Phạm vi nghiên cứu: Nội dung của hai tác phẩm trên đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau nh-ng trong khuôn khổ của một khoá luận, chúng tôi chỉ đi sâu vào ý thức nữ quyền trong Chinh ph
Trang 10
Tr-ờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
= = = = == = =
Bùi thị quỳnh biển
(đặng trần côn) - đoàn thị điểm dịch
và thơ nôm hồ xuân h-ơng
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Vinh - 2008
Trang 21
Tr-ờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
= = = = == = =
Khóa luận tốt nghiệp đại học
(đặng trần côn) - đoàn thị điểm dịch
và thơ nôm hồ xuân h-ơng
Chuyên ngành: văn học Việt Nam trung đại
Ng-ời h-ớng dẫn : T.S Tr-ơng Xuân Tiếu
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Quỳnh Biển
Lớp: 45B 1 – Ngữ văn
Vinh - 2008
Trang 3Qua đây, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy h-ớng dẫn
- TS Tr-ơng Xuân Tiếu đã tận tình giúp đỡ, cùng quý thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và gia đình đã khuyến khích, tạo điều kiện để tôi hoàn thành khoá luận này
Trang 4là một vấn đề đã và đang thu hút nhiều ý kiến khác nhau của giới nghiên cứu
ở Việt Nam, xã hội phong kiến tr-ợt dài mãi trên con đ-ờng suy vong với những bất công, ngang trái chà đạp lên quyền lợi của con ng-ời, nhất là những ng-ời phụ nữ Hơn ai hết, chính những con ng-ời “chân yễu tay mẹm”,
“thấp cồ bẽ hóng” đó hiểu rõ nỗi đau của mình, của giới mình và họ không cam chịu bị lấp chìm trong bóng đen u tối, họ bắt đầu lên tiếng đòi nữ quyền
ý thức về giá trị của ng-ời phụ nữ đã bắt đầu phát triển
1.2 Vấn đề nữ quyền là sản phẩm của phong trào cách mạng t- sản cận
đại, đã có bề dày lịch sử hơn hai trăm năm Phong trào này đ-ợc cổ vũ bằng
công trình Giới tính thứ hai (1949) của nữ văn sĩ Pháp Simon de Beauvoir
Bằng lý luận sắc bén, bà đã phân tích thực trạng phụ nữ bị áp bức và yêu cầu phải nhanh chóng giải phóng phụ nữ ra khỏi hàng loạt trói buộc vô nhân đạo Phong trào này cũng ngày càng lớn mạnh ở Châu Âu, đòi hỏi bình đẳng nam nữ trên nhiều ph-ơng diện Nh-ng, ở Việt Nam thời trung đại giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, có thể nói các tác giả văn học nữ đã
đi tr-ớc phong trào đó với Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân H-ơng…
Trang 54
1.3 Tìm hiểu ý thức nữ quyền là đi sâu vào một h-ớng nghiên cứu quan trọng của văn học cổ Đây là một vấn đề lý thú, tuy nhiên nó ch-a đ-ợc làm sáng rõ Đây chính là lý do mà khoá luận của chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu
2 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối t-ợng:
Chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu ý thức nữ quyền trong Chinh phụ ngâm
của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm dịch, nhà xuất bản Giáo dục, 1994 và thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng, nhà xuất bản văn học, Hà Nội, 2004
2.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung của hai tác phẩm trên đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau
nh-ng trong khuôn khổ của một khoá luận, chúng tôi chỉ đi sâu vào ý thức nữ
quyền trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm dịch và
thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng, ch-a dám nói đặc điểm của nó trong văn học trung
đại mà chỉ nói đến vấn đề ý thức nữ quyền trong một giai đoạn nhất định Ngoài ra, trong quá trình phân tích, lý giải, chúng tôi sẽ tiến hành so sánh với thơ của một số tác giả khác, để thấy rõ hơn đóng góp của hai nhà thơ trên
và, thấy đ-ợc vấn đề ý thức nữ quyền đã hiện hữu trong văn học Việt Nam trung đại
đời sống và các giá trị nhân thế
Thứ nhất, chúng tôi dùng ph-ơng pháp thống kê: đ-a ra những số liệu thống kê mang tính định l-ợng, tạo sự khách quan, không nhận định theo cảm tính Thứ hai, là ph-ơng pháp so sánh, đối chiếu và tiếp cận thi pháp học Đây
Trang 65
là một ph-ơng pháp rất cần thiết đối với việc nghiên cứu vấn đề này Thứ ba,
là ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp, giúp đi sâu phân tích lý giải ý thức nữ quyền trong các văn bản nghệ thuật
4 Lịch sử vấn đề
Trong nghĩa rộng nhất, phong trào nữ quyền là một phong trào rộng lớn
ảnh h-ởng đến nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau Trong lĩnh vực văn học, ý thức nữ quyền thể hiện trong cách chọn đề tài, quan niệm về văn học, quan
điểm sáng tác, thái độ đánh giá các giá trị của nhà văn Nghiên cứu khoa học
về phụ nữ là một ngành khoa học xã hội và nhân văn Vì vậy, cũng nh- nhiều ngành khoa học xã hội khác, nó là một ngành độc lập xuất hiện ở n-ớc ta vào nửa cuối những năm 80 của thế kỷ tr-ớc Sự ra đời của nó là do nhu cầu, đòi hỏi tất yếu của thực tiễn
Trong văn học Việt Nam trung đại giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa
đầu thế kỷ XIX, các tác giả nữ đã thể hiện vai trò tiên phong đi tr-ớc cả phong trào nữ quyền ở ph-ơng Tây Họ đã lên tiếng đòi quyền lợi cho mình, cho giới mình, tiêu biểu là Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân H-ơng Lịch sử nghiên cứu thơ văn về hai tác giả này từ những năm 60 trở lại đây có khá nhiều công trình nghiên cứu d-ới nhiều hình thức khác nhau
Trong bài viết Hồ Xuân H-ơng - Thiên tài huê nguyệt, Tr-ơng Tửu cho
rằng thơ Hồ Xuân H-ơng có ba đặc tính: trữ tình, trào phúng, huê nguyệt Đặc biệt huê nguyệt đến dâm đãng là “b°n n±o tróng đích” trong thơ Hồ Xuân
H-ơng Qua bài viết này, ông đã nhìn Hồ Xuân H-ơng với vấn đề “dâm v¯
tũc” trong thơ bà, ch-a thấy đ-ợc nhu cầu bản năng, sinh lí tự nhiên của mỗi con ng-ời trong đời sống, ch-a khái quát đây là dấu hiệu của vấn đề ý thức nữ quyền trong thơ bà
Trong Việt Nam văn học sử giản -ớc tân biên (Tập II, NXB Đồng Tháp,
1997), Phạm Thế Ngũ là ng-ời tiếp theo Tr-ơng Tửu nói về vấn đề “dâm v¯
tũc” qua hình ảnh thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân H-ơng ở bài Đặc sắc thơ
Hồ Xuân H-ơng, ông cho rằng do tình dục không đ-ợc thoả mãn nên mới hiện
Trang 76
ra những ám ảnh, rồi trút vào những bài thơ ma quái, bên cạnh đó ông còn tìm thấy tiếng nói trào phúng đả kích; lên tiếng đòi quyền lợi cho phụ nữ Nh-ng thực ra, bà phủ định cái này là để khẳng định cái kia
Trong cuốn Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (Tập I, tái bản, NXB Văn hoá, 1998), Xuân Diệu tôn vinh Hồ Xuân H-ơng là “B¯ chủa thơ Nôm”, là “thiên t¯i kứ nừ” Công trình của ông đã phần nào làm sáng tỏ hơn về một thiên tài,
một độc đáo trong văn học trung đại - Hồ Xuân H-ơng Cũng nh- các công trình trên, tác giả ch-a đi vào vấn đề ý thức nữ quyền - một vấn đề mới mẻ mà
bà là ng-ời tiên phong đi tr-ớc thời đại dám đề cập đến chuyện cấm kỵ là tình yêu nhục thể
Bài viết của Nguyễn Lộc Hiện t-ợng thơ Hồ Xuân H-ơng trong giáo trình
VHVN (nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX), tái bản lần thứ năm, NXB Giáo dục, 2004 là một bài viết tập trung khá đầy đủ cách nhìn mới về cuộc đời
và sáng tác của nữ sĩ Hồ Xuân H-ơng Song, tác giả không đi sâu nghiên cứu
vấn đề ý thức nữ quyền trong thơ bà
Công trình nghiên cứu thơ văn và cuộc đời của Đoàn Thị Điểm tuy còn ít nh-ng cũng đạt đ-ợc những thành quả nhất định, làm nổi bật một trong những tác giả nữ tiêu biểu của văn học Việt Nam trung đại (giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX)
Trong Những khúc ngâm chọn lọc (Tập I) của L-ơng Văn Đang, Nguyễn
Thạch Giang, Nguyễn Lộc, NXB Giáo dục, 1994, các tác giả chủ yếu giới thiệu văn bản của tác phẩm, còn phần bình luận về nó rất ít Công trình này đã
đánh giá cao bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm Các tác giả cho rằng: “Chinh phụ ngâm đã nói nhữngvấn đề của thời đại bằng chính tiếng nói
của thời đại Thế kỷ XVIII, con ng-ời đ-ợc phát hiện, v-ơn lên đòi quyền sỗng, quyẹn yêu đương tữ do” [13, tr.16]
Bài viết của Nguyễn Lộc Chinh phụ ngâm và hình ảnh cuộc chiến tranh
phong kiến trong giáo trình VHVN (nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX),
tái bản lần thứ năm, NXB Giáo dục, 2004 là một bài viết khái quát đầy đủ về
Trang 87
nội dung và nghệ thuật của Chinh phụ ngâm, cũng nh- về dịch giả Đoàn Thị
Điểm Song, đây là một tài liệu chính cho một tác giả lớn, nên Nguyễn Lộc không đi sâu nghiên cứu một vấn đề với một ph-ơng diện cụ thể Cũng giống
bài viết Hiện t-ợng thơ Hồ Xuân H-ơng, tác giả không đi sâu vào vấn đề ý
thức nữ quyền của Đoàn Thị Điểm thể hiện qua bản dịch
Đến cuốn Chinh phụ ngâm của Lại Ngọc Cang, NXB Văn hóa - thông
tin, (2007), lại đề cập đến nhiều vấn đề khác nhau xung quanh khúc ngâm,
đặc biệt, tác giả làm nổi bật nhận thức của ng-ời chinh phụ về chiến tranh, nh-ng chỉ âu sầu, đau đớn với bổn phận của một ng-ời vợ có chồng đi chinh chiến Cuốn sách này ch-a khái quát những nhu cầu,đòi hỏi của nàng tr-ớc thực tại là một trong những dấu hiệu của ý thức con ng-ời cá nhân qua sự tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa và khát vọng hạnh phúc vợ chồng
Trong văn học thể hiện sự kỳ thị về giới tính khá rõ khi viết về đề tài tình dục - một đề tài đ-ợc coi là cấm kỵ đối với các tác giả nữ Nh-ng trong bài
Tình dục trong văn học Việt d-ới cách nhìn của đạo lý hồn nhiên và của đạo
lý học thuyết (Tạp chí Việt) tác giả Nguyễn Hữu Lê cho rằng: “Cõ thề nõi
trong văn học cổ trung đại Việt Nam còn phụ thuộc vào vấn đề phái tính, nó quy định sở hữu tuyệt đối theo một chiều, đàn ông đ-ợc quyền sở hữu tuyệt
đối và không cõ chiẹu quy định ngước l³i” [12, tr.2] Chính vì vậy, các tác giả nữ thời trung đại, đặc biệt là Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân H-ơng cũng đi vào đề tài tình dục nhằm khẳng định những khát vọng hạnh phúc ái ân, khẳng định quyền chủ động của giới mình
Ngoài ra còn có nhiều công trình khác nghiên cứu, tìm hiểu của nhiều tác giả Tuy nhiên do đặc điểm của nền văn học chịu nhiều quy định nghiêm ngặt, nên các bài viết về ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam trung đại (giai
đoạn cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX) mới dừng lại bàn về những vấn đề
chung mà ch-a có điều kiện đi sâu vào vấn đề ý thức nữ quyền qua tác phẩm
cụ thể Đây chính là điều mà khoá luận sẽ h-ớng tới Chúng tôi hy
Trang 98
vọng những trang viết của mình sẽ góp thêm một tiếng nói vào h-ớng nghiên cứu này
5 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần nội dung của khoá luận gồm ba ch-ơng:
Ch-ơng 1: Một số vấn đề về ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam
trung đại (giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX)
Ch-ơng 2: ý thức nữ quyền biểu hiện trong Chinh phụ ngâm của Đặng
Trần Côn - Đoàn Thị Điểm dịch và thơ Nôm Hồ Xuân H-ơng
Ch-ơng 3: Những thủ pháp nghệ thuật thể hiện vấn đề ý thức nữ quyền
trong tác phẩm văn học của Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân H-ơng
Trang 109
Ch-ơng 1 Một số vấn đề ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam trung
đại giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX 1.1 Giới thuyết về vấn đề ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam trung
đại
Loài ng-ời bắt đầu lịch sử của mình bằng chế độ mẫu quyền (mẫu hệ) Cùng với thời gian, đàn ông với -u thế mạnh mẽ về cơ bắp và là loại ng-ời tạo
ra thu nhập kinh tế nhiều hơn đã trở thành “kÍ m³nh” Theo tôn giáo, Eva
đ-ợc sinh ra từ chiếc x-ơng s-ờn thứ 7 của Adam, Từ đó, vai trò của ng-ời phụ nữ bị coi là lệ thuộc, chịu sự chi phối của nam quyền; và chế độ phụ quyền bắt đầu.Theo dòng lịch sử của nhân loại, xã hội Việt Nam dần chuyển theo chế độ phụ quyền Ng-ời phụ nữ Việt Nam bắt đầu chịu sự chi phối của Khổng giáo Chế độ phụ quyền thiết lập “nam tôn nừ ti” từ luật pháp, lệ làng
đến luân th-ờng, đạo lí Chế độ phụ quyền với “Tam tòng, tử đửc” đã biến ng-ời phụ nữ thành một hiện hữu thụ động và chỉ biết phục vụ đàn ông
Nhà n-ớc phong kiến Việt Nam sau thời kỳ cực thịnh ở thế kỷ XV, đã dần dần xuống dốc Trải qua các thế kỷ XVI, XVII, đến giữa thế kỷ XVIII thì nhà n-ớc này không phải suy thoái theo các nghĩa thông th-ờng, mà nó thực
sự trở nên khủng hoảng, bế tắc Chế độ xã hội thối nát đã kéo theo sự thui chột của mọi giá trị đạo đức, chà đạp lên quyền lợi con ng-ời Xã hội phong kiến đi vào con đ-ờng suy vong, bộ máy chính quyền ngày càng rập khuôn theo giáo
điều phong kiến cực đoan Song, văn học vẫn tiếp tục phát triển và ngày càng gần gũi với cuộc sống của nhân dân, quan tâm đến nhu cầu hạnh phúc trần thế của con ng-ời và số phận ng-ời phụ nữ đã xuất hiện trong văn học từ tác phẩm
Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ Đến thế kỷ thứ XVIII - đầu thế kỷ XIX,
thân phận ng-ời phụ nữ đã trở thành một đề tài khai thác của nhiều nhà văn, nhà thơ
Trang 1110
Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX là giai đoạn văn học phát triển rực rỡ nhất trong tiến trình văn học Việt Nam trung đại Lúc này, triều đình thối nát đến cùng cực, xã hội phong kiến mục ruỗng; nội bộ phân tranh; nông dân khởi nghĩa khắp nơi, mọi giá trị đạo đức đều bị băng hoại… “Nẽt đặc trưng cơ b°n cùa văn hóc giai đo³n nụa cuỗi thễ kự XVIII -
đầu thế kỷ XIX là sự phát hiện ra con ng-ời, trong đó, cố nhiên có sự phát hiện ra con ng-ời cá nhân ở những mức độ nhất định Sự phong phú có tính chất đột biến của văn học giai đoạn này chính là bắt nguồn từ sự phát hiện đó Trong văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX có thể nói lần đầu tiên con ng-ời đ-ợc đặt ra trong những quan hệ khá phong phú về mặt x± hối v¯ chiẹu sâu nối tâm cùa nõ” [18, tr.14]
Hoàn cảnh lịch sử n-ớc ta lúc này đã tạo nên số phận riêng cho con ng-ời, nhất là phụ nữ - luôn phải hứng chịu mọi khổ đau tr-ớc cuộc đời, tr-ớc chế độ “nam tôn nừ ti” bắt họ phải tuân theo “Tam tòng tử đửc”; phụ nữ trở thành hàng hoá mua đi bán lại, bị miệt thị, bị dìm xuống bùn đen “nhơ nhỡp” của bụi đời xã hội Do ảnh h-ởng t- t-ởng Trung Hoa xem th-ờng phụ nữ, xã hội ấy chỉ xem họ là tầng lớp d-ới đáy Họ bị lệ thuộc d-ới quân quyền, thần
quyền, nam quyền, phụ quyền bị chi phối bởi “Tam tòng tử đửc”
Con ng-ời trong văn học thế kỷ XVIII là nặng mùi Đạo, nhẹ mùi đời Nh-ng dù theo đạo Phật, đạo Lão hay đạo Nho thì giờ đây con ng-ời trần tục, nhục cảm đã xuất hiện Các tác giả văn học trung đại giai đoạn này đều đồng thanh lên tiếng đòi quyền lợi cho ng-ời phụ nữ Có thể nói rằng, bên cạnh
những trang viết của các tác giả lớn nh- Nguyễn Du, với kiệt tác Truyện Kiều, Nguyễn Gia Thiều với Cung oán ngâm khúc và một số tác phẩm khác đều viết
về ng-ời phụ nữ d-ới chế độ xã hội bất công với những khát vọng trần tục nhất của con ng-ời Có thể nói khuynh h-ớng đi sâu vào nội tâm của con ng-ời là một khuynh h-ớng đậm nét của văn học giai đoạn này Điều này cũng đ-ợc thể hiện sắc bén d-ới ngòi bút của các tác giả nữ; bởi tiếng nói của ng-ời trong cuộc bao giờ cũng mạnh mẽ, trực diện hơn Hơn ai hết, họ hiểu rõ
Trang 1211
nỗi đau ngang trái của cuộc đời đen bạc này một cách thấu đáo và họ phản
ánh một cách trực tiếp qua thơ văn của mình Nổi bật lên trong văn học trung
đại với những cây bút nữ nh-: Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân H-ơng, Bà Huyện Thanh Quan, Lê Ngọc Hân… Họ đặt ra vấn đề ý thức nữ quyền để lên tiếng
đòi quyền bình đẳng về thân phận, về quyền lợi trong xã hội, đồng thời lên tiếng thách thức đàn ông (những ng-ời núp d-ới “nam quyẹn đốc đo²n”), thách thức xã hội Các tác giả nữ đã khôn khéo dùng văn ch-ơng nh- một thứ
vũ khí để chống lại trật tự áp chế đó, trong đó tiêu biểu là nữ sĩ họ Hồ Vũ khí
bà dùng là những bài thơ vừa “thanh” vừa “tũc” Đề cập đến một vấn đề hết
sức cấm kỵ trong văn ch-ơng là vấn đề tình dục - một chuyện rất khó nói một cách có thẩm mỹ kể cả đối với các tác giả nam, bà dám bày tỏ nỗi lòng khát khao yêu đ-ơng, khát khao hạnh phúc, thể hiện một cái tôi giàu sức sống, đầy bản lĩnh, mạnh mẽ, thị tài trong văn học và xã hội
Có thể nói rằng, các tác giả nữ văn học Việt Nam trung đại, đặc biệt là giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX đã tiên phong đi tr-ớc thời đại, đi tr-ớc phong trào nữ quyền ở ph-ơng Tây sau này Điều đáng l-u ý
là họ còn oanh liệt hơn các nữ l-u ph-ơng Tây vì họ “đơn thương đốc m±” đối
đầu với một xã hội phong kiến đầy những hủ tục rất bất lợi cho chính họ Chế
độ xã hội đã đẩy họ vào hoàn cảnh phải đấu tranh, phải phá vỡ rào cản về quyền bình đẳng giới Họ ý thức đ-ợc những khát vọng trần thế rất đỗi tự nhiên, rất con ng-ời của mình, của giới mình Vấn đề nữ quyền đ-ợc đặt ra nh- một đòi hỏi, một thách thức, một khát vọng đầy nhân tính Trong truyền thống văn học Việt Nam, ng-ời phụ nữ là đối t-ợng đ-ợc đề cập đến nhiều nhất từ văn học dân gian đến văn học trung đại và cả văn học hiện đại sau này
1.2 Ng-ời phụ nữ Việt Nam từ góc nhìn văn hoá
Việt Nam có truyền thống coi trọng ng-ời phụ nữ trong gia đình và do
ảnh h-ởng của nền văn minh Đông Nam á nên cũng phổ biến chế độ mẫu hệ
Đó là một truyền thống lâu đời của lịch sử dân tộc Trong lịch sử dựng n-ớc
và giữ n-ớc của dân tộc Việt, phụ nữ lại đóng vai trò quan trọng Dù trải qua
Trang 1312
hàng nghìn năm chế độ phong kiến với hệ t- t-ởng Nho giáo thống trị nh-ng
đ-ợc hun đúc và kết tinh từ sức mạnh của văn hoá bản địa, văn hoá truyền thống, ng-ời phụ nữ Việt Nam vẫn đóng góp những giá trị quan trọng và độc
đáo với nhiều tên tuổi kiệt xuất trên các lĩnh vực đấu tranh xã hội nh- Bà Tr-ng, Bà Triệu; hoạt động văn ch-ơng nghệ thuật nh- Đoàn Thị Điểm, Hồ
Xuân H-ơng…
Có nhiều nguyên nhân lịch sử và văn hoá giải thích vai trò quan trọng của ng-ời phụ nữ trong xã hội Việt Nam truyền thống Việt Nam có đặc tr-ng văn minh nông nghiệp độc canh cây lúa n-ớc, giống cây đòi hỏi nhiều công sức lao động thủ công nên thành viên nữ khó bị gạt ra khỏi lề thói sản xuất Cũng nh- khu vực Đông Nam á, Việt Nam cũng có chế độ mẫu hệ tồn tại dai dẳng,
đã nữ thần hoá đức Phật và một số Bồ tát nam Truyền thuyết mẹ Âu Cơ sinh trăm trứng nở trăm con, khắc sâu trong ký ức cộng đồng những giá trị cội nguồn dân tộc Việt là từ một mẹ sinh ra… Ng-ời phụ nữ trong truyền thuyết sơ khai hồn nhiên mà quyết liệt, trong nghịch cảnh vẫn khẳng định mình nh-
Tiên Dung, nh- ng-ời vợ trong truyện Sự tích trầu cau, nh- ng-ời đàn bà vọng
phu ôm con hoá đá, nh- Mỵ Châu dẫu hai lần mang trọng tội vẫn đ-ợc khoan dung nhìn nhận là trắng ngần, trong suốt ngọc trai Lịch sử Việt Nam có hơn nghìn năm Bắc thuộc Mở đầu lịch sử chống Bắc thuộc là chiến công của hai nữ anh hùng Lời thề xuất quân của hai Hai Bà Tr-ng với quyết tâm: rửa sạch thù nhà; dựng lại nghiệp x-a; giải oan lòng chồng; xin vẹn công lệnh Chỉ vài thế kỷ sau đó, ng-ời thiếu nữ Triệu Thị Trinh đã phải tự khẳng định mình v-ơn lên trên thói nữ nhi th-ờng tình: “Tôi muỗn cưởi cơn giõ m³nh, đ³p l¯n sóng dữ, chém cá kình ngoài biển Đông, quét sạch quân Ngô ra khỏi bờ cõi chử không chịu khoanh lưng l¯m tệ thiễp ngưội ta”
Một quy luật là vị thế của ng-ời phụ nữ trong xã hội đ-ợc khẳng định thì trong văn ch-ơng cũng đ-ợc khẳng định ở Việt Nam, từ thế kỷ X đến hết thế
kỷ XV là thời kỳ phong kiến h-ng thịnh, xã hội “tróng nam khinh nừ”, vai trò của phụ nữ mờ nhạt, vì vậy văn ch-ơng thời kỳ này không có một nhà văn nữ
Trang 1413
nào xuất hiện trên văn đàn và nhân vật chính trong tác phẩm văn học thời kỳ này không phải là phụ nữ B-ớc sang thế kỷ XVI - XIX, xã hội phong kiến suy vong, ng-ời phụ nữ bị chà đạp đến tận cùng vì thế số phận ng-ời phụ nữ trở thành vấn đề nhức nhối Văn học giai đoạn này không chỉ có nam giới viết về phụ nữ; mà chính phụ nữ viết về bản thân mình, giới mình cũng có nh- Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân H-ơng, Bà Huyện Thanh Quan, Lê Ngọc Hân… Qua những tác phẩm của mình, vấn đề nữ quyền đ-ợc họ đặt ra nh- một đòi hỏi tự nhiên, đó nh- một nhu cầu và một khát vọng chính đáng
1.3 Vấn đề ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam trung đại (giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX)
Thời kỳ văn học trung đại, khi ý thức hệ Nho giáo đã đi sâu vào tâm thức của ng-ời Việt Nam, về cơ bản giới cầm bút vẫn thuộc về đàn ông Có thể nói, thời phong kiến, t- t-ởng “tróng nam khinh nừ” đã ăn sâu vào ý thức của ng-ời dân và nó dần dần đi vào cả sáng tạo văn ch-ơng Đàn ông là ng-ời có quyền trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nh-ng trong vòng c-ơng toả của t- t-ởng nam quyền cũng đã bắt đầu xuất hiện những tài danh văn học là phụ nữ nh- Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân H-ơng…
1.3.1 Về số l-ợng tác giả nữ trong văn học Việt Nam trung đại
Theo L-ợc truyện các tác giả Việt Nam (Trần Văn Giáp - chủ biên), tác giả văn học trung đại có 735 ng-ời Theo Hợp tuyển văn học X – XIX (của
nhiều tác giả) cho rằng có 187 ng-ời Trong đó tác giả giai đoạn từ thế kỷ
XVIII đến nửa thế kỷ XIX (trong Hợp tuyển văn học Việt Nam thế kỷ XVIII
đến nửa thế kỷ XIX của Huỳnh Lý - chủ biên) có 51 tác giả Còn theo Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết XIX của Lại Nguyên Ân có 276 tác
giả Trong số các tác giả ấy, tác giả nữ chiếm tỉ lệ rất ít, chỉ có 12 ng-ời: Lê Thị ỷ Lan; Ngô Thị Lan; Đoàn Thị Điểm; Hồ Xuân H-ơng; Lê Ngọc Hân; Nguyễn Thị Hinh; Công chúa Nguyễn Vĩnh Trinh; Công chúa Nguyễn Vinh Thận; Công chúa Nguyễn Tĩnh Hoà; Nguyễn Thị Nh-ợc Bích; S-ơng Nguyệt
ánh; H-ơng Chân [4]
Trang 1514
Đặc biệt ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX đã xuất hiện những tác giả nữ lên tiếng đòi nữ quyền, ý thức về giá trị của mình, của giới mình nh-: Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân H-ơng… mà trong đó, nữ sĩ họ Hồ
đã trở thành một hiện t-ợng độc đáo của Việt Nam và có lẽ của cả thế giới
1.3.2 Một số vấn đề ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam trung đại giai
đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX
Có thể nói đến giai đoạn văn học này con ng-ời đã trực tiếp khẳng định ý thức cá nhân của mình về tình yêu, hạnh phúc gia đình, về những khát vọng trần tục nhất Nếu tr-ớc đây, ng-ời ta chỉ chú ý đến đời sống tinh thần của con ng-ời nói chung, quyền lợi ng-ời phụ nữ hầu nh- không đ-ợc đề cập trong thơ văn, thì đến đây, hình ảnh ng-ời phụ nữ xuất hiện mang tính chất nh- một trào l-u của văn học Ch-a bao giờ trong lịch sử văn học Việt Nam, vấn đề quyền sống, quyền hạnh phúc trần thế lại đặt ra một cách cấp thiết nh- vậy Trên mọi thể loại văn học, xuất hiện hàng loạt hình ảnh ng-ời phụ nữ quý tộc, bình dân, lao động, ca nhi, kỹ nữ… với sự đa dạng trong thể hiện Trong xã hội phong kiến, họ bị áp bức nặng nề nhất, không những về ph-ơng diện giai cấp, mà cả ph-ơng diện giới tính Một quy luật văn ch-ơng không thể thoát ly thực tại đời sống, vì nó là tấm g-ơng phản ánh hiện thực nên các nhà thơ nữ giai đoạn này cũng dùng ngòi bút của mình làm thứ vũ khí đắc lực để thể hiện ý thức đề cao giới mình, bản thân mình Họ thách thức chế độ với những đòi hỏi chính đáng
Họ tạo nên sức mạnh quật khởi của ng-ời phụ nữ khi đồng thanh lớn tiếng đòi quyền bình đẳng giới, lớn tiếng thể hiện những nhu cầu ái ân của con ng-ời trần thế
Theo Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hoá sử c-ơng, xã hội trong giai
đoạn này rất bất công với ng-ời phụ nữ vì “trong gia đệnh, chù quyẹn ờ trong tay gia trường, m¯ đè nẽn địa vị cùa đ¯n b¯” [1, tr.109] Nền văn học của chế
độ phong kiến Việt Nam chịu ảnh h-ởng sâu sắc của t- t-ởng Khổng giáo nên các truyền thống về giá trị và chuẩn mực văn hoá đều đ-ợc đặt ra để phục vụ
đàn ông Nền văn học đó đồng thời cũng đ-ợc dùng để khuyến dụ và c-ỡng
Trang 1615
chế đàn bà phải chấp nhận vai trò thua kém đàn ông Tr-ớc một xã hội đầy những t- t-ởng và nề nếp do Nho giáo dựng lên; tr-ớc một xã hội mà sự bình
đẳng bị bóp méo, ng-ời phụ nữ đã bắt buộc suy t- và hành động:
Ví đây đổi phận làm trai đ-ợc
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu
(Đề đền Sầm Nghi Đống - Hồ Xuân H-ơng)
Các nhà thơ nữ giai đoạn này đã khôn khéo dùng thơ văn để chống lại xã hội phong kiến, chống lại thần quyền, quân quyền, nam quyền, phụ nữ thoát khỏi sự “to° chiễt tệnh c°m cùa con ngưội trong mói quan hế” [13; tr.64]
Tiểu kết:
Tóm lại, hình ảnh ng-ời phụ nữ trong văn học Việt Nam trung đại đã
đ-ợc các tác giả nữ “vẻ” thêm về hình thức, nội tâm bên trong với đủ sắc màu Tuy nhiên, truyền thống viết về họ vốn bắt nguồn từ trong văn học dân gian
Trong cuốn Kho tàng ca dao ng-ời Việt do Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng
Nhật, Phan Đăng Tài, Nguyễn Thuý Lan, Đặng Diệu Trang biên soạn (1995) cho rằng: phản kháng trong ca dao của phụ nữ là quan hệ gia đình - xã hội, lao
động - nghề nghiệp, tình yêu đôi lứa Đó là những quan hệ tình cảm chung, quan hệ đó phải đi đôi với quan hệ đạo lý Tình yêu trong văn học dân gian mạnh hơn tình dục, nh-ng nó cũng đã thể hiện những khát vọng, ham muốn, những nhu cầu đầy nhân tính, rất con ng-ời Đây chính là cơ sở để nền văn
học viết tiếp nối truyền thống
Đến văn học viết thì nó mới thực sự đi vào từng cá nhân cụ thể, không còn là con ng-ời chung chung Cơ sở thực tiễn xã hội và truyền thống văn hoá Việt Nam đã tạo nên sức mạnh quật khởi cho ng-ời phụ nữ và đã đ-ợc một số cây bút nữ giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX thể hiện đậm nét qua sáng tác của mình Tiêu biểu là nữ sĩ Hồ Xuân H-ơng - một nữ sĩ tài
ba đã tiên phong và táo bạo sáng tác những bài thơ vừa “thanh” vừa “tũc”, làm
vũ khí chống đối lại xã hội đồng thời đề cập đến một vấn đề hết sức cấm kỵ trong văn học là vấn đề tình dục Bà trở thành ng-ời đi tr-ớc thời đại mình, đi tr-ớc phong trào nữ quyền của các nữ l-u ph-ơng Tây sau này
Trang 17Trong lúc đó, nền kinh tế của xã hội cũng suy sụp một cách toàn diện Nông nghiệp đình đốn, mất mùa liên miên, nền kinh tế tiểu nông bị phá hoại nghiêm trọng và nền sản xuất hàng hoá vốn đã nảy nở từ tr-ớc nh-ng đến nay cũng bị kìm hãm vì tình trạng chiến tranh liên miên
Về t- t-ởng, Nho giáo là ý thức hệ thống trị trong xã hội phong kiến nh-ng giờ đây nó không còn uy lực nh- tr-ớc nữa Bên cạnh đó là sự băng hoại mọi giá trị đạo đức, văn hoá giáo dục Các triều đại phong kiến vẫn duy trì sự độc tôn Hán học Đất n-ớc tr-ợt dài trên con đ-ờng bế tắc bởi những chính sách “ngu dân” của triều đình nhà Nguyễn phản động
“có áp bức sẽ có đấu tranh”, sự mâu thuẫn giai cấp đó chỉ có thể giải quyết bằng đấu tranh Lúc này các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra với một khí thế quyết liệt ch-a từng có trong lịch sử phong kiến Việt Nam đó
Trang 1817
là “Thễ kự nông dân khời nghĩa”, diễn ra mạnh mẽ, rộng khắp: Đàng ngoài với 6 cuộc khởi nghĩa, 2 cuộc bạo động; Đàng trong với 2 cuộc khởi nghĩa, 1 cuộc bạo động Tất cả khí thế, sức mạnh ấy đều kết tinh trong cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (1771) đánh dấu vẻ vang bằng chiến thắng của lãnh tụ anh hùng áo vải Nguyễn Huệ [23, tr.7]
Có thể nói rằng, tình hình xã hội Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX là sự khủng hoảng, bế tắc của nhà n-ớc phong kiến và sự sụp đổ của ý thức hệ thống trị Những mâu thuẫn chất chứa trong lòng xã hội phong kiến đến đây bộc lộ gay gắt và bùng nổ thành những cuộc
đấu tranh xã hội quyết liệt Những cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp bùng nổ chính là sự thể hiện tâm trạng bất mãn phẫn nộ đối với hiện thực đen tối, với giai cấp thống trị Họ là những ng-ời khơi nguồn nhận thức về giá trị cá nhân với những yêu cầu, đòi hỏi phát triển cuộc sống cá nhân, nổi bật lên là khao khát giải phóng đời sống tình cảm Văn học phát triển trong điều kiện nh- thế
là sự khám phá ra con ng-ời và khẳng định nhu cầu cá nhân với những giá trị chân chính của con ng-ời
2.1.2 Cơ sở văn hoá
Nếu nh- văn học giai đoạn từ thế kỷ X - XV phát triển trong điều kiện ý thức hệ phong kiến với đặc tr-ng cơ bản có tính lịch sử là khẳng định dân tộc (khẳng định nhà n-ớc phong kiến; ca ngợi triều đình; coi trọng kẻ sĩ), thì đến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX là sự khẳng định nhu cầu cá nhân con ng-ời Đây là giai đoạn đặc biệt nhất trong lịch sử 10 thế kỷ văn học viết Việt Nam, trong vòng 1 thế kỷ mà xuất hiện hàng loạt tác giả, tác phẩm nồi tiễng, l¯ thội kứ chù nghĩa nhân văn (“to¯n bố nhừng quan điềm đ³o
đức, chính trị bắt nguồn không phải từ cái gì siêu nhiên, kỳ ảo, không phải từ những nguyên lí ngoài đời sống của nhân loại mà là từ con ng-ời tồn tại thực
tế trên mặt đất với những nhu cầu, những khát vọng, những khả năng trần thế
và hiện thực của nó Những nhu cầu, những khả năng ấy đòi hỏi phải phát
triển đầy đủ, đòi hỏi cần phải thoả mãn”) (Định nghĩa của Vonghin Chủ
Trang 1918
nghĩa nhân văn và chủ nghĩa xã hội - NXB Sự thật, tr 5 - 6), xuất hiện không
phải nh- một yếu tố, một tính chất mà trở thành một trào l-u [7]
Văn học giai đoạn này vừa kế thừa di sản quý báu của những thế kỷ tr-ớc, lại vừa có sự chuyển biến mới mẻ, nhất là vấn đề con ng-ời luôn đặt lên hàng đầu Xuất hiện trong văn học bấy giờ là những cây bút nữ sắc sảo, nh-:
Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân H-ơng… Hình t-ợng mới mẻ và trung tâm của văn học là ng-ời phụ nữ - nạn nhân của nhiều tầng lớp áp bức (quân quyền, thần quyền, phụ quyền, nam quyền) Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn này đã tạo nên một số phận riêng cho ng-ời phụ nữ, luôn phải chịu khổ đau tr-ớc
“nam quyẹn đốc đo²n”, tr-ớc quan niệm: “nhất nam viễt hừu, thập nừ viễt vô” Trong tình duyên của mình cũng không có quyền chọn lựa mà “cha mé
đặt đâu con ngồi đấy” mang theo đạo “Tam tòng” (“t³i gia tòng phũ”, “xuất
giá tòng phu”, “phu tụ tòng tụ”.), “Tử đửc” (công, dung, ngôn, hạnh) Bằng
tiếng nói của những ng-ời trong cuộc, các nữ sĩ trong giai đoạn này đã đặt ra
vấn đề ý thức nữ quyền tr-ớc xã hội rất bất công đối với chính họ Và có thể
nói, đây là hình t-ợng thành công nhất của văn học Việt Nam trung đại giai
đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Các tác giả nữ đã dùng thơ văn
để chế diễu thói đạo đức giả, để vạch trần những vô lý của xã hội phong kiến, cũng nh- táo bạo chống lại những tập tục phi lý cấm đoán và trói buộc ng-ời
phụ nữ về vật chất cũng nh- về tinh thần Họ đã đặt ra vấn đề ý thức nữ quyền
nh-ng d-ờng nh- mỗi tác giả đại diện cho một khía cạnh khác nhau
tác giả nữ trong văn học Việt Nam trung đại rất ít ỏi, chỉ có vẻn vẹn 12 ng-ời và trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX nổi lên một số tác giả, tiêu biểu nh- Đoàn Thị Điểm với ý thức con ng-ời cá nhân và nữ sĩ họ Hồ với ý thức đòi quyền bình đẳng cho ng-ời phụ nữ Với những tiếng nói xúc phạm mạnh mẽ trật tự lễ giáo phong kiến, các nữ sĩ đã nêu cao nhu cầu trần tục của bản năng con ng-ời
Trang 20tâm sự của mình có phần giống ng-ời chinh phụ, nên bà dịch Chinh phụ ngâm
khúc của Đặng Trần Côn ra quốc âm
Về sự nghiệp văn ch-ơng, bà để lại Truyền kỳ tân phả và bản dịch Chinh
phụ ngâm Chính dịch phẩm này đã khẳng định tài năng của bà, có ng-ời nhận
xét nó còn hay hơn nguyên tác bằng Hán văn của Đặng Trần Côn Đây là một
tác phẩm viết về tâm trạng đau buồn triền miên của một ng-ời vợ có chồng ra chiến tr-ờng Bản dịch của Đoàn Thị Điểm đã mở đầu cho việc sáng tác ngâm khúc, sáng tác những tr-ờng ca trữ tình bằng thể song thất lục bát của dân tộc
Đó là những tác phẩm thuần tuý trữ tình nên xu h-ớng đi sâu vào nội tâm con ng-ời thể hiện đậm nét
Khuynh h-ớng đi sâu vào nội tâm của con ng-ời là một nét nổi bật của văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, bởi nét đặc tr-ng của nó là sự phát hiện con ng-ời cá nhân đ-ợc đặt trong những quan hệ khá phong phú về mặt xã hội và trong chiều sâu nội tâm của nó Chinh phụ là hình ảnh đồ chiếu của Đoàn Thị Điểm, hiểu đ-ợc tâm trạng nàng cũng là hiểu tâm sự và khát khao của dịch giả trong lúc xa chồng Chính qua tâm sự đau buồn của nàng chinh phụ nhớ chồng mà bà tố cáo mạnh mẽ chiến tranh phong kiến lúc bấy giờ “Ngâm khủc l¯ nhừng ca khủc trừ tệnh d¯i hơi phản ánh tâm trạng bị kịch của con ng-ời đã có ý thức về quyền sống, về hạnh phúc của cá nhân trong một giai đoạn lịch sử nhất định đ-ợc viết bằng ngôn ngữ dân tộc (chữ Nôm) và thể thơ dân tộc song thất lục bát” [17, tr.49]
Trang 2120
Nội dung của nó phản ánh một tâm trạng chung là buồn rầu và đau đớn, nh-ng cái khác x-a là nỗi buồn ở đây không nhẹ nhàng, thoáng qua trong một khoảnh khắc mà triền miên day dứt Nàng chinh phụ có ý thức về thân phận mình, về cuộc đời, về sự thăng trầm của số phận, và sự mất mát hạnh phúc quá lớn nên nàng bất an trong dằn vặt và hối hận:
Lúc ngoảnh lại ngắm màu d-ơng liễu Thà khuyên chàng đừng chịu t-ớc phong
đ± túng “lên lầu thấm thoắt đôi phen”, từng đau khổ, có lúc nghĩ hồn mình đã hoá đá vọng phu:
Lòng này hoá đã cũng nên
E không lệ ngọc mà lên trông lầu
Nàng cũng tự đặt ra bao câu hỏi tê tái, khiến nàng phải day dứt ngày đêm, tìm lời giải đáp cho tuổi xuân đang bị héo mòn, cuộc đời đang bị dở dang, hạnh phúc đang bị tàn phá Nàng tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa; nàng công khai khát vọng hạnh phúc vợ chồng, những nhu cầu, những đòi hỏi trần tục nhất… Tất cả những cái đó đều khẳng định ý thức nữ quyền trong Đoàn Thị Điểm, đ-ợc thể hiện sinh động qua nhân vật trữ tình
2.2.1 Nhân vật trữ tình trong Chinh phụ ngâm: nàng chinh phụ - hiện thân của nguời phụ nữ đòi quyền hạnh phúc cho mình
Nàng chinh phụ trong Chinh phụ ngâm đã có phần đứng trên quyền lợi
bản thân con ng-ời quý tộc để biểu hiện khát vọng đ-ợc h-ởng cuộc sống hạnh phúc tuổi trẻ - phần vật chất của con ng-ời “Kh²ch m² họng” ở đây chịu bao nỗi “truân chuyên” mà đã lên án “xanh kia”, không chấp nhận kiếp hi
sinh hạnh phúc vợ chồng bởi chiến tranh phong kiến phi nghĩa:
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên Xanh kia thăm thẳm tầng trên Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?
Trang 2221
Chinh phũ chất vấn ngưội đ± gây ra nổi oan nghiết: “vệ ai gây dững cho
nên nổi n¯y?” b´ng mốt câu hài đầy căm giận, chua xót và tiếp theo là tố cáo
cuộc chiến tranh phong kiến đã lan đến tận gia đình nàng:
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây
Chọng n¯ng đ± “gi± nh¯”; “đeo bửc chiễn b¯o” vỡi mốt khí thễ lẫm liết “thẽt roi cầu Vị, ¯o ¯o giõ thu”; “chì ngang ngón gi²o v¯o ng¯n hang beo” ra đi vệ nghĩa lỡn, vỡi bồn phận “phẽp công l¯ tróng niẹm tây s² n¯o”, nh-ng đâu biết
sự tàn khốc nơi chiến tr-ờng:
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi
ở Chinh phụ ngâm, qua tâm trạng của ng-ời chinh phụ đã tái hiện đ-ợc
cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa bằng cách thể hiện cuộc đời đen tối, bi
thảm của chinh phu, nàng chinh phụ lên tiếng tố cáo những hành động vô nhân đạo của bọn thống trị đ-ơng thời đẩy chinh phu vào những cuộc chiến tranh nội bộ phong kiến hay đàn áp nông dân khởi nghĩa để bảo vệ đền vua,
phủ chúa [2, tr.111] Biết bao cảnh rùng rợn, hiểm nguy của chiến tr-ờng mà
ngưội chinh phu ph°i chịu đững: “ngưội dầu mặt d³n”; “n´m vùng cát trắng ngù cọn rêu xanh”; “nối không muôn dặm”; “qu³nh quẻ trăng treo”; “đệu hiu giõ thồi” … Còn n¯ng chinh phũ ờ chỗn buọng the thệ “lếch l¯n tõc rỗi, làng vòng lưng eo”… Ng-ời ra chiến trận là đi vào cõi chết, nàng chinh phụ ở nhà thì cũng chết trong lòng vì hạnh phúc bị chia lìa Có thể nói, đây là tiếng nói nhân đạo, tiếng nói phản chiến công khai của những ng-ời bị đẩy vào cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa thông qua tiếng nói của nàng chinh phụ với tâm trạng hết sức phong phú và phức tạp Đó là những cảm xúc: than, trách,
lo, mong, th-ơng, nhớ, buồn, chán, đau, giận… dồn dập trỗi dậy, chan hòa trong quá khứ:
Trang 23Non Đông thấy lá hầu chất đống
Trĩ xập xoè, mai cũng bẻ bai
Chàng tuổi trẻ với dòng hào kiệt Xếp bút nghiên theo việc đao cung Thành liền mong tiến bệ rồng Th-ớc g-ơm đã quyết chẳng dung giặc trời
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao …
thì đấy là đồng nghĩa với sự tán thành cuộc chiến tranh phong kiến Nh-ng sau một thời gian đối diện với cảnh cô đơn, buồn tủi, nàng đã oán trách nó, vì nó
đã làm phá vỡ cảnh êm ấm gia đình và nàng lâm cảnh cô đơn, sầu muộn :
Quân đ-a chàng ruổi lên đ-ờng Liễu d-ơng biết thiếp đoạn tr-ờng này chăng?
Trang 2423
N¯ng đ± thỗt lên: “Th¯ khuyên ch¯ng đúng chịu tưỡc phong!” Đây l¯ sữ ý thức rất đúng đắn của nàng khi phải đối mặt với giấc mộng “công hầu” lúc bấy giờ Từ phút chia tay, đ-a tiễn chồng ra trận nàng cũng đã hình dung đ-ợc cảnh chiến tr-ờng, nó đối lập với nhận thức ban đầu của nàng:
Chàng thì đi cõi xa m-a gió Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn
Hình ảnh “chiễu chăn” ở đây đã có ý nghĩa sâu xa, đó là khát vọng mang tính nhục thể thân xác đ-ợc ái ân với chồng
Riêng t- là một khía cạnh khác của tinh thần Trong khuôn khổ của trật
tự phụ quyền, ý niệm đó lại đ-ợc quy phạm thành một thứ quy luật khe khắt Kín đáo là đòi hỏi đầu tiên của ng-ời phụ nữ ở đây, hoàn cảnh nàng chinh
phụ lúc xa chồng, phải đối diện với bao khắc nghiệt; là sự ham muốn về “vật
chất”, là sự dày vò về “tinh thần”:
Khách phong l-u đ-ơng chừng niên thiếu,
Sánh cùng nhau dan díu chữ duyên
Nỡ nào đôi lứa thiếu niên, Quan san để cách hàn huyên bao đành
Và sau đó là sự dằn vặt, lo lắng, nhớ chồng da diết, nhất là những lúc nàng ở
một mình:
Dạo hiên vắng thầm gieo từng b-ớc Ngồi rèm th-a rủ thác đòi phen
“Nổi lòng biễt ngỏ cợng ai”, n¯ng đ± gụi bao tâm tư cợng nổi nhỡ chọng đau
đáu theo làn gió:
Lòng này gửi gió đông có tiện, Nghìn vàng xin gửi đến non Yên Non Yên dù chẳng tới miền, Nhớ chàng thăm thẳm đ-ờng lên bằng trời
Nàng sống trong sầu muộn với nỗi nhớ chồng “đau đ²u”, việc điểm phấn to son cũng không còn ý nghĩa gì nữa:
Trang 2524
N-ơng song huống ngẩn ngơ lòng Vắng chàng điểm phấn trang hồng cùng ai?
Tình yêu chồng của nàng thật chân thành và tha thiết, ngoài chồng ra nàng không biết gì khác và đã kể rằng:
Vì chàng lệ thiếp nhỏ đôi, Vì chàng thân thiếp lẻ loi một bề
Đây không phải là lời oán trách chinh phụ, mà chỉ là một sự nhận thức về
số phận hẩm hiu của nàng chinh phụ Tình vợ chồng xa cách, niềm khao khát
đ-ợc gần gũi âu yếm càng nung nấu cháy bỏng trong lòng chinh phụ Phải nói rằng, ao -ớc hạnh phúc cá nhân của con ng-ời trần tục theo bản năng của mình là một trong những nội dung cơ bản trong văn học giai đoạn này
Chinh phụ ngâm là sự lên tiếng tố cáo chiến tranh phong kiến chia lìa
hạnh phúc lứa đôi, đồng thời phản ánh những khát khao, những nhu cầu hạnh phúc, ái ân của vợ chồng của nàng chinh phụ Đó chính là sự tự ý thức sâu sắc
của con ng-ời cá nhân Rõ ràng, Đoàn Thị Điểm qua dịch phẩm này đã mạnh
dạn nêu cao những yêu cầu về nữ quyền thông qua hình ảnh nàng chinh phụ
2.2.2 ý thức nữ quyền trong dịch phẩm Chinh phụ ngâm
Trào l-u nhân đạo chủ nghĩa của giai đoạn văn học này mang đặc điểm:
đề cập đến số phận ng-ời phụ nữ về việc giải phóng tình cảm, phát hiện con ng-ời cá nhân là chủ yếu Ng-ời phụ nữ là hình t-ợng trung tâm của văn học
và họ luôn bị hai tầng áp bức, đó là thế lực phong kiến và tôn giáo Dịch phẩm
Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm đã báo tr-ớc những đặc điểm quan trọng
của trào l-u nhân đạo chủ nghĩa, đặc biệt là việc khẳng định con ng-ời cá nhân trần thế
Tr-ớc đây, cùng với sự hình thành của văn học Việt, con ng-ời đ-ợc ý thức qua ý thức hệ, qua các kh²i niếm, gi²o lý mốt c²ch gi²n tiễp “Qu² trệnh
tự ý thức cá nhân ở đây gắn với quá trình sụp đổ của các khái niệm giáo lý
Đây là quy luật của ý thức cá nhân trong văn học trung đại của các dân tộc nói chung” [21, tr.165 - 166] Sự khao khát hạnh phúc của con ng-ời trong giai
Trang 2625
đoạn đặc biệt này là một tất yếu Nh-ng nét nổi bật của nó so với những giai
đoạn tr-ớc là sự khẳng định ý thức cá nhân với những nhu cầu, những đòi hỏi hạnh phúc là một vấn đề cấp thiết Cũng chính từ đó mà xuất hiện con
ng-ời“c² nhân” trong những tr-ờng hợp mâu thuẫn với con ng-ời “vi tụ vi
thần” Nếu tr-ớc thế kỷ XVIII, con ng-ời cá nhân mới chỉ đ-ợc đánh giá trong thang bậc đạo đức, đạo lý và ở sức mạnh tinh thần, thì giờ đây quyền sống con
ng-ời trần thế, giá trị thân xác với bao thứ ham muốn chính đáng của nó lại là
trung tâm điểm của mọi giá trị Bất kỳ cái gì chà đạp lên giá trị ấy, quyền sống
ấy chỉ là cái ác, cái xấu, cái đáng oán hận [21, tr.170] Trong t- t-ởng Nho giáo, con ng-ời không có gì là riêng của mình, từ thân thể, tài sản, cho đến danh phận, bổng lộc, đều là của cha mẹ, hay vua ban Giờ đây, con ng-ời ý thức một cái gì là của riêng mình, ý thức cá nhân con ng-ời không tin vào cái vĩnh viễn hoặc chỉ tin vào lúc này, kiếp này, thân này Đó là một b-ớc ngoặt trong t- t-ởng con ng-ời Việt Nam [21, tr.167 - 168]
Khi tìm hiểu ý thức nữ quyền đ-ợc Đoàn Thị Điểm thể hiện qua dịch
phẩm Chinh phụ ngâm, cụ thể ở hình ảnh nàng chinh phụ thì điều đầu tiên đó
là nàng tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa mà nạn nhân gián tiếp của cuộc chiến tranh ấy là ng-ời phụ nữ đau khổ Tác phẩm không những thể hiện khát vọng cuộc sống hoà bình mà nó đã dám đấu tranh đòi quyền đ-ợc h-ởng hạnh phúc của con ng-ời Tiếng nói phản chiến trong tác phẩm bộc lộ khát vọng của con ng-ời đòi quyền tự do, hạnh phúc Đó là cái hạnh phúc mà con ng-ời đ-ợc tạo hoá ban cho là nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống mà nàng chinh phụ cần v-ơn tới, cùng với việc bảo vệ nó:
Đành muôn kiếp chữ tình là vậy Theo kiếp này hơn thấy kiếp sau
Đó chính là một sự phát triển về nhận thức con ng-ời: đề cao con ng-ời cá nhân, ý thức làm ng-ời không tin vào kiếp sau, mà tin vào hiện tại Khác với những giai đoạn tr-ớc, con ng-ời th-ờng chú ý tới đời sống tinh thần, thì tới lúc này, quyền hạnh phúc trần thế với những thú vui vật chất và trần tục
Trang 2726
đ-ợc thể hiện một cách rõ ràng cụ thể trong tác phẩm Cả khúc ngâm ngập tràn khát vọng cuộc sống hiện tại về hạnh phúc trần thế, một thứ hạnh phúc thiết thực, cụ thể, vợ chồng đoàn tụ, đ-ợc hạnh phúc ngay trên cõi trần:
Thiếp xin chàng chớ bạc đầu Thiếp thì giữ mãi lấy màu trẻ trung
Đây là thời kỳ các tác giả công khai khát vọng và nhu cầu cá nhân Nàng chinh phụ bộc lộ cháy bỏng muốn đ-ợc gần chồng:
Kìa loài sâu đôi đầu cùng cánh
Nọ loài chim chắp cánh cùng bay
Liễu sen là thức cỏ cây, Đôi hoa cùng sánh đôi dây cùng liền
ấy loài vật tình duyên còn thế, Sao kiếp này nỡ để đấy đây
Nhìn muôn loài xung quanh đều có đôi có lứa từ chim chóc đến cả cỏ cây, nàng chinh phụ nh- hờn ghen với tất cả và ao -ớc sự gần gũi ng-ời chồng
đang chinh chiến nơi xa:
Hoa dãi nguyệt, nguyệt in một tấm Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng Tr-ớc hoa d-ới nguyệt trong lòng xiết đau
Giờ đây một mình nàng ở chốn buồng the, nhớ lại cảnh êm ấm ngày x-a, tr-ớc mắt lại là cảnh sum vầy quấn quýt của chim chóc cỏ cây, nỗi buồn trong nàng càng thê thiết hơn và khát khao nhu cầu vợ chồng ái ân lại trỗi dậy mạnh
mẽ hơn bao giờ hết Giống nh- nàng cung nữ vẫn không bao giờ quên đ-ợc chung h-ởng ái ân với đấng quân v-ơng, mà sau đó chỉ còn là hoài niệm:
Cái đêm hôm ấy đêm gì?
Bóng hoa lồng bóng đồ mi trập trùng
( Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều)
Trang 2827
Ng-ời cung nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, công khai
nói to nhu cầu tình cảm của mình và lúc không thoã mãn tình ái thì:
Giang tay muốn dứt tơ hồng, Bực mình muốn đạp tan phòng mà ra
Và luôn luôn khát khao đ-ợc gần ng-ời mình yêu:
Có âm d-ơng, có vợ chồng, Dẫu từ thiên địa chuyển vòng phu thê
Nàng chinh phụ là ng-ời phụ nữ quý tộc xem “phẽp công l¯ tróng”, dẹp nỗi cô đơn của mình vì bổn phận, nh-ng rồi vẫn không thể dấu đ-ợc khát vọng và nhu cầu hạnh phúc cá nhân Khi nói đến tâm trạng của nàng chinh phụ, giáo s- Đặng Thanh Lê đã đ-a ra một nhận định khá sâu sắc: “Cõ thể nói ng-ời phụ nữ quý tộc này đã bỏ rơi bề ngoài đạo đức th-ờng ngày để nói lên lòng sâu lắng,chân thật của mình Mặc dù còn nhiều dè dặt, kín đáo, yêu cầu hạnh phúc ái ân cho ng-ời chinh phụ, đã báo hiệu cho tiếng nói nhục cảm lộ
liễu trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, cũng nh- tiếng nói
nhục cảm táo bạo trong thơ Hồ Xuân H-ơng sau này” [10, tr.20]
Đoàn Thị Điểm qua dịch phẩm này đã khẳng định ý thức con ng-ời cá nhân trong nàng chinh phụ Tuy nó ch-a thể hiện một cách độc đáo, trực tiếp nh- trong thơ Hồ Xuân H-ơng sau này, nh-ng đây là tác phẩm mở đầu cho văn học trung đại Việt Nam giai đoạn từ nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế
kỷ XIX, đã đánh dấu một b-ớc ngoặt lớn với sự ra đời của con ng-ời cá nhân
Có thể nói chính cơ sở xã hội và đặc tr-ng giai đoạn văn học này đã tạo điều kiện cho con ng-ời cá nhân xuất hiện Bên cạnh sự vùng dậy đấu tranh vũ trang để dành cơm áo của nhân dân, đấu tranh giải phóng tình cảm con ng-ời
là vấn đề hàng đầu để đ-ợc tự do yêu đ-ơng, đ-ợc thể hiện con ng-ời trần tục với những bản năng vốn có Chính vì thế mà nàng chinh phụ vì xa chồng, sống trong cô đơn càng thấm thía những đòi hỏi và nhu cầu hạnh phúc ái ân vợ chồng, vì khát khao đó mà nàng trông ngóng chồng:
Trang 29nàng mơ cảnh chồng trở về thật da diết:
Chữ đồng h-u bia để nghìn đông Ơn trên tử ấm thê phong
“Đọng hưu” là cùng chung vui, chung lo việc n-ớc, “tụ ấm” là con đ-ợc h-ởng chức t-ớc, lợi lộc của vua vì cha có công “Thê phong” là vợ chồng
đ-ợc phong tặng, đ-ợc ban hàm vinh dự vì chồng có chức t-ớc cao Nàng ao -ớc cho các con và cho bổn phận làm vợ của mình
Nh- vậy, ý thức nữ quyền ở đây là ý thức con ng-ời cá nhân của ng-ời phụ nữ Qua hình ảnh nàng chinh phụ, Đoàn Thị Điểm tố cáo chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã c-ớp đoạt hạnh phúc lứa đôi, để đằng sau đó là nỗi khát khao ái ân cháy bỏng với những đòi hỏi trần tục nhất Bản dịch của bà đã làm ng-ời ta chú ý hơn so với bản Hán văn của Đặng Trần Côn Bà cũng là một phụ nữ, cũng có hoàn cảnh giống nàng chinh phụ nên hơn ai hết bà hiểu tâm t- của mình, của giới mình và bà ý thức đ-ợc những nhu cầu cá nhân Đó
là đóng góp lớn của Đoàn Thị Điểm trong việc khẳng định ý thức con ng-ời cá nhân Nh-ng ý thức nữ quyền càng về sau càng đ-ợc thể hiện rõ ràng, công khai, nhất là trong thơ văn của các tác giả nữ, tiêu biểu nhất là nữ sĩ Hồ Xuân H-ơng - một hiện t-ợng độc đáo của văn học Việt Nam
2.3 Hồ Xuân H-ơng và những bài thơ Nôm nổi bật ý thức về quyền bình
đẳng của ng-ời phụ nữ
Tiểu sử về Hồ Xuân H-ơng và tác phẩm của bà đang là một nghi án Tr-ớc kia các nhà nghiên cứu cho rằng: bà sống và sáng tác vào nửa cuối thế
kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Bà thông minh, nh-ng không đ-ợc học nhiều,
Trang 3029
cuộc đời riêng lại gặp nhiều ngang trái, hai lần lấy chồng nh-ng đều làm vợ lẽ
và hai lần làm thơ khóc chồng Nữ sĩ họ Hồ nổi tiếng với những sáng tác thơ
bằng chữ Nôm, đ-ợc mệnh danh “B¯ chủa thơ Nôm” (Xuân Diệu) trong đó tập thơ Xuân H-ơng thi tập có nhiều ý kiến khi bàn về nội dung của nó Có
ng-ời cho nó là “thi trung hừu quự” (trong thơ có quỷ - Tản Đà), có ng-ời lại cho đõ l¯ thơ “dâm”, nữ sĩ là “thiên t¯i hiễu dâm” Ng-ợc lại, có ng-ời coi nữ
sĩ là “nh¯ đ³i tư tường, đ³i c²ch m³ng” (Hoa Bằng)… [15, tr.162]
Sự hấp dẫn đầu tiên của Xuân H-ơng thi tập là thơ của một ng-ời phụ nữ
viết về giới mình d-ới thời phong kiến Đây là tập thơ có những nét độc đáo và
đặc sắc về nội dung và nghệ thuật Thơ bà vừa có những khúc tình ca réo rắt,
não nuột về thân phận hẩm hiu của ng-ời phụ nữ (Mời trầu, Bánh trôi n-ớc,
Tự tình …); vừa là vũ khí để chống lại, đả kích trật tự xã hội phong kiến mục
ruỗng, thối nát; vừa qua đó lấy những hình mẫu con ng-ời lí t-ởng của Nho giáo, của xã hội phong kiến làm nền tảng để tôn vinh vẻ đẹp tự nhiên và bản năng trần tục của ng-ời phụ nữ Bà gửi tiếng nói của mình qua những vần thơ Nôm với khát khao đòi quyền hạnh phúc cho mình, cho giới mình trong xã hội phụ quyền
So với tiếng nói về ý thức nữ quyền ở ph-ơng Tây, thì Hồ Xuân H-ơng đã
đi tr-ớc phong trào đó hàng trăm năm Nh-ng bà còn oanh liệt hơn các nữ l-u ph-ơng Tây là vì bà đã “đơn thương đốc mã” đối đầu với một xã hội phong kiến đầy rẫy những nhà Nho mang nặng t- t-ởng Nho giáo (Tam c-ơng ngũ th-ơng; Tam tòng tứ đức …) rất bất lợi cho ng-ời phụ nữ Nữ sĩ đã trở thành một hiện t-ợng kỳ diệu của văn học Việt Nam
2.3.1 Hình t-ợng ng-ời phụ nữ trong thơ Hồ Xuân H-ơng
Trong văn hóc Viết Nam trung đ³i giai đo³n “nụa cuỗi thễ kự XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, có một ng-ời con gái đã xắn quần lội xuống n-ớc, lấy chân gạt những lá cây trên mặt n-ớc để dán chút trời xanh chiếu vào dòng
n-ớc âm u” (Nguyễn Đức Bính, Ng-ời cổ nguyệt, Tạp chí văn học 1962)
Ng-ời con gái đó chính là nữ sĩ Hồ Xuân H-ơng, một ng-ời khao khát tình
Trang 3130
yêu, hạnh phúc, lên tiếng đòi quyền sống tự do cho thân phận ng-ời phụ nữ nói chung và bản thân bà nói riêng
Chính hoàn cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII, XIX đã tạo nên cuộc
đời riêng cho ng-ời phụ nữ Có khi họ là con ng-ời quý tộc phong kiến nh-
nàng chinh phụ trong Chinh phụ ngâm; trong Ai t- vãn của Lê Ngọc Hân,
hoặc là những ng-ời bình dân với số phận hẩm hiu nh- trong thơ Hồ Xuân
H-ơng “Cõ thề nõi, ngo¯i văn hóc dân gian, Họ Xuân Hương l¯ nh¯ thơ đầu
tiên trong lịch sử văn học dân tộc đã đem đến cho thơ văn tiếng nói của những ng-ời phụ nữ ấy: tiếng than và những tiếng thét, những tiếng căm hờn và
những tiếng châm biếm sâu cay” [13, tr.275]
Để làm nổi bật ng-ời phụ nữ trong thơ, nữ sĩ họ Hồ đã xây dựng hình t-ợng nhân vật nam nh- là một thủ pháp nghệ thuật, làm “đòn bẩy” tôn vinh
vẻ đẹp, đặc biệt qua đó bà thể hiện rõ cá tính sáng tạo của mình, lên tiếng đòi quyền lợi cho mình, giới mình với những đòi hỏi, những yêu cầu và khát vọng
đầy nhân tính Cụ thể là hình t-ợng nho sĩ - tầng lớp trí thức cũng không thể c-ỡng lại bản chất trần tục trong con ng-ời mình tr-ớc vẻ đẹp của ng-ời thiếu nữ:
Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng L-ợc trúc biếng cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống d-ới n-ơng long
Đôi gò Bồng Đảo s-ơng còn ngậm Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông
Trang 3231
tranh khoả thân truyền thần sinh động” “Văn ho² mặc cùa phương Đông xưa
có mục đích tr-ớc hết là che kín thân thể Cái yếm đào con gái vốn đã không che đ-ợc nhiều nhặn gì, lại còn bị thu về vị trí khiêm tốn nhất để cái tự nhiên trình diện và lên ngôi Ng-ời x-a đúc kết “nam tu nừ nhð”, dấu hiện điển hình của nam giới là bộ râu, còn ở nữ giới là cái “nương long” n¯y” [27, tr.157] V¯
“đôi gò Bọng đảo”, “mốt l³ch Đ¯o nguyên” - của riêng ng-ời con gái - cũng
làm chàng quân tử say đắm, muốn khám phá và chiếm lĩnh để thoả mãn đời
sống bản năng, khát vọng trần tục:
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt Đi thời cũng dở, ở không xong
Tr-ớc đây, ng-ời ta cho hành động và thái độ của chàng quân tử là đáng lên án, bởi theo quan niệm Nho giáo nam nhi phải có chí học hành, thi cử đậu
đạt, lập công danh và phải có lí t-ởng… chứ không phải là đi “dòm trộm”, vì
“chàng say, chàng đắm l¯ quân tử” (Nguyễn Trãi - Bảo kính cảnh giới, bài
52) Nh-ng với Hồ Xuân H-ơng, bà không nói xấu, không đề cao, biểu d-ơng hay tán đồng hành động của ng-ời quân tử, mà bà muốn nói đến sự khám phá cái đẹp Đặt trong chỉnh thể bài thơ, ng-ời thiếu nữ mới là hình t-ợng trung tâm với vẻ đẹp sôi nổi sức xuân, căng tràn sự sống Để làm nổi bật vẻ đẹp của ng-ời phụ nữ, Xuân H-ơng khám phá nội tâm chàng nhằm phát hiện bản chất con ng-ời trần tục Quân tử càng khó xử, càng mâu thuẫn, “dợng d´ng” thì vẻ
đẹp ng-ời thiếu nữ càng hấp dẫn, càng cuốn hút, càng đắm say ngây ngất lòng chàng Vì thế, chàng quân tử lâm vào tình trạng mâu thuẫn giữa “đ³o” và
“đội”, giữa con ng-ời phong kiến chính thống Nho giáo với con ng-ời bản
năng khát khao trần tục “Dợng d´ng” là từ láy chỉ hành động vụng về nh-ng
tinh tế, biểu hiện sự ngập ngừng, ham muốn của chàng Tiếp theo là động tác
đi qua hai cấp độ: “đi chàng dửt” biểu hiện hành động bên ngoài và “đi thệ
cũng dở ở không xong” biểu hiện một kiểu đi trừu t-ợng, một kiểu đi tâm lí, không xác định ph-ơng h-ớng Tr-ớc một vẻ đẹp nh- vậy mà cánh đàn ông
Trang 33Hay ngay cả những bậc chí tôn vua chúa:
Hồng hồng má phấn duyên vì cậy Chúa dấu vua yêu một cái này
(Vịnh cái quạt II)
Những “đấng m¯y râu” kia làm sao có thể c-ỡng nổi “con ngưội thữc” của mình tr-ớc vẻ đẹp đầy cuốn hút, t-ơi mát của tuổi trẻ, trắng trong của cái cô gái đang xoan:
Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh Đôi lứa nh- in tờ giấy trắng Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh…
(Đề tranh tố nữ)
ở đây chúng ta chỉ xét đến khía cạnh con ng-ời phàm tục tr-ớc vẻ đẹp rất
đỗi tự nhiên nên hành động của những khác giới ham muốn nó cũng là lẽ th-ờng tình, chứ ch-a xét tới sự phê phán những hà khắc của xã hội đè nén
lòng ham muốn trần tục của con ng-ời, cũng không vạch trần thói “ph¯m phu
tục tử” của tầng lớp ng-ời chìm đắm trong sắc dục khi c-ơng th-ờng phong kiễn bị “lờ loẽt” th°m h³i
Tìm hiểu 50 bài thơ Nôm Đ-ờng luật của Hồ Xuân H-ơng ta thấy có 12 bài viết về đề tài ng-ời phụ nữ (chiếm 22%) gồm thơ vịnh ng-ời, vịnh vật, vịnh cảnh Có thể nói rằng, bà đã xây dựng hình t-ợng ng-ời phụ nữ với đầy
đủ mọi khía cạnh, từ vẻ đẹp hình thể đến vẻ đẹp tâm hồn, đến những đau khổ, tủi nhục, những bất bình mà họ phải gánh chịu trong xã hội phong kiến
Trang 3433
Nh-ng một độc đáo của thơ bà là dùng nó nh- thứ vũ khí vừa tôn vinh, ngợi
ca ng-ời phụ nữ, vừa lên tiếng đòi quyền bình đẳng thể hiện ý thức nữ quyền trong một trật tự xã hội bất công Và khi đi vào nỗi khổ của mình, giới mình,
bà không nói đến toàn bộ, mà chỉ nói đến nỗi đau khổ riêng có tính chất giới tính, xoáy sâu vào những bi kịch chua chát bị xã hội vùi lấp, quên lãng nh- cảnh lấy chồng chung, làm lẽ, dở dang, chết chồng, không chồng mà chửa, bị
áp bức, bị coi th-ờng Nh-ng đằng sau đó là lời tuyên bố công khai chống nam quyền, thần quyền và đề cao khát vọng tình yêu, hạnh phúc, khát vọng bình đẳng cho những ng-ời phụ nữ Họ là hiện thân cái đẹp, nên Hồ Xuân H-ơng khẳng định vẻ đẹp đó là nhất bảng, là giá trị thẩm mĩ Bên cạnh đó, họ còn hiện thân của nỗi khổ có tính chất giới tính Trong sách Nho mà Xuân H-ơng từng học quy định “Đ¯n b¯ có nghĩa Tam tòng, chứ không có đạo nguyên chế; cho nên ch-a xuất giá thì theo cha, đã xuất giá thì theo chồng,
chồng chết thì theo con” (Nghi lễ) Trong thiên Hàm văn gia, sách Lễ vĩ lại
nêu lên c²i thuyễt “Tam cương”: “vua l¯m mỗi giẹng cho tôi, cha l¯m mối
giềng cho con, chồng làm mối giềng cho vợ” [20, tr.69] và trai thì “năm thê bảy thiếp”, nh-ng đàn bà, con gái thì phải “chính chuyên mốt chọng” Những
luật lệ phong kiến hà khắc này đã đè nén lên ng-ời phụ nữ, khiến họ trở thành một thứ sở hữu của đàn ông, bị t-ớc mọi quyền lợi:
…Năm thì m-ời hoạ hay chăng chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi xôi lại hẩm
Cầm bằng làm m-ớn, m-ớn không công…
(Làm lẽ)
Phận làm lẽ của ng-ời phụ nữ chẳng qua là một thứ làm m-ớn, nh-ng lại
“mưỡn không công” Và có khi bị coi nh- “giÍ chợi chân” không có sự tôn
trọng của kẻ khác:
Vợ lẽ nh- giẻ chùi chân Chùi rồi lại vứt ra sân