Với hi vọng sẽ góp những ý kiến của bản thân giúp giáo viên và học sinh nhất là giáo viên dạy lớp 10 và học sinh lớp 10 đang học ch-ơng trình Ngữ văn mới có những cơ sở để tiến hành đọc
Trang 22
Mở đầu
I Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI – thế kỷ của nền kinh tế tri thức, của đỉnh cao trí tuệ, của
sự bùng nổ thông tin cùng với b-ớc đi vũ bão của khoa học kỉ thuật đang ngày càng tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến đời sống vật chất, tinh thần của loài ng-ời Tr-ớc những biến động lớn của thời đại bao nhiêu vấn đề giáo dục
đ-ợc đặt ra Những vấn đề ấy không những chỉ là mối quan tâm của nhà giáo, nhà tr-ờng mà là mối quan tâm của toàn xã hội Trong đó một vấn đề đ-ợc
đặc biệt chú ý là vấn đề ph-ơng pháp dạy học các bộ môn trong nhà tr-ờng
Từ tr-ớc đến nay, ng-ời ta nói nhiều đến việc đổi mới ph-ơng pháp dạy học văn Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu khoa học, nhà giáo dục đã có nhiều tìm tòi về ph-ơng diện lý thuyết cũng nh- thực hành ứng dụng và đã thu đ-ợc những kết quả thiết thực Song, bài toán về ph-ơng pháp cũng vẫn còn nhiều cách giải khác nhau ch-a đi đến đáp số cuối cùng, còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung Một trong những khoảng trống ấy là vấn đề đọc - hiểu văn bản trữ tình trung đại trong nhà tr-ờng phổ thông hiện nay
Thời trung đại so với ngày nay có khoảng cách rất xa về mặt thời gian Vì vậy văn học trung đại sẽ có chức năng, nội dung và hệ thống thi pháp riêng Việc nghiên cứu những đặc tr-ng đó từ tr-ớc đến nay là một vấn đề tốn nhiều thời gian, khó khăn, hóc búa đối với nhiều nhà nghiên cứu văn học Trong nhà tr-ờng phổ thông, văn học trung đại giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, trong đó chiếm số l-ợng nhiều nhất là các tác phẩm trữ tình Tuy nhiên học sinh THPT với vốn kiến thức có hạn, khả năng tiếp thu vấn đề ch-a hoàn thiện tất yếu sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận với các văn bản này trong ch-ơng trình
Trong những năm gần đây, thực hiện mục tiêu đổi mới nâng cao chất
l-ợng giáo dục phổ thông, bộ sách giáo khoa Ngữ văn 10 và 11 (bao gồm
ch-ơng trình chuẩn và nâng cao) đã đ-ợc thiết kế biên soạn dạy thí điểm và
Trang 33
triển khai dạy học đại trà trên toàn quốc vào năm 2006 – 2007 Với mục tiêu h-ớng dẫn học sinh đọc – hiểu các văn bản văn học theo mục tiêu loại thể, hệ thống các văn bản văn học trung đại đ-ợc đ-a vào ch-ơng trình có nhiều thay
đối với bộ sách Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất năm 2000) làm cho giáo viên
học sinh lúng túng, b-ớc đầu còn nhiều bỡ ngỡ
Trong ch-ơng trình, những văn bản trung đại đ-ợc đ-a vào t-ơng đối nhiều, trong dó văn bản trữ tình chiếm -u thế Nh-ng hiện nay việc giảng dạy chúng trong nhà tr-ờng còn gặp nhiều khó khăn Cả giáo viên và học sinh rất khó chiếm lĩnh nó một cách trọn vẹn, vì thế học sinh chán nản thậm chí không thích, ch-a thật hứng thú với những giờ học này
Là giáo viên dạy văn trong t-ơng lai, chúng tôi ý thức đ-ợc tính chất khó khăn, phức tạp của hoạt động giảng dạy bộ môn văn trong nhà tr-ờng nói chung và đọc – hiểu văn bản trữ tình trong ch-ơng trình lớp 10 nói riêng Từ
đó chúng tôi nổ lực cố gắng trong việc tìm tòi và tích lũy cho mình một nguồn kiến thức phong phú vững chắc để h-ớng dẫn học sinh khám phá văn bản và chiếm lĩnh nó
Xuất phát từ những lí do trên, thúc đẩy chúng tôi nghiên cứu đề tài
H-ớng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản trữ tình thời trung đại trong ch-ơng trình Ngữ văn 10 THPT Với hi vọng sẽ góp những ý kiến của bản
thân giúp giáo viên và học sinh (nhất là giáo viên dạy lớp 10 và học sinh lớp
10 đang học ch-ơng trình Ngữ văn mới) có những cơ sở để tiến hành đọc – hiểu các văn bản trữ tình trung đại một cách hiệu quả nhất Từ đó góp phần nâng cao chất l-ợng dạy học tác phẩm văn ch-ơng trong nhà tr-ờng phổ thông
hiện nay
II Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đọc – hiểu văn bản văn học nói chung và đọc – hiểu văn bản trữ tình trung đại nói riêng từ tr-ớc đến nay không còn là vấn đề mới mẻ, mà đã đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Họ đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất trong các công trình khoa học của mình Đáng chú ý là những công trình tiêu biểu
nh-: Những thế giới nghệ thuật thơ của tác giả Trần Đình Sử tuy ch-a đặt
Trang 44
vấn đề nghiên cứu ph-ơng pháp đọc – hiểu văn bản văn học cụ thể nh-ng công trình đã khảo sát khá công phu đặc điểm của các loại hình thơ xuất hiện trong lịch sử văn học và đã đ-a ra đ-ợc những kết luận về các loại hình thơ khá toàn diện giúp ích lớn cho việc tìm hiểu về thơ nói riêng về tác phẩm trữ
tình nói chung Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam của Trần
Đình Sử tuy là công trình nghiên cứu không thuộc lĩnh vực ph-ơng pháp dạy học văn nh-ng đã cung cấp những kiến thức, cung cấp một cách nhìn toàn vẹn khái quát về văn học trung đại trong đó có thể loại trữ tình
Ngoài ra còn có Giảng văn chinh phụ ngâm của Đặng Thai Mai tuy viết
về một tác phẩm văn học cụ thể là Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn song
tác giả đã có nhiều ý kiến sâu sắc thiết thực cho ng-ời giáo viên trong việc giảng dạy văn học cổ Chẳng hạn tác giả đã đề xuất giảng dạy văn học cổ phải dựng lại hoàn cảnh lịch sử, giải thích điển tích điển cố, hình ảnh t-ợng tr-ng
… Những biện pháp mà ông đ-a ra có tính chất trọng yếu, khái quát nhất cho
việc dạy học mọi văn bản trung đại Tiếp đó công trình nghiên cứu Dạy học văn bản Ngữ văn THCS theo đặc tr-ng ph-ơng thức biểu đạt của Trần Đình
Chung đã nghiên cứu rất kĩ và đ-a ra những ph-ơng pháp dạy học cụ thể cho các văn bản của từng giai đoạn văn học: văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại theo đặc tr-ng ph-ơng thức biểu đạt, đáp ứng dạy học theo h-ớng tích hợp và tích cực Đặc biệt có sự góp mặt của các ph-ơng pháp dạy học mới nh- : ph-ơng pháp gợi mở, ph-ơng pháp nêu vấn đề, ph-ơng pháp tổ chức nhóm … Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu chi dừng lại ở những văn bản văn học đ-ợc đ-a vào trong ch-ơng trình THCS mà thôi
Đi sâu vào lĩnh vực ph-ơng pháp có Ph-ơng pháp dạy học văn của tác
giả Phan Trọng Luận do mục đích nghiên cứu giáo trình chỉ đ-a ra những vấn
đề lý thuyết mà ch-a đ-a ra đ-ợc những biện pháp cụ thể, nhất là đối với giai
đoạn văn học trung đại Một số công trình nghiên cứu nh- Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể của các tác giả Trần Thanh Đạm, Đàm Gia Cẩn, Phan Sĩ Tấn, Huỳnh Nh- Mai, Huỳnh Lý và Ph-ơng pháp dạy học tác phẩm văn ch-ơng (theo loại thể) của tác giả Nguyễn Viết Chữ … đã đ-a ra ph-ơng
Trang 55
pháp dạy học cụ thể cho từng thể loại văn học, do đó các công trình trên đã có những đóng góp lớn cho việc dạy học văn trong nhà tr-ờng THPT Tuy nhiên các nhà nghiên cứu d-ờng nh- ch-a có sự phân biệt giữa giảng dạy các tác phẩm văn học dân gian, các tác phẩm trung đại và các tác phẩm văn học hiện đại Những công trình này hầu nh- chỉ s- dụng một ph-ơng pháp dạy học chung cho các tác phẩm văn học của tất cả các thời kì và những tác phẩm nếu cùng thuộc một ph-ơng thức biểu đạt (tự sự, trữ tình, kịch) sẽ đ-ợc tổ chức dạy theo một ph-ơng pháp chung Mặc dù, các tác giả đã đ-a ra ph-ơng pháp dạy học cụ thể cho từng thể loại văn học nh-ng ph-ơng pháp dạy học mà họ đề xuất là những ph-ơng pháp truyền thống nh- phân tích, gi°ng bệnh m¯ chưa cõ “sữ gõp mặt” cùa c²c phương pháp dạy học hiện đại nh- nêu vấn đề hay tổ chức nhóm …
Gần đây nhất, trong cuốn Kỷ yếu hội thảo khoa học về vấn đề dạy học Ngữ văn ở tr-ờng phổ thông theo SGK mới (tổng hợp các bài viết về vấn đề dạy học Ngữ
văn theo SGK mới trong hội thảo khoa học tại Nghệ An) đã có những bài viết đề cập
đến vấn đề dạy học tác phẩm văn học trong nhà tr-ờng phổ thông theo tinh thần đổi mới Những bài viết trong cuốn kỉ yếu này đã vận dụng rất nhiều ph-ơng pháp dạy học hiện đại để tổ chức cho học sinh đọc – hiểu tác phẩm văn học theo đặc tr-ng loại thể Tuy nhiên do giới hạn công trình (chỉ dừng lại ở một bài nghiên cứu) các bài viết chủ yếu đi vào h-ớng dẫn học sinh đọc – hiểu những văn bản văn học cụ thể trong SGK mà ch-a có cái nhìn hệ thống
Nh- vậy, vấn đề dạy học văn bản văn học trung đại đã có lịch sử nghiên cứu khá lâu dài Tuy nhiên do mục đích yêu cầu của các vấn đề mình nghiên cứu mà các tác giả trên mới chỉ dừng lại ở những vấn đề nhất định Việc nghiên cứu tìm tòi các biện pháp nâng cao hiệu quả giờ đọc – hiểu văn bản văn học ở các tài liệu đã đ-ợc đề cập đến ở những ph-ơng diện khác nhau Nh-ng có thể nói rằng, ch-a có công trình nào trực tiếp nghiên cứu và đề xuất ph-ơng pháp h-ớng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản trữ tình trung đại trong
ch-ơng trình Ngữ văn 10 THPT nh- h-ớng nghiên cứu của đề tài này Với đề
tài này, do khả năng còn nhiều hạn chế, chúng tôi trên cơ sở tiếp thu nâng cao những giải pháp cách thức cụ thể có tính chất thiết thực để góp phần nâng cao
Trang 66
chất l-ợng hiệu quả của giờ đọc – hiểu văn bản nói chung và đọc – hiểu văn bản trữ tình trung đại nói riêng
III Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu đặc tr-ng của tác phẩm trữ tình và một số thể thuộc loại trữ tình của văn học thời trung đại
- So sánh sự tích hợp trong ch-ơng trình SGK Ngữ văn 10 hiện hành với sách Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất) và đề xuất những giải pháp h-ớng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản trữ tình trung đại trong SGK Ngữ văn 10 THPT
- Thiết kế giáo án thể nghiệm
IV.Phạm vi và ph-ơng pháp nghiên cứu
1 Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu văn bản trữ tình trung đại Việt Nam
đ-ợc đ-a vào ch-ơng trình dạy học trong SGK Ngữ văn 10 THPT
V Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của khóa luận gồm 3 ch-ơng
Ch-ơng 1: Văn bản trữ tình thời trung đại trong ch-ơng trình và sách giáo khoa Ngữ văn 10
Ch-ơng 2: Những giải pháp h-ớng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản trữ
tình thời trung đại trong ch-ơng trình Ngữ văn 10 THPT
Ch-ơng 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm
Trang 77
Ch-ơng 1 Văn bản trữ tình thời trung đại trong ch-ơng trình
mà kể, hoặc là giới thiệu tất cả các nhân vật nh- là ng-ời đang hành động và ho³t đống” Tú sữ phân loại của nhà triết học cổ đại, đến nay các nhà lí luận văn học vẫn tiếp tục nghiên cứu và về cơ bản họ cũng chia văn học thành ba loại : tự sự, trữ tình và kịch Nh- vậy trữ tình là một trong ba ph-ơng thức phản
ánh đời sống của văn học, tồn tại bên cạnh tự sự và kịch Nếu tự sự là loại tác phẩm t²i hiến trữc tiễp hiến thữc kh²ch quan như “c²i gệ t²ch b³ch đỗi vỡi ngưội nghế sĩ
” kịch tữ b°n thân nõ “không cần sữ dẫn dãt cùa t²c gi°” mà ng-ời xem có thể hiểu
ý đồ nghệ thuật của tác giả thông qua hành động, ngôn ngữ, xung đột thì trữ tình là
sự bộc lộ một cách trực tiếp tình cảm của nhà văn, nhà thơ
Nếu hiểu trữ tình là một trong ba ph-ơng thức phản ánh đời sống của văn học, thì tác phẩm trữ tình nhằm chỉ một loại văn học chủ yếu sử dụng ph-ơng thức trữ tình để phản ánh cuộc sống và bộc lộ thái độ của ng-ời viết Ph-ơng thức trữ tình cũng tái hiện các hiện t-ợng đời sống nh- trực tiếp miêu tả phong cảnh thiên nhiên hoặc thuật lại ít nhiều sự kiện t-ơng đối liên tục Nh-ng sự tái hiện này không mang mục đích tự thân, mà tạo điều kiện để chủ thể bộc lộ những cảm xúc chiêm nghiệm, suy t-ởng của mình ở đây nguyên tắc chủ quan là nguyên tắc cơ bản trong việc chiếm lĩnh hiện thực là nhân tố cơ bản quy định những đặc điểm cốt yếu của tác phẩm trữ tình
Trang 88
Tác phẩm trữ tình trực tiếp thể hiện mạch cảm xúc, tâm t- tình cảm của chủ thể trữ tình, làm sống dậy thế giới nội tâm của con ng-ời Nói cách khác, những cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng đ-ợc trình bày trực tiếp làm thành nội dung chính của tác phẩm trữ tình Tuy nhiên khác với cảm xúc, suy nghĩ hằng ngày cảm xúc trữ tình đ-ợc ch-ng cất từ những gì tinh hoa cao quý thanh sạch nhất của tâm hồn nghệ sĩ Cảm xúc muốn thành thơ phải ở dạng cao trào hết sức mãnh liệt đã trở thành nỗi ám ảnh, day dứt khôn nguôi không viết ra
không đ-ợc Ví nh- Chinh phụ ngâm là tác phẩm tiêu biểu nhất của Đặng
Trần Côn đ-ợc viết ra là kết quả của bao ấp ủ, dồn nén, day dứt tr-ớc hiện thực xã hội: chiến tranh liên miên, nhân dân đói khổ cơ cực lầm than trong cảnh mẹ xa con, vợ lìa chồng, từ sự bất bình với chế độ phong kiến đã gây ra những cuộc chiến tranh phi nghĩa, từ sự đồng cảm xót th-ơng tr-ớc nỗi khổ
đau mất mát của con ng-ời, nhất là những ng-ời phụ nữ có chồng đi chinh chiến Tác giả viết nên khúc ngâm và gửi gắm nỗi lòng mình qua tâm sự của nhân vật trữ tình – ng-ời chinh phụ
Trong tác phẩm trữ tình, nhân vật trữ tình giữ một vị trí đặc biệt quan trọng vì nó là nguồn trực tiếp duy nhất của nội dung tác phẩm Hình t-ợng nhân vật trữ tình là ng-ời trực tiếp bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm Do đó nhân vật trữ tình th-ờng cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, cách cảm cách nghĩ của ng-ời viết mà không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể nh- nhân vật trong tác phẩm tự sự, kịch Tuy nhiên cần phân biệt với cái tôi trữ tình, cái tôi trữ tình là một phạm trù thẩm mĩ nhằm biểu thị tính chất độc đáo cá biệt của con ng-ời cá nhân, đánh dấu sự ý thức của con ng-ời về chính mình với t- cách là một cá thể khác ng-ời khác Tác phẩm trữ tình luôn mang lại quan niệm về một con ng-ời cá nhân rất cụ thể với một nỗi niềm riêng, tâm sự riêng Do vậy cái tôi trữ tình thống nhất nh-ng không đồng nhất với nhân vật trữ tình Chẳng hạn, hình t-ợng nhân vật trữ tình là ng-ời chinh phụ trong
chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn hay ng-ời cung nữ trong cung oán ngâm của
Nguyễn Gia Thiều Dù là nhân vật trữ tình x-ng danh hay nhập vai thì phẩm chất cá tính của chủ thể sáng tạo cũng để lại dấu ấn sâu sắc trong tác phẩm
Trang 99
Xúc động trữ tình bao giờ cũng mang thời hiện tại, bởi trực tiếp bày tỏ tình cảm con ng-ời là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình Ngay cả khi nói về quá khứ xúc động trữ tình vẫn thể hiện sống động nh- một quá trình đang diễn ra Nhờ thế mà những rung động của cá nhân ng-ời viết dễ dàng đ-ợc ng-ời đọc tiếp nhận thấu hiểu Những cảm xúc trong tác phẩm đã
đ-ợc tác giả nâng lên để đại diện cho cả một dân tộc, một thời đại, nó mang tính quảng đại và phổ quát vì luôn đi tìm sự đồng điệu, đồng cảm từ phía ng-ời tiếp nhận Điều này cho phép tác phẩm trữ tình thâm nhập vào những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con ng-ời nh- sống, chết, tình yêu, lí t-ởng, -ớc mơ, hi vọng … Đây là nhân tố tạo nên sức khái quát và ý nghĩa xã hội to lớn của tác phẩm trữ tình
Ngoài ra, ngôn ngữ trong tác phẩm trữ tình mang tính hàm xúc và biểu cảm cao Ngôn ngữ đ-ợc tổ chức một cách khác th-ờng để thể hiện đ-ợc các cung bậc sắc thái tinh tế của tình cảm, cảm xúc Sự hiệp vần phân dòng tạo nên nhịp điệu cho lời thơ, các từ ngữ hình ảnh đ-ợc điệp lại, cộng thêm sự phối hợp bằng trắc tạo nên sự ngân vang trầm bổng nâng lời thơ lên thành tiếng hát Hay các thủ pháp nghệ thuật nh- là ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, nói quá, hoán dụ… đ-ợc vận dụng nh- mài sắc thêm cảm giác của con ng-ời giúp ng-ời đọc thâm nhập thế giới nội tâm của chủ thể tác giả Tác phẩm trữ tình
có thể viết bằng thơ hoặc văn xuôi nh-ng thơ vẫn là hình thức tổ chức ngôn từ phù hợp nhất và ngôn ngữ thơ là tiêu biểu nhất cho ngôn ngữ tác phẩm trữ tình: giàu chất nhạc, chất họa, có tính biểu cảm cao…
Trong nghiên cứu văn học, ng-ời ta phân chia tác phẩm trữ tình theo nhiều cách dựa trên những tiêu chí khác nhau Nếu dựa cấu trúc ngôn từ để phân chia ta có thơ trữ tình và văn xuôi trữ tình Tr-ớc đây, trong văn học châu
Âu ng-ời ta chia tác phẩm trữ tình thành bi ca, tụng ca và thơ trào phúng Sau này dựa vào đối t-ợng tạo nên cảm xúc trữ tình các nhà nghiên cứu lại chia thành các thể: trữ tình phong cảnh, trữ tình triết lí, trữ tình công dân, trữ tình thế sự Tác phẩm trữ tình bao gồm ca dao trữ tình, thơ trữ tình, khúc ngâm, tùy bút, phú, văn tế, thơ văn xuôi….Trong đó thơ trữ tình là loại điển hình nhất
Trang 1010
của tác phẩm trữ tình Sự phân loại ấy cũng chỉ là t-ơng đối nh-ng đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc tìm hiểu cảm hứng chủ đạo, truyền thống nghệ thuật của tác phẩm và khuynh h-ớng sáng tạo của tác giả
1.1.2 Đặc tr-ng của tác phẩm trữ tình thời trung đại
Tác phẩm trữ tình thời trung đại là những sáng tác bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ ra đời vào thời trung đại (khoảng thời gian từ thế kỉ X
đến hết thế kỉ XIX) với nội dung bộc lộ tâm t-, giãi bày tình cảm suy nghĩ của thi nhân về thế giới, cuộc đời, con ng-ời và trực tiếp bày tỏ hoài bão, chí khí, ý nguyện của mình Các sáng tác trữ tình phần lớn đ-ợc làm trong các dịp tiễn tặng, họa thơ ng-ời khác, đề thơ kỷ niệm, tức cảnh, tức sự… Nghĩa là làm thơ theo đòi hỏi khêu gợi của ngoại cảnh Do vậy, qua những sáng tác ấy nhà thơ không quên nói lên cái chí của mình, thuật kể nỗi lòng mình, giải bày cảm
xúc tâm sự của bản thân Ví nh- bài thơ Quy hứng (Hứng trở về - Nguyễn
Trung Ngạn) ghi lại cảm xúc của nhà thơ trên đ-ờng đi sứ chợt chạnh lòng nhớ quê, nhớ n-ớc muốn trở về Hoặc Đỗ Pháp Thuận khi đ-ợc vua hỏi về vận n-ớc – một vấn đề hệ trọng bậc nhất trong đời sống chính trị quốc gia vị, thiền s- đã trả lời bằng một bài thơ súc tích, qua đó thể hiện niềm tin của tác giả vào vận n-ớc t-ơi sáng, bền lâu và mong muốn có đ-ờng lối chính trị khoan gi°n tỗt đép, “chỗn chỗn dửt đao binh” nhân dân no đù
Những sáng tác trữ tình thời trung đại là sản phẩm của những tác giả trong một xã hội đã là quá khứ, sáng tạo theo truyền thống thẩm mĩ đầy những -ớc lệ t-ợng tr-ng Những tác phẩm ấy chịu sự chi phối của điều kiện lịch sử xã hội và hệ t- t-ởng của thời đại phong kiến nên có kiểu t- duy nghệ thuật
độc đáo, hệ thống thi pháp đặc thù với những đặc tr-ng riêng khác biệt so với các tác phẩm trữ tình ở giai đoạn văn học tr-ớc và sau nó
Nội dung chủ yếu của tác phẩm trữ tình là tâm trạng, cảm xúc của nghệ
sĩ đ-ợc trực tiếp thể hiện trong đó Riêng đối với các tác giả thời trung đại thì làm thơ đối với họ là m-ợn việc để ký thác tâm sự, bày tỏ nỗi lòng nhân thế để
tỏ chí, thể hiện lí t-ởng của mình Nguyễn Du khi đọc tập thơ của nàng Tiểu
Thanh đã xúc động mà viết nên Độc Tiểu Thanh kí, bài thơ là tiếng nói xót
Trang 1111
th-ơng cho thân phận của nàng Tiểu Thanh từ đó khái quát nên niềm cảm thông với kiếp ng-ời tài hoa bạc mệnh và cũng là tiếng khóc th-ơng cho chính
thân phận mình Nguyễn Trãi qua việc miêu tả Cảnh ngày hè với cảnh sắc
thiên nhiên dâng tr¯o sửc sỗng, cuốc sỗng “lao xao”nhốn nhịp cùa con ngưội
ông muốn bày tỏ khát vọng đ-ợc thấy cảnh dân chúng nơi nơi thái bình, đây chính là nỗi lòng muốn đ-ợc sẻ chia của một ẩn sĩ nặng lòng vì n-ớc, vì dân Nhân vật trung tâm trong các sáng tác trữ tình chính là nhân vật trữ tình – con ng-ời mang lời nói, trực tiếp bộc lộ nỗi niềm, ng-ời có nhu cầu bày tỏ cảm xúc và nhu cầu đ-ợc ng-ời khác chia sẻ cảm xúc đó Đó là một ng-ời con
xa xứ chạnh lòng nhớ quê nhớ n-ớc da diết mặc dù đang đ-ợc tiếp đón hậu
đãi vui vẻ nồng nhiệt ở xứ ng-ời:
Giang nam tuy lạc bất nh- quy
(Dẫu vui đất khách chẳng bằng về)
(Quy hứng- Nguyễn Trung Ngạn)
Tâm trạng này của nhân vật trữ tình chính là nỗi niềm tâm sự của nhà thơ họ Nguyễn
Nhân vật trữ tình trong tác phẩm trữ tình thời trung đại là một ng-ời tự tôn, tự tại, tự túc, tự trọng; th-ờng xuất hiện d-ới dạng chủ thể vừa d-ới dạng khách thể Do đó trong các sáng tác trữ tình, tác giả th-ờng tự gọi mình bằng nhừng danh tú như l¯ “kh²ch”, “thi nhân”, “ngưội lừ thử”, “nam nhi”…
Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết vũ hầu
(Thuật hoài – phạm Ngũ Lão)
Đặc biết, nhân vật trừ tệnh n´m trong sữ “thiên nhân hớp nhất”, thiên nhiên với con ng-ời là một thể thống nhất hữu cơ, nhìn vào thiên nhiên con ng-ời thấy bóng dáng mình trong đó Con ng-ời đặt trong t-ơng quan với vũ trụ Tất cả các yếu tố: cảnh, tình, tâm, vật bị qui định bởi quan niệm con ng-ời
vũ trụ thời ấy Con ng-ời vẫn sống trong gia đình, trong xã hội nh-ng luôn cảm thấy sự tồn tại đích thực của mình là trong vũ trụ, đối diện với vũ trụ, lí t-ởng của họ là sự sống tự do vĩnh hằng của tự nhiên Chẳng hạn, những bài
Trang 1212
thơ thuốc lo³i “tà chí” như Nhàn của nguyễn Bỉnh Khiêm nêu lên triết lí
“nh¯n” gãn vỡi triễt lí L±o Trang, lí tường cùa trang nam nhi thội đ³i nh¯ Trần
– thội đ³i cùa “h¯o khí Đông A” trong Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão… ở
đây, các nhà thơ th-ờng thích phát biểu về những chân lí vĩnh cửu về cái đạo, cái đức lớn bao trùm vũ trụ
Về ngôn ngữ, hàm súc và biểu cảm là đặc tính tiêu biểu của ngôn ngữ trong các sáng tác trữ tình trung đại Do bị giới hạn bởi số l-ợng câu chữ, bị qui định bởi niêm, luật, vận, đối nên ngôn từ trong thơ đạt đến độ tinh luyện cô đúc trong từng câu chữ Chỉ với 4 câu thơ thất ngôn 28 chữ nh- bài thơ
Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão đã cho ta thấy đ-ợc lí t-ởng của trang nam nhi
thời Trần với khát vọng lập công trạng l-u danh sử sách, lí t-ởng ấy gắn liền
với lí t-ởng bảo vệ Tổ Quốc Hay Quốc tộ – một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt
gồm 20 chữ thể hiện niềm tin vào vận n-ớc t-ơi sáng với đ-ờng lối chính trị
“vô vi”, qua đõ thấy đước nhân c²ch t¯i năng cùa thiẹn sư Đổ Ph²p Thuận, cũng thấy đ-ợc truyền thống tốt đẹp của những trí thức tu hành Việt Nam chân chính
Những sáng tác trữ tình thời trung đại phong phú đa dạng về thể loại, trong thơ chữ Hán có các hình thức vay m-ợn nh- thơ thất luật, tuyệt cú, ngũ ngôn, cổ phong, ca hành … còn thơ chữ Nôm với các hình thức thể loại đ-ợc hình thành chín muồi nh- thơ Nôm Đ-ờng luật, ngâm khúc, hát nói … Việc phân chia những tác phẩm trữ tình thời trung đại thành những thể loại cụ thể, cũng nh- việc xác định ranh giới các tiểu loại của nó còn là một vấn đề khó khăn và phức tạp làm đau đầu nhiều nhà nghiên cứu văn học Vì vậy, vấn đề
đặt ra cho chúng tôi trong khóa luận này là với vai trò ng-ời giáo viên tổ chức, h-ớng dẫn cho học sinh lớp 10 THPT đọc – hiểu các văn bản trữ tình trung
đại đ-ợc đ-a vào dạy học trong ch-ơng trình Cho nên nhiệm vụ đầu tiên là ph°i chì ra đước nhừng đặc trưng cơ b°n cùa c²c thề lo³i trừ tệnh trung đ³i “cõ
mặt” trong chương trệnh SGK Ngữ văn 10 Theo khảo sát của chúng tôi SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất năm 2000) và SGK Ngữ văn 10 hiện hành đều
đ-a vào ch-ơng trình dạy học các tác phẩm hoặc đoạn trích thuộc thể loại sau
Trang 13 Thể thơ thất ngôn bát cú Đ-ờng luật
Thất ngôn bát cú là thể thơ có nguồn gốc từ Trung Quốc, đ-ợc coi là dạng cơ bản nhất của thơ Đ-ờng luật (thơ cận thể) Thể thơ đ-ợc sử dụng phổ biến này có các luật nh- sau:
+ Về số l-ợng câu chữ : mỗi bài 8 câu, mỗi câu 7 chữ, cả bài 56 chữ + Về bố cục: bài thất ngôn bát cú gồm 4 phần đề – thực - luận – kết
“trong đẹ câu thử nhất l¯ ph² đẹ, câu thử 2 l¯ thúa đẹ, ph² đẹ mờ ý cùa b¯i thơ, thừa đề tiếp ý của phá đề để chuyển vào thân bài Phần thực gồm câu thứ 3 và câu thứ 4, còn gọi là thích thực hay cập trạng, giải thích rõ ý của đề bài Luận gồm câu thứ 5 và câu thứ 6 phát triển rộng ý của đề bài Kết gồm 2 câu cuối kết thúc ý của toàn bài [8;tr.313]
+ Về luật bằng trắc toàn bài chia l¯m 4 “liên”, mổi liên gọm 2 câu kẹ nhau Trong mỗi liên, bằng trắc 2 câu đối nhau chữ thứ 2 , 4, 6 của câu 2 lên trên và chữ thứ 2, 4, 6 của câu 1 liên d-ới bằng trắc phải giống nhau tức là
“niêm” (dính vỡi nhau) câu 1 v¯ câu 8 cợng niêm vỡi nhau
ở mỗi câu đều có sự luân phiên giữa các nhịp thơ (mỗi nhịp th-ờng do
2 chữ hoặc 3 chữ tạo thành) theo 4 kiểu tiết tấu sau:
BB – TT – TBB
BB – TT – BBT
TT – BB – TTB
TT – BB – BTT Nếu chữ thứ 2 của câu 1 là thanh bằng thì ta có mô hình sau:
BB – TT – TBB(vần)
TT –BB – TTB (vần)
Niêm
TT – BB – BBT
Trang 14đối, hài hòa đăc biệt là tính hàm súc ý tại ngôn ngoại nên thơ Đ-ờng luật bát
cú tránh dùng h- từ th-ờng tỉnh l-ợc chủ từ ở n-ớc ta, nhiều nhà thơ đã vay
Trang 1515
m-ợn thể thơ này để sáng tác nên những thi phẩm nổi tiếng nh- Hồ Xuân H-ơng, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú X-ơng … Trong quá trình sử dụng thể thơ này, các tác giả một mặt đảm bảo đặc tr-ng thi pháp thể loại mặt khác có sự phá vỡ hệ thống qui phạm chặt chẽ ấy, sáng tạo thêm một số biệt thể nh- thể thất ngôn xen lục
ngôn (Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi) Trong SGK Ngữ văn 10 hiện hành có
đ-a vào 3 bài thơ thuộc thể loại thất ngôn bát cú là: Cảm hoài (Đặng Dung), Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm)và Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du)
Thể thơ tuyệt cú Đ-ờng luật
Tuyệt cú (tuyệt luật, tứ tuyệt) cũng là một thể thơ vay m-ợn từ Trung Quốc, đ-ợc sử dụng t-ơng đối rộng rãi trong sáng tác văn học Thể thơ tuyệt
cú có 2 loại nhỏ là thất ngôn tuyệt cú (mỗi bài 4 câu, mỗi câu 7 chữ) và ngũ ngôn tuyệt cú (mỗi bài 4 câu, mỗi câu 5 chữ) Tuyệt cú là một dạng của thơ
Đ-ờng luật nên có qui định về bằng, trắc, niêm, đối chặt chẽ Thể thơ này
đ-ợc xem nh- là cắt ra từ bài bái cú nên luật tuyệt do luật của bài bát cú qui
định Để đảm bảo niêm luật có 4 cách cắt sau: cắt lấy 4 câu trên tr-ờng hợp này 2 câu d-ới phải đối nhau, cắt lấy 4 câu d-ới tr-ờng hợp này 2 câu trên phải đối nhau, cắt lấy 4 câu giữa tr-ờng hợp này cả 4 câu phải đối nhau từng
đôi một, cắt lấy 2 câu đầu và 2 câu cuối tr-ờng hợp này không phải đối đây là lối đ-ợc nhiều ng-ời sử dụng nhất
Các nhà thơ trung đại Việt Nam cũng hay vận dụng để sáng tác thơ ca
Đây là thể loại có dung l-ợng ngôn từ, đòi hỏi cao về tính hàm súc cô đúc của
từ ngữ nh-ng cũng hàm chứa đ-ợc nội dung t- t-ởng sâu xa Trong SGK Ngữ văn 10 hiện hành có đ-a vào 3 bài tuyệt cú ở cả phần đọc- hiểu và h-ớmg dẫn
đọc thêm nh-: Thuật hoài ( Phạm Ngũ Lão ), Quốc tộ ( Đỗ Pháp Thuận ), Quy hứng (Nguyễn Trung Ngạn )
Ngâm khúc
Ngâm khúc là thể loại văn học nội sinh rất độc đáo, là sáng tạo thuần
tủy Viết Nam Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” thệ “khủc ngâm l¯ thề thơ trừ
tình dài hơi, th-ờng đ-ợc là theo thể thơ song thất lục bát để ngâm nga, than
Trang 1616
vãn nhằm bộc lộ những tâm trạng, tình cảm buồn phiền đau xót day dứt triền miên Vệ thễ thề ngâm khủc còn đước gói l¯ khủc, v±n hay th²n” [8; tr.198] ở Việt Nam thể loại này hình thành từ thế kỉ XVII phát triển rực rỡ ở thế kỉ XVIII , XIX với các tác giả tiêu biểu: Đoàn Thị Điểm, Phan Huy ích, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Cao Bá Nhạ…với các tác phẩm nổi tiếng nh- :
Chinh phụ ngâm , Cung oán ngâm, Ai t- vãn, Bần nữ thán, Tự tình khúc… Sự
ra đời và phát triển của thể loại này là một b-ớc ngoặt lớn, có giá trị sâu sắc trong nền văn học trung đại Việt Nam
Ngâm khúc là thể loại trữ tình dài hơi có sự tham gia ít nhiều của yếu tố
tự sự Tác phẩm thuộc thể loại này có những sự kiện tình tiết đ-ợc thuật kể lại
và có cốt truyện sơ giản Khúc ngâm có cả trữ tình và tự sự nh-ng yếu tố tự sự chỉ đóng vai trò thứ yếu, trong khúc ngâm chủ yếu vẫn là trữ tình là bộc lộ giãi bày tâm t-, tình cảm của chủ thể Trữ tình trong thơ khác với trữ tình ở ngâm khúc, trong thơ th-ờng bộc lộ một cách trực tiếp cảm xúc của nhân vật trữ tình, còn ở ngâm khúc tác giả phải hóa thân vào nhân vật, nói với nhân vật, trữ tệnh ờ đây như “tữ tệnh” (thuật kề l³i tệnh c°m), nhiẹu khi t²c gi° tho²t ra ngoài nhân vật giành quyền phát ngôn trực tiếp cho nhân vật trữ tình
Nội dung chủ yếu của khúc ngâm là tâm trạng đau khổ day dứt, tuyệt vọng triền miên kéo dài của nhân vật trữ tình (th-ờng là những ng-ời phụ nữ) nên giọng điệu của các tác phẩm này th-ờng bi ai, buồn bã Ngâm khúc chủ yếu dùng thể song thất lục bát – một thể thơ cách luật thuần túy của thơ lục bát mà đơn vị cơ bản là một tổ hợp 4 câu: 2 câu tr-ớc song thất, 2 câu sau lục bát Thể thơ này rất thích hợp với việc bộc lộ, giãi bày tâm trạng nhất là những cung bậc cảm xúc u buồn, đau đớn triền miên Việc sử dụng thể thơ này góp phần làm tăng thêm giá trị biểu hiện cho khúc ngâm
Tóm lại, qua trên chúng ta đã phần nào nắm đ-ơc những đặc tr-ng cơ bản của tác phẩm trữ tình thời trung đại và có một cái nhìn hệ thống tổng quát
về các thể loại trữ tình trung đại đ-ợc đ-a vào ch-ơng trình Ngữ văn 10 hiện
nay Việc nắm vững những tri thức lí thuyết này là điều kiện tiên quyết khi tiến hành đọc – hiểu các tác phẩm trữ tình thời trung đại
Trang 1717
1.2 Văn bản trữ tình thời trung đại đ-ợc đ-a vào ch-ơng trình dạy học và phần trợ giúp h-ớng dẫn học sinh đọc- hiểu văn bản đó trong SGK Ngữ văn 10 THPT
Ch-ơng trình Ngữ văn 10 THPT hiện hành bao gồm cả ch-ơng trình
chuẩn và nâng cao đ-ợc thiết kế và biên soạn theo tinh thần đổi mới thực sự khoa học s- phạm và thực tiễn Chính vì thế, các văn bản trữ tình thời trung
đại đ-ợc đ-a vào dạy học trong ch-ơng trình mới so với ch-ơng trình tr-ớc
đây có nhiều thay đổi theo h-ớng tích cực Trong khoá luận này chúng tôi sẽ
tiến hành khảo sát các văn bản trữ tình trung đại Việt Nam trong SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất năm 2000) và bộ SGK Ngữ văn 10 hiện hành (gồm
cả bộ cơ bản và bộ nâng cao) trên cơ sở so sánh đối chiếu để thấy đ-ợc sự đổi mới trong ch-ơng trình góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục theo h-ớng hiện
đại và định h-ớng cho việc h-ớng dẫn học sinh đọc- hiểu văn bản trữ tình trung đại sau này
1.2.1.Hệ thống các văn bản trữ tình trung đại Việt Nam đ-ợc đ-a vào dạy học trong ch-ơng trình SGK Văn học 10 ( chỉnh lí hợp nhất năm 2000)
và SGK Ngữ văn 10 hiện hành
Việc khảo sát các văn bản trữ tình trung đại Việt Nam đ-ợc dạy học trong ch-ơng trình THPT tr-ớc đây cũng đã đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu tiến
hành nh-ng từ khi SGK Ngữ văn 10 đ-ợc biên soạn và đ-a vào dạy học đại trà
thì hầu nh- ch-a có công trình nào khảo sát một cách đầy đủ và hoàn bị Chúng tôi đã tiến hành khảo sát sơ l-ợc và thống kê đ-ợc kết quả cụ thể nh- sau:
Trang 18(Nói Dôc Thóy)
C©y chuèi*
Tá lßng (ThuËt hoµi)
C¶nh ngµy hÌ (B¶o kÝnh c¶nh giíi
sè 43) Nhµn
(Quy høng) T×nh c¶nh lÎ loi cña ng-êi chinh phô (trÝch Chinh phô ng©m khóc)
Tá lßng (ThuËt hoµi)
Nçi lßng (C¶m hoµi)
C¶nh ngµy hÌ (B¶o kÝnh c¶nh giíi
sè 43) VËn n-íc* (Quèc té)
C¸o bÖnh b¶o mäi ng-êi*
(C¸o tËt thÞ chóng)
Høng trë vÒ* (Quy høng)
Nhµn
§éc TiÓu Thanh kÝ
T×nh c¶nh lÎ loi cña ng-êi chinh phô (trÝch Chinh phô
Trang 19muộn của ng-ời chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm khúc) Trông bốn bể*
(trích Chinh phụ ngâm khúc) Nỗi thất vọng của ng-ời cung nữ*
(trích Cung oán ngâm khúc) Mời trầu
Tự tình
Độc Tiểu Thanh kí
Long Thành cầm giả ca ( Bài ca ng-ời gảy
đàn ở Long Thành)
ngâm khúc) Nỗi sầu oán của ng-ời cung nữ (trích Cung oán ngâm khúc)
(Tác phẩm, đoạn trích có đánh dấu * là đọc thêm)
Trang 2020
Qua bảng thống kê, một mặt chúng ta thấy đ-ợc hệ thống các văn bản trữ tình trung đại đ-ợc giới thiệu trong ch-ơng trình lớp 10 THPT từ tr-ớc đến
nay Mặt khác, nắm đ-ợc những nét khác biệt giữa SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất năm 2000) và SGK Ngữ văn 10 hiện hành khi xây dựng ch-ơng trình
dạy học các văn bản trữ tình trung đại ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra những nét
cơ bản để thấy SGK Ngữ văn 10 hiện hành đã có sự thay đổi rõ nét và toàn diện so với ch-ơng trình SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất năm 2000) về cả
nội dung và kết cấu ch-ơng trình Tr-ớc hết về mặt số l-ợng, nếu trong SGK
Văn học 10 tr-ớc đây đ-a vào dạy học rất nhiều tác phẩm trữ tình trung đại thì
số l-ợng văn bản đ-ợc đ-a vào trong ch-ơng trình SGK Ngữ văn 10 hiện hành
rất ít, giảm hẳn đi một nửa so với ch-ơng trình cũ Các nhà biên soạn đã l-ợc
bỏ đi nhiều văn bản nh-: Tụng giá hoàn kinh s- (Trần Quang Khải), Ngôn hoài (Không Lộ Thiền S-), Ng- nhàn (Không Lộ Thiền S-), Hạnh thiên tr-ờng hành cung (Trần Thánh Tông), Dục Thúy Sơn (Nguyễn Trãi), Cây chuối (Nguyễn Trãi), Vịnh năm canh (Lê Thánh Tông), Trung Tân ngụ hứng (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Mời trầu (Hồ Xuân H-ơng), Tự tình (Hồ Xuân H-ơng), Long Thành cầm giả ca (Nguyễn Du) Đồng thời, ch-ơng trình lại
đ-a vào nhiều văn bản của các tác giả khác nhau: Cáo tật thị chúng (Mãn Giác Thiền S-), Quy hứng (Nguyễn Trung Ngạn) Quốc tộ (Đỗ Pháp Thuận) Hơn nữa ở SGK Ngữ văn 10 hiện hành, mỗi tác giả chỉ đ-a vào dạy học một tác phẩm tiêu biểu chẳng hạn: Nguyễn Trãi với Bảo kính cảnh giới (bài số 43), Nguyễn Du với Độc Tiểu Thanh kí, Phạm Ngũ Lão với Thuật hoài … Còn ở SGK Văn học 10 (chỉnh lí hớp nhất năm 2000) có khi một tác giả lại đ-a vào
từ hai đến ba tác phẩm cả đọc thêm và học chính thức, ví dụ: ba tác phẩm của
Nguyễn Trãi đ-ợc đ-a vào là Bảo kính cảnh giới (dạy học chính thức), Dục Thúy sơn và Cây chuối (h-ớng dẫn đọc thêm) Nguyễn Du ngoài Độc tiểu Thanh kí còn có bài đọc thêm Long Thành cầm giả ca, hay Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn ở sách cũ đ-a vào hai đoạn trích Nỗi nhớ nhung sầu
Trang 21ra đ-ợc sự hỗ trợ, gắn kết chặt chẽ với các phân môn Làm văn và Tiếng Việt
do mỗi phần đ-ợc biên soạn thành một cuốn sách riêng, độc lập Nội dung
Cách sắp xếp các văn bản ở SGK Ngữ văn 10 hiện hành có sự thay đổi lớn so với SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất) ở đó các văn bản đ-ợc biên
soạn và sắp xếp phù hợp với xu thế dạy học hiện đại, giảm hẳn tính hàn lâm lí thuyết, tăng tính thực hành ứng dụng Các văn bản đ-ợc sắp xếp theo đặc tr-ng thể loại nghĩa là những văn bản nào cùng thuộc một thể loại thì đ-ợc bố trí thành cụm để thuận tiện cho việc h-ớng dẫn đọc- hiểu văn bản Chẳng hạn
các văn bản thuộc thể loại ngâm khúc nh- Tình cảnh lẻ loi của ng-ời chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm) với Nỗi sầu oán của ng-ời cung nữ (trích Cung oán ngâm), đ-ợc tổ chức đọc- hiểu liền kề nhau trong bộ SGK Ngữ văn 10
nâng cao, những bài thơ Đ-ờng luật đ-ợc bố trí thành một cụm theo đặc tr-ng
thể loại… Đồng thời ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn đ-ợc biên soạn
thành một cuốn chung mang tên Ngữ văn trong đó các văn bản đọc- hiểu đ-ợc
bố trí xen kẽ với những bài Tiếng Việt và Làm văn Điều này tạo nên sự liên kết, liên thông, tác động qua lại giữa các phân môn Nh- vậy so với SGK Văn học 10 thì trong SGK Ngữ văn 10 cấu trúc của các văn bản khá linh hoạt, hợp
Trang 2222
lí, vừa phù hợp với đặc điểm tâm lí, quy luật tiếp nhận của ng-ời học vừa phù hợp với đặc tr-ng, bản chất của hoạt động đọc – hiểu văn bản trong nhà tr-ờng Góp phần phát huy tính tích cực hoạt động, hứng thú học tập của học sinh Cấu trúc này sẽ tạo ra hiệu quả cao cho mục tiêu đổi mới ch-ơng trình Các văn bản trữ tình trung đại trong SGK Văn học 10 và SGK Ngữ văn
10 đều đ-ợc bố trí xen kẽ cùng với các văn bản của các tác giả n-ớc ngoài chủ
yếu là văn học Trung Quốc với các tên tuổi nổi tiếng: Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu… Điều này tạo nên sự phong phú, đa dạng về kiểu loại Đồng thời học sinh có điều kiện tiếp xúc, đối chiếu giữa văn học văn học trong n-ớc với văn học n-ớc khác Bên cạnh các văn bản đ-ợc đ-a vào dạy học chính thức, ch-ơng trình còn bổ sung một số văn bản đọc thêm bắt buộc, tuy nhiên ở mỗi
bộ sách là khác nhau Số l-ợng các văn bản này ở SGK Văn học 10 gấp hơn hai lần so với SGK Ngữ văn 10 hiện hành Nh- vậy, khi tiến hành so sánh đối
chiếu về hệ thống các văn bản trữ tình trung đại đ-ợc đ-a vào dạy học trong
hai ch-ơng trình SGK Ngữ văn 10 và SGK Văn học 10 chúng tôi đã rút ra
những nhận xét chủ quan nêu trên Tuy nhiên để có đ-ợc cái nhìn tổng quát và toàn diện hơn về sự đổi mới tích cực trong ch-ơng trình SGK mới, trong việc biên soạn dạy học các văn bản trữ tình trung đại để thấy đ-ợc những thuận lợi của học sinh khi tiến hành đọc – hiểu các văn bản đó so với ch-ơng trình cũ Chúng ta còn phải so sánh, đối chiếu chúng trên một số ph-ơng diện khác nữa
1.2.2 Khảo sát các phần trợ giúp, h-ớng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản trữ tình thời trung đại trong SGK Ngữ văn 10 hiện hành
Trong cấu trúc một bài đọc – hiểu, ngoài phần trích dẫn nguyên văn
các đoạn trích hay toàn bộ tác phẩm, SGK còn đề ra các mục, các phần trợ giúp, h-ớng dẫn học sinh tiếp cận các văn bản đó ở đây do giới hạn của đề
tài, chúng tôi sẽ chỉ khảo sát cụ thể các phần trợ giúp, h-ớng dẫn học sinh đọc – hiểu các văn bản trữ tình trung đại trong t-ơng quan so sánh, đối chiếu bộ
SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất)và SGK Ngữ văn 10 (cả bộ cơ bản và bộ
Trang 23văn bản đọc – hiểu phần Kết quả cần đạt th-ờng tách thành hai ý lớn định
h-ớng cho học sinh nắm đ-ợc những vấn đề cơ bản về nội dung và nghệ thuật
của văn bản Chẳng hạn khi đọc – hiểu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của ng-ời chinh phụ thì Kết quả cần đạt về măt nội dung là hiểu đ-ợc tâm trạng đau khổ
của ng-ời chinh phụ trong tình cảnh lẻ loi cô đơn khi xa chồng và ý nghĩa của vấn đề đề cao hạnh phúc lứa đôi của tác giả qua đoạn trích, về mặt nghệ thuật
là nắm đ-ợc nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật
Phần này t-ơng đ-ơng với phần Mục tiêu bài học trong sách giáo viên Nếu phần Mục tiêu bài học trong sách giáo viên là định h-ớng cơ bản đầu tiên
cho giáo viên khi chuẩn bị giáo án và tiến hành tổ chức dạy học cho học sinh
thì Kết quả cần đạt trong SGK lại là cơ sở đầu tiên mà học sinh cần nắm vững
để tránh sự chệch h-ớng trong tiến trình đọc - hiểu văn bản Nắm đ-ợc Kết quả cần đạt, học sinh có điều kiện tích cực chủ động hơn trong quá trình tự
tiếp cận văn bản – một yêu cầu phù hợp với ph-ơng pháp dạy học hiện đại
Và vì thế ng-ời giáo viên cũng phải chú trọng vào phần này khi h-ớng dẫn học sinh đọc – hiểu văn bản
l-ợc về thể loại hoặc các kiến thức có tác dụng bổ sung, hỗ trợ cho học sinh
đọc – hiểu văn bản đ-ợc kết hợp trong phần tiểu dẫn thì ở bộ SGK Ngữ văn
Trang 2424
10 nâng cao đã phân chia ra thành một mục riêng Mục Tri thức đọc – hiểu trong SGK Ngữ văn 10 nâng cao đã cung cấp một khối l-ợng kiến thức khá
đầy đủ và cần thiết không chỉ về khái niệm, đặc tr-ng về các thể loại văn học
mà còn bao hàm các kiến thức tổng hợp có liên quan đến văn bản tạo điều kiện cho việc giảng dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh Đây cũng là một mục có vai trò quan trọng và hữu ích trong quá trình đọc – hiểu, nhất là khi đọc – hiểu các văn bản trữ tình thời trung đại – những tác phẩm
có một khoảng cách khá xa về thể loại, ph-ơng pháp sáng tác, đặc tr-ng nghệ thuật, quan điểm thẩm mĩ khác xa so với thời đại ngày nay
Về thơ Nôm, ngay sau bài đọc – hiểu Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi
đ-ợc sáng tác theo thể thơ thất ngôn xen lục ngôn – một b-ớc sáng tạo của
ng-ời Việt từ thể thơ thất ngôn bát cú Đ-ờng luật có mục Tri thức đọc –hiểu
giớ thiệu khái quát về thể thơ này, những điểm giống và khác giữa nó với thể
thơ thất ngôn bát cú Đ-ờng luật trang 161 Hay Tri thức đọc – hiểu về luật
thơ Đ-ờng mà cụ thể là luật thơ của thể thơ thất ngôn bát cú và thể thơ tuyệt
cú ở sau phần đọc – hiểu văn bản Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm) trang 172
Tiếp đến, SGK có giới thiệu về khái niệm chủ thể trữ tình, cách biểu hiện của chủ thể trữ tình trong thơ trung đại trong t-ơng quan so sánh với thơ hiện đại ở
mục Tri thức đọc – hiểu sau văn bản Độc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du) trang
177 ở mục Tri thức đọc – hiểu sau đoạn trích Nỗi sầu oán của ng-ời cung nữ trích Cung oán ngâm (Nguyễn Gia Thiều) có giới thiệu khái niệm, đặc tr-ng
của thể thơ song thất lục bát và thể loại khúc ngâm trang 124
Nh- vậy có thể thấy rằng, mục Tri thức đọc – hiểu sau các văn bản vừa
tạo cho học sinh cái nhìn tổng quan về thể loại và các cụm thể loại của văn học trung đại vừa giúp ích cho các em trong việc đọc – hiểu các văn bản cụ thể Việc nắm vững các tri thức này sẽ có tác dụng rất lớn trong quá trình đọc – hiểu các văn bản trữ tình thời trung đại Do đó, ng-ời giáo viên cần tổ chức cho học sinh nắm bắt đ-ợc các tri thức và thấy đ-ợc những biểu hiện của các tri thức đặc điểm về tri thức đó qua mỗi văn bản trữ tình trung đại cụ thể
Trang 2525
Ngoài ra, sau phần H-ớng dẫn học bài của mỗi bài đọc – hiểu văn bản
ở SGK Ngữ văn 10 bộ cơ bản có phần Luyện tập, còn SGK Ngữ văn 10 bộ nâng cao lại là hệ thống Bài tập nâng cao ở phần Luyện tập ng-ời biên soạn
đặt ra một vài câu hỏi có liên quan đến nội dung bài học hoặc bài tập thực hành nhỏ để học sinh vận dụng các kiến thức đã đ-ợc học và rèn luyện kĩ
năng thực hành cho học sinh Ví dụ, Cảm nhận của anh (chị)về vẻ đẹp của thiên nhiên và tâm hồn Nguyễn Trãi qua bài thơ là phần Luyện tập của bài
đọc – hiểu, phần Luyện tập của đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của ng-ời chinh phụ là Hãy vận dụng các biện pháp nghệ thuật tả tâm trạng trong đoạn trích
để viết một đoạn văn (hoặc thơ) ngắn miêu tả một nỗi buồn hay niềm vui của bản thân anh (chị) [15;tr 88] Việc giải quyết những yêu cầu này của phần Luyện tập sẽ góp phần tăng tính ích dụng trong dạy học, rèn luyện kỹ năng
thực hành cho học sinh
Riêng ở SGK Ngữ văn 10 nâng cao, phần Bài tập nâng cao đúng với ý
nghĩa tên gọi là nâng cao, mở rộng kiến thức cho học sinh ngoài những tri thức cơ bản các em thu nhận đ-ợc sau khi hoàn thành các câu hỏi trong phần
H-ớng dẫn học bài Những kiến thức đ-ợc đề cập đến ở phần này là những
yêu cầu buộc học sinh phải nắm vững các tri thức về khái niệm, các đặc tr-ng cơ bản về thể loại của các văn bản đọc – hiểu đ-ợc trích dẫn và vận dụng nó
một cách có hiệu quả Chẳng hạn, phần Bài tập nâng cao của văn bản Tình cảnh lẻ loi của ng-ời chinh phụ ( trích Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn )
đ-a ra câu hỏi : So sánh câu 238- 239 trong nguyên tác chữ Hán
Trang 2626
tạo [16; tr 115] Giải quyết bài tập này các em sẽ thấy đ-ợc dịch giả đã vừa
dịch rất sát trung thành với nguyên tác vừa rất sáng tạo ở chỗ: từ hai câu thơ
đoản cú đ-ợc chuyển thành hai câu thơ song thất lục bát nhờ thêm vào những
tú phũ nghĩa “khãc chộ”, “miẹn biền xa” đặc biết l¯ viếc sụ dũng hai tú l²y
“đ´ng đảng”, “d´ng dặc” l¯m tăng thêm sửc biều đ³t cùa sữ so s²nh, l¯m cho
ý nghĩa câu thơ đ-ợc mở rộng nâng cấp Hai câu thơ song thất đã cụ thể hóa nỗi buồn, mối sầu đẩy buồn sầu lên đến vô biên Ng-ời chinh phụ đang bị bủa vây trong buồn bã, sầu th-ơng Qua đó, ta cũng cảm nhận thấy mối đồng cảm của thi nhân với tâm trạng của nhân vật trữ tình Rõ ràng giải quyết thấu đáo bài tập này, học sinh sẽ khắc sâu hiểu kỹ hơn kiến thức bài học
Nh- vậy việc giải quyết các bài tập trong hệ thống Bài tập nâng cao rất
cần thiết đối với học sinh khi đọc – hiểu các văn bản trữ tình trung đại Nó góp phần mở rộng và nâng cao kiến thức cho học sinh, đồng thời đòi hỏi các
em phải vận dụng các tri thức vốn có của mình thông qua việc nắm vững các
nội dung của mục Tri thức đọc – hiểu Ng-ời giáo viên phải chú ý h-ớng dẫn,
tổ chức cho học sinh giải quyết các bài tập này, nếu dung l-ợng thời gian trong giờ học không cho phép thì phải yêu cầu các em giải quyết nó ở nhà và
có sự kiểm tra đáng giá
Ngoài những phần có trong cấu trúc chung của một bài đọc – hiểu, những bài học thuộc cùng một phân môn đọc – hiểu, hay thuộc những phân
môn khác nh- Tiếng Việt và Làm văn cũng có tác dụng trợ giúp, t-ơng hỗ cho
học sinh đọc – hiểu các văn bản trữ tình trung đại, nên bỏ qua việc khảo sát những bài học này sẽ là một thiếu sót lớn Do bộ SGK Ngữ văn mới đ-ợc biên soạn theo nguyên tắc tích hợp, chính nguyên tắc này đã chi phối đế mối quan
hệ giữa ba bộ phận kiến thức đọc – hiểu, Tiếng Việt và Làm văn Những tri
thức có đ-ợc từ các giờ đọc – hiểu văn bản sẽ đ-ợc vận dụng trong các giờ
Tiếng Việt và Làm văn, còn các giờ Tiếng Việt, Làm văn lại có tác dụng hỗ trợ
củng cố cho học sinh các tri thức trong giờ đọc - hiểu ở đây, chỉ xét chiều ng-ợc lại tức là xét sự hỗ trợ của các bài học khác cho việc đọc – hiểu các
Trang 2727
văn bản trữ tình trung đại của học sinh Ví nh-, SGK Ngữ văn 10 hiện hành đã
đ-a vào ch-ơng trình bài Đọc – hiểu văn bản văn học trung đại Việt Nam
nhằm h-ớng dẫn cho học sinh nắm đ-ợc một số đặc điểm của văn bản văn học trung đại Việt Nam và biết cách đọc – hiểu các văn bản văn học của thời kì này đ-ợc đ-a vào ch-ơng trình Bài học đã cung cấp cho các em những tri thức và đặc tr-ng của văn học trung đại và chỉ ra những điểm cần l-u ý khi
đọc – hiểu Trữ tình trung đại là một bộ phận của văn học trung đại, vì thế học sinh qua bài học này sẽ có đ-ợc ph-ơng pháp, cách thức đọc – hiểu văn bản trữ tình trung đại
Mặt khác, cần phải thấy rằng các văn bản trữ tình trung đại gồm những sáng tác bàng chữ Hán và chữ Nôm nên sử dụng rất nhiều từ Hán Việt, nhất là
những sáng tác bằng chữ Hán, ví dụ nh-: Tỏ lòng (Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão) , Nỗi lòng (Cảm hoài - Đặng Dung), Độc Tiểu Thanh kí( Nguyễn Du) …
ở những văn bản trữ tình bằng chữ Nôm, từ Hán Việt cũng xuất hiện nhiều
nh-: Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi) Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm), Tình cảnh lẻ loi của ng-ời chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn) Chính vì thế, bài Tiếng Việt Luyện tập về từ Hán Việt đ-ợc đ-a vào ch-ơng trình đã
giúp học sinh củng cố đ-ợc tri thức về từ Hán Việt đã học ở ch-ơng trình THCS, có ý thức trau dồi khả năng hiểu nghĩa từ Hán Việt Từ đó khi tiếp cận
đọc – hiểu các văn bản sau học sinh có thể xác định và giải nghĩa các từ Hán Việt, giúp các em dễ dàng hơn trong việc hiểu thấu nội dung văn bản Do vậy, vấn đề này đặt ra cho ng-ời giáo viên yêu cầu cho ng-ời giáo viên là phải làm sao phát huy tối đa hiệu quả của sự tích hợp trong quá trình dạy học nhất là trong giờ đọc – hiểu văn bản trữ tình trung đại Một mặt vừa giúp các em vận dụng kiến thức đó để đọc – hiểu mặt khác lấy những giờ đó để khắc sâu, củng cố kiến thức đã đạt đ-ợc sau giờ đọc – hiểu cho học sinh
Ngoài những vấn đề nêu trên, chúng ta còn thấy đ-ợc nét đổi mới, điểm
tích cực của SGK Ngữ văn 10 hiện hành qua hệ thống câu hỏi H-ớng dẫn học bài Hệ thống câu hỏi trong phần H-ớng dẫn học bài của SGK Ngữ văn mới
cả hai bộ cơ bản và nâng cao có nội dung đa dạng hơn phong phú hơn về kiểu
Trang 2828
loại, đã chú trọng đến việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, đã buộc các em phải làm việc nhiều hơn, bám sát hơn vào văn bản Đối với những bài đọc – hiểu văn bản trữ tình trung đại có nhiều câu hỏi yêu cầu học sinh phải suy nghĩ, động não ngoài việc bám sát văn bản còn phải nắm vững những kiến thức về thể loại, thời đại đời sống xã hội có liên quan Chẳng hạn:
Qua những lời thơ tỏ lòng anh (chị) thấy hình ảnh trang nam nhi thời Trần mang vẻ đẹp nh- thế nào ? Điều đó có ý nghĩa gì đối với tuổi trẻ hôm nay và ngày mai? Là câu hỏi trong H-ớng dẫn học bài của bài đọc – hiểu văn bản
Tỏ lòng (Phạm Ngũ Lão) trang 116 Hay câu hỏi trong H-ớng dẫn học bài của bài đọc – hiểu đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của ng-ời chinh phụ: Xác định những câu thơ là lời của ng-ời chinh phụ và cho biết ý nghĩa biểu hiện của nó
? trang 88 Học sinh phải làm việc nhiều để trả lời những câu hỏi này, khi giải
đáp đ-ợc nó d-ới sự gợi dẫn của giáo viên các em sẽ nắm đ-ợc nội dung của bài học đó
So với hệ thống câu hỏi trong SGK Ngữ văn mới thì hệ thống câu hỏi
trong phần H-ớng dẫn học bài của SGK Văn học 10 (chỉnh lí hợp nhất)
th-ờng khá dài, dẫn nhiều hơn hỏi, chủ yếu ở dạng tái hiện kiến thức, ch-a khơi dậy hứng thú cho ng-ời học, tách rời hoạt động cung cấp tri thức với rèn luyện kĩ năng thực hành cần thiết Tìm hiểu hệ thống câu hỏi ở một số bài học của một bộ sách này, chúng tôi thấy câu hỏi nhiều khi th-ờng chỉ ra kiến thức chính trong bài học rồi mới hỏi học sinh, khiến cho một số câu hỏi học sinh không cần dựa vào văn bản cũng có thể trả lời đ-ợc vì câu hỏi d-ờng nh- đã
chứa đựng câu trả lời Chẩng hạn ở bài Dục Thúy Sơn của Nguyễn Trãi có câu hỏi Riêng ở hai câu thơ:
Bóng tháp hình trâm ngọc G-ơng sông ánh tóc huyền
có nét gì đặc biệt của tác giả khi cảm nhận và gợi tả vẻ đẹp của cảnh núi Dục Thúy? trang 132 Điều này đã đ-ợc khắc phục ở SGK Ngữ văn 10 hiện hành
Qua phần khảo sát trên, chúng tôi đã trình bày một cách khá hệ thống c²c văn b°n trừ tệnh trung đ³i “cõ mặt” trong chương trệnh lỡp 10 THPT qua
Trang 2929
sự so sánh, đối chiếu giữa ch-ơng trình SGK cũ và mới Đồng thời, chúng tôi cũng đã tiến hành khảo sát các phần có chức năng trợ giúp và h-ớng dẫn học sinh đọc – hiểu để nêu lên những đổi mới tích cực của bộ SGK Ngữ văn mới
và chỉ ra sơ l-ợc các vấn đề l-u ý giáo viên khi tiến hành đọc – hiểu các văn bản trữ tình trung đại Nắm vững những vấn đề này, một mặt giúp giáo viên có
đ-ợc những nhận thức mới về sự đổi mới ch-ơng trình và ph-ơng pháp dạy học, đặt ra yêu cầu cho ng-ời giáo viên phải làm sao cho học sinh có cái nhìn tổng quát về hệ thống ch-ơng trình các văn bản trữ tình trung đại mà mình
đ-ợc học Mặt khác, định h-ớng cho các em một cách cơ bản những điều cần làm, cần đạt đ-ợc khi tiến hành đọc – hiểu một văn bản trữ tình trung đại
Đây chính là cơ sở để chúng tôi đi vào phần h-ớng dẫn học sinh đọc – hiểu các văn bản trữ tình trung đại cụ thể trong ch-ơng trình lớp 10 THPT phần tiếp theo
1.3 Những thuận lợi và khó khăn của việc đọc- hiểu văn bản trữ tình thời trung đại ở tr-ờng THPT hiện nay
Văn học trung đại là bộ phận văn học đồ sộ suốt gần một thiên niên kỉ
Bộ phận văn học này có vai trò rất lớn trong đời sống của ng-ời dân Việt Nam nên rất đ-ợc quan tâm và đ-ợc đ-a vào giảng dạy ở bậc học THCS và THPT
ở bậc học phổ thông mà cụ thể là ở ch-ơng trình lớp 10 các em đã đ-ợc học nhiều tác phẩm nhất là những tác phẩm trữ tình thời trung đại Tuy vậy, việc dạy học các tác phẩm này bên cạnh những thuận lợi còn tồn tại rất nhiều khó khăn cần khắc phục và giải quyết
1.3.1 Thuận lợi
Từ thời xa x-a, dân tộc Việt Nam, con ng-ời Việt nam vốn đã có truyền thống yêu thơ văn Truyền thống ấy thấm sâu vào máu thịt của mỗi ng-ời Mỗi khi có nhu cầu thổ lộ tâm t-, nỗi lòng thì những ng-ời yêu thơ lại làm nên những vần thơ đầy xúc cảm Những cô cậu học trò đ-ợc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất ấy đều mang trong mình dòng máu yêu thơ văn, đều có một tâm hồn, một trí tuệ một hứng thú học văn Đặc biệt khi gặp đ-ợc một ng-ời giáo
Trang 30Mặt khác, văn thơ cổ th-ờng đi vào những đề tài nh- thiên nhiên, tình bạn, tình yêu, chiến tranh… đây là những đề tài quen thuộc gần gũi với học sinh Các tác phẩm trữ tình lại đ-ợc sáng tạo theo các thể loại khá quen thuộc, các em đã đ-ợc biết đến nhiều Cộng thêm dung l-ợng của các tác phẩm ấy t-ơng đối ngắn nên thuận lợi cho học sinnh trong việc tiếp xúc và chiếm lĩnh tác phẩm
Bên cạnh đó, việc dạy học tác phẩm trữ tình gặp nhiều thuận lợi do tài liệu về nó rất phong phú và đa dạng Cả giáo viên và học sinh đều có điều kiện
để tham khảo tìm tòi đúc rút cho mình những tri thức bổ ích, những hiểu biết mới góp phần nâng cao hiệu quả của việc đọc – hiểu văn bản
Trong thời gian gần đây, việc đổi mới về ph-ơng pháp dạy học, việc biên soạn lại SGK, thay đổi cơ cấu ch-ơng trình đã tạo ra đ-ợc những b-ớc chuyển biến tích cực trong dạy học Các nhà khoa học giáo dục đã nghiên cứu
và đ-a ra những ph-ơng pháp dạy học mới phù hợp hơn với đối t-ợng học sinh với tình hình xã hội hiện nay Chính những đổi mới này là một thuận lợi cho hoạt động giáo dục trong nhà tr-ờng phổ thông
Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi cơ bản nêu trên, thực tế trong việc dạy học tác phẩm văn học trung đại ở nhà tr-ờng THPT hiện nay đàn gặp rất nhiều khó khăn
1.3.2.Khó khăn
Trang 3131
Mảng văn học trung đại nói chung, những tác phẩm trữ tình thời trung
đại nói riêng là những sáng tác văn ch-ơng có giá trị rất lớn nh-ng chúng lại
ra đời vào thời điểm cách xa thời đại chúng ta ngày nay nhiều thế kỉ Chính do khoảng cách về mặt thời gian, sự cách trở về mặt không gian giữa hai thời đại cùng với sự khác biệt lớn về t- duy sáng tạo nghệ thuật, quan điểm thẩm mĩ,
hệ thống thi pháp đã tạo nên những khó khăn lớn trong việc tiếp cận, tiếp nhận những sáng tác thời kì này
Đối với học sinh do khoảng cách về thời gian ngôn ngữ, chữ viết, sự khác xa về tiêu chuẩn đánh giá thơ văn x-a và nay Cộng thêm với, các em
đang sống trong thế giới hiện đại đ-ợc tiếp xúc với lối sống mới, với cách cảm cách nghĩ theo sự phát triển của khoa học kĩ thuật Nên các em dễ thích nghi với cái mới mà tỏ ra khó hấp thu, thẩm thấu vốn kiến thức sâu rộng với những giá trị cao đẹp của ng-ời x-a Vì thế đại đa số học sinh thiếu sự say mê, hứng thú đối với việc học mảng văn học này, các em có tâm lí không thích học, th-ờng l-ời nhác, ít chịu suy nghĩ không hoạt động trong các giờ học này Các
em bàng quan tr-ớc các tác phẩm văn học cổ vì các em nghĩ rằng các tác phẩm văn học ấy chẳng liên quan gì đến ngày nay, nó chẳng giúp ích gì cho các em trong cuộc sống
Không chỉ đối với học sinh mà ngay cả ng-ời giáo viên dạy văn cũng xa lánh, thờ ơ, lạnh nhạt tr-ớc chúng Đa số họ cho rằng những tác phẩm này khó
và có tâm lí ngại dạy Một số giáo viên do vốn hiểu biết về văn học cổ còn non nớt ít ỏi nên khó có thể cảm thụ đ-ợc sâu sắc tác phẩm, nói gì đến việc giảng dạy cho học sinh hiểu và chiếm lĩnh nó Trong dạy học, một số giáo viên ch-a thay đổi ph-ơng pháp vẫn còn nặng về thuyết giảng nhiều khi làm dung tục hóa thơ ca, ch-a vận dụng những ph-ơng pháp dạy học theo h-ớng tích cực để phát huy tính tích cực hoạt động của ng-ời học, tạo hứng thú học tập từ phía học sinh Họ cũng ch-a tạo đ-ợc sợi dây liên hệ, kết nối giữa tác giả, tác phẩm thời trung đại với đời sống ngày nay để góp phần rút ngắn khoảng cách giữa hai thời đại
Trang 3232
Một khó khăn nữa là từ thực tế giảng dạy tác phẩm văn học trung đại cho thấy hầu hết khi tiến hành đọc- hiểu văn bản giáo viên và học sinh chỉ có thể tiếp xúc qua bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ chứ không phải qua nguyên tác Nhiều khi, ng-ời giáo viên dạy bản dịch nh- chính bản phiên âm
đây là điều bất hợp lí Vì các bản dịch từ bản phiên âm tuy thành công nh-ng vẫn còn nhiều điều bất cập, mặc dù dịch giả các tác phẩm ấy đã rất cố gắng nh-ng vẫn không thể lột tả hết ý nghĩa của từng câu chữ, truyền đạt hết những gì mà tác giả muốn gửi gắm
Những khó khăn trên là thách thức lớn đối với ng-ời giáo viên làm thế nào để gây đ-ợc hứng thú cho học sinh trong khi dạy học văn thơ cổ? Phải dạy học nh- thế nào để xóa bỏ phần nào khoảng cách thẩm mĩ giữa hai thời đại, hai thế hệ? đó là những câu hỏi mà ng-ời giáo viên luôn ý thức đặt ra, trăn trở tìm lời giải đáp Trên tinh thần nâng cao chất l-ợng hiệu quả đọc- hiểu tác phẩm trung đại nói chung, đọc- hiểu tác phẩm trữ tình thời trung đại nói riêng, trong khoa luận này, chúng tôi cố gắng đề xuất một số gợi dẫn, biện pháp để phần nào giải đáp những câu hỏi đặt ra ở trên
Trang 3333
Ch-ơng 2
Những giảI pháp h-ớng dẫn học sinh đọc- hiểu
văn bản trữ tình thời trung đại trong
có dung l-ợng ngắn Lại không thể tóm tắt đ-ợc nên chỉ có thể đọc diễn cảm
Đọc diễn cảm là biện pháp đầu tiên đ-ợc quan tâm tới trong đọc - hiểu văn bản trữ tình Biện pháp này có tác dụng rất lớn quyết định đến việc tạo ấn t-ợng thẩm mĩ cho học sinh về văn bản, khơi dậy ở ng-ời học sự tiếp nhận tích cực, tạo sự chú ý, tâm thế ổn định tr-ớc khi b-ớc vào tìm hiểu văn bản
Đồng thời, nó tạo nên mối liên hệ ban đầu giữa giáo viên - tác giả - học sinh,
là cơ sở để xác định ph-ơng h-ớng và tìm ra biện pháp thích hợp khi tiến hành
đọc – hiểu văn bản đó
Đối với văn bản trữ tình trung đại do những khác biệt về ngôn ngữ, chữ viết so với ngày nay nh- văn bản đ-ợc viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, sử dụng nhiều từ cổ, từ Hán Việt, các điển tích điển cố nên rất khó cho học sinh trong việc tiếp nhận văn bản Do vậy, việc tổ chức cho học sinh đọc diễn cảm để tạo
ấn t-ợng thẩm mĩ là rất cần thiết Nếu là những văn bản sáng tác bằng chữ Nôm, đặc biệt là ngâm khúc thì đọc diễn cảm là tất yếu và rất quan trọng, khi
đọc diễn cảm văn bản sẽ tái hiện cảm xúc, giọng điệu của nhân vật trữ tình, của tác giả, sẽ sáng rõ đ-ợc ý nghĩa của tác phẩm, làm cho ngôn ngữ đầy cảm xúc vang lên nhạc điệu, lúc đó sẽ khêu gợi đ-ợc những rung động sâu sắc trong tâm hồn học sinh Riêng đối với những văn bản sáng tác bằng chữ Hán, giáo viên và học sinh đ-ợc tiếp xúc qua bản phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ thì giáo viên phải tổ chức cho học sinh đọc diễn cảm bản phiên âm và dịch thơ
Trang 3434
Hoạt động đọc mẫu và h-ớng dẫn đọc của ng-ời giáo viên cùng với hoạt động tập đọc của học sinh trong giờ học sẽ phát huy tối đa hiệu quả của biện pháp
này Có thể hình dung biện pháp này trong bài học Tỏ lòng (Thuậi hoài –
Phạm Ngũ Lão) nh- sau: giáo viên h-ớng dẫn đọc diễn cảm bài thơ, bài thơ bày tỏ khát vọng hoài bão trong lòng một vị t-ớng vì vậy cần đọc với tình cảm
tự tin, tâm huyết, mạnh mẽ qua đó làm nổi bật đ-ợc hào khí Đông A thể hiện
ở vẻ đẹp con ng-ời và vẻ đẹp thời đại, cần chú ý cách ngắt nhịp 4/ 3 trong câu thơ thất ngôn tứ tuyệt Sau khi h-ớng dẫn, giáo viên đọc mẫu bản phiên âm và dịch thơ, tiếp đến cho một số học sinh đọc bài thơ theo yêu cầu đã nêu T-ơng
tự khi áp dụng đọc diễn cảm văn bản Cảnh ngày hè (Nguyễn Trãi) cũng tiến
hành các b-ớc nh- trên Bài thơ phải đọc l-u loát, giọng đọc phải thể hiện
đ-ợc tâm trạng thanh thản, vui, sảng khoái của nhà thơ Khi đọc cần chú ý một số từ cổ ở bản phiên âm, cách ngắt nhịp có sự thay đổi trong câu thơ bảy chữ, chú ý cách ngắt nhịp ở những câu thơ sáu chữ dồn nén cảm xúc cụ thể:
Rồi hóng mát thuở ngày tr-ờng (1/2/3) Hòe lục đùn đùn tán rợp gi-ơng (4/3)
Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ( 3/4 )
Hồng liên trì đã tiễn mùi h-ơng (3/4 )
Khi vận dụng biện pháp đọc diễn cảm ng-ời giáo viên cần l-u ý có thể
tổ chức cho học sinh đọc d-ới những hình thức và mức độ khác nhau tùy từng yêu cầu cụ thể Có thể đọc cả bài đọc từng đoạn, đọc để minh họa cho lời giảng, đọc đầu giờ tr-ớc khi phân tích để gây ấn t-ợng thẩm mĩ hoặc kết thúc bài giảng đọc để tạo cảm giác hoàn chỉnh về tác phẩm sau khi đã đọc – hiểu
Trang 3535
văn bản Hoạt động đọc mẫu của giáo viên là rất cần thiết, nếu có thể giáo viên ngâm bài thơ hoặc đoạn trích cho cả lớp cùng nghe điều này đòi hỏi tố chất nghệ sĩ của ng-ời giáo viên Còn hoạt động tập đọc của học sinh sẽ hình thành ở các em kĩ năng đọc diễn cảm văn bản Khi tiến hành đọc diễn cảm văn bản có thể kết hợp luôn so sánh đối chiếu các bản phiên âm và dịch thơ để thấy đ-ợc thành công cũng nh- hạn chế của đoạn trích tạo điều kiện chiếm lĩnh trọn vẹn , tổng thể văn bản
Nh- vậy, đọc diễn cảm là biện pháp mà ng-ời giáo viên cần phải đặc biệt quan tâm sử dụng đầu tiên trong quá trình đọc – hiểu văn bản trữ tình thời trung đại Biện pháp này góp phần tạo ấn t-ợng, rung cảm thẩm mĩ gây thích thú ban đầu cho học sinh làm cơ sở tiếp cận đọc – hiểu chiếm lĩnh văn bản
2.1.2 Cắt nghĩa ngôn từ
Khi đọc – hiểu văn bản trữ tình trung đại nhất là văn bản thơ Đ-ờng luật th-ờng gò bó trong một số l-ợng câu chữ hạn hẹp, tuân theo quy định chặt chẽ về niêm, luật, vận, đối cùng với những đặc tr-ng độc đáo về mặt ngôn ngữ Do vậy, để thấy đ-ợc cái hay cái đẹp của văn bản phải đi sâu khai thác những đặc sắc về ngôn từ Một đặc điểm nổi bật về mặt ngôn ngữ của văn bản trữ tình trung đại là th-ờng sử dụng các từ cổ, từ khó hiểu, từ Hán Việt, các
điển tích điển cố Những loại từ này đối với học sinh ngày nay vô cùng xa lạ
và bí hiểm bởi vốn từ, vốn văn hóa của học sinh quá nghèo nàn cộng thêm những khác biệt về mặt ngôn ngữ đem lại Học sinh từ chỗ không hiểu nghĩa của từ dẫn đến không hiểu đựơc nội dung tác phẩm phản ánh, không nắm bắt
đ-ợc tâm sự của tác giả kí thác trong đó Cho nên muốn tiến hành đọc – hiểu văn bản phải tiến hành giải thích từ ngữ để học sinh hiểu đ-ợc ý nghĩa của từ, biết đ-ợc văn bản phản ánh nội dung gì, qua đó cung cấp cho các em một số l-ợng từ ngữ một vốn kiến thức về văn hóa cổ
Việc lí giải ngôn từ đ-ợc tiến hành trong giờ đọc – hiểu, đầu tiên phải
cho học sinh đọc phần Chú thích chân trang: phần này giải thích các từ ngữ
khó hiểu, từ cổ, những điển tích điển cố có trong văn bản để lí giải nghĩa gốc
Trang 3636
của từ, nghĩa phái sinh của nó trong văn bản Phần Chú thích chân trang sẽ
giúp học sinh hiểu nghĩa của từ b-ớc đầu định hình nội dung văn bản Kết hợp với hoạt động đọc chú thích của học sinh giáo viên khắc sâu một số từ ngữ quan trọng, tìm thêm một số từ ngữ có trong văn bản để giải thích thêm cho
học sinh Ví dụ, đối với văn bản Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi ở phần giải thích từ khó giáo viên cho học sinh đọc phần Chú thích chân trang, rồi giải
thích thêm mốt sỗ tú ngừ cõ trong văn b°n như: “hương liên” (sen họng), “trệ
” (ao), “tiển” (đầy, cõ thúa nhưng trong câu thơ cõ nghĩa l¯ nửc, ng²t ý cùa c° câu thơ có nghĩa là sen hồng trong ao đ± ng²t mợi hương), “tịch dương” (nãng chiẹu), “trưộng” (d¯i) … Việc làm này sẽ giúp học sinh hiểu đ-ợc nội dung văn bản phản ánh, hiểu đ-ợc tác giả muốn nói điều gì từ đó có dịnh h-ớng khai thác nghệ thuật văn bản L-u ý khi giải thích từ khó giáo viên phải thức dậy màu sắc của từ ngữ giúp các em hiểu đúng, chính xác ý nghĩa của từ Khi giải thích phải đặt nó trong hệ thống câu thơ, bài thơ để giải thích cho thấu
đáo
Bên cạnh những từ khó, từ cổ, văn bản trữ tình trung đại đặc biệt sử dụng nhiều điển tích điển cố vì theo quan niệm của ng-ời x-a văn ch-ơng dùng nhiều điển là thứ văn tao nhã Ng-ời x-a viết văn, làm thơ th-ờng m-ợn một tích x-a hoặc ý thơ của ng-ời khác để diễn đạt ý gọi là dùng điển tích
điển cố Thơ trung đại chuộng dùng điển, m-ợn sự việc câu chữ đời tr-ớc dùng lại trong tác phẩm nhằm mở rộng đổi mới ý thơ, tăng sức biểu hiện của hình t-ợng, Ví nh-, Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng tích x-a ở hai câu thơ cuối của
bài thơ Nhàn :
R-ợu đến cội cây ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
Tích x-a kể ông Thuần Vu Phần say đến lú lẫn nằm mê man d-ới gốc cây hòe mà ngỡ mình đang ở n-ớc Hòe An, đ-ợc công danh phú quý rất vinh hiển, sau bừng mắt tỉnh dậy thì hóa ra là một giấc mộng, thấy d-ới cành hòe phía nam chỉ có một tổ kiến Nguyễn Bỉnh Khiêm đã m-ợn tích x-a nh-ng đã
đổi mới mở rộng ý thơ Trong cuộc đời ẩn dật lánh đục về trong cũng có lúc
Trang 3737
uống r-ợu d-ới bóng mát cội cây nh-ng không lú lẫn mà rất tỉnh táo Tỉnh táo
để nhìn cuộc đời và nhắc nhở ng-ời đời tỉnh táo tránh xa sự cám dỗ của bả vinh hoa, công danh phú quý Ông xem th-ờng danh lợi nghĩ chúng là giấc chiêm bao, trút bỏ gánh nặng, thoát khỏi chốn đua chen để về với cuộc sống thanh nhàn Cuộc sống nhàn dật này là kết quả cũa một nhân cách trí tuệ cao
mở liên t-ởng gây h-ớng thú học tập, khơi gợi rung động thẩm mĩ ở học sinh
để các em hiểu đ-ợc tầng ý nghĩa sâu xa khuất lấp d-ới vỏ bọc ngôn từ để chiếm lĩnh văn bản một cách trọn vẹn
Một văn bản đ-ợc cấu thành từ hệ thống các từ ngữ, nên khi lí giải ngôn
từ không phải giải thích toàn bộ những từ có trong văn bản mà phải biết lựa chon những từ ngữ đặc sắc nhất, biết dừng lại ở những điểm sáng ngôn ngữ để khắc sâu trong giờ đọc – hiểu Mặt khác trong quá trình lí giải ngôn từ không chỉ dừng lại ở thao tác giải thích từ đó có ý nghĩa gì mà quan trọng hơn phải phân tích đ-ợc tính biểu cảm của từ đó trong văn bản để nhận thấy đ-ợc sự
độc đáo của nội dung và nghệ thuật tác phẩm Thấy đ-ợc tài năng của tác giả trong nghệ thuật dùng từ Chẳng hạn, những câu thơ miêu tả bức tranh thiên nhiên ngày hè ngồn ngộn sức sống :
Hòe lục đùn đùn tán rợp gi-ơng Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tiễn mùi h-ơng
Trang 3838
Nguyển Tr±i đ± dợng nhừng đống tú m³nh như “đợn đợn” ,“giương”,
“phun”, “tiển”, đề diển t° sửc sỗng thôi thủc tú bên trong đang ửa, đang căng tràn, đang ngát lên không kìm lại đ-ợc phải d-ơng ra, phải phun ra hết lớp này
đến lớp khác Qua bức tranh thiên nhiên sống động, ng-ời đọc cảm nhận đ-ợc
sự giao hòa mạnh mẽ mà tinh tế của nhà thơ và cảnh vật Nguyễn Trãi đã vẽ nên cảnh sắc ngày hè vừa có hình, có hồn vừa gợi tả vừa sâu lắng bằng tình yêu, sự đồng cảm thiết tha
Đối với những sáng tác trữ tình bằng chữ Hán việc dạy học chủ yếu bám vào hệ thống ngôn từ Tuy nhiên, việc giải thích từ ngữ ở bản phiên âm chữ Hán và bản dịch thơ là không nh- nhau Bởi nhiều lúc bản dịch thơ không trùng khít, không sát, không diễn đạt hết ý nghĩa của từ ngữ mà tác giả dùng trong nguyên tác Do đó, việc lí giải ngôn từ phải bám sát bản phiên âm vì nó
là dạng gốc của nguyên tác chữ Hán Song cũng không thể bỏ qua những từ
ngữ ở bản dịch thơ Chẳng hạn, ở câu thơ đầu của bài thơ Tỏ lòng (Phạm Ngũ
để bùng nổ T- thế ấy kết hợp với tầm nhìn bao quát cả non sông làm hiện lên hình ảnh kì vĩ về một ng-ời làm chủ đất n-ớc đang canh giữ, non sông, sẵn sàng đón đánh kẻ thù xâm l-ợc Tiếc rằng bản dịch thơ ch-a diễn tả đ-ợc hết
ý nghĩa này
Việc lí giải ngôn từ để thấy đ-ợc tác dụng của nó trong việc thể hiện nội dung t- t-ởng của tác phẩm có thể kết hợp với phát vấn, đặt câu hỏi của giáo viên để học sinh phát hiện, đặc sắc ngôn ngữ, hiểu ý nghĩa và có sự bình gi² vẹ nghế thuật dợng tú cùa t²c gi° đõ Ví như, viếc lí gi°i tú ngừ “nơi vãng vÍ”, “chỗn lao xao” trong câu thơ cùa Nguyển Bình Khiêm :
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Trang 39Học sinh sẽ giải quyết các câu hỏi này để lí giải ý nghĩa của từ và dụng ý nghệ thuật của chúng trong câu thơ, trong tổng thể bài thơ “Nơi vắng vẻ” là nơi tĩnh tại của thiên nhiên, nơi thảnh thơi của tâm hồn, còn “chốn lao xao” chốn quan tr-ờng, đ-ờng hoạn lộ đầy bon chen, luồn cúi, sát phạt “Ta dại” đối lập với “ng-ời khôn”, “nơi vắng vẻ” trái ng-ợc với “chốn lao xao” vừa là cách nói nhún nh-ờng vừa là mỉa mai, vừa là tự hào khẳng định lối sống thanh cao của minh: rời xa vòng danh lợi để về sống vui thú hòa hợp với thiên nhiên Câu thơ thể hiện triết lí “nhàn” của tác giả đó là sống hòa hợp thuận theo tự nhiên và
đối lập với danh lợi giữ cốt cách thanh cao
Nh- vậy, việc lí giải ngôn từ trong các văn bản trữ tình trung đại là một thao tác th-ờng xuyên tất yếu Giải thích từ ngữ sẽ giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, thấy đ-ợc giá trị sử dụng của nó trong văn bản, nhận ra dụng ý nghệ thuật của thi nhân khuất lấp sau lớp vỏ ngôn từ Hiểu thấu đáo từ ngữ sẽ thuận lợi cho việc nắm bắt, chiếm lĩnh giá trị văn bản một cách sâu sắc trọn vẹn
2.1.3 Phân tích hình t-ợng nhân vật trữ tình
Tác phẩm trữ tình là sản phẩm cá nhân của ng-ời nghệ sĩ chứa đựng tình cảm riêng t- thầm kín của cá nhân nhà thơ Những cảm xúc cá nhân ấy trong tác phẩm đ-ợc nhà thơ tự bộc lộ hoặc có khi nhập thân vào một nhân vật khác để nói hộ lòng mình Hình t-ợng nhân vật trữ tình mà tác giả xây dựng nên trong tác phẩm là để gửi gắm tâm sự, kí thác nỗi niềm sâu kín Đó có thể
là một trang nam nhi thời Trần với lí t-ởng sống cao đẹp; một vị quan quy ẩn nh-ng vẫn nặng lòng vì n-ớc vì dân; một ng-ời chinh phụ mòn mỏi ngóng trông tin chồng mà vẫn biệt vô âm tín; một ng-ời cung nữ bị bỏ rơi phải sống trong cảnh cô đơn, chán ch-ờng, tuyệt vọng …
Trang 4040
Hầu hết trong các văn bản trữ tình, tác gỉa th-ờng sáng tạo nên một hình t-ợng nhân vật trữ tình để nói hộ, bày tỏ nỗi lòng, kí thác tâm sự Do vậy khi tiến hành đọc – hiểu những văn bản này ng-ời giáo viên phải bám sát vào hình t-ợng nhân vật trữ tình để phân tích Qua đó giúp học sinh cảm nhận
đ-ợc những tình cảm dồn nén những suy t-ởng chồng chất của tác giả trong văn bản, đồng thời nắm đ-ợc mạch cảm xúc thấy đ-ợc sự chuyển biến tâm trạng của nhân vật trữ tình Để từ đó giáo viên và học sinh có thể hòa hợp
đồng cảm với cảm xúc, tâm t- của nhà thơ đ-ợc gửi gắm qua hình t-ợng nhân
vật ấy Trong bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão nỗi lòng của tác giả đ-ợc gửi
gắm, thể hiện qua hình t-ợng trang nam nhi với lí t-ởng sống cao đẹp: lập công (để lại sự nghiệp) lập danh (để lại tiếng thơm), sự nghiệp công danh của cá nhân thống nhất với sự nghiệp chung lớn lao vì dân vì n-ớc, trùng hợp với lí t-ởng bảo vệ Tổ Quốc
Đặc biệt ở thể loại ngâm khúc, các tác phẩm th-ờng là kết quả của bao mối suy t- dằn vặt của cá nhân con ng-ời trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể, con ng-ời ấy rất có ý thức về thân phận mình, về cuộc đời về sự thăng trầm của số phận Vì thế, tâm trạng chung của các nhân vật trữ tình th-ờng là buồn, sâù, đau đớn, những trạng thái cảm xúc ấy không chỉ nhẹ nhàng thoáng qua trong chốc lát mà triền miên, rên rỉ, day dứt Nhà thơ hình nh- ít bộc bạch diễn biến cảm xúc của mình một cách trực tiếp mà th-ờng cho ng-ời khác thấy trạng thái của mình để họ cảm thông Họ th-ờng bộc lộ nỗi lòng bằng cách kể những biểu hiện, việc làm, hành động bề ngoài nh- nhớ, trách, buồn, sầu, tính thời gian ngày tháng, mộng -ớc, dạo hiên vắng, trông bốn bể … Cho nên đối với các văn bản thuộc thể loại ngâm khúc khi dạy phải bám sát mạch cảm xúc trữ tình, tâm t- triền miên kéo dài của nhân vật trữ tình để thấy đ-ợc
sự chuyển biến trong tâm trạng nhân vật cũng nh- thái độ, tình cảm của nhà thơ gửi gắm sau hình t-ợng
Tình cảnh lẻ loi của ng-ời chinh phụ là một đoạn trích tiêu biểu trích từ khúc ngâm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, dịch giả Đoàn Thị Điểm
Hình t-ợng nhân vật đ-ợc xây dựng trong toàn bộ tác phẩm là ng-ời chinh