Nhõn vật “con người nhỏ bộ” đó được tỏc giả đề cập đến như sau: “…truyện của chị đa phần dừng lại ở những tỡnh cảnh gia đỡnh nghốo, đề cập đến số phận buồn của những con người nhỏ bộ nhữ
Trang 1Tr-ờng đại học vinh Khoa ngữ văn
-…… -
nhân vật "con ng-ời nhỏ bé" trong
"Cánh đồng bất tận" của nguyễn ngọc
t-khóa luận tốt nghiệp đại họcChuyên ngành: Văn học việt nam
Lớp : 45A - Ngữ Văn
Vinh, 2008
Trang 2Mục lục
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối t-ợng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp và cấu trúc của khoá luận 5
Nội dung 6
Ch-ơng1: Nhân vật và nhân vật “con người nhỏ bé” trong văn học 6
1 Quan niệm nghệ thuật về con ng-ời và kiểu nhân vật 6
1.1 Quan niệm nghệ thuật về con ng-ời 6
1.2 kiểu nhân vật 8
1.3 Sự tiến hoỏ của quan niệm nghệ thuật về con người và sự biến đổi của cỏc kiểu loại nhõn vật trong văn học sau 1975 10
2 Kiểu nhân vật "con ng-ời nhỏ bé" trong văn học 11
2.1."con ng-ời nhỏ bé" 11
2.2 nhân vật "con ng-ời nhỏ bé" trong văn học 13
Ch-ơng 2: Số phận và nhân cách “con ng-ời nhỏ bé” trong Cánh đồng bất tận 17
1 Nhìn chung về nhân vật “ con người nhỏ bé” trong Cánh đồng bất tận 17
2 Những số phận bất hạnh của con ng-ời nhỏ bé trong Cánh đồng bất tận 20
2.1 Những con ng-ời l-u lạc trong xã hội 20
2.2.Những con ng-ời nhỏ bé cô đơn trong xã hội 30
2.3 Những phẩm chất nhân cách của nhân vật “ con người nhỏ bé” 39
Ch-ơng 3: nhân vật “con người nhỏ bé” qua cái nhìn nghệ thuật của Nguyễn Ngọc T- 53
1 Miêu tả ngoại hình 53
2 Miêu tả hành động 57
3 Ngôn ngữ nhân vật 59
Trang 34 Không gian và thời gian nghệ thuật 62
4.1 Không gian nghệ thuật 63
4.2.thời gian nghệ thuật 68
5 Miêu tả nội tâm nhân vật 71
kết luận 77
tài liệu tham khảo 79
Lời cảm ơn!
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi đã nhân
đ-ợc sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy Lê Văn Tùng Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đối với thầy
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Ngữ văn và cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên cho tôi hoàn thành khoá luận này
Sinh viên thực hiện
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước những năm 80, đặc biệt là sau Đại hội VI (1986) đã cú những thay đổi nhanh chúng và diệu kỳ Sự đổi mới của đất nước đó tạo ra sức bật lớn cho cỏc nhà văn Nền văn học đương đại xuất hiện hàng loạt cỏc cõy bỳt trẻ Đặc biệt trong lĩnh vực truyện ngắn, những cõy bỳt nữ đó gúp phần quan trọng làm cho văn đàn sụi nổi núng lờn, hấp dẫn hơn nhờ vào sự đa hương sắc của tỏc phẩm gắn liền với tờn tuổi nhiều thế hệ Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Trần Thanh Hà, Vừ thị hảo, Nguyễn thị Thu Huệ, Lờ Minh Khuờ, Thựy Linh….
Trang 4Nếu mọi người theo dừi văn chương việt nam mấy năm gần đõy hẳn đã biết đến Nguyễn Ngọc Tư chị cũng là một trong những nhà văn nữ cũn rất trẻ (sinh năm 1977) hiện sống và làm việc tại Cà Mau
Tập viết văn từ năm 16 tuổi, chưa đầy 4 năm sau đoạt giải nhất cuộc vận động sỏng tỏc văn học tuổi 20 lần thứ II và từ đõy đến nay năm nào cụ gỏi trẻ tuổi thỡn ấy cũng đoạt giải
Ngoài những truyện đăng với cỏc tỏc giả khỏc trong những tuyển tập chung, cho đến nay Nguyễn Ngọc Tư đã cú cỏc tập truyện ngắn riờng xuất bản:
- “Ngọn đốn khụng tắt” (tập truyện- nhà xuất bản trẻ - 2000)
-“ễng ngoại” (tập truyện thiếu nhi - nhà xuất bản trẻ - 2001)
-“Biển người mờnh mụng” (Tập truyện - nhà xuất bản Kim Đồng - 2003) -“Giao thừa” (Tập truyện - nhà xuất bản trẻ - 2003)
-“Nước chảy mõy trụi” (Tập truyện và ký - nhà xuất bản thành phố Hồ
cụ đề cập đến những vấn đề chớnh thống với cỏi nhỡn sõu sắc và đậm chất nhõn văn chứ khụng cõu khỏch, rẻ tiền” [18] Một trong những căn bệnh của lớp trẻ bõy giờ là hay đua đũi, bắt chước phải dựng một bỳt phỏp mới mụ tả xã hội tõn thời (thường được xem đồng nghĩa với lối sống thị thành) đụi khi phải làm ra vẻ biết nhiều học lắm Nguyễn Ngọc Tư khụng cần làm dỏng kiểu
ấy, cỏi mới trong văn của chị chớnh là cỏi cũ được nhỡn theo cỏi nhỡn nghệ
Trang 5thuật mới, cỏi lạ ở chị là tài khơi mở những sinh hoạt quen thuộc trước mắt của những người nụng dõn vựng đồng bằng sụng cửu long với những tớnh cỏch đặc thự, chõn thực, hồn nhiờn, chất phỏt và bản năng
Tập truyện ngắn “cỏnh đồng bất tận” ra đời đó thu hỳt nhiều chỳ ý,
tranh cói của giới độc giả trong và ngoài n-ớc Nhõn vật “con người nhỏ bộ”
là một trong những hỡnh tượng trung tõm, khỏ đụng đảo và xuyờn suốt trong toàn bộ tập truyện Đú là những người nụng dõn miền tõy nam Bộ nghốo khú, xiờu dạt bơ phờ vỡ cơm ỏo với những chuyện tỡnh trắc trở, dang dở Qua cỏc nhõn vật này, người đọc thấy được cỏi nhỡn nhõn bản sâu sắc của nhà văn
Bởi vậy, khi tỡm hiểu truyện ngắn “cỏnh đồng bất tận” chỳng tụi khụng thể
nhắc đến kiểu nhõn vật này
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Ngọc Tư mới xuất hiện trờn văn đàn mấy năm nay, cho nờn đến nay vẫn chưa cú một cụng trỡnh nghiờn cứu nào hoàn chỉnh, cú quy mụ lớn viết về chị Giới phờ bỡnh, bỡnh luận văn học vẫn cũn dố dặt, khiờm tốn trong việc đỏnh giỏ tiếp cận cỏc sỏng tỏc của nhà văn Đú cũng là một điều hiển nhiờn, bởi bất kỳ một hiện tượng văn học nào, để khẳng định được vị thế của mỡnh cũng phải trải qua sự kiểm định của thời gian Do vậy, chỳng tụi cũng chỉ được biết đến chị qua một số bài viết, ý kiến đỏnh giỏ của một số tỏc giả trờn cỏc tạp chớ, bỏo, bỏo điện tử
Trờn bỏo văn nghệ số 39, ra ngày 24 thỏng 9 năm 2005 tỏc giả Hoàng Thiờn Nga cú bài: “Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua “cỏnh đồng bất tận” Hoàng
Thiờn Nga đó nờu lờn những ý kiến, cảm xỳc khỏ chõn thành của mỡnh về truyện ngắn Trong đú, tỏc giả cú đề cập đến: “…Cỏc nhõn vật trong truyện đầy tớnh thiện nhưng cỏi vũng luẩn quẩn của đúi nghốo, dốt nỏt, lam lũ và điều kiện sống
tự túng, ngột ngạt xụ đẩy người này là nạn nhõn của người kia…”
Trong “tạp chớ văn hoỏ phật giỏo” số 11, ra ngày 28 thỏng 12 năm 2005
Trang 6núi về màu sắc phật giỏo trong tỏc phẩm: “nỗi hận”, “sự sợ hói”, “sự hổ thẹn”, “sự tối tăm” Qua đú thấy được thụng điệp đầy chất nhõn văn mà Nguyễn Ngọc Tư muốn gửi gắm
Huỳnh Cụng Tớn viết trờn mạng Evăn của bỏo điện tử.Vnexpress.net: “
Nguyễn Ngọc Tư nhà văn trẻ Nam Bộ” Tỏc giả đó nờu lờn một số nột về văn
phong của Nguyễn Ngọc Tư Nhõn vật “con người nhỏ bộ” đó được tỏc giả đề cập đến như sau: “…truyện của chị đa phần dừng lại ở những tỡnh cảnh gia đỡnh nghốo, đề cập đến số phận buồn của những con người nhỏ bộ những người nụng dõn chõn chất với những ước mơ và cuộc sống hết sức bỡnh dị đời thường rất đáng cảm thụng trõn trọng nhưng đụi khi cuộc đời nghiệt ngó cũng
khụng cho họ được như ý, được toại nguyện như: “chuyện của Điệp”, “Nhớ
sụng”, “Đau gỡ như thể….”
Cũng trờn mạng Evăn của bỏo điện tử.Vnexpress.net Trần Phỏng Diều
cú bài: “thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư”, đó đi tỡm
những hỡnh tượng văn học “trở đi trở lại như một ỏm ảnh khụn nguụi trong sỏng tỏc của Nguyễn Ngọc Tư: “hỡnh tượng của người nghệ sỹ, hỡnh tượng nụng dõn, hỡnh tượng dũng sụng ”
Tỏc giả Đào huy Hiệp cú bài “chất thơ trong cỏnh đồng bất tận” đó viết chất thơ thẫm đẫm "cỏnh đồng bất tận" ở mọi cấp độ: từ ngữ, hỡnh ảnh,
tập truyện ngắn “cỏnh đồng bất tận”
Trang 7Ở khoỏ luận này, chỳng tụi sẽ đi vào tỡm hiểu kiểu nhõn vật “con người
nhỏ bộ” trong tập truyện “cỏnh đồng bất tận” một cỏch toàn diện, cú hệ
thống trờn cơ sở tiếp thu những tài liệu nghiờn cứu trước đú
3 Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiờn cứu
a Đối tượng nghiờn cứu
Đối tượng nghiờn cứu của khoỏ luận là nhõn vật “con người nhỏ bộ”
trong tập truyện ngắn “cỏnh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư
b Phạm vi nghiờn cứu
Phạm vi nghiờn cứu của khoỏ luận là cỏc truyện ngắn trong tập truyện
“cỏnh đồng bất tận” (nhà xuất bản trẻ năm 2005)
Ngoài ra chỳng tụi cũn khảo sỏt, tham khảo thờm một số tạp văn và một
số tập truyện khỏc của Nguyễn Ngọc Tư: “giao thừa” (nhà xuất bản trẻ năm 2003), “ngọn đốn khụng tắt” (nhà xuất bản trẻ năm 2000)…
c Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu nhân vật “ con ng-ời nhỏ bé” trong tập truyện "cánh đồng
bất tận" của Nguyễn Ngọc T- chúng tôi đi giải quyết các nhiệm vụ sau :
Tr-ớc tiên, tìm hiểu thế nào là nhân vật “ con ng-ời nhỏ bé” và “ con ng-ời nhỏ bé” đã đ-ợc thể hiện trong văn học nh- thế nào Từ đó, để có một cái nhìn tổng quan nhất về khái niệm nhân vật “ con ng-ời nhỏ bé”
Sau đó, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu những số phận và nhân cách của nhân vật “ con ng-ời nhỏ bé” trong tập truyện Cũng nh- tìm hiểu những ph-ơng diện nghệ thuật mà tác giả sử dụng để xây dựng những nhân vật “ con ng-ời nhỏ bé”
4 Phương phỏp nghiờn cứu
Ph-ơng pháp nghiên cứ- cơ bản của khoá luận là ph-ơng pháp loại hình
để tìm ra những đặc điểm về số phận nhân cách của các nhân vật trên cơ sở tiếp cận đối t-ợng Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các ph-ơng pháp nh-:
Trang 8Ph-ơng pháp phân tích – tổng hợp, ph-ơng pháp cấu trúc – hệ thống để làm
rõ các luận cứ, luận điểm
5 Đóng góp và cấu trúc của khóa luận
a Đóng góp
Khoá luận đ-a ra một cái nhìn mới, có hệ thống về vấn đề nhân vật “
con ng-ời nhỏ bé” trong “ cánh đồng bất tận” kết quả nghiên cứu của khoá
luận có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc tìm hiểu về Nguyễn Ngọc T-
và các hiện t-ợng văn học khác
t-ơng ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra ngoài, phần mở
đầu và kết luận, khoá luận đ-ợc chia thành 3 ch-ơng:
Ch-ơng I: Nhân vật và nhân vật “ con ng-ời nhỏ bé” trong văn học Ch-ơng II: Những số phận và nhân cách nhân vật “ con ng-ời nhỏ bé” trong
Con người là chủ thể, là đối tượng đồng thời là mục đớch “cứu cỏnh” của văn học Nhà văn Gorky khẳng định: “văn học là nhõn học”, là sự hiểu biết, khỏm phỏ, sỏng tạo về con người và cuộc sống của con người Vỡ vậy, tầm vúc, chiều sõu và ý nghĩa của một nền văn học chẳng những phụ thuộc
Trang 9vào lớ tưởng, vào mục đớch phục vụ của nú mà cũn phụ thuộc vào cỏch hiểu biết tiếp cận và sỏng tạo con người của nú nữa
Sỏng tỏc văn học là một hoạt động nhận thức nờn bao giờ cũng mang tớnh quan niệm: phản ỏnh và thể hiện con người, tất nhiờn văn học khụng thể khụng cú quan niệm nghệ thuật về con người
Quan niệm nghệ thuật về con người là khỏi niệm quan trọng bậc nhất trong mấy thập niờn qua, cú ý nghĩa trả văn học về với nghệ thuật và trả về cho văn học bản chất nhõn học Đõy là một khỏi niệm của thi phỏp học, cú sự gắn bú với thế giới quan nhưng khụng đồng nhất với thế giới quan của nhà văn Nú là cỏch cắt nghĩa, là phương diện chủ quan trong cỏch cảm nhận của nhà văn đối với con người Suy cho cựng giỏ trị của văn học chớnh là ở chỗ nú
đó hiểu, đó cảm nhận và chiếm lĩnh con người sõu sắc ở mức độ nào
Với tầm quan trọng như vậy, vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người đó được nhiều nhà nghiờn cứu ở nước ta cũng như trờn thế giới quan tõm chỳ ý Đi sõu vào vấn đề này cũng là đi sõu khỏm phỏ một phương diện quan trọng trong thế giới nghệ thuật của nhà văn, đúng vai trũ chi phối cỏc yếu tố khỏc của nội dung và hỡnh thức nghệ thuật I.P.Erờnin- một trong những nhà phờ bỡnh nghiờn cứu nổi tiếng về văn học Nga cổ đó cho rằng:
“con người trong sự miờu tả của nhà văn là một trong những trung tõm điểm
mà qua đú phong cỏch nhà văn thể hiện sỏng rừ hơn hết và chớnh những nguyờn tắc miờu tả con người đó cung cấp chỡa khoỏ để giỳp ta hiểu được phong cỏch sỏng tạo của nhà nghệ sỹ’’
Trần Đỡnh Sử trong cuốn “Dẫn luận thi phỏp học” xỏc định: “Quan
niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người
đó hoỏ thõn thành cỏc phương tiện, biện phỏp thể hiện con người trong văn học, tạo nờn giỏ trị thẩm mỹ cho cỏc hỡnh tượng văn học”[2;34]
Tỏc giả Nguyễn Thị Bớch Hải trong cuốn “Thi phỏp Thơ Đường”, (nhà
xuất bản Thuận Hoỏ) cho rằng: “… Quan niệm nghệ thuật của con người là một phạm trự rất quan trọng trong tỏc phẩm văn học Nú hướng ta nhỡn về đối
Trang 10tượng chủ yếu là văn học, trung tõm của quan niệm thẫm mỹ là người nghệ
sỹ Hỡnh tượng nghệ thuật (nhõn vật- con người) xuất hiện trong văn học bao giờ cũng mang tớnh quan niệm, tức là miờu tả, phản ỏnh thể hiện nhõn vật bao giờ cũng mang tớnh quan niệm của tỏc giả…” [1]
Mỗi thời đại bao giờ cũng cú một mẫu số chung trong quan niệm nghệ thuật về con người Thế nhưng, trong sỏng tạo nghệ thuật của nhà văn, khụng phải nhà văn bao giờ cũng mỏy múc thể hiện cho được những tiờu chuẩn chung của thời đại Như vậy, ta thấy khụng phải ngẫu nhiờn mỗi nhà văn tự tỡm cho mỡnh một quan niệm nghệ thuật mà mỗi quan niệm đú còn bị chi phối bởi cơ sở xó hội, lịch sử, văn hoỏ
Quan niệm nghệ thuật về con người là sản phẩm sỏng tạo của chủ thể nhà văn Nú có chịu ảnh hưởng của những quan niệm khỏc về con nguời: quan niệm đạo đức, luật phỏp, chớnh trị, tụn giỏo nhưng nú khụng bao giờ là bản sao cop- py minh hoạ mỏy múc cho những quan niệm này Nú là giỏ trị độc đỏo
Quan niệm nghệ thuật về con người cú khả năng phỏt hiện con người ở chiếu sõu bớ ẩn nhất, từ những miền cũn ẩn giấu trong giỏ trị con người Đõy chớnh là tiờu chuẩn cao nhất để đỏnh giỏ giỏ trị nhõn văn vốn cú của văn học nghệ thuật Những tỏc phẩm xem nhẹ việc khỏm phỏ con người thỡ nội dung nhõn văn thường nghốo nàn Nghệ sỹ là người suy nghĩ về con người, cho con người và nờu ra những tư tưởng mới để hiểu con người Do đú, càng đi sõu khỏm phỏ về quan niệm nghệ thuật về con người thỡ càng đi sõu vào thực chất sỏng tạo của người nghệ sỹ, càng đỏnh giỏ đúng những đúng gúp của họ Như vậy, quan niệm nghệ thuật xột cho đến cựng là toàn bộ quan niệm
về con người trong sự đổi mới, nú hướng về tương lai Vỡ vậy, nghiờn cứu tỡm hiểu tỏc phẩm văn học đi từ quan niệm về con người sẽ cho ta cỏch tiếp cận tỏc phẩm một cỏch mới mẻ cú ý nghĩa sõu sắc trờn gúc độ thi phỏp học
1.2 Kiểu nhõn vật
Quan niệm nghệ thuật về con người được biểu hiện bằng nhiều hỡnh thức nghệ thuật khỏc nhau Trong một tỏc phẩm văn học, quan niệm nghệ
Trang 11thuật về con người biểu hiện ở cỏc yếu tố: khụng gian nghệ thuật,thời gian nghệ thuật, kết cấu tỏc phẩm, ngụn ngữ Núi cỏch khỏc, quan niệm nghệ thuật về con người chi phối mạnh mẽ cỏc yếu tố của nội dung và hỡnh thức nghệ thuật Trong đú, nhõn vật là hỡnh thức thể hiện một cỏch trực tiếp nhất, tập trung nhất Nhõn vật khụng phải là nơi duy nhất nhưng lại là nơi biểu hiện sõu đậm nhất Quan niệm nghệ thuật về con người và sự miờu tả, thể hiện nhõn vật luụn gắn liền với nhau, trong đú quan niệm nghệ thuật về con người
cú ý nghĩa định hướng cách thức sáng tạo kiểu nhõn vật của nhà văn Quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn là nhõn tố quyết định trực tiếp tới nhõn vật Dựa vào đú người nghiờn cứu sẽ cú cơ sở vững chắc để tỡm hiểu một thành phần cơ bản trong nội dung hỡnh tượng và để lý giải logic tổ chức bờn trong của nhõn vật Vỡ vậy, khụng thể bỏ qua quan niệm nghệ thuật về con người nếu muốn cảm nhận nhõn vật một cỏch chỉnh thể trọn vẹn
thực tiễn sỏng tỏc và phờ bỡnh nghiờn cứu đã nờu lờn nhiều kiểu, loại nhõn vật văn học, tương ứng với những dấu hiệu phõn loại khỏc nhau
Trong lý luận văn hoc, kiểu nhõn vật là những mụ hỡnh nhõn vật mà dựa vào đú để tỏc giả viết nờn tỏc phẩm Dưới gúc nhỡn của lý luận văn học, kiểu nhõn vật cú thể được phõn loại theo những tiờu chớ khỏc nhau:
“-Dựa vào vị trớ đối với nội dung cụ thể, với cốt truyện của cỏc tỏc phẩm, nhõn vật văn học được chia thành nhõn vật chớnh và nhõn vật phụ
- Dựa vào đặc điểm tính cỏch và việc truyền đạt lý tưởng của nhà văn, nhõn vật văn học được chia thành nhõn vật chớnh diện và nhõn vật phản diện
- Dựa vào thể loại văn học ta cú nhõn vật tự sự, nhõn vật trữ tỡnh, nhõn vật kịch
- Dựa vào cấu trỳc hỡnh tượng nhõn vật chia thành nhõn vật chức năng ( mặt nạ), nhõn vật loại hỡnh, nhõn vật tớnh cỏch, nhõn vật tư tưởng ”[7;236] Theo quan niệm thi phỏp học, kiểu nhõn vật là do người đọc, người nghiờn cứu tỡm ra trong quỏ trỡnh đọc tỏc phẩm Kiểu nhõn vật là kết quả của quỏ trỡnh đồng sỏng tạo của độc giả, do độc giả khỏi quỏt thành
Trang 12Kiểu nhân vật, theo quan niệm thi pháp học phải là một giới hạn giá trị
con người, một sự đánh giá của nhà văn về số phận, phẩm chất con người
Thế giới con người là một thế giới cực kì phong phú, con người- khi đi
vào thế giới nghệ thuật vì vậy cũng cực kì phong phú và đầy bí ẩn Cho nên
kiểu nhân vật dưới cái nhìn thi pháp học là vô cùng vô tận
Ta có thể bắt gặp một số kiểu nhân vật:
nhân vật thức tỉnh (trong tác phẩm của Thạch Lam) nhân vật tha hoá (tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, Ban-dắc ) nhân vật dưới đáy (trong truyện ngắn thời kì đầu của Gor-ki, trong tác
phẩm của Nguyên Hồng)
nhân vật con người sám hối( trong truyện ngắn “Bức tranh” của
Nguyễn Minh Châu)
nhân vật người thừa (trong “ Đời thừa”, “Sống mòn” của Nam cao)
Ngoài ra, còn có một số kiểu loại nhân vật khác: nhân vật cô đơn, nhân
vật nghĩa vụ, nhân vật nổi loạn… Trong đó, kiểu nhân vật mà chúng tôi đề
cập đến ở khoá luận này là kiểu nhân vật “ con người nhỏ bé”
1.3 Sự tiến hoá của quan niệm nghệ thuật về con người và sự biến
đổi của các kiểu loại nhân vật trong văn học sau 1975
Văn xuôi sau 1975, khám phá con người ở nhiều bình diện mới: con
người lịch sử, con người duy ý chí, con người nhân loại, con người tự nhiên,
con người tâm linh…
Văn học giai đoạn 1945-1975 khám phá con ng-êi thống nhất hoàn
toàn với yªu cÇu cña lịch sử Còn trong văn học sau 1975 nhà văn đã phát
hiện và bổ sung thêm một hình thức mới của mối quan hệ con người lịch sử
Bên cạnh con người chủ nhân của lịch sử còn có con người nạn nhân Ở cấp
Trang 13độ “vĩ mô” của lịch sử có thể là chiều thuận, nhưng ở cấp “vi mô” là chiều nghịch Bên cạnh con người lịch sử xuất hiện con người cá nhân
Khi văn xuôi nghiêng về cảm hứng thế sự, lấy con người làm đối tượng miªu t¶, nó phát hiện ra các “toạ độ” mới của con người, các mối quan hệ phong phú và bí ẩn giữa con ng-êi và thế giới xung quanh, thì con người giai cấp được bổ sung bằng con người nhân loại
Sau năm 1975, con người tự nhiên, con người tâm linh được đề cập đến
nhiều hơn trong văn học Chẳng hạn, trong các tác phẩm: “ Mùa lá rụng trong
vườn” của Ma Văn kháng,“Đùa của tạo hoá” của Phạm thÞ Hoài, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh
Sự nhËn thức lại con người trong quan niệm nghệ thuật tất yếu sẽ dẫn đến những đổi thay trong thế giới nhân vật của các nhà văn sau năm 1975 Trong văn xuôi trước năm 1975, các nhân vật ®-îc nhận diện theo lập trường cách mạng, có thể dÔ dàng xếp họ vào các nhân vật chính diện hay phản diện, tích cực hay tiêu cùc Các nhân vật lại được khuôn vào những khung hình của tầng lớp xã hội- giai cấp Hệ thống nhân vật được phân chia theo tầng lớp nghề nghiệp, vị trí xã hội hoặc lứa tuổi( nông dân, công nhân, tri thức, người
mẹ, người phụ nữ )
văn học thời kỳ đổi mới, khi đã vượt qua giới hạn chật hẹp và cứng nhắc của cái nhìn con người và thể hiện nhân vật như trên, đã mở ra sự đa dạng, phong phú dường như vô tận cho thế giới nhân vật
Rất khó có thể, đưa ra một bản phân loại hay liệt kê nào đó có khả năng bao quát được thế giới nhân vật trong văn xuôi hiện nay Nhưng có thể dễ dàng nhận ra khá nhiều loại nhân vật mới, vốn chưa có hoặc ít có trong văn học trước 1975: con người tâm linh, con người bi kịch, con người cô đơn, con người tha hoá, con người đa sự, nhiều ưu tư, con người nhân loại
Đó chỉ là một vài kiểu loại nhân vật được phân chia theo nhiều tiêu chí khác nhau trong văn xuôi đương đại Nếu như trước đây, khắc hoạ tính cách điển hình theo quan niệm điển hình hoá của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ
Trang 14nghĩa là mục tiêu hướng tới của các nhà văn trong xây dựng nhân vật thì nay nhân vật không còn lệ thuộc vào chức năng thể hiện tích cách, nhà văn có quyền lựa chọn và sáng tạo tự do đối với nhân vật của mình
2 Kiểu “nhân vật con người nhỏ bé” trong văn học
2.1 “Con người nhỏ bé”
Con người trong văn học, đặc biệt là trong văn học hôm nay, được nhìn nhận ở nhiều vị thế và trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ: con người với xã hội, con người với lịch sử, con người với gia tộc, con người với phong tục, thiên nhiên, với người khác và với chính mình Con người được khám phá ở nhiều bình diện, nhiều tầng bậc: ý thức và vô thức, đời sống tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại phổ biến Càng đặt trong nhiều tầng bậc, nhiều mối quan hệ thì càng có nhiều mâu thuẫn, xung đột, và càng có nhiều sự phân chia mâu thuẫn, xung đột với xã hội, mâu thuẫn xung đột với chính mình Con người trỏ thành nạn nh©n của
xã hội, nạn nhân của chính mình Đến một lúc nào đó do không thể giải quyết được, không điều hoà ®ược các mối quan hệ, do hoàn cảnh xô ®Èy họ bị xã hội bỏ rơi bị gạt ra ngoài
Những con người trở nên bơ vơ lạc lõng, họ rơi vào “nấc thang” cuối cùng và trở thành nhỏ bé trong xã hội Bởi chính họ là thành viên của xã hội,
là một cá nhân cụ thể, con người là tế bào của xã hội Vì vậy, mọi tác động, đổi thay của xã hội đều có ảnh hưởng đến đời sống con người, ảnh hưởng đến từng con người, có khi là cả đời người
Như vậy có phải người nào thuéc giai cấp nào trong xã hội cũng đều là
“con người nhỏ bД hay không? có phải cứ hễ là những người thuộc tầng lớp tận cùng, dưới đáy xã hội mới là “con người nhỏ bé”
Để làm rõ khía cạnh này, chúng tôi xin đề cập đến “con người nhỏ bé” trong sáng tác của một số nhà văn trong văn học Nga (trong sáng tác của Sekhop, Puskin, G«g«n ) "Con người nhỏ bé" trong văn học Nga nói chung
Trang 15là những con người “thấp cổ bộ họng”, chủ yếu là cỏc nhõn vật tiểu thương, tiểu chủ, tiểu viờn chức, nụng dõn với tất cả những “con người nhỏ bộ” cú chức tước nhỏ bộ, đồng lương nhỏ bộ, tài sản nhỏ bộ ở thành thị, ở nụng thụn
Đú cú thể là bỏc chủ hiệu đỏm ma, bỏc hàng bỏnh, bỏc hàng giày, bỏc gỏc đường, có khi là thầy giỏo, hoạ sỹ, thợ thủ cụng cú khi là những người
“dưới đỏy” xó hội Đú là tất cả những người dõn nga nghốo tỳng, cơ cực làm lụng, lo toan với cuộc sống thường nhật mà bấy lõu nay số phận và chõn dung của họ bị văn học lóng quờn hoặc ớt được nhắc đến
Điểm qua vài nột ta thấy, “con người nhỏ bộ” trong văn học Nga tuy thành phần và nghề nghiệp cú những nột khỏc biệt so với những “con người nhỏ bộ” trong văn học Việt Nam, do tớnh chất xó hội, cơ cấu, giai cấp, phong tục, tập quỏn khỏc nhau Nhưng nhỡn chung, con người nhỏ bộ trờn thế giới dự
là ở Nga hay là ở Việt Nam, đõu đõu cũng đều cú thể quy về những mẫu số chung Họ là tất cả mọi người, khụng phõn biệt giai cấp tầng lớp Bất kỳ ai đã
là con người thỡ đều cú thể trở thành “con người nhỏ bộ” Những con người sống triền miờn trong đau khổ, tai hoạ ập đến với họ dồn dập làm cho họ khụng kịp nhận ra cuộc đời mỡnh thật là nhàm chỏn và cụ độc Họ vất vả, tủi nhục và bế tắc Họ cũng mơ ước khỏt khao dự là nhỏ bộ về cuộc sống, tỡnh yờu nhưng mơ ước, khỏt khao đú lại bị xó hội làm cho thui chột đi Và nhiều khi chớnh bản thõn họ làm cho họ trở nờn nhỏ bộ, lạc lừng trong xó hội từ lỳc nào mà họ khụng hề cú ý thức và khụng cú cỏch gỡ thoỏt ra được
2.2 Nhõn vật “ con người nhỏ bộ” trong văn học
Nhõn vật văn học chẳng những là con đẻ của nhà văn, của truyền thống văn học, một tỡnh huống văn học mà cũn là của một hoàn cảnh kinh tế xó hội
cụ thể Văn học là nơi thể hiện cuộc sống một cỏch đặc biệt và sõu sắc nhất Cho nờn, tỡm hiểu cặn kẽ mảnh đất đó sản sinh ra nhõn vật là điều kiện cơ bản cho việc tỡm hiểu, phõn tớch, đỏnh giỏ nhõn vật được chớnh xỏc
Nhõn vật “con người nhỏ bộ” đó ra đời và phỏt triển trong tiến trỡnh văn học
Trang 16Nhõn vật “con người nhỏ bộ” trước thiờn nhiờn bao la Thưở ban đầu, lao động cũn thụ sơ “suy nghĩ của con người cũn non nớt” bị cỏc hiện tượng
tự nhiờn thường xuyờn đe doạ, rỡnh dập Con người sợ hói trước chỳng, khụng dỏm đứng lờn đấu tranh cải tạo mà chỉ lấy thần thỏnh để giải thớch cỏc hiện tượng đú
Dần dần lao động phỏt triển, tư liệu sản xuất và quan hệ sản xuất mới ra đời, đời sống con người được nõng cao Con người vươn lờn cải tạo, chiếm lĩnh tự nhiờn Lỳc này họ khụng cũn cảm thấy nhỏ bộ, sợ hói trước tự nhiờn
mà thay vào đú, con người lại cảm thấy xuất hiện tõm thế “ nhỏ bộ” trước xó hội mới
con người trong văn học dân gian sống trong quan hệ cộng đồng, làng
xó gắn bú thõn thiết “tối lửa tắt đốn” cú nhau Khi nào con người cũng được bao bọc trong một bầu khụng khớ “vụ trựng” của sự đoàn kết tưong thõn, tương ỏi của tỡnh làng nghĩa xúm Chuyện làng, chuyện xó cho đến chuyện gia đỡnh đều được giải bày tõm sự trong lao động qua những cõu ca, cõu hỏt Cỏc nhõn vật trong văn học dõn gian chưa hề cú tớnh cỏch riờng, cỏ tớnh riờng
mà chỉ là những nhõn vật chức năng đảm nhiệm những chức năng nhất định
Ta bắt gặp những nhân vật trong truyện cổ tích nh-: Tấm (Tấm Cám), ng-ời
em (cây Khế), Thạch Sanh (Thạch Sanh)….họ là những con ng-ời nghèo khổ, chịu nhiều bất hạnh
Thời kỡ trung đại, trong văn học xuất hiện con người cụ đơn, nhỏ bộ với
đời sống nội tâm sâu sắc Lần đầu tiờn, hỡnh ảnh người phụ nữ cụ độc tự ý
thức về nỗi đau thõn phận, sự cụ đơn, hộo hắt của bản thõn trong “Chinh phụ
ngõm” của Đặng Trần Cụn Lần đầu tiờn ta bắt gặp một Thuý Kiều tài sắc mà
nhỏ nhoi, cụ độc giữa xó hội đầy rẫy bất cụng trong "Truyện Kiều " của
Nguyễn Du:
Buồn trụng ngọn nước mới sa
Hoa trụi man mỏc biết là về đõu
Hoặc là:
Trang 17Bẽ bàng mõy sớm đốn khuya
Nửa tỡnh, nửa cảnh như chia tấm lũng
Thuý Kiều từ một cụ gỏi nhà khuờ cỏc “ờm đềm tr-ớng rủ màn che”
bị đẩy xuống làm gỏi lầu xanh, làm con ở Nàng khụng tỡm được tiếng núi đồng vọng, tri õm của xó hội mà “ai tri õm đú mặn mà với ai”, một mỡnh một cảnh Nàng cảm thấy nhỏ bộ cụ đơn Hay những thân phận đau khổ trong truyện Nôm, những thân phận côi cút: Lục Vân tiên, Kiều Nguyệt Nga, Tiểu
Đồng, ông Ng-, ông quán trong Lục vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu)…cũng
có nét t-ơng đồng
“Con người nhỏ bộ” trong văn học trung đại cú xuất hiện song đú chỉ
là những cỏ nhõn, những hiện tượng dị biệt nằm trong quy luật tiến hoỏ về ý thức con ngưũi chứ chưa trở thành kiểu loại chung cho con người một cỏch phổ biến Bởi dù sao đi nửa, một điều hết sức quan trọng luụn chi phối bao trựm toàn bộ quan niệm con người xó hội lỳc bấy giờ là tư tưởng “ trung quõn
ỏi quốc” Tất cả mọi quan hệ, mọi quyền lợi của con người đều đựoc soi chiờỳ
và lấy quan niệm, tư tưởng đú làm thước đo
Thời kỳ 1930-1945, sau hai cuộc khai thỏc của thực dân Phỏp, cơ cấu
xó hội Việt Nam cú sự biến đổi sõu sắc nhiều đụ thị, thị trấn mọc lờn Đú là những nơi tập trung kinh tế, văn hoỏ, hành chớnh của xó hội thực dõn Ở đấy,
ra đời những tầng lớp xó hội mới, tư sản, tiểu tư sản, cụng nhõn Bấy giờ thành thị cú một sức hỳt ghờ gớm một ma lực làm rạn nứt, biến đổi những nguyờn tắc tưởng như đó cố hữu của “chốn nước non lặng lẽ này” Luồng giú mới của xó hội Tõy Âu đó tỏc động mạnh mẽ vào đời sống xó hội và được cỏc tầng lớp đặc biệt là thanh niờn, trớ thức hồ hởi đún nhận Bởi họ là những người được học chữ quốc ngữ, tiếng Phỏp, sớm được tiếp xỳc với cỏi mới của xó hội văn minh phương tõy
Tiểu thuyết “Tự lực văn đoàn” xuất hiện những con người mới đú là
những thanh niờn tõy học hoặc gỏi mới Đú là Lộc (Nửa chừng xuõn), Dũng (Đoạn tuyệt), Nam (Đẹp), Ninh (Gỏnh hàng hoa) Họ tắm mỡnh trong khụng
Trang 18khớ văn hoỏ mới đến một lỳc nào đú họ cảm thấy mỡnh ró rời, bất lực, thấy mỡnh chỉ là kẻ chạy theo, học đũi và họ bị chớnh xó hội đú đẩy ra lỳc nào khụng hay Họ cũng đấu tranh chống lễ giỏo phong kiến, cho tự do trong tỡnh yờu, cho hạnh phỳc gia đỡnh nhưng cuối cựng đi tới chỗ bế tắc, cực đoan trờn tinh thần chung chung Họ nhận thức về con người, bản thõn, xó hội và thấy mỡnh lạc lừng, cụ đơn, nhỏ bộ Trong văn học hiện thực phờ phỏn giai đoạn này cũng xuất hiện nhõn vật “con người nhỏ bộ” qua cỏc tỏc phẩm của Nam Cao, Nguyờn Hồng, Nguyễn Cụng Hoan Thế giới nhân vật d-ới đáy bị xã hội văn minh bỏ quên trong tác phẩm Thạch Lam cũng rơi vào hoàn cảnh nh- vậy Họ ước mơ làm được điều gỡ đú trong xó hội nhưng thõn phận nhỏ bộ, nghề nghiệp nhỏ bộ họ chẳng làm được gỡ mà chỉ thấy bất lực, lạc lừng
Trong văn học trong giai đoạn 1945 - 1975 “con ng-òi nhỏ bé” có sự chuyển hoá vị thế xã hội Cỏch mạng thỏng 8 thành cụng, cuộc đấu tranh giải phúng dân tộc diễn ra ỏc liệt Nền văn học cú sự thay đổi theo sỏt nhiệm vụ chớnh trị tự ý thức mỡnh như một vũ khớ tư tưởng, văn học đó tập trung mọi cố gắng trong việc xõy dựng “con người mới”, phỏt hiện “con người cộng đồng”,
“con người tập thể” Lỳc này cỏi tụi cỏ nhõn nhỏ bộ tạm thời lắng xuống, tinh thần tập thể cộng đồng xuất hiện cựng nhau “gỏnh vỏc việc non sụng” Con người được nhận thức đỏnh giỏ theo tiờu chuẩn giai cấp Từ những mối quan
hệ chung đến cỏi bản ngó riờng đều được nhỡn nhận khỏm phỏ theo tiờu chuẩn
đú Con người trong văn học là con người lịch sử cộng đồng nếu diễn đạt theo M.Balictin thỡ đú là quan niệm con người theo kiểu sử thi ở đú con người luụn
“khoỏc bộ áo xó hội”, luụn “trựng khớt với địa vị xó hội của mỡnh”
Sau năm 1975 đất nước thống nhất, con người trở về với muụn mặt của cuộc sống đời thường Quy luật thời bỡnh đó chi phối văn học Nếu như trước đõy trong hoàn cảnh chiến tranh mọi người như một đều tập trung đỏnh giặc
và thắng giặc, thỡ nay trở về cuộc sống đời thường, con người phải đối mặt với bao vất vả, khú khăn của cuộc sống mới
Trang 19Đất nước ph¸t triÓn về mọi mặt đặc biệt là kinh tế, khoa học kỹ thật tiên tiến Do ảnh hưởng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hàng loạt các đô thị, thành phố mọc lên kéo theo đó là tầng lớp thị dân mới Xã hội có sự phân chia sâu sắc giữa các tầng lớp thành thị - nông thôn, sự phân hoá giai cấp – giàu nghèo diễn ra Con người phải thích ứng với nền kinh tế thị tr-êng Một bộ phận người bá ra thành thị lang thang từ vùng này sang vùng khác, để kiếm
ăn, để sinh cơ lập nghiệp Họ cứ đi, kiếm sống hoà vào dòng người, đến một lúc nào hä cảm thấy cô đơn, lạc lõng Họ ý thức được điều đó và họ thấy mình thật nhỏ bé Đó là những cựu chiến binh, những sinh viên những cô gái mới lớn, những người đàn ông cô đơn, những người đàn bà…trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Thị Thu Huệ… Trên con đường để tìm cuộc sống, tình yêu hạnh phúc họ gặp rất nhiều bất trắc, trở thành nạn nhân của cuộc sống xô bå thời hiện đại
Trang 20Nông thôn là một đề tài không mới Trước đây đồng bằng bắc bộ hiện
lên trong“mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường,“thời
xa vắng” của Lê Lựu, những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và thiên ký
sự nổi tiếng “cái đêm hôm ấy đêm gì” của nhà giáo quá cố Phùng Gia Lộc đã
cho ta những cái nhìn về kiếp sống bi thương của người nông dân
Trước Nguyễn Ngọc Tư đã có nhiều tác giả viết về đồng bằng nam bộ : Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Ngọc Linh ….ë hải ngoại cũng có nhiều nhà văn mà có người gọi là “nhà văn miệt vườn” như Hồ Trường An, Ngô Nguyên Dũng, Nguyễn Tuấn Hưng….cũng làm cho độc giả nhớ về mảnh đất
xứ sở ấy
Nguyễn Ngọc Tư cũng viết về những con người ấy, cảnh vật ấy nhưng chị có cách tiếp cận khác, không có gì lớn lao mà rất đỗi đời thường như tác giả Vũ Long nói: “câu chuyện của chị cho ta một cái nhìn, ở một góc độ khác
về những con người bình dân trong xã hội cũng là lúc tôi ngỡ là câu truyện thời xa xưa, chính xác hơn là một chút ngỡ ngàng, bây giờ mà cũng có những mảnh đời vậy” [18] Những mảnh đời tần tảo sớm hôm mà vẫn không thoát khỏi cảnh nghèo khổ vất vả
Trang 21Thế giới nhân vật trong tập truyện mang tên“ cánh đồng bất tận” của
Nguyễn Ngọc Tư không đông đúc Đó là những người dân Nam Bộ với những cái tên hết sức bình dị, chân chất, đặt tên theo thứ và cách xưng gọi thứ kết hợp với tên: Hai, Ba, Tư, Chín, Út, Tư nhỏ, Năm nhỏ, Sáu Đèo…mang những tâm sự, nguyện vọng hết sức nhỏ bé, đời thường Đó là những con người sinh sống bằng những ngành nghề gắn liền với quê hương Nam Bộ
như: nghề sông nước (Dòng nhớ, Nhớ sông ), nghề nuôi vịt chạy đồng (c¸i
nhìn khắc khoải, c¸nh đồng bất tận…), nghề theo gánh hát (Cuối mùa nhan Sắc, Cải ơi…) ngoài những ngành nghề truyền thống: làm ruộng, làm rẫy, đan
lát…
Các nhân vật hiện lên với đầy đủ lứa tuổi, giới tính, trong đó Nguyễn Ngọc Tư thường tập trung miêu tả, thể hiện hai loại nh©n vËt chính đó là những người đàn bà và những người đàn ông có tuổi Họ có số phận bi kịch trong từng hoàn cảnh có nét tương đồng Phần lớn là những người phụ nữ gặp
cảnh trớ trêu trong duyên số (Cái nhìn khắc khoải, Duyên phận so le, Một trái
tim khô…) những ông già cuối đời vẫn sống cô đơn và hơn nữa là biết chấp
nhận (Cái nhìn khắc khoải) chấp nhận để đồng cảm với những thân phận trẻ
dầu chỉ thoáng chốc chung sống như tình cảm ruột thịt ở ông già Năm Nhỏ
(Cải ơi) hay ông Chín (Nhớ sông) đến cả người cha trong “Cánh đồng bất tận” - những người đàn ông chịu đựng và cảm thông ở ông Năm Nhá, ông
Chín và ở người cha của hai đứa trẻ lại lặng im tìm cách “ trả thù” người vợ phụ tình trên thân xác những người phụ nữ nhẹ dạ cả tin khác
Đó là những anh chàng yêu mà không dám ngỏ lời, những người thanh
niên gặp chị phụ nữ lỡ làng nên duyên chồng vợ trong “Duyên phận so le”,
“Một trái tim khô”,“Cuối mùa nhan sắc”,“Hiu hiu gió bấc”, “Mối tình năm cũ”….đều lÊy tình yêu thương đối xử “tử tế” với nhau Chuyện của chị cũng
đề cập đến tình yêu đôi lứa ở nông thôn với những mối tình đẹp nhưng dang
dở…Một cô gái trẻ lấy chồng hoài niệm về mối tình đầu (Huệ lấy chồng), một
Trang 22tình yêu đến bất ngờ rồi lại ra đi (Cái nhìn khắc khoải), tình yêu âm ỉ, dai dẳng của các nhân vật (Cuối mùa nhan sắc) Song hầu hết các trang viết của
chị lai có cái kết quá day dứt và hơi quá đời thật khi cái hậu của mỗi truỵên thường là dang dở, lận đận dù họ chỉ “ một phút huy hoàng rồi chợt tắt”
Cho đÕn truyện ngắn cuối cùng của tập“ Cánh đồng bất tận” Nguyễn
Ngọc Tư mới chớm lìa ngòi bút đến cái ác có phần nhẫn tâm trong ba số phận
ở môt hoàn cảnh
Nhìn chung, với giọng văn dung dị, giàu hình ảnh, ít chau chuốt, Nguyễn Ngọc Tư bao giờ cũng có chừng mực khi diễn tả về hạnh phúc nỗi đau và bất hạnh của con người Chị nhìn cuộc sống và con người xung quanh bằng một tấm lòng khoan dung độ lượng ….Dường như, chị cho rằng chẳng
có ai hạnh phúc trọn vẹn và cũng không có ai đau khổ đến tận cùng Vì vậy, xây dựng những nhân vật dù là ở hoàn cảnh nào, cả khi chị tập trung vào những người nông dân, người nghệ sỹ chị cũng đứng ở góc nhìn nhân văn nhất để diễn tả những khổ đau
Chị từng tâm sự: “Những mảnh đời trong tác phẩm của tôi đều có từ tưởng tượng” [18] Thế nhưng, người ta vẫn cảm nhận hết những suy tư, day dứt rất nhân hậu trong chị Nguyễn Ngọc Tư đào sâu thể hiện cuộc sống và khơi sâu vào thân phận con người từ câu chuyện gia đình và cách ứng xử của con người bằng tất cả lòng yêu thương của con người Dòng chảy của chủ nghĩa nhân văn này đã có sức cuốn hút sâu sắc đến bạn đọc mọi tầng lớp
2 Những số phận bất hạnh của “con người nhỏ bé” trong Cánh
đồng bất tận
Lưu lạc- theo từ điển Tiếng Việt có nghĩa là “trôi dạt nay đây mai đó nơi
xa lạ” [16; 395] Trong suốt 14 truyện ngắn của tập truyện Cánh đồng bất tận
các nhân vật đều có số phận lận đận, vất vả trên các nẻo đường đời khác nhau
Trang 23Sự lưu lạc, ra đi của cỏc nhõn vật do nhiều nguyờn nhõn: do trốn chạy lẩn lỳt,
do kiếm tỡm, do say mờ và do nghốo khổ
2.1.1 Trốn chạy
trốn chạy như là một định mệnh khắc nghiệt, là một hành động nũng
cốt xảy ra đều đều trong truyện của Nguyễn Ngọc tư Bỏ nhà: “Cải ơi”, bỏ
cự lao: “Thương quỏ rau răm”, bỏ người, bỏ vịt: “cỏi nhỡn khắc khoải”, bỏ chồng và bỏ đi: “Biển người mờnh mụng”, bỏ ghe:“Nhớ sụng”, bỏ tất cả, bỏ hết thảy: “Cỏnh đồng bất tận”, bỏ người yờu, bỏ bến: “duyờn phận so le”,
“dũng nhớ”
Các nhân vật trong tập truyện “ Cánh đồng bất tận” là những mảnh đời
bất hạnh, có số phận khổ đau Dù gặp rất nhiều ngang trái, bất công nh-ng họ
ít có tinh thần phản kháng, giỏi chiụ đựng Song đến một lúc nào đó, khi bị võy kớn bởi những khú khăn của đời sống, người ta thường cú một phản ứng rất tự nhiờn để bảo tồn lấy mỡnh: trốn chạy Đó là những cuộc trốn chạy ng-ời
thân, trốn chạy chính mình (“ Cánh đồng bất tận” , “ Duyên phận so le” ,
“ Cái nhìn khắc khoải…” )
Ng-ời mẹ trong “ Cánh đồng bất tận” ra đi vì xấu hổ, ân hận Ng-ời
đàn bà đó đang có cuộc sống êm đềm hạnh phúc, vậy mà chỉ vì mấy tấm vải
đẹp đã phản bội chồng, từ bỏ các con Hai đứa trẻ buổi tr-a ngủ lọt trong bồ lúa đã chứng kiến cảnh bất ngờ và ghê sợ: “ Trên chiếc gi-ờng tre quen thuộc, má oằn uốn ng-ời d-ới tấm l-ng chơm chớm những nốt ruồi Ng-ời mẹ đó đã chết lặng đi và bỏ ra đi bởi làm sao có thể chịu đựng đ-ợc, không tủi hổ đ-ợc khi chính những đứa con thân yêu của mình nhìn thấy cảnh mình và ng-ời đàn
ông khác Ng-ời phụ nữ ra đi một cách lẳng lặng, chẳng suy nghĩ, đắn đo, không một chút trù trừ, chỉ rũ mình cái rột, sạch trơn” Cuộc đời của ng-ời mẹ
đó cũng chỉ là cuộc đời tạm bợ, trôi dạt, chỉ quá giang một khúc, một đoạn trong đời rồi đi
Trang 24Sự ra đi của ng-ời mẹ đã mở đ-ờng cho sự ra đi và hành trình l-u lạc của ba cha con Không chịu nổi d- luận của chòm xóm, uất hận, xót xa, cha
đã mang tất cả đồ đạc của má đem đốt, khói bay mù mịt trong nhà Tất cả hình ảnh về ng-ời mẹ thân yêu và gia đình x-a chỉ còn lại là đống tro tàn nguội tắt trong lòng hai đứa trẻ Họ đã chạy trốn quá khứ chạy trốn sự thật phũ phàng mà ng-ời vợ vừa gây ra
Từ đây, ba cha con phải sống cuộc đời du c-, lang thang trên khắp các cánh đồng, dòng sông bất tận không có điểm dừng Khi hết mùa lúa chín, những ng-ời nuôi vịt chạy đồng khác đã trở về nhà còn chúng tôi tiếp tục lang thang Nơi họ đến là những nơi không có dấu chân ng-ời, những cánh đồng khô bong d-ới nắng Cuộc sống của ng-ời du mục khác biệt với cuộc sống của những ng-ời xung quanh mặc dù vẫn chung đụng, vẫn gần gũi “ thành ra mùa
du mục của chúng tôi kéo dài liên tục từ mùa m-a sang mùa nắng rồi lại m-a” Cũng có lần hai đứa trẻ t-ởng sẽ chấm dứt cảnh l-u lạc đó bằng mối tình của ng-ời cha và ng-ời đàn bà ở xóm Bàu Sen Sau những lần đó hai đứa trẻ lại tr-ợt dài vào nỗi thiếu thốn triền miên, thật khó để phân biệt “ chúng tôi
bỏ đi hay chạy trốn” Chúng vô định hơn bất cứ ng-ời nuôi vịt chạy đồng nào
Tuổi thơ của hai đứa trẻ trôi dạt trên những cánh đồng, dòng sông một cách hoang dại Chúng không hề biết rằng chính trên những dặm đ-ờng l-u lạc đó tâm hồn chúng cũng đã l-u lạc, đánh mất sự bình th-ờng tự lúc nào
Xuyến trong “ Duyên phận so le” cũng trốn chạy cuộc đời, trốn chạy
quá khứ đau khổ M-ời bảy tuổi, Xuyến yêu một ng-ời, yêu đến nỗi bỏ cả cha
mẹ đi theo ng-ời đó Nh-ng ch-a đầy năm sau, bị phụ bạc, bơ bất giữa chợ, không có đ-ờng về Sinh đ-ợc đứa con, không đủ sức nuôi nó nên phải bỏ Cô tìm đến khu du lịch mới hình thành để mong trốn chạy, xoá bỏ quãng đời đau khổ đã qua Điều đó t-ởng chừng nh- quên đ-ợc, xoá bỏ đ-ợc thì chị lại gặp lại đứa con mình dứt ruột từ bỏ và phải sống trong dằn vặt, khổ đau
Ta còn bắt gặp những cuộc chạy trốn, ra đi của các nhân vật trong các truyện khác Họ ra đi vì nhiều lẽ, nhiều nguyên nhân Chẳng hạn, sự ra đi của
vợ Sáu Đèo trong một lần hai vợ chồng cãi nhau (biển ng-ời mênh mông), sự
Trang 25ra đi của ng-ời chồng (dòng nhớ) vì cơ cực quá, hay ng-ời đàn ông (Cái nhìn
khắc khoải) do nợ nần chồng chất không có tiền trả, của cải trong “ Cải ơi”
chỉ vì mải chơi, đánh mất đôi trâu, sự đòn và bỏ trốn
Dù các nhân vật trong truyện ra đi vì lý do, vì hoàn cảnh khác nhau nh-ng những cuộc ra đi trong các truyện của Nguyễn Ngọc T- đều “ lẩn lút” ,
đều chỉ thấy ng-ời ra đi mà không ng-ời đ-a tiễn và họ “ đi” một cách trôi nổi, l-u lạc trên từng b-ớc đ-ờng phía tr-ớc
2.1.2 Kiếm tìm
Đó là những ng-ời ra đi tìm kiếm hạnh phúc, tìm kiếm tình yêu Cha đi
tìm con (Cải ơi), vợ chồng tìm nhau (Cái nhìn khắc khoải, Biển ng-ời mênh
mông…) Những ng-ời trong cuộc hành trình tìm kiếm đó phải phiêu dạt, trôi
nổi, nay đây mai đó nơi đất khách quê ng-ời tình cảnh không khác gì tình cảnh của những kẻ trốn chạy
Nhân vật Năm Nhớ (Cải ơi) l-u lạc ròng rã 12 năm trời tìm con vì chịu
tiếng oan giết con khi nhỏ Cải (con riêng của vợ) đánh mất đôi trâu vợ ông nghi ngờ ông khăn gói bỏ nhà ra đi, quyết tâm tìm cho đ-ợc con nhỏ về để minh chứng cho lòng ông, chứng minh cho hàng xóm biết ông không hề
“ng-ợc đãi, hà khắc với nó” mà ng-ợc lại rất yêu th-ơng nó
Cuộc hành trình lặn lội tìm con trong biển ng-ời mênh mông của ông kéo dài, ông đi qua chợ, qua đồng, tới rất nhiều quê xứ L-u lạc từ nơi này qua nơi khác, làm đủ nghề kiếm sống hòng kéo dài sự sống mong tìm lại con.Mỏi chân, ông xin làm sai vặt trong đoàn ca múa nhạc Đoàn ca múa nhạc giải tán,
ông trôi dạt tới ngã ba S-ơng sống vất v-ởng với chiếc xe kẹo kéo để tiếp tục hành trình tìm con Ông bèn nghĩ ra “ ph-ơng kế” đi ăn trộm trâu ở lò mổ rồi dắt về bán đúng chỗ lò mà ông vừa ăn trộm Ng-ời ta bắt giải ông lên tỉnh,
ông luôn miệng nhắc “ kêu đài truyền hình xuống” để quay hình ông Những chi tiết về cuộc tìm con của ông là cuộc sống sinh hoạt đời th-ờng bình dị, giàu chất Nam Bộ đáng cảm thông thấm đ-ợm tình ng-ời
Trang 26Truyện “ biển ng-ời mênh mông” lại nói về tình cảnh của ng-ời chồng
đi tìm vợ Tình cảnh của ông già Sáu Đèo đáng th-ơng và buồn Cuộc đời ông
từ hồi trẻ cho đến già đều phải lang thang xứ này, xứ nọ Thuở tr-ớc, hai vợ chồng ông toàn sống trên sông Cuộc sống bấy giờ vất vả, nghèo khó nh-ng
mà vui bởi dẫu có trôi nổi thì cũng có vợ, có chồng đuề huề, hạnh phúc, không phải nghĩ suy, đau đáu nh- tình cảnh bây giờ Từ đó đến khi gặp Phi ông đã lặn lội gần 40 năm, dời nhà cả thảy 33 bận, lội gần rã cặp giò rồi mà ch-a thấy chỉ mong kiếm đ-ợc vợ Ông nhớ rõ từng ngày, cố gắng tìm mọi ngõ ngách chỗ nào ch-a đi thì đi, còn sống thì ông còn tìm mặc dù là vô vọng
Ng-ợc lại, tình cảnh của ông già Sáu đèo, ng-ời đàn bà trong “ Cái
nhìn khắc khoải” lại lặn lội, mong ngóng tin tức của chồng Chồng bỏ đi, để
lại một mình chị không biết đi đâu về đâu Đ-ợc ng-ời đàn ông c-u mang, cho về nhà ở nh-ng hằng ngày chị vẫn nhớ chồng, vẫn th-ờng đón ghe hàng bông hỏi thăm tin tức cánh thợ gặt An Bình Tin tức ngày càng xa ở đây trăm ngả sông n-ớc làm sao mà kiếm Tin tức ngày càng vắng Khi biết tin chồng, chị liền từ giã ng-ời ông Hai mặc dù rất biết ơn ông nh-ng tình cảm đối với chồng vẫn dạt dào, thôi thúc chị
Những nhân vật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc T-, ng-ời đi tìm chồng, ng-ời tìm vợ, ng-ời tìm con… ai cũng phải chịu cảnh l-u lạc, rong ruổi Song kết cục họ vẫn ch-a tìm đ-ợc ng-ời yêu, ng-ời thân của mình
2.1.3 Say mê
Một hình t-ợng nổi bật xuất hiện trở đi trở lại nh- một ám ảnh nghệ thuật trong các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc T- là hình t-ợng ng-ời nghệ sĩ Hầu hết, những ng-ời nghệ sĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc T- th-ờng yêu nghề, sau mê nghề Họ sẵn sàng hi sinh cuộc đời mình, bỏ lại sau l-ng mẹ già, con thơ để sống trọn vẹn với nghề, với kiếp cầm ca Cuộc đời của họ đôi khi phải trải qua sóng gió, có khi phải l-u lạc khắp nơi, có khi phải chạy ăn toát
mồ hôi nh-ng lòng yêu nghề của họ không hề vơi đi chút nào
Trang 27Ước mơ trở thành ca sĩ nổi tiếng, nhân vật Thàn trong “ Cải ơi” đã bỏ
nhà ra đi Thàn phải sống vất v-ởng, có nhà mà không dám về mặc dù rất th-ơng cha Đoàn ca múa nhạc giải tán, Thàn không dám về mà bám trụ lại ngã ba S-ơng cùng ông Năm Nhỏ sắm một chiếc xe kẹo kéo có dàn nhạc sống xập xình” Giọng ca nhừa nhựa, buồn buồn của Thàn leo lắt nơi “ chợ rau, chợ cá” , cuộc sống cầm cự lay lắt, t-ơng lai mù mịt
Nhân vật Phi trong “ Biển ng-ời mênh mông” cũng có chung -ớc mơ
và số kiếp nh- Thàn Vì niềm vui, say mê Phi bỏ học theo đoàn ca hát Sự nghiệp ng-ời nghệ sĩ phụ thuộc vào thời tiết mùa nắng thì đi nông thôn, mùa m-a thì ở lại thị xã Buồn và chán, Phi đi hát rong ở mấy quán nhậu, nhà hàng, chạy shou đám ma, đám c-ới… chỉ thiếu điều ôm cái thùng kẹo kéo ra ngoài
đầu chợ vừa hát vừa rao nh- Thàn Phi cảm thấy thật ê chề, tủi cực Nh-ng vì
sự say mê, ham sống tự do, bay bổng muốn hát để vơi nỗi buồn nên Phi vẫn theo đuổi nghề Hành trình thực hiện mơ -ớc trở thành ng-ời nghệ sĩ ca hát ngày càng lụi dần trong cơn say cho đến tận ngày mai
Có ng-ời thời son trẻ đã từng huy hoàng, toả sáng trên sân khấu nh-ng
về già lại phải sống l-u lạc, lay lắt Đó là Hồng trong “ Cuối mùa nhan sắc”
Cuộc đời bà gắn bó với nghiệp ca hát, và nghiệp ca hát đã mang đến cho cuộc
đời bà biết bao cay đắng, tủi nhục Tuổi thanh xuân của bà qua đi cơ cực, cay
đắng trên sàn diễn Chiến tranh nổ ra, gánh hát tan rã, cô phải ôm con bỏ trốn Vì mê hát, vì chiến tranh, bà phải gửi con cho ng-ời khác nuôi, khi quay lại tìm thì con không thèm nhìn mặt bà Từ giã sân khấu, ng-ời nghệ sĩ gánh chè l-u lạc khắp các nẻo đ-ờng kiếm kế sinh nhai Ông già Chín tìm đ-ợc bà về Hai ng-ời trú ngụ tại hội gọi là “ buổi chiều” Bà ốm nh- trái bầu khô chỉ còn nhờ vào chút chờ đợi mong manh của tình yêu thời son trẻ làm cái vỏ cứng cáp ở bên ngoài nh-ng cái vỏ ấy cũng mục vì ng-ời x-a gặp rồi không quay trở lại Năm m-ơi năm, cuộc đời bà đã trải qua bao thăng trầm, vất vả bởi nghiệp x-ớng ca, từ giã cõi đời cũng bằng những lời ca
Không say mê ca hát, không theo đuổi nghiệp x-ớng ca nh-ng ông
Trang 28say mê này mà cuộc đời ông cũng lặn lội năm bảy đ-ờng xuôi ng-ợc Xuất thân từ gia đình giàu có vì lòng th-ơng mến một ng-ời con gái mà ông đã từ
bỏ cuộc sống no đủ, giàu sang chấp nhận cuộc sống phiêu dạt, trôi nổi Ông Chín lang bạt theo đoàn hát miễn là ngày ngày đ-ợc nhìn thấy Đào Hồng
Ông đã cùng Đào Hồng đi qua những năm tháng cơ cực ở khắp nơi Chiến tranh nổ ra ông bị bắt m-ời ngày sau mới đ-ợc thả Chỉ m-ời ngày thôi nh-ng nửa đời sau của ông phải sống trong l-u lạc, kiếm tìm ng-ời x-a Ông quay quắt đi tìm, ông đi bán vé số để trên dặm đ-ờng phiêu bạt ông tìm đ-ợc cô
Đào Hồng Cho đến tận cuối đời, ông vẫn cảm thấy đời ông thực có ý nghĩa,
bỏ cả đời đi theo đoàn ca hát cũng không uổng Bởi cả đời ông ch-a hề đ-ợc
đóng một vai nào nh-ng ông đã đ-ợc đóng vai chính – vai con của Đào Hồng – con của ng-ời đàn bà suốt đời ông say mê, theo đuổi
liệt của những ng-ời đã “ một thời vang bóng” nay còn chút hơi tàn, họ cũng
cố dành trọn cho nghề Vì vậy cả nhóm nghệ sĩ cuối mùa đã tập hợp cất một cái nhà, đặt tên là “ Buổi chiều” để kiếm từng đồng tiền mà sống qua ngày, đặc biệt là để họ đ-ợc tồn tại, đ-ợc cất lên lời ca tiếng hát vào mỗi đêm cho thoả lòng mong nhớ sân khấu
Nhìn chung, ng-ời nghệ sĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc T- th-ờng
là những ng-ời sống trọn vẹn với nghề, dù phải trả giá bằng cả cuộc đời họ vẫn chấp nhận Chính vì lẽ đó mà ng-ời nghệ sĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc T- th-ờng có số phận buồn Cuộc đời nghệ sĩ, cuộc đời thực của họ không trùng khít với nhau, đôi khi lại đối lập nhau Họ sống trọn vẹn với vai diễn của mình, với những hào quang trên sân khấu, nh-ng khi cởi áo mão ra rồi, rửa trôi lớp phấn trên mặt thì lòng họ lại đầy nỗi -u t- Ng-ời có con nh-ng không đ-ợc làm mẹ, n-ớc mắt l-ng tròng khi núm ruột của mình gọi mình bằng chị và coi mình nh- khách, ng-ời phải gánh chè đi bán, ng-ời thì bán vé số, ng-ời nằm liệt gi-ờng nh-ng không có đủ tiền mua thuốc uống Cuộc đời nghệ sĩ của họ đã cống hiến biết bao công sức của mình cho nền nghệ thuật sân khấu nh-ng đến cuối đời lại hẩm hiu… Nói đến điều này, cũng
Trang 29có nghĩa là Nguyễn Ngọc T- đã đứng về phía họ, nghiêng mình xuống với họ,
sẻ chia và cảm thông
2.1.4 Nghèo khổ
Đó là những mảnh đời xiêu dạt, bơ phờ vì cơm áo Họ phải lặn lội với cuộc sống th-ờng nhật để kiếm sống
Truyện “ Nhớ sông” nói về cảnh bất hạnh của gia đình ông Chín, vợ
mất sớm vì một tai nạn bất ngờ trên sông n-ớc để ông phải lâm vào cảnh “ gà trống nuôi con” Gia cảnh x-a của ông buồn và nghèo Nhà nghèo, ra riêng gia đình chỉ có hai công đất Năm Giang 3 tuổi, Giang lên sởi, ông Chín phải bán đất cứu con Số tiền còn lại ông mua chiếc ghe nhỏ đi bán hàng bông Cả nhà dắt díu nhau linh đình sông n-ớc Nhiều đoạn, Nguyễn Ngọc T- viết rất cảm động về tình cảm trong quá khứ, khi mỗi lần ghe ghé lại bờ con ông chạy lên bờ nh- điên dại, nó nh- tìm lại đ-ợc khoảng trời tuổi thơ mà điều này khiến vợ chồng ông đau xót Sau ngày vợ chết, ngoài lý do kiếm sống, gia
đình lang thang trôi dạt hết dòng sông này đến con kênh khác vì ở đáy con sông nào đó còn là nơi gửi gắm x-ơng thịt của vợ ông
Cũng nghèo khổ, cũng rời bỏ quê h-ơng vì miếng cơm, manh áo nh-ng
những ng-ời đàn bà trong truyện “ Cánh đồng bất tận” lại sống một cuộc
sống hoàn toàn khác với gia đình ông Chín
Những ng-ời đàn bà m-u sinh cơm áo theo thời vụ “ Cứ mỗi mùa gặt,
họ lại dập dìu trên đê, l-ợn lờ quanh lều của thợ gặt”… và sau các đụm lúa, họ thả tiếng c-ời chút chít, tiếng thở mơn man Hôm sau, họ biến mất đem theo
số tiền công ít ỏi mà những kẻ đàn ông quê mùa thu hái đ-ợc qua mỗi ruộng lúa
Nhân vật ng-ời “ chị” trong truyện cũng có chung số phận của nhiều ng-ời Chị cũng giống nh- họ, sớm tàn tạ đói rã ruột ở thị thành mới chạy xuống quê Ai lại có cách nghĩ nh- Nguyễn Ngọc T- Bởi ngày nay, chúng ta chứng kiến cảnh những cô gái thôn quê có chút nhan sắc nh-ng kém chịu học hành chạy lên thành phố đua nhau lấy chồng Đài, chồng Hàn hay đổi đời bằng
Trang 30cũng bán thân kiến sống nh-ng đến lúc “ thân tàn ma dại” không còn có thể kiếm sống đ-ợc nữa chị mới phải quay về quê Hay nói cách khác chị bị xã hội thị thành bỏ rơi gạt ra ngoài Song công việc kiếm kế sinh nhai đó cũng không xuôi chèo mát mái, ăn trên mồ hôi n-ớc mắt ng-ời ta nên lâu lâu bị
đánh Truyện “ Cánh đồng bất tận” mở đầu bằng cảnh chị bị đánh ghen một
cách tàn nhẫn: đổ keo dán sắt vào cửa mình Chị chạy thoát và đ-ợc ba cha con nuôi vịt c-u mang Chị ở lại với ba cha con một đoạn đời rồi lại tiếp tục ra
đi và trôi dạt kiếm sống
“Muốn giàu nuôi cá, muốn khá nuôi heo, muốn nghèo nuôi vịt” Dân gian nói thế Nuôi cá giàu thế nào, nuôi heo khá ra sao? Ch-a biết Nh-ng rõ ràng, không ai muốn nghèo mà cái nghèo vẫn cứ đeo bám mãi Vì thế, nuôi vịt chạy đồng là một việc bất đắc dĩ của những kẻ cùng đinh, những ng-ời đi suốt
“ Cánh đồng bất tận” mà không có một hòn đất để chọi chim Nuôi vịt không
những nghèo mà còn đầy cơ cực, cái cơ cực bám từ cái đầu dang nắng đến tận những móng chân đóng phèn
Cuộc sống với nghề nuôi vịt chạy đồng cơ cực của ông lão hiện lên
trong truyện “ Cái nhìn khắc khoải” là một cuộc sống trôi dạt Hôm nay, ở
đồng Rạch Mũi, ngày mai ở nhà Phấn Ngọn, xa nữa lại dạt đến cái bát không chừng Ông đậu ghe, dựng lều, lùa bầy vịt lên những cánh đồng mới gặt xong, ngó chừng chừng sang những cánh đồng khác lúa vừa no đòng đòng Đời ông
là một cuộc đời lang bạt Một cuộc sống trên đồng khơi…
Tóm lại, qua hình ảnh các nhân vật trong truyện ngắn, Nguyễn Ngọc T- đã cho chúng ta thấy, hiểu và cảm thông với số phận của một bộ phận ng-ời dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nơi mà cái đói, cái nghèo vẫn còn đeo bám
2.2 Những con ng-ời nhỏ bé cô đơn trong xã hội
Cô đơn là một từ Hán Việt chỉ trạng thái tâm lý của con ng-ời, chỉ sự lẻ loi không nơi n-ơng tựa Hay nói cách khác, cô đơn là một hiện t-ợng trái nghĩa với sự hài hoà, hoà hợp với tập thể hay cộng đồng xã hội Cô đơn chính
Trang 31là ý thức về bãn ngã của từng cá nhân Theo Hoài Thanh, Hoài Chân trong
“ Thi nhân Việt Nam” khẳng định: cái tôi cô đơn thực sự ra đời trong phong
trào thơ mới 1932 – 1945 Nh-ng xét cho cùng tâm trạng cô đơn không phải
đến lúc này – khi những tri thức tiểu t- sản cảm thấy bơ vơ lạc lõng, không khẳng định mình với xã hội cảm thấy cô đơn mà đó là tâm trạng suốt cả tiến trình văn học Việt Nam Nó xuất hiện từ thơ ca của Hồ Xuân H-ơng đến Nguyễn Công Trứ, từ thơ Nguyễn Du đến Tú X-ơng… và đến hôm nay tâm trạng đó vẫn hiện hữu trong tâm hồn những con ng-ời hiện đại Ta bắt gặp tâm trạng này trong các nhân vật “ con ng-ời nhỏ bé” của Nguyễn Ngọc T-”
2.2.1 Nỗi nhớ
Đây là một trong những biểu hiện của trạng thái cô đơn, nỗi nhớ tràn ngập, bao trùm trong tâm trạng các nhân vật trong truyện ngắn Những nhân vật vì hoàn cảnh phải l-u lạc nơi này, nơi khác Trong hành trình l-u lạc đó, tâm hồn họ không có chỗ trú chân, tâm hồn họ trở nên cô đơn, lạc lõng Sự cô
đơn lạc lõng dễ làm cho ng-ời ta nhớ và buồn, không tìm đ-ợc niềm vui trong hiện tại, các nhân vật th-ờng hoài niệm về quá khứ với nỗi nhớ tràn ngập
(Dòng nhớ, Nhớ sông, Cánh Đồng Bất Tận…)
Đó là nỗi nhớ th-ờng trực, tự nhiên trong tâm hồn của hai chị em N-ơng Điền Ba cha con lang bạt trên những cánh đồng bất tận khô bong d-ới nắng, trên những dòng sông lênh đênh sóng n-ớc Những đ-a trẻ không đ-ợc học hành, không đ-ợc sự quan tâm, yêu th-ơng của cha mẹ, ng-ời thân, phải
tự học lấy cách sống Quá khứ mất mát, tồn th-ơng, hiện tại đau buồn, cô đơn nên hai chị em chỉ còn biết nhớ trong tâm t-ởng, chúng nhớ để thoả mãn những -ớc mơ, khao khát
Bắt đầu từ nỗi nhớ mẹ “ niềm nhớ lúc đi xa…” suốt nhiều năm tháng đó không dám nhớ má, bởi ngay khi vừa nghĩ đến má lập tức hình ảnh ấy hiện ra
… Mà đáng lẽ phải nhớ tới lúc má nằm võng hát đ-a mình ngủ ấy, hay đoạn má ngồi giặt áo bên hè, hay mà cúi đầu giữa vầng khói mơ màng, thổi lửa bếp un… khi bị đánh tội tự nhớ lại coi hồi sáng nay, hồi tr-a nay mình đã làm gì
Trang 32tôi đã ng-ng nhớ nó từ khi sống cuộc sống trên đồng … D-ờng nh- chúng tôi nhớ, nhớ cồn cào Nỗi nhớ bao gồm đ-ợc chạy chơi trên cái sân vuông mọc
đầy vú sữa đất, nhớ mình trồng cây gì đó có trái và trái ăn đ-ợc, ăn rất ngon
Tôi nhớ nó (và nhớ chị) không thôi Tôi nhớ Điền bao gồm nhớ một
đồng loại (và tôi là đồng loại còn lại), nhớ một cách trò chuyện (đọc thấu lòng nhau), nhớ một ng-ời nghe đ-ợc tiếng tim mình (điều này thì con vịt mù làm
đ-ợc nh-ng nó đã hết rồi), và nhớ một ng-ời che chở, nhớ đâu đáu bàn chân x-a nghẽn trong bùn quánh
Cũng gắn với những dòng sông, nỗi nhớ của các nhân vật trong “ Nhớ
sông, Dòng nhớ…” lại nhẹ nhàng, dai dẳng hơn
Trong “ Nhớ sông” ban đầu là nỗi nhớ về má, cái chết của má Sau khi
đi lấy chồng đó là nỗi nhớ sông Sau đó là nỗi nhớ về những kỷ niệm của tuổi
ấu thơ của ng-ời em gái Những sự kiện, những hồi ức, những kỷ niệm suy t- rất nhẹ nhàng cứ trở về trong tâm trí Giang Con sông gắn bó với hai chị em Giang từ thởu lọt lòng, rồi lớn lên hai chị em lại theo cha sống kiếp th-ơng hồ lênh đênh trên mặt n-ớc Vì vậy, ấn t-ợng về con sông trong hai chị em Giang rất sâu đậm
Có gia đình êm ấm, hạnh phúc nh-ng ng-ời cha trong “ dòng nhớ”
vẫn cảm thấy cô đơn, lẻ loi trong tâm hồn khi nghĩ về ng-ời x-a và dòng sông x-a Phần đời của ng-ời cha cũng gắn với sông n-ớc Con sông chứa đầy ăm
ắp những kỷ niệm Đó là nỗi cô đơn, đơn chiếc của tình cảnh ng-ời đàn bà của
ba Chuyện xảy ra lâu rồi nh-ng ng-ời ta vẫn còn nhớ, vẫn còn cắm sào tr-ớc bến đợi ba tôi… vẫn còn lặp đi lặp lại những công việc “ thêu cho hết đêm, xong rồi lại tháo chỉ ra, tôi sợ nếu không làm gì, tôi … tôi sẽ nhớ chồng con tôi rồi mắt khóc, cầm lòng không đ-ợc” Số phận bất hạnh, ng-ời phụ nữ đó phải lênh đênh trên sông n-ớc, không có ng-ời thân thiết nào, chị chỉ còn biết hoài niệm về chuyện x-a để làm chỗ dựa bấu víu mà tồn tại, tồn tại cũng chỉ để mà th-ơng mà nhớ về ng-ời cũ
Trang 33ở “ dòng nhớ” những nhân vật nhớ về con sông không chỉ vì nó thân
thuộc mà vì nó còn ẩn chứa biết bao kỉ niệm đau buồn, kỉ niệm về những nỗi yêu th-ơng, niềm đau và sự tiếc nuối của cuộc tình thuỷ chung, éo le, gắn bó h-ớng về nhau nh-ng trong lòng vẫn đơn chiếc
Ông Năm Nhỏ trong truyện “ Cải ơi” nhớ về con Ông nhớ mồn một
những kỉ niệm ông và con th-ở nó còn ở nhà Đó là nỗi nhớ gắn với những câu hỏi đến nao lòng “ Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè, nhà mình ở cỏ cháy đó nhớ không?” Những câu hỏi không có câu trả lời nh- hành trình l-u lạc tìm con của ông
Đó cũng là tâm trạng của Huệ khi đi lấy chồng (Huệ lấy chồng) Hụê
nhớ những gì thân thuộc nhất Nỗi nhớ đó gắn liền với sự hoài niệm về những
kỷ niệm với ng-ời yêu Những lúc nhớ Thi, Huệ lại ngồi mơ về đám c-ới, bữa
đó chắc là vui lắm
Hay những ng-ời yêu nhau nhớ nhau: ông Chín nhớ Đào Hồng (Cuối
mùa nhan sắc) :Thấy Đào Hồng nhớ Đào Hồng, thấy đó mà nhớ đó” Nỗi nhớ
trăm bề: nhớ quê, nhớ vợ, nhớ sông của ông Sáu Đèo trong “ biển ng-ời mênh
mông”
Những hoài niệm về ng-ời cũ, quê cũ, đất cũ về một thời đã qua mà không bao giờ cũ, các nhân vật trong trủyện của chị T- cứ r-ng r-ng một nỗi buồn Hình ảnh bà, hình ảnh má, hình ảnh chị, hình ảnh vợ, chồng nh- là nơi l-u giữ lại thời gian để mỗi tâm hồn tìm về làm chỗ n-ơng náu mỗi khi lạc lối nơi xứ ng-ời
Trang 34mà dẫu vô tình hay cố ý khi xây dựng nhân vật T- tạo nên một phong cách không lẫn vào ai- đấy là chỗ văn chị dễ đọng vào lòng ng-ời sau những giờ phút mệt nhọc với cuộc sống cơm áo gạo tiền
Đó là nỗi đau của các nhân vật trong Cánh đồng bất tận mỗi ng-ời
đau một nỗi đau khác, không ai giống ai nh-ng suy cho cùng tất cả là do cô
đơn, do lạc lõng mà ra
Ng-ời cha hiền lành, chịu th-ơng chịu khó trở nên lạnh lùng, tàn nhẫn chịu nỗi đau của ng-ời đàn ông bị vợ phụ bạc Lâu này, chúng ta th-ờng nghe tiếng thở than nẫu ruột trong máy cassette: ôi đàn bà, đàn bà là những niềm
đau… hay là thấy một chàng trai, một ng-ời trung niên, một cụ già vui vẻ cho ng-ời khác xem hình xăm chữ “ hận đời” bên cạnh trái tim bị mũi tên xuyên thủng rớm những giọt máu màu xanh Nỗi đau, nỗi hận của ng-ời cha trong
Cánh đồng bất tận còn ghờ gớm hơn Khởi đầu chỉ là sự khó chịu, ghét những
gì liên quan đến ng-ời vợ Ng-ời đàn ông đó đã đốt hết tất cả đồ đạc của vợ, ngôi nhà gắn với hình ảnh vợ… và ra đi Dần dần, nỗi đau đó phát triển thành
ý muốn tiêu diệt những gì có thể nhắc nhở đến vợ Tr-ớc hết là sự đánh đập
đứa con gái vì nó giống mẹ Sau đó nỗi đau đó đ-ợc nâng lên thành nỗi hận phổ quát: hận tất cả đàn bà Ng-ời cha bị thúc đẩy bởi lòng thù hận ng-ời vợ phụ mình đã tạo ra nhiều tội lỗi, với những ng-ời đàn bà sau này
Tuy nhiên, khi đứa con trai bỏ đi theo ng-ời đàn bà, ng-ời cha đã lờ mờ cảm thấy một trách nhiệm đối với hai đứa con của mình Chi tiết ông mua cho
đứa con gái cái nhẫn để dành đám c-ới cũng nh- việc “ cởi áo trên ng-ời để
đắp lên đứa con gái” Ông ta bò quanh nó, tìm bất cứ cái gì để có thể che cơ thể nó d-ới ánh mặt trời thì lúc này nỗi đau của ông đã hiển hiện
Gắn liền với nỗi cô đơn, nỗi đau của ng-ời cha là nỗi đau, sự cô đơn của hai chị em N-ơng, Điền Sống giữa đồng loại đông đúc song hai chị em vẫn thấy mình cô đơn, xa cách vì khác đồng loại Hai đứa trẻ sợ gặp những ng-ời xung quanh, sự phải nhìn ánh mắt dò xét, nghi ngại, bàn tán về quá khứ của họ Cô đơn, lạc lõng, xa lạ hơn thế khi “ tụi mình hổng nói tiếng c-ời”
Trang 35Một điều ghê gớm khủng khiếp trong tâm hồn đang có bão bời, gió quất điên cuồng vào trái tim nhỏ chi chít vết đau Chúng chỉ biết trò chuyện với bầy vịt, thấy mình và vịt hiểu ngôn ngữ của nhau
Không nói tiếng ng-ời đồng nghiã với không phải là ng-ời, đồng nghĩa với không có bản năng sinh lý thiên bẩm của ng-ời Điền có những ngày bối rối: “ ng-ời ta yêu mẹ ra làm sao…” và ở cái tuổi mới lớn còn nhiều thắc mắc
về giới tính ấy Điền đã v-ợt qua nh- trong buổi câu cá cùng ng-ời chị “ điếm” Ng-ời chị tên N-ơng đóng vai trò “ mẹ đẻ” để vỗ về em trai và cũng chính là
vỗ về, an ủi chính mình D-ờng nh- hai đứa trẻ ngụp lặn trong một đại d-ơng bao la sóng n-ớc mà không thoát ra đ-ợc
Trong truyện, ta còn bắt gặp nỗi đau về tinh thần và thể xác của ng-ời chị bị đánh ghen Truyện mở đầu bằng cảnh t-ợng ghờ sợ Những hậu quả để lại trên thân xác của chị làm cho ta hiểu rõ mức độ của nó “ im lìm, lạnh ngắt nh- ng-ời chết […] tiếng rên khi dài, khi ngắn, khi thiu thiu buồn, lúc nghe nh- tiếng nấc nghẹ ngào […] đôi môi khô đã bắt đầu nứt ra” Nếu là bạn, bạn
sẽ diễn tả cái đau của chị ra sao? Sẽ dùng hàng loạt tính từ để chỉ cái đau, để thấy nét mặt, cái thân mình chịu đau đớn của ng-ời đàn bà? Hay bạn sẽ dựng lại những lời rên rĩ, than vãn của chị
Nguyễn Ngọc T- thì khác cái đau của ng-ời bị đánh ghen cô khụng diễn tả trực tiếp Cô m-ợn một hình ảnh khác, một góc nhìn khác Cô chọn hình ảnh đứa con trai mới lớn, đã từng chịu bao s-ơng gió của cuộc đời - Điền
để cài vào đó một sự liên t-ởng khi ng-ời chị dặn Điền mua một ít đ-ờng vậy
mà khi Điền quay về không mang theo gì, nó lẳng lặng xoè tay tr-ớc mặt
“bỏng đỏ nhừ, t-ơm máu” Đ-a hình ảnh bàn tay của ng-ời con trai mới lớn, cơ cực theo kế sinh nhai, bị bỏng rát, t-ơm máu sau khi thử dán bằng keo dán sắt rồi bỏ lửng Cái bỏ lửng đầy ngụ ý để ng-ời đọc liên t-ởng đến hoàn cảnh của ng-ời đan bà đang nằm bất động trên ghe
Nh-ng một nỗi đau khác, nỗi đau về tinh thần còn lớn hơn gấp bội Nỗi
đau thân xác dần dần lành theo năm tháng nh-ng nỗi đau tinh thần mãi còn
“t-ơm máu” Bị xã hội thành thị bỏ rơi sau khi đã rút hết tuổi trẻ, sức sống
Trang 36Chị quay về quê và cũng nh- bao ng-ời đàn bà khác chị là nạn nhân của ng-ời cha tìm cách giải quyết sinh lý từ nỗi đau hằn học Cha đ-a cho chị ít tiền ngay trong bữa cơm, rồi cha điềm nhiên phủi đít đủng đỉnh đứng lên, sự khinh miệt và đắc thắng no nê trong mắt chị nhét tiền vào trong ngực áo c-ời: “ Trời
ơi! ba mày c-ng sộp quá chừng” Giữa hoàn cảnh đó, ng-ời ta còn biết làm gì ngoài c-ời và đằng sau đó là bao nhiêu xót xa, cay đắng nỗi niềm
Với truyện ngắn Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc T- đã đ-a ngòi bút
của mình ra khỏi nhà, khỏi xóm đến với cánh đồng Hình nh- phải sống giữa
đất trời mới ra con ng-ời nam bộ, cả sự ngang tàng lẫn nỗi đau đớn
Một thế giới rất ng-ời, vô cùng là ng-ời, đau khổ đến tận cùng, đến mênh mang bất tận, một nỗi đau nhân thế, tại ai nhỉ, chẳng tại ai cả, thậm chí
kẻ nào ngớ ngẩn đi tìm thủ phạm thì đều chẳng hiểu gì về cuộc đời này Chẳng có “ tiêu cực” nào hết, cũng chẳng tội ở “ cơ chế” nào cả Thế đấy thôi cuộc đời này đã trót làm ng-ời thì phải chịu, biết kêu ai Mà cũng có lẽ cuộc
đời này đáng, rất đáng sống chính vì nó là nh- vậy đấy, hạnh phúc tận cùng ở trong đau khổ tận cùng
Khác với nỗi đau khốc liệt của những số phận trong Cánh đồng bất tận
ta bắt gặp nỗi đau khác cũng không kém phần xót xa của các nhân vật trong
các truyện “ Cải ơi” , “ Duyên phận so le” ; “ Cuối mùa nhan sắc…”
Trên hành trình l-u lạc ròng rã 12 năm trời tìm con ông Năm Nhỏ (Cải
ơi) đã chịu nhiều vất vả, tủi nhục Những nỗi vất vả, tủi nhục đó có thấm gì
với nỗi đau dằn vặt tâm can ông Đã đau quá trời đất rồi cái cảnh bà con hàng xóm xầm xì, chỉ trỏ, ng-ời ở xa còn thuê đò dọc lại nhà ngó nghiêng… đã
đau quá chừng đau khi ông nhìn sâu trong ánh mắt của vợ mình thấy không còn lấp lánh th-ơng yêu mà chỉ tăm tối ngờ vực, hoài nghi Nỗi đau đó càng làm cho ông cô đơn, lẻ loi trên hành trình tìm con
Nói đến nỗi đau, sự cô đơn ta không thể không nhắc đến nỗi đau âm ỉ, dai dẳng của Đào Hồng Cả cuộc đời thanh xuân của bà gắn với ánh đèn sân khấu Vì sân khấu bà phải đau đớn từ bỏ đứa con của mình, khi quay lại nó
Trang 37không nhận mình là mẹ Vì chiến tranh bà phải nén lòng từ bỏ tình yêu của mình khi quay lại ng-ời yêu không nhận ra bà vì nhan sắc đã quá tiều tuỵ và
từ đó không quay lại nữa Cả đời bà ngoài sự say mê nghệ sĩ chỉ còn niềm hi vọng mỏng manh của tình yêu trời son trẻ cũng không còn Nỗi đau về con, về ng-ời gắn liền với nỗi đau nghề nghiệp
Ta bắt gặp nhiều tình cảnh éo le, đơn chiếc khác Sự cụ đơn một mình
một bóng của ông hai giữa biển đồng bát ngát (cái nhìn khắc khoải) Có cha,
có mẹ nh-ng Phi vẫn cảm thấy nhỏ nhoi, cô đơn trong biển ng-ời mênh mông
Hay nỗi đau của ng-ời đàn bà mất con, xa chồng chèo chống trên dòng n-ớc
sự sẻ chia về thế thái nhân tình Tôi quặn lòng khi đọc và thấy những mảnh
đời thật quá nh- là tôi có thể chạm vào từng số phận con ng-ời lại thấy mình thêm yêu và biết trân trọng cuộc sống này hơn
2.3 Những phẩm chất nhân cách của nhân vật “ con ng-ời nhỏ bé”
2.3.1 Tình yêu quê h-ơng - làng xóm
Tr-ớc hết đó là tình yêu đối với quê h-ơng làng xóm, mảnh đất họ đã sinh ra và lớn lên Mảnh đất mà những con ng-ời dù chịu nhiều bất hạnh vẫn gắn bó, nhớ nhung khi rời xa nó Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Ngọc T- luôn từ chối nơi phồn hoa đô thị để sống cùng với những ng-ời nông dân với mảnh đất nghèo Mảnh đất của chị chính là ở vệt đỏ của phù sa châu thổ, những cánh đồng và hàng bao nhiêu con ng-ời phải vật lộn với từng th-ớc đất
để m-u sinh Sống và lớn lên ở một địa ph-ơng, mở mắt chào đời chị đã quen với mùi hăng hăng của cỏ khi sa m-a, mùi nồng nồng oi oi của đất, mùi thơm dậy của nồi mắm chấm rau đồng… Xung quanh chị, bà con cô bác đều một nắng hai s-ơng Chỉ những ng-ời thực sự yêu nếm quê h-ơng họ hàng, làng
Trang 38xóm nh- chị mới có cách thể hiện tình cảm chân thật mộc mạc của những ng-ời dân quê nh- thế
Ông T- Mốt trong “ Th-ơng quá rau răm” là ng-ời đã gắn bó thân
thiết cả đời với mảnh đất cù lao Mút Cà Tha Đây là cù lao “ hiu hắt” và “ vắng vẻ” Nhân viên y tế nào đến cũng ra đi để lại trong lòng ông nỗi buồn, sự tiếc nuối, mặc dù vẻ mặt ông đã cố tỏ ra không buồn Ông đau lòng khi phải chứng kiến cảnh những ng-ời thân yêu, ruột thịt của mình chết vì bênh tật và thiếu thốn Ông T- Mốt muốn lấy tình cảm, lấy tấm lòng để giữ chân Văn Tất cả việc làm của ông đều xuất phát từ tấm lòng gắn bó thân thiết, sâu nặng với mảnh đất này Song những điều đó vẫn không giữ đ-ợc Văn cũng nh- bao ng-ời khác, đến rồi đi để lại trong lòng ông nỗi đau tiếc Càng yêu quê h-ơng bao nhiêu nỗi đau, sự trống vắng trong ông càng lớn bấy nhiêu
Đó là những con ng-ời dù đi xa, trong lòng họ vẫn đau đáu h-ớng về
quê h-ơng, nhớ những kỷ niệm gắn bó với quê h-ơng Ông Chín trong "Biển
ng-ời mênh mông" rời xa quê để đi tìm vợ nh-ng vẫn đem theo mình một con
bìm bịp Đó là con vật kỷ niệm gắn bó với sông n-ớc, gắn bó với những chuyến đò xuôi ng-ợc của ông và vợ
Tình cảm của ng-ời dân Nam bộ sâu sắc, nghĩa tình không chỉ gắn với quê h-ơng, làng xóm chung chung mà còn gắn bó với những cái hiện hữu: con
vật, dòng sông, cánh đồng… Nỗi nhớ sông của Giang trong “ Nhớ sông” :
luôn ăm ắp, dạt dào nh- n-ớc trong lòng sông Từ nhỏ, Giang đã gắn bó với sông n-ớc Đến khi lấy chồng, Giang cũng không quên đ-ợc nỗi nhớ sông n-ớc, nhớ ghe cứ chòng chành trong cô Dòng sông con ghe nh- trở thành linh hồn của Giang không chỉ vì nó là nơi cô lớn lên mà còn là nơi gửi gắm thân xác, hình hài ng-ời má thân yêu của cô
2.3.2 Th-ơng yêu, đùm bọc lẫn nhau
Nguyễn Ngọc T- đã khám phá ra những nét phẩm chất trong tâm hồn, tính cách của ng-ời dân Nam bộ Những nhân vật trong các truyện ngắn đều nghèo, đều bất hạnh nh-ng họ luôn sống với nhau bằng cái tình, cái nghĩa