giao thông, cách thựcthi luật giao thông, hành vi tham gia giao thông, trách nhiệm và tâm lý thamgia giao thông…
Khi bàn về văn hóa giao thông, lâu nay chúng ta thường chủ yếu nóiđến yếu tố, ý thức, tinh thần mà cũng chỉ tập trung đến những yêu cầu, chuẩnmực văn hóa đối với những người trực tiếp tham gia giao thông Muốn hiểuđúng về Văn hoá giao thông cần nhận thức về văn hóa giao thông với các mặt,các đối tượng các cấp độ Văn hóa giao thông không chỉ là văn hóa vận hànhgiao thông mà còn là văn hóa pháp luật giao thông, văn hóa quy hoạch giaothông, văn hóa quản lý, quan trị giao thông
1.2 Xây dựng văn hoá giao thông
Xây dựng văn hoá giao thông cũng chính là xây dựng môi trường sốngbình an, văn minh cho mỗi người và cho cộng đồng xã hội, dù đó là giaothông ở phố cổ Hà Nội, những khu vực khác hay bất kì tỉnh thành nào trên cả
Trang 23nước, thậm chí là xa hơn, dù đó là giao thông đường bộ, đường thuỷ, đườngsắt hay đường hàng không.
1.3 Không gian văn hoá giao thông
Văn hoá giao thông là một biểu hiện cụ thể của văn hoá trên lĩnh vựcgiao thông Văn hoá giao thông cần được hiểu là sự ứng xử một cách có ýthức và có trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội khi tham gia vào hoạtđộng giao thông hoặc tham gia vào những hoạt động có liên quan đến giaothông để tạo lập nên một môi trường giao thông an toàn, văn minh, thân thiện
và hiệu quả
Các yếu tố cơ bản tạo lập nên văn hoá giao thông gồm có: hệ thốngpháp luật hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn, nghiêm minh, dân chủ; cơ sở hạtầng giao thông phải đồng bộ và hiện đại, gồm hệ thống đường sá các cấp, cầucống, cầu vượt, dải phân cách, hệ thống đèn tín hiệu giao thông; phương tiệngiao thông có chất lượng tốt, đảm bảo hệ số an toàn cho người tham gia giaothông, tăng cường phương tiện giao thông công cộng; cuối cùng là ý thức củangười tham gia giao thông
Ý thức được hiểu dưới góc độ tâm lý học Mác – xít là sự phản ánh cao
cấp nhất bằng ngôn ngữ về thế giới khách quan “Ý thức chẳng qua là vậtchất chuyển vào óc người và được cải biến trong đó” Tâm lý có cả ở người
và động vật, nhưng chỉ có ở người, những hiện tượng tâm lý đó mới có sựtham gia của ý thức Ý thức là một chất lượng mới của toàn bộ tâm lý người.Nếu nhận thức là quá trình thu lượm tri thức về hiện thực khách quan thì ýthức là năng lực hiểu biết Vì vậy, có thể hiểu ý thức là tri thức của tri thức,hiểu biết của hiểu biết Cấu trúc của ý thức gồm: nhận thức (sự hiểu biết),thái độ (sự lựa chọn, đánh giá của chủ thế đối với hiện thực khách quan),năng động (sự vận dụng, điều chỉnh, điều khiển hoạt động của con người)
của ý thức Người tham gia giao thông theo Luật Giao thông đường bộ
(thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008) gồm người điều khiển, người sử
Trang 24dụng phương tiện giao thông đường bộ và người đi bộ trên đường bộ Ý thức của người tham gia giao thông chính là sự tự giác và có trách nhiệm, trách
nhiệm đối với bản thân mình, đối với những người xung quanh, đối với xãhội và phải ứng xử có văn hoá
Cơ sở hạ tầng
Quản lý, điều hành
1.4 Khái quát đặc trưng phố cổ Hà Nội
Địa danh Hà Nội là tên mới đặt gần 180 năm nay, bắt đầu từ năm 1831,niên hiệu Minh Mạng nhà Nguyễn Trước đó, suốt thời gian dài lịch sử hơn
800 năm, Hà Nội mang tên gọi là Thăng Long (nghĩa là Rồng bay) Mùa thunăm Canh Tuất (1010), vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) hạ chiếu dời đô, từthành Hoa Lư (Ninh Binh) lên Đại La thành, nhân đó đổi tên là Thăng Long
và xây dựng Kinh thành Thăng Long từ cuối năm 1010 Từ đấy, Thăng Longxuất hiện trong lịch sử Việt Nam thành một trung tâm, kinh đô của đất nướccho đến đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đặt tên là tỉnh Hà Nội Hà Nội (kinhthành cũ) nằm ở phía dưới ngã ba sông Hồng và sông Đuống Phía bắc là HồTây, phía đông là sông Hồng, phía tây là sông Nhuệ, phía nam chưa xác địnhđược chính xác khoảng vùng ngoại thành giáp phủ Thường Tín thuộc trấn SơnNam, ở giữa có sông Tô Lịch chảy qua (theo bản đồ nước Đại Việt)
Từ thưở xưa, dọc theo hai bờ sông Hồng đã hình thành những khu vựcdân cư sinh sống, quần tụ thành những làng nhỏ Trong hơn 1000 năm Bắcthuộc, bọn quan lại Trung Quốc cũng đã xây dựng thành trì lại nhiều nơi đểlàm phủ trị đô hộ, trong đó có Tống Bình (tức Hà Nội) Cũng trong thời kỳBắc thuộc, vào thế kỷ thứ V (454-456), một trong những điểm dân cư nói trênphát triển thành một quận nhỏ tên là Tống Bình Trải qua hàng ngàn năm, từmột đô thị sơ khai của người Việt với quy mô nhỏ bé, Tống Bình đã trở thànhmột thành phố và là trung tâm đầu não về mọi mặt của đất nước Tuy nhiên
Trang 25trước đó phủ thành Tống Bình chỉ là một thành luỹ quân sự chưa phải là thànhthị, chưa có quy mô rộng lớn của một kinh thành Từ đô thị Tống Bình đến HàNội ngày nay là cả một quá trình đô thị hoá phức tạp diễn ra trong một khônggian rộng với quy mô lớn.
Trong thời kỳ phong kiến, Hà Nội sớm trở thành trung tâm chính trị củađất nước, khi viên đô hộ Cao Biền cho mở rộng Đại La thành vào năm 866 vàđặt tại đây đại bản doan của chính quyền đô hộ Trung Hoa Nhưng Hà Nội chỉtrở thành Thủ đô của Đại Việt vào năm 1010, khi Lý Công Uẩn tức vua LýThái Tổ, vị vua đầu tiên của triều đại nhà Lý, quyết định cho rời đô từ Hoa Lư
ra Đại La
Khu phố cổ Hà Nội là một quần thể kiến trúc độc đáo mang đậm bảnsắc dân tộc Việt, có sắc thái đặc trưng của một khu dân cư sản xuất chủ yếu lànghề thủ công truyền thống Tại đây diễn ra đồng thời nhiều hoạt động trongđời sống hàng ngày của cư dân đô thị sinh sống, bán hàng sản xuất, lễ hội,nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, tạo nên một sức sống mãnh liệt, để khu phố cổ tồntại mãi mãi và phát triển không ngừng
Dưới thời Lý – Trần, phố cổ Hà Nội bao gồm nhiều phường trong tổng
số 61 phường nằm hai bên tả, hữu hoàng thành thời đó Dưới thời Lê, đầu thế
kỷ XVI, Hà Nội trở thành Đông Kinh, khắp nơi đổ về buôn bán làm ăn trong
36 phường lúc bấy giờ và dân dần nơi đây hình thành, phát triển trở thành khuphố cổ ngày nay Vì vậy, cùng với quá trình lịch sử khác, khu phố cổ xuấthiện và để lại dấu ấn một thời không thể phai mờ về một cuộc sống đô thị khátoàn diện về kinh tế, xã hội, tập quán, truyền thống
Phường là tổ chức nghề nghiệp (chỉ có ở Kinh thành Thăng Long), về
tổ chức đơn vị phường tương đương với làng xã ở nông thôn Phường ở thế
kỷ XV là phỏng theo hình thức làng nghề truyền thống của quê hương nhữngngười dân đến lập nghiệp Đây là nơi sống và làm việc của những người làm
Trang 26cùng một nghề thủ công Mỗi phường có các hoạt động riêng và dọc theo các
bờ đê tạo thành các xóm có cửa đóng lại Hiện nay ta còn thấy những dấu vếtthông qua tên phố, mà mỗi phố sản xuất và bán một loại hàng Mỗi phườngđều có một ngôi đình và những đền miếu riêng Từ thế kỷ XV, khu kinh thànhgọi là Phủ Trung Đô gồm 2 huyện với tổng số 36 phường Trong thời kỳ này
đa phần huyện Xương, hầu hết các phố đều là nơi buôn bán Rất nhiều đền vàchùa cũng được xây dựng vào thời kỳ này
Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, do sự vận động, phát triển nhu cầu củabuôn bán, thành phố hình thành những khu chợ riêng biệt Ở phía đông là khudân chúng, khu phố buôn bán là nơi tập trung các phường thủ công Tại đây
họ sản xuất các mặt hàng cao cấp; việc kinh doanh hết sức thuận lợi và thịnhvượng Ở phía bắc và phía tây là các làng thủ công sản xuất các mặt hàng cầndùng thường ngày Cũng như các làng nông nghiệp, khu 36 phố phường đãphát triển trong một khu vực nằm giữa nhiều ao, hồ Phía bắc là sông Tô Lịch,phía đông là sông Hồng và phía nam là hồ Hoàn Kiếm Chợ đầu tiên cũngnhư khu dân cư đầu tiên được hình thành giữa chỗ sông Tô Lịch và sôngHồng gặp nhau Cửa sông Tô Lịch làm cảng và có rất nhiều kênh rạch nhỏnằm rải rác trong khu phố cổ
Đến thế kỷ XIX, mạng lưới đô thị được củng cố và phát triển hơn Cuốithế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX, khu buôn bán này đã hình thành một dáng
vẻ riêng với sự phát triển vào bên trong các ô phố Khu phố cổ bắt đầu đượcxây dựng với cấu trúc đô thị trở nên dày đặc hơn Và cũng đến cuối thế kỷXIX, từ đó kiểu xây dựng truyền thống Việt Nam hay Trung Quốc đã bắt đầunhường chỗ cho kiểu kiến trúc thuộc địa Pháp Đến những năm 50, kiểu hỗnhợp nghệ thuật – trang trí lại là nét chủ đạo được biết đến như một sự dunghoà của những toàn nhà mới Khu phố cổ đang bị xuống cấp nhưng nó vẫngiữ được nguyên vẹn dáng vẻ mà chưa phải trả qua sự trùng tu nào đáng kể
Trang 27Trong quá trình phát triển, vào thế kỷ XVII, Hà Nội đã đón các dukhách và thương gia nước ngoài đến giao lưu buôn bán, kể cả cư trú, nhưngười Hà Lan, Bồ Đào Nha và Anh Nhưng trong số đông người nước ngoài
đó, phần lớn là các thương gia Trung Quốc nên phố Hoa Kiều ở Hà Nội ngàymột đông Sau khu thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội, quy hoạch ở đây bắtđầu có sự thay đổi, khu phố cổ cũng thay đổi mạnh mẽ: Đường phố được nắnlại, có hệ thống thoát nước, có hè phố, đường được lát trải nhựa và có hệthống chiếu sáng Nhà cửa hai bên đường phố được xây gạch lợp ngói và bêncạnh những ngôi nhà cổ, xuất hiện các ngôi nhà có mặt tiền được làm theokiểu cách châu Âu Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lượcthành công và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, tính từ năm 1954đến năm 1985, khu phố cổ Hà Nội nhìn chung không có thay đổi gì nhiều, chỉ
có dân số ngày một tăng với tốc độ nhanh Đặc biệt là từ năm 1986 đến nayvới đường lối đổi mới, từ nền kinh tế bao cấp chuyển sang kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa: Hội nhập kinh tế thế giới, mở rộng giao lưukinh tế và quan hệ quốc tế, mở rộng và khuyến khích các thành phần kinh tếtrong nước phát triển, khích lệ mọi tầng lớp nhân dân xây dựng mở mang pháttriển kinh tế, văn hoá, xã hội Nhờ đó mà việc buôn bán ở khu phố cổ đượcphục hồi, phát triển và sầm uất hơn xưa Các hoạt động khác ở đây cũng đượctái lập, mang lại không khí sôi động, tấp nập và đông vui trong khu phố cổ
Tuy nhiên, đến nay khu phố cổ đang chứa đựng một di sản đô thị phồnthịnh, nhưng gần 20 năm nay nó chịu sự ảnh hưởng của nền kinh tế phát triểnmạnh mẽ và kiểu xây dựng dày đặc không theo một phong cách nhất quánnào Hình dáng đô thị của khu phố cổ ngày xưa đồng đều và được xây dựngthấp – kiểu nhà một tầng hoặc hai tầng (cho đến cuối thập niên 80, phố cổ còngiữ được nguyên vẹn), còn ngày nay là kiểu xây dựng hỗn tạp, phát triểnkhông theo một lối thống nhất nào
Trang 28Khu phố cổ Hà Nội là tên gọi thông thường của một khu vực đô thị có
từ lâu đời của Hà Nội, nằm ở ngoài hoàng thành Thăng Long Khu đô thị này
tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương,hình thành nên những phố nghề đặc trưng, mang những nét truyền thống riêngbiệt của cư dân thành thị, kinh đô trung tâm đất nước Với một diện tíchkhoảng 100ha, nhưng khu phố cổ Hà Nội đã tích tụ dồn nén rất nhiều nhữngyếu tố kinh tế, xã hội, tập quán, truyền thống Và nổi bật lên là cảnh quan, vẻđẹp vừa rất giản dị, mộc mạc, vừa rất đặc thù về bản sắc của một dân tộc cónền văn hoá, kiến trúc, tâm linh độc đáo, riêng biệt mà ta dễ nhận biết
thông qua một không gian tổng thể với cái tên rất ấn tượng: “Khu phố cổ Hà Nội”.
Toàn cảnh diện mạo nhà cửa ở khu vực 36 phố phường trước thế kỷ
XX được ví như một bức tranh mất cân đối trong bố cục bởi một hệ thốngnhững ngôi nhà hẹp chen chúc chồng xếp lên nhau, lô xô chiếm hết cả khônggian và lối đi Trong không gian, những ngôi nhà nói tiếp nhau nhưng tất cảđều cao thấp khác nhau Nhữn mái nhọn của những căn nhà thấo hơn vàdường như đè bẹp chúng Dưới mặt đất, những mái nhà tranh sà xuống đấtthấp Mặt trên căn nhà trông ra đường phố thường chỉ là một tấm khnug liếp
cơ động, buộc bên trên và người ta nâng nó lên vào ban ngày, giữ nó nằm
nghiêng nhờ vào hai cái gậy chống (Nguyễn Thừa Hỷ: Tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội: Tuyển tập tư liệu phương Tây, tr.494, 497) Trước thời
kỳ Pháp thuộc, mỗi ngôi nhà trong khu phố cổ đều được xây dựng theo sởthích của từng người chủ, không bắt buộc theo một kiểu cách nào, song phầnlớn đều có chung một điểm rất kỳ lạ: theo nghi lễ An Nam, các phố cổ Hà Nộiduy trì một diện mạo rất đặc biệt Luật đặt vua quan cao hơn tất cả mọi người.Luật đó làm cho một người thiêng liêng đến độ chỉ cần nhìn vào người đó đãphạm tội Luật còn đi tới chỗ cấm trổ cửa sổ quay ra những phố trong Hoàng
Trang 29thành vì một ngày nào đó con người thiêng liêng ấy sẽ đi qua (Andre Masson:
Hà Nội giai đoạn 1873 – 1888, tr.107) Những ngôi nhà trong khu phố cổ
thoạt nhìn không có vẻ gì là hấp dẫn vì chúng nối tiếp nhau nhưng không theomột chiều cao thống nhất, nhìn chung, mái nhà rất dốc, tiến nhô khá xa ra
ngoài phố (Nguyễn Thừa Hỷ: Tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội: Tuyển tập tư liệu phương Tây, tr.73) trong các phố buôn bán – thủ công đó,
những ngôi nhà chen chúc nhau phần lớn đều có kiểu kiến trúc nhà ở - cửahàng, nghĩa là gian ngoài giáp mặt phố dùng làm của hàng, còn những gian
bên trong là nhà ở (Phan Phương Thảo: Khu phố cổ Hà Nội nửa đầu thế kỷ
XX qua tư liệu địa chính, tr 141, 144) Như vậy, với vị trí trung tâm buôn bán,
khu phố cổ được hình thành trong quá trình phát triển liên tục của đô thịThăng Long – Hà Nội, là phần “thị - dân gian” luôn gắn bó, gắn kết với phần
“đô – quan liêu” Trong lịch sử, thợ thủ công từ hàng trăm miền đã tụ họp vềđây, làm biến đổi khu phố cổ trở thành trung tâm buôn bán, sản xuất đồ thủcông mỹ nghệ lớn nhất cả nước Một học giả người Pháp khi đến thăm quan
Hà Nội (khu phố cổ) vào năm 1883 đã nhận định: “Hà Nội trước hết là mộtthành phố Hoa kiều, người An Nam đi qua các phố phường thường lầm lũimen theo các bờ tường và cảm thấy đây không phải là nơi ở của họ” Một đặcđiẻm nổi bật của đô thị trung đại Việt Nam là “mối liên hệ với làng quê là mộtyếu tố cơ bản không chỉ quyết định hoạt động buôn bán mà cả cách thức hoànhập đời sống xã hội Khi tiến hành chỉnh tranh khu vực phố cổ, người Pháp
đã rất lưu tâm đến điều này
Khu phố cổ, với tên gọi dân gian là “Hà Nội 36 phố phường”, là mộtvùng đất ở giữa thành Hà Nội và sông Hồng, phía bắc là hồ Hoàn Kiếm Đó làhình tam giác mà cạnh đáy dựa vào phía bên trên hồ Hoàn Kiếm, còn hai cạnhdựa vào sông Hồng và toà thành Với vị trí địa lý thuận lợi nằm bên cạnhdòng chảy giao thông huyết mạch, khu phố cổ Hà Nội nhanh chóng vươn lên
Trang 30hàng đầu trong công cuộc phát triển kinh tế thương nghiệp Từ thế kỷ XVI –XVII, việc giao lưu buôn bán cùng chính sách cởi mở của chính quyền cai trị
đã làm cho vùng đất này trở nên sầm uất, trù phú và tấp nập Theo đó khu phố
cổ Hà Nội cũng không thể tránh khỏi những tác động ấy Hoạt động kinh tế ởkhu vực 36 phố phường chủ yếu là trao đổi, buôn bán Khi tiếp xúc với nềnkinh tế tư bản chủ nghĩa của đế quốc Pháp, đây là thương nhân là tầng lớp xãhội có nhiều biến đổi nhất, thương nhân cũ ít đi, một lớp nhà buôn bán mớixuất hiện kéo theo cách làm ăn và cách sinh hoạt cũng khác trước Nhận địnhnày dương như phản ánh đúng thực tế tình hình phân bố dân cư trong khu vựcnày đầu thế kỷ XX Khu phố cổ Hà Nội về mặt địa lý tự nhiên có lẽ từ ngày
có phố phường đã trải qua nhiều thay đổi, từ chỗ có những thôn xóm rải rácbên những đầm hồ với những dãy phố sơ sài như ta thấy ở ngoại thành ngàynay, rồi đến chỗ những phố sá hình thành và dày đặc nhà cửa dọc các conđường giao thông chính Sự thay đổi diện mạo phố cổ Hà Nội giai đoạn 1888
- 1945 được thể hiện ở từng khía cạnh khác nhau, bao gồm địa giới hànhchính, cảnh quan tự nhiên, phố sá, nhà cửa Có thể coi đây chính là thời kỳkhu phố cổ được định hình cả về không gian lẫn hình thái đô thị Việc hìnhthành và mở mang những con phố mới trong thời kỳ này do thực dân Phápphá thành, lấp hồ, ao, sông, ngòi đã tạo tiền đề cho việc hoạch định giới hạnkhu phố cổ hiện nay Những dấu vết đậm tính chất nông thôn còn rơi rớt lại ởkhu vực 36 phố phường, thể hiện trong cấu trúc không gian sinh hoạt (nhà ao,đất thờ, đất tha ma), trong quanh cảnh phố sá (luỹ tre, cầu ao, giếng nước, nhàlợp tranh, cổng phố ) đến giai đoạn này đã hoàn toàn biến mất Thay thế vào
đó là một diệm mạo đô thị thuần nhất không pha trộn, với các ngôi nhà ởđược kiến trúc theo kiểu mới du nhập, xây bằng gạch, đường rải đá, lòngđường mở rộng theo quy chuẩn, có vỉa hè, cây xanh và hệ thống cống rãnhthoát nước, mạng lưới xe điện (Quảng trường Đông Kinh nghĩa thục), phố
Trang 31được nắn thẳng liên hoàn, chợ được quy hoạch ngăn nắp và hợp lý ở nhữngkhu nhất định, vệ sinh môi trường được quan tâm, các khu công trình côngcộng như quảng trường, sân chơi, vườn hoa được quy hoạch xen giữa phố
sá để tạo một không gian thoáng mở cho khu phố cổ Đặt trong bức tranh tổngthể đô thị Hà Nội giai đoạn này, mặc dù phố cổ không có sự biến đổi mạnh
mẽ, ào ạt và dễ nhận thấy qua các công trình kiến trúc hoành tráng và phôtrương của người Pháp như ở các khu vực phía nam hồ Gươm, khu hồ Tây,song những đổi thay dù nhỏ bé nhưng ngấm ngầm từng bước đã khiến chokhu phố cổ lọc bỏ dần những vết làng xã trên bước đường đô thị hoá, từngbước trở thành một khu vực có cấu trúc và chức năng thuần đô thị Nguyênnhân chính của sự thay đổi này là do sự tác động của thực dân Pháp Thực dânPháp đã thực hiện việc sắp xếp, quy hoạch, chỉnh trang, tạo nên những dángnét cho khu phố cổ Bên cạnh đó, không thể không thừa nhận sự vận động nộisinh của khu phố cổ giai đoạn này Thực tế lịch sử cho thấy, trong thời kỳ thứhai (1920 – 1945), phần lớn những tác động của thực dân Pháp tới khu vực 36phố phường đều mang tính chất gián tiếp và nửa vời, song với những vậnđộng nội tại, khu phố cổ vẫn từng bước đổi thay về quang cảnh nhà cửa vàđường sá Thực dân Pháp đã thi hành một chính sách về đất đai không rõràng Trước hết, chính quyền thành phố đã chiếm dụng đất thuộc sở hữu tậpthể Quá trình chiếm hữu được thực hiện qua ba giai đoạn Bước đầu, Thànhphố tịch thu đất của các cộng đồng dân cư, sau đó cộng đồng ngừoi Pháp muarất nhiều đất của tư nhân, sau cùng Toà thị chính ra chính sách cấm dân xâydựng những công trình bị coi là lụp xụp và mất vệ sinh Ảnh hưởng củanhững biến đổi kinh tế thời kỳ thực dân kéo theo sự thay đổi cấu trúc xã hội,
đa dạng hoá thành phần dân cư nơi đây đã làm nên sắc thái đa diện về kiếntrúc thúc đẩy sự biến chuyển diện mạo, không gian khu phố cổ Những ngôinhà theo phong cách hiện đại, hay những ngôi nhà có diện tích rộng, khang
Trang 32trang phần lớn là thuộc sở hữu của những gia đình giàu có hoặc thuộc sở hữu
cả những người thế hệ mới theo Tây, học Tây Tóm lại những đóng góp củangười Pháp trong việc cải biến diện mạo của khu phố cổ Hà Nội là rất rõ ràng.Chính họ đã đưa khu phố cổ từ khung cảnh của một thành thị pha tạp, lộn xộn
và nhốn nháo, dần đi vào quỹ đạo của một đô thị hiện đại, trật tự và gọn gàng.Tuy nhiên, với phương châm và cách thức mang tính chất thực dân, thựcdụng, những quy hoạch, của người Pháp chỉ nửa vời, thí điểm nhiều hơn làthực hiện phổ biến rộng khắp Bởi vậy, hiện trạng diện mạo đô thị của khuphố cổ Hà Nội còn dang dở và có quá nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết nhưhiện nay, một phần cũng là do di chứng của chính sách quy hoạch thực dân,thực dụng của thực dân Pháp trong lịch sử Nhìn chung, Nửa đầu thế kỷ XX,đặc biệt là trong giai đoạn 1920 – 1945, người Pháp đã có những tác độngđáng kể trong việc làm thay đổi diện mạo khu phố cổ Hà Nội Mặc dù về mặtchức năng, Nhận định này dương như phản ánh đúng thực tế tình hình phân
bố dân cư trong khu vực này đầu thế kỷ XX.khu vực 36 phố phường luôn làtrung tâm nghề thủ công, buôn bán truyền thống và cư trú của người dân nộithành (Nguyễn Quốc Thông “Lịch sử Hà Nội: thành phố trong lòng mỗi khuphố”), song nó đã phát triển dựa trên một mô hình kinh tế - xã hội truyềnthống được thể hiện qua tính hỗn hợp chức năng trong sử dụng không giankiến trúc đô thị: nhà vừa làm nơi ở, nơi buôn bán, xưởng sản xuất thủ công.Đơn vị cơ sở của cấu trúc đô thị là những ngôi nhà ống liên kết tạo thànhnhững dãy phố buôn bán hẹp Về phương diện hình thái, đây là yếu tố tạo nênnét đặc trưng đậm đà và riêng biệt của trung tâm lịch sử trong lòng đô thị
(Phan Phương Thảo: Khu phố cổ Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX qua tư liệu địa chính, tr 232, 240).
Rõ ràng ta có thể thấy được nguồn gốc hình thành phố phường, phốnghề của khu phố cổ Hà Nội từ các làng mạc vùng châu thổ đã xây dựng từ
Trang 33thế kỷ XV, những khu vực bán hàng trong vùng các làng cổ Những ngườilàm chung một nghề tập trung lại một chỗ và lập ra một phường riêng Vàothế kỷ XV, thành phố có 36 phường Phần lớn các phố trong phố cổ đều lànhững nơi kinh doanh buôn bán nhộn nhịp Đặc trưng nổi tiếng nhất của phố
cổ là các phố nghề Thợ thủ công từ các làng nghề quanh Thăng Long xưa tụtập về đây, tập trung theo từng khu vực chuyên làm nghề của mình Cácthuyền buôn, dọc theo các nhánh sông nhỏ (sông Nhị ), kênh rạch, có thể vàogiữa phố để buôn bán trao đổi, khiến các phố nghề ngày một phát triển Chínhcác sản phẩm buôn bán ở đây đã trở thành tên gọi cho các con phố, với chữ
“Hàng” đằng trước như Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Mây, Hàng Mắm, HàngMã Hiện nay, một số phố vẫn giữ được sản phẩm truyền thống Như Hàng
Mã, Hàng Tre, Hàng Thiếc, Thuốc Bắc Ngoài ra một số phố tuy không còngiữ được nghề truyền thống nhưng cũng tập trung chuyên bán một loại hànghoá như phố Hàng Quạt bán đồ thờ, phồ Hàng Buồm bán bánh kẹo, Hàng Đàobán quần áo
36 phố phường gồm: Hàng Bạc, Hàng Bài, Hàng Bè, Hàng Bồ, HàngNgang, Hàng Bún, Hàng Buồm, Hàng Bút, Hàng Cá, Hàng Câ, Hàng Chai,Hàng Chiếu, Hàng Chĩnh, Hàng Cót, Hàng Da, Hàng Dầu, Hàng Đào, HàngĐậu, Hàng Điếu, Hàng Đồng, Hàng Đường, Hàng Gà, Hàng Gai, Hàng Giày,Hàng Giấy, Hàng Hành, Hàng Hòm, Hàng Khay, Hàng Khoai, Hàng Lược,Hàng Mã, Hàng Mành, Hàng Mắm, Hàng Muối, Hàng Ngang, Hàng Nón,Hàng Phèn, Hàng Quạt, Hàng Rươi, Hàng Than, Hàng Thiếc, Hàng Thùng,Hàng Tre, Hàng Trống, Hàng Vải, Hàng Vôi, Bát Đàn, Bát Sứ, Cầu Đông, Cầu
Gỗ, Chả Cá, Chân Cầm, Chợ Gạo, Đồng Xuân, Gầm Cầu, Gia Ngư, Hà Trung,Lãn Ông, Lò Rèn, Mã Mây, Nhà Hoả, Ngõ Gạch, Thuốc Bắc, Tô Tịch, YênThái, Đinh Liệt, Lương Ngọc Quyến, Lương Văn Can, Nguyễn Siêu, NguyễnThiện Thuật, Tạ Hiện, Phùng Hưng, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải
Trang 34Ngày 5 tháng 4 năm 2004, Bộ Văn hoá - Thông tin đã xếp hạng KhuPhố cổ là Di sản lịch sử của quốc gia Và hiện khu phố cổ có mật độ dân sốrất cao (khoảng 1000 người/ha, nằm ở trung tâm của thành phố) (theo cuốn
Hỏi đáp về 36 phố cổ Hà Nội, 2010, Hoàng Hải – Hoàng Anh).
Quyết định phê duyệt Định hướng Quy hoạch bảo vệ, tô tạo và pháttriển khu phố cổ Hà Nội do Chủ tịch UBND TP Hà Nội trình (tại Tờ trình số51/UB ngày 8-12-1994), kèm theo hồ sơ quy hoạch bảo vệ, tôn tạo và pháttriển Khu phố cổ Hà Nội do Viện quy hoạch Đô thị - Nông thôn – Bộ Xâydựng lập với nội dung chủ yếu như sau:
Khu phố cổ Hà Nội thuộc địa phận 8 phường quận Hoàn Kiếm có ranhgiới quy định tổng thể xây dựng thành phố Hà Nội được xác định: Phía bắc làHàng Đậu; Phía Tây là Phùng Hưng; Phía nam là Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu
Gỗ và Hàng Thùng; Phía đông là Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật Tổngdiện tích quy hoạch khu phố cổ khoảng 100 ha
Phạm vi nghiên cứu quy hoạch theo đó được phân chia hai khu vực bảo
vệ, tôn tạo đặc trưng sau: Khu bảo vệ, tôn tạo cấp I, được giới hạn bởi đườngphố Hàng Chiếu, Hàng Bạc, Trần Nhật Duật, Hàng Mắm, Hàng Đào có diệntích khoảng 19 ha; Khu bảo vệ, tôn tạo cấp II, bao gồm phần còn lại trong khuphố cổ có diện tích khoảng 81 ha
Để phục vụ cho việc cải tạo và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và tổchức mạng lưới các công trình hạ tầng xã hội phục vụ sinh hoạt hàng ngày vàđịnh kỳ của nhân dân, khu phố cổ Hà Nội được chia thành ba cụm dân cư,trên cơ sở lấy các chợ hoặc đường phố thương mại hiện có làm trung tâm khuvực: cụm Đồng Xuân, chợ Hàng Da và Hàng Bè, với quy mô mỗi cụmkhoảng 20.000 dân Gắn kết các cụm dân cư trên là trục trung tâm thương mại– dịch vụ gồm: Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, Lương Văn Can, HàngCân và Hàng Lược, phục vụ trực tiếp cho phố cổ và toàn thành phố
Trang 35Theo đó, về định hướng cải tạo và phát triển khu phố cổ phải được tiếnhành theo các dự án đầu tư, trên cơ sở đảm bảo công trình xây dựng mới phảiphù hợp với khung cảnh khu phố cổ hiện hữu; có biện pháp giãn dân thíchhợp để mật độ xây dựng của mỗi ô phố không vượt quá 70% và mật độ dân sốkhông quá 800 người/ha Chiều cao các công trình lớp sau mặt phố khôngđược vượt quá 4 tầng hoặc 16m Thống nhất các giải pháp hiện đại hoá cơ sở
hạ tầng hiện có như: giao thông, cấp điện, chiếu sáng, cấp thoát nước, vệ sinhphân rác, các bãi đỗ xe và việc tổ chức sắp xếp cải tạo và xây dựng hệ thốngcác công trình nhà ở phục vụ công cộng như: thương mại, dịch vụ, giáo dục, y
tế, cơ quan hành chính trong đồ án quy hoạch khu phố cổ (theo số
70/BXD/KT-QH về Quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng phê duyệt Quy hoạch bảo vệ, tôn tạo và phát triển khu phố cổ Hà Nội, ngày 30-3-1995).
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG VĂN HOÁ GIAO THÔNG Ở PHỐ CỔ HÀ NỘI
Trang 36Thực trạng Văn hoá giao thông ở Việt Nam hiện nay rất đáng báođộng và đang là vấn đề nổi cộm, nan giải, thậm chí có người đã phải dùng tínhiệu S.O.S để nói về vấn đề này
2.1 Thực trạng ý thức của người dân, người tham gia giao thông ở phố cổ Hà Nội
Theo Báo cáo về Tình hình Tai nạn giao thông của Uỷ ban An toàn giaothông Quốc gia, trong tháng 7 vừa qua (tính từ ngày 16/12/2016 đến15/7/2017) Theo đó, cả nước xảy ra khoảng 11.172 vụ tại nạn giao thông vàthủ phạm gây ra các vụ tai nạn giao thông có đến hơn 80% đều thuộc lỗi chủquan của người tham gia giao thông
Theo số liệu thống kê của Bộ Giao thông Vận tải từ năm 2007, tính trên
cả nước nói chung và ở thành phố Hà Nội nói riêng thì có tới 50% số ngườitham gia giao thông không dùng đèn báo khi chuyển hướng, 85% không dùngcòi đúng quy định, 70% không dùng phanh tay, 90% không sử dụng đúng đènchiếu sáng xa, gần và 72% không đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên mô tô trênnhững tuyến đường bắt buộc Ngoài ra, tình trạng vượt đèn đỏ, uống rượu biasay, chở quá tải, quá tốc độ trong thời gian qua vẫn luôn ở mức báo động vàrất khó kiểm soát Điều này cho thấy, việc chấp hành tuân thủ luật giao thôngđường bộ cũng như sự hiểu biết của người tham gia giao thông đường bộ cònrất kém
Theo GS.TS Nguyễn Minh Thuyết, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy banVăn hóa Giáo dục Thanh thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội nhận định, vănhóa giao thông của một bộ phận người Việt Nam còn rất kém và điều nàycũng thể hiện văn hóa ứng xử kém Không những thế, điều này cũng thể hiện
ý thức tôn trọng pháp luật còn kém Trong khi tình hình giao thông ở ViệtNam hỗn loạn và lộn xộn như vậy, giao thông ở những nước phát triển lại
Trang 37người đi bộ, dừng đèn đỏ, đi đúng làn đường theo luật giao thông… là việchết sức bình thường ở những nước này Giáo sư Thuyết cho rằng, sở dĩ cónhững khác biệt như vậy giữa giao thông các nước phát triển và giao thôngViệt Nam bởi người dân các nước này được giáo dục tốt về pháp luật và có ýthức thượng tôn pháp luật Hơn nữa, ở các nước phát triển, họ xử phạt nghiêmnhững vi phạm chứ không có những xử lý tùy tiện Chính điều này tạo nên ýthức tuân thủ pháp luật của người dân.
Trong phim tài liệu “Hà Nội của tôi” - Mon Hanoi của ngài Jean Noel
Poirier - Cựu Đại sứ Pháp tại Việt Nam được công chiếu vào tháng 10 năm
2017 vừa qua Bộ phim không chỉ là cái nhìn của một người nước ngoài đến
Hà Nội mà còn là cái nhìn của một người đã sống ở nơi đây hơn 9 năm trongthời gian sinh sống và làm việc của mình Giao thông là một cú sốc cho bất kì
ai đang khám phá Hà Nội Chính ông cũng từng nếm trải điều này nhưng vẫnthấy thích thú với vài cảnh tượng khó tin nơi đây Bốn năm qua ông vẫn tự hỏingười Việt Nam rằng liệu người tham gia giao thông có ý thức được nhữngnguy hiểm mà họ gây ra có thể ảnh hưởng đến chính họ và gây nguy hiểm cho
cả những người khác hay không? Ở đây cũng như bất kỳ nơi đâu trên thế giới,đều có những quy định và luật lệ dành cho giao thông đường bộ, nhưng mộtkhi “cầm lái” họ lập tức quên đi hết những quy tắc sống trong cộng đồng,không gian giao thông bốc chốc trở thành một không gian không có luật lệ, nơimỗi người chỉ có một mục đích duy nhất là làm sao có thể di chuyển được màkhông phải dừng lại hoặc không phải giảm tốc độ Sự thiếu kỷ luật như vậy khi
“cầm lái” có thể gây phản ứng dữ dội ở Paris, nhưng ở Hà Nội thì không
Khi đến Hà Nội, người ta thường hay nói “Hà Nội không vội được đâu”cho thấy phần nào nét văn hoá khi tham gia giao thông Thủ đô, song nó đồngthời cũng phản ánh tình trạng lưu thông phương tiện ở đây bởi cơ sở hạ tầng