1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ hiện tượng tự nhiên trong tục ngữ

72 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 576,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tr-ờng đại học vinh Khoa ngữ văn ===  === đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ khóa Luận tốt nghiệp... Vì những lí do trên, từ góc độ củ

Trang 1

Tr-ờng đại học vinh

Khoa ngữ văn

===  ===

trần thị tuyết

đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những từ ngữ

chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ

khóa Luận tốt nghiệp

chuyên ngành: ngôn ngữ

Vinh - 2008

Trang 2

Tr-ờng đại học vinh

Khoa ngữ văn

===  ===

đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của những từ ngữ

chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ

khóa Luận tốt nghiệp

Trang 3

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã nhận đ-ợc sự h-ớng dẫn th-ờng xuyên, tận tình của thầy Phan Mậu Cảnh, cũng nh- sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, sự động viên, cổ vũ của bạn bè Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến thầy Phan Mậu Cảnh và các thầy cô giáo đã giúp đỡ, động viên để khoá luận này đ-ợc hoàn thành

Do thời gian và sự hiểu biết của ng-ời thực hiện đề tài còn hạn chế, nên mặc dù đã cố gắng rất nhiều nh-ng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, sai lầm Chúng tôi mong nhận đ-ợc những lời chỉ bảo, góp ý của các thầy, cô cũng nh- ý kiến của bạn bè

Vinh, tháng 5 năm 2008

Tác giả

Trần Thị Tuyết

Trang 4

Mục lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 4

4 Đối t-ợng nghiên cứu 5

5 Ph-ơng pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Bố cục của khoá luận 5

Nội dung 6

Ch-ơng 1 Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài 6

1.1 Về khái niệm tục ngữ 6

1.2 Lớp từ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tiếng Việt 21

Ch-ơng 2 Đặc điểm ngữ pháp của những từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ 24

2.1 Từ loại 24

2.2 Khả năng kết hợp của những từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên 25

2.3 Chức vụ ngữ pháp trong câu 34

2.4 Một số cấu trúc th-ờng gặp có từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên 34

Ch-ơng 3 Đặc điểm ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ 40

3.1 Nội dung của các từ chỉ hiện t-ợng tự nhiên 40

3.2 Vai trò của các từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ 60

Kết luận 66

Tài liệu tham khảo 67

Trang 5

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tục ngữ là một bộ phận quan trọng của văn học dân gian và là một

di sản hết sức quý báu l-u giữ trí tuệ của dân tộc đ-ợc truyền từ đời này sang

đời khác Ng-ời Việt Nam có lẽ không mấy ai lại không thuộc một vài câu tục ngữ và sử dụng nó trong những câu nói hàng ngày để diễn đạt tâm ý mình, làm cho lời văn của mình vừa t-ơi tắn màu mè lại vừa chính xác có sức thuyết phục R.Gam-za-tốp, nhà thơ Đaghextan nổi tiếng đã có một nhận xét rất chí lí: "Kẻ ngu làm ng-ời khác kinh ngạc bằng tiếng gào, ng-ời thông minh làm ng-ời khác kinh ngạc bằng câu tục ngữ dẫn ra đúng chỗ"

Vì thế, tục ngữ luôn là đối t-ợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn: Folklore, sử học, dân tộc học, phong tục học, văn học, ngôn ngữ học M Gorki đã từng khuyên các nhà văn trẻ nhất thiết phải học tập và sử dụng thành thạo tục ngữ nh- sử dụng bàn tay của mình Bác Hồ gọi tục ngữ là "những viên ngọc quý"

Trong thời đại ngày nay, với điều kiện của sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và các ph-ơng tiện thông tin đại chúng, tục ngữ vẫn tr-ờng tồn bởi vì nó gắn liền với khẩu ngữ, xâm nhập vào văn học thành văn, vận động trong các loại hình văn học dân gian và phát huy tác dụng mạnh mẽ trong đời sống quần chúng

1.2 Dân tộc Việt Nam có quá trình hình thành và phát triển hơn bốn nghìn năm, là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam á, có khí hậu nhiệt

đới gió mùa nóng ẩm m-a nhiều, là cơ sở thuận lợi cho việc phát sinh nghề trồng lúa n-ớc từ rất sớm Con ng-ời ở đây sống trong mối liên hệ với thiên nhiên, chan hoà với thiên nhiên; sống hoà hợp với thiên nhiên là mong muốn của c- dân các nền văn hoá trọng tĩnh ph-ơng Đông

Đối với nghề nông nhất là nông nghiệp lúa n-ớc, con ng-ời sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều, không phải chỉ phụ thuộc vào một, hai hiện t-ợng riêng lẻ nào mà là cùng lúc phụ thuộc vào tất cả: trời, đất, nắng, m-a,…

Trang 6

Bởi vậy ng-ời Việt đã tích luỹ đ-ợc một kho kinh nghiệm hết sức phong phú

về mối quan hệ giữa các hiện t-ợng thiên nhiên Những kinh nghiệm đó là một kho báu đối với đời sống nông nghiệp và ng- nghiệp ở n-ớc ta

Vì những lí do trên, từ góc độ của những ng-ời nghiên cứu ngôn ngữ,

chúng tôi tiến hành tìm hiểu đề tài: “ Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của các

từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ” là đề tài cần thiết để mọi

ng-ời nhận thức đ-ợc giá trị to lớn của tục ngữ trong đời sống tinh thần của ng-ời Việt và thấy đ-ợc vai trò của các từ chỉ hiện t-ợng tự nhiên khi tham gia cấu tạo ngữ pháp, ngữ nghĩa câu tục ngữ, khiến cho câu tục ngữ cô đọng, dễ nhớ mà không khô khan, khó hiểu

2 Lịch sử vấn đề

Tục ngữ là kho tàng vô giá của dân tộc, đã từng lôi cuốn sự chú ý của nhiều ngành khoa học khác nhau tìm hiểu, khai thác Các nhà nghiên cứu, các nhà s-u tầm đã dày công tìm hiểu, thu thập tục ngữ trong dân gian, trong các t- liệu cổ để biên soạn nên nhiều công trình quý giá Trong hơn 100 năm qua,

kể từ những năm đầu thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI, ở n-ớc ta đã

có tới 315 công trình lớn nhỏ nghiên cứu tục ngữ (theo thống kê của nhóm biên soạn cuốn "Kho tàng tục ngữ ng-ời Việt", Phần "Th- mục về tục ngữ" Nxb VHTT, 2002, trang 3203)

Công việc s-u tầm tục ngữ tr-ớc cách mạng Tháng Tám còn rời rạc, lẻ

tẻ, có thể kể đến một số công trình sau: "Nam ngạn trích cẩm" của Phạm Quang Sán (2 tập, năm 1918); "Tục ngữ cách ngôn" của Hàn Thái D-ơng (1920); "Điều tra về tục ngữ ph-ơng ngôn" của Ban Văn học Hội Khai trí tiến

đức (Nam Phong số 66, năm 1922); "Quốc ngạn" của L-ơng Thúc Kỳ (1931);

"An Nam tục ngữ" của Vũ Nh- Lân và Nguyễn Đa Gia (1933); "Phong giao,

ca giao, ph-ơng ngôn, tục ngữ" của Nguyễn Văn Chiểu (1936); "Ngạn ngữ phong giao" của Nguyễn Can Mộng (1941), "Việt Nam văn học sử yếu" của D-ơng Quảng Hàm

Trang 7

Các công trình s-u tầm trên đây ít nhiều đã có những đóng góp vào việc bảo tồn và giới thiệu đ-ợc một phần quan trọng vốn tục ngữ cổ truyền của dân tộc ta Tuy nhiên, về nội dung và ph-ơng pháp biên soạn ch-a đáp ứng đ-ợc nhu cầu tìm hiểu tục ngữ Các công trình này th-ờng s-u tầm bao hàm cả thành ngữ, tục ngữ và ca dao

Sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt khi Bộ Giáo dục đ-a tục ngữ vào ch-ơng trình giảng dạy từ cấp tiểu học đến đại học và sau ngày thành lập Viện Văn học, Viện Văn hoá dân gian thì những công trình có quy mô lớn nhỏ xuất hiện tạo ra một cảnh quan phong phú ch-a bao giờ có trong lịch sử nghiên cứu xã hội và nhân văn ở trong n-ớc

Năm 1975, nhóm tác giả Chu Xuân Diên, L-ơng Văn Đang và Ph-ơng

Tú đã cho ra đời tập sách "Tục ngữ Việt Nam" với số l-ợng 4151 câu, nhóm tác giả đã sắp xếp tục ngữ theo từng chủ đề nội dung

Năm 1996 có "Tục ngữ Việt Nam chọn lọc" của V-ơng Trung Hiếu gồm 9.000 câu tục ngữ và cũng đ-ợc sắp xếp theo chủ đề

Trong công trình "Tục ngữ, ca cao, dân ca Việt Nam" (xuất bản lần đầu tiên năm 1956) của Vũ Ngọc Phan đã tìm hiểu sự xuất hiện của tục ngữ, đ-a

ra các khái niệm và khái quát đặc điểm về nội dung và hình thức của tục ngữ

Ông đi sâu vào nghiên cứu các chủ đề, nội dung mà tục ngữ, ca dao, dân ca tập trung thể hiện

Nh-ng ở đây, Vũ Ngọc Phan không nghiên cứu từ góc độ của ngôn ngữ học nên ông không nhắc đến các lớp từ trong cấu tạo của tục ngữ

Đặc biệt công trình s-u tầm tục ngữ gần đây nhất phải kể đến: "Kho tàng tục ngữ ng-ời Việt" (2002) của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thuý Loan, Phan Lan H-ơng, Nguyễn Luân với số l-ợng 16.098 câu tục ngữ đ-ợc sắp xếp theo từng chủ đề

Các công trình nghiên cứu trên đây đã thể hiện tính công phu trong việc s-u tầm và sắp xếp theo nội dung chủ đề Điều này đã đáp ứng đ-ợc yêu cầu của việc tìm hiểu ngôn ngữ học đã có

Trang 8

Bên cạnh đó, ở góc độ ngôn ngữ học cũng có nhiều công trình nghiên cứu về tục ngữ và có sự phân biệt thành ngữ và tục ngữ nh-: "Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại" (1968) của Nguyễn Văn Tu, bài: "Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ và tục ngữ" của Cù Đình Tú, công trình "Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại" (1976) của Hồ Lê, "Từ vựng tiếng Việt" (1976) của Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành có bài viết: "Tục ngữ trong cách nhìn của ngữ nghĩa học" (Ngôn ngữ số 4 (1980)) Đặc biệt tác giả Nguyễn Thái Hoà với: "Tục ngữ Việt Nam cấu trúc và thi pháp" (1997), "Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam" (1999) của Phan Thị Đào,…

Nhìn chung, đã có rất nhiều công trình s-u tầm, biên soạn và nghiên cứu tục ngữ d-ới nhiều góc độ khác nhau, có những công trình đã chú trọng sắp xếp tục ngữ theo từng chủ đề nội dung, trong đó có chủ đề về hiện t-ợng

tự nhiên nh-ng cho đến nay ch-a có công trình nào đi sâu nghiên cứu kĩ các từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ, đây là một vấn đề hết sức thiết thực gần gũi với đời sống nhân dân ta đó là những kinh nghiệm quý báu mà ông cha ta đã tích luỹ hàng ngàn đời nay Những công trình s-u tầm và nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo rất cần thiết giúp chúng tôi tiến hành tìm hiểu

đề tài: "Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ"

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục đích

Tục ngữ là một pho sách l-u giữ trí tuệ của dân tộc từ đời này sang đời khác Đến với tục ngữ, chúng ta có thể coi nh- đã đến đ-ợc với tri thức của dân tộc và nhân loại Tục ngữ tồn tại và tham gia vào rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống về giới tự nhiên, quan hệ của con ng-ời với giới tự nhiên, về con ng-ời, đời sống xã hội của con ng-ời

Việc tìm hiểu các từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ là việc cần làm Qua việc tìm hiểu khảo sát các câu tục ngữ có từ chỉ hiện t-ợng tự

Trang 9

nhiên chúng tôi nhằm mục đích tìm hiểu về đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa và

thấy đ-ợc vai trò của các từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ

4 Đối t-ợng nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tiến hành khảo sát cuốn: "Kho tàng tục

ngữ ng-ời Việt" của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Kính, Nguyễn Thuý Loan,

Phan Lan H-ơng, Nguyễn Luân (Nxb Văn hoá Thông tin, 2002)

5 Ph-ơng pháp nghiên cứu

Tr-ớc đối t-ợng nh- vậy, chúng tôi sử dụng các ph-ơng pháp nghiên

cứu khác nhau: Ph-ơng pháp thống kê, phân loại; ph-ơng pháp phân tích miêu

tả; ph-ơng pháp so sánh đối chiếu và ph-ơng pháp phân tích tổng hợp

6 Đóng góp của đề tài

- Thống kê phân loại các từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ

Việt nam

- Chứng minh bộ phận tục ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên có vai trò quan

trọng trong cấu tạo và ngữ nghĩa của tục ngữ

- Thấy đ-ợc vai trò của những từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục

ngữ nói riêng và đối với dân tộc nói chung

7 Bố cục của khoá luận

Khoá luận gồm các phần: Mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo

Phần nội dung của khoá luận gồm 3 ch-ơng:

Ch-ơng 1: Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Ch-ơng 2: Đặc điểm ngữ pháp của những từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự

nhiên trong tục ngữ

Ch-ơng 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của những từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự

nhiên trong tục ngữ

Trang 10

nội dung

Ch-ơng 1

Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

1.1 Về khái niệm tục ngữ

1.1.1 Một số quan niệm về tục ngữ của các nhà ngôn ngữ học

ở Việt Nam, ngôn ngữ học phát triển muộn nh-ng rất quan tâm đến tục ngữ, đặc biệt là các nhà từ vựng học Họ đ-ợc thừa h-ởng thành tựu của các nhà nghiên cứu văn học nh-ng cũng vì vậy mà có khi lẫn lộn khái niệm, th-ờng là do ch-a phân định thật rạch ròi ranh giới các đơn vị ngôn ngữ

 Tục ngữ không phải là đơn vị ngôn ngữ mà là lời nói liên quan đến

cụm từ cố định

Đó là quan điểm của 2 ông Nguyễn Văn Tu (1968 và 1978) và Đái Xuân Ninh (1978) Trong cuốn "Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại" ông Nguyễn Văn Tu chủ tr-ơng: "Trong Tiếng Việt, những tục ngữ, ph-ơng ngôn và ngạn ngữ có liên quan đến thành ngữ và quán ngữ Chúng không phải là đối t-ợng của từ vựng học mà là đối t-ợng của văn học dân gian Nh-ng vì chúng là

đơn vị có sẵn trong ngôn ngữ đ-ợc dùng đi dùng lại để trao đổi t- t-ởng cho nên chúng dính dáng đến vấn đề cụm từ cố định Thực ra chúng là những câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung đầy đủ, không cần những thành phần cú pháp nào cả" [18,87]

Cùng chia sẻ với quan niệm này ta thấy có Đái Xuân Ninh, tác giả

"Hoạt động của từ tiếng Việt" (1978) Tác giả không chỉ xếp tục ngữ vào đối t-ợng của văn học dân gian mà cả ngạn ngữ, quán ngữ, nói chung là các cụm

từ cố định: "Cụm từ cố định bao gồm cả thành ngữ lẫn tục ngữ, ngạn ngữ, quán ngữ là đối t-ợng của văn học dân gian, vì tục ngữ, ngạn ngữ, quán ngữ cũng là những đơn vị sẵn có trong tiếng nói" [20,24]

Trang 11

Cả hai tác giả đều xem tục ngữ là đơn vị của lời nói chứ không phải là

đơn vị ngôn ngữ

 Tục ngữ là câu hoàn chỉnh diễn đạt một ý trọn vẹn có cấu tạo là kết

cấu 2 trung tâm (Cù Đình Tú, 1973)

Trong một bài báo trao đổi ý kiến với Nguyễn Văn Mệnh "Góp ý kiến

về phân biệt thành ngữ với tục ngữ", Cù Đình Tú sử dụng chức năng làm tiêu chí khu biệt thành ngữ và tục ngữ

"Thành ngữ là những đơn vị có sẵn, mang chức năng định danh, nói khác đi dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động " và "Tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn so với thành ngữ Tục ngữ cũng nh- các sáng tạo khác của văn học dân gian nh- ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một ph-ơng diện nào

đó của thế giới khách quan Do vậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý t-ởng Đó cũng là lí do giải thích tục ngữ có cấu tạo là các kết cấu hai trung tâm" [24]

Đóng góp của Cù Đình Tú là sử dụng chức năng làm tiêu chí khu biệt thành ngữ và tục ngữ Luận điểm đó đã đ-ợc nhiều ng-ời chấp nhận (Đái Xuân Ninh, Nguyễn Thiện Giáp) và là b-ớc tiến mới trong việc nghiên cứu những

đơn vị này Một đóng góp khá quan trọng là về mặt kết cấu, Cù Đình Tú cho rằng: Thành ngữ có kết cấu một trung tâm và tục ngữ có kết cấu hai trung tâm

Đây là những gợi ý quan trọng cho những ng-ời nghiên cứu tục ngữ

 Tục ngữ là những câu cố định, thành ngữ là những cụm từ cố định

(Hồ Lê, 1976)

Tác giả Hồ Lê trong "Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại" (1976)

ông đ-a ra khái niệm về tục ngữ nh- sau:" Tục ngữ là những câu cố định mang một nội dung đúc kết kinh nghiệm sản xuất hoặc đối nhân xử thế" [17,101]

Trang 12

Tác giả Hồ Lê gần với truyền thống các nhà nghiên cứu văn học ở chỗ tách nội dung khỏi hình thức và nh- vậy thì đ-a thêm nhiều loại, nhiều khái niệm mới chỉ gây rắc rối, lẫn lộn

 Tục ngữ là những thông báo (Nguyễn Thiện Giáp, 1976)

Giáo trình "Từ vựng tiếng Việt" của Nguyễn Thiện Giáp xem tục ngữ là

"ngữ mang chức năng thông báo" Phân biệt với các quán ngữ là những "ngữ mang chức năng nhấn mạnh, đ-a đẩy, rào đón" với thành ngữ là những "ngữ mang chức năng định danh" [10,25]

Trong lần tái bản "Từ vựng học tiếng Việt" (1985), tác giả đã sửa chữa,

bỏ quán ngữ và tục ngữ chỉ giữ lại một câu: "Các tục ngữ cũng đ-ợc dùng lặp

đi lặp lại nhiều lần trong lời nói nh- một đơn vị có sẵn; nh-ng khác với thành ngữ ở chỗ nghĩa của tục ngữ bao giờ cũng là một phán đoán Về mặt nội dung, nghĩa của tục ngữ gần với cụm từ tự do, bởi vì nó không biểu thị một khái niệm nh- thành ngữ, mà biểu thị một tổ hợp khái niệm"[tr.87]

Nh- vậy, tác giả không chú ý đến một nét trung gian đặc thù của tục ngữ mà tr-ớc đây (1976) tác giả đã khẳng định: "Tục ngữ thể hiện các b-ớc quá độ khác nhau giữa từ và kết cấu tự do" [10,25], vì vậy bỏ qua sự chuyển hoá giữa thành ngữ và tục ngữ

 Tục ngữ là những đơn vị ngữ cú hay là các ngữ vị (Tr-ơng Đông San,

1977)

Trong luận văn tiến sĩ: "Ngữ vị trong ngôn ngữ và trong lời nói", tác giả Tr-ơng Đông San không phân biệt thành ngữ, tục ngữ và quán ngữ mà gọi chung là ngữ vị

Theo quan niệm của tác giả, ngữ vị là đơn vị ngôn ngữ trên cấp độ từ vị gồm hai từ vị trở lên đ-ợc tái hiện trong lời nói d-ới dạng có sẵn, cố định về hình thức và về nội dung

Quan niệm này ch-a xác định đ-ợc rõ rệt đ-ờng ranh giới giữa tục ngữ

và câu, trong khi theo thói quen, tục ngữ vẫn đ-ợc xem là những câu có ý

Trang 13

nghĩa trọn vẹn, tồn tại độc lập mang kết cấu cố định, tức là khác các thành ngữ

về mặt cấp độ

 Tục ngữ là những câu - thông điệp nghệ thuật (Hoàng Văn Hành, 1980)

Trong bài "Tục ngữ trong cách nhìn của ngữ nghĩa học"(Ngôn ngữ số 4/1980) tác giả Hoàng Văn Hành từ góc độ ngữ nghĩa đã xem xét tục ngữ nh- một phức thể đa diện và quan niệm tục ngữ là câu - thông điệp nghệ thuật

"Khi nói tục ngữ là những câu - thông điệp nghệ thuật là cùng một lúc chúng

ta nhấn mạnh hai đặc tr-ng bản chất, không tách rời nhau của nó: Một là, tục ngữ là câu, nh-ng là câu đặc biệt khác với mọi câu nói thông th-ờng ở t- cách

là làm thông điệp nghệ thuật Hai là, tục ngữ là những thông điệp nghệ thuật, nh-ng là loại thông điệp nghệ thuật khác với mọi thông điệp nghệ thuật ở chỗ hình thức của nó chỉ là một câu" [13,59]

Đây là một cách nhìn khá mới đối với tục ngữ Việt Nam Quan niệm của Hoàng Văn Hành coi tục ngữ là câu phù hợp với cách xử lý trong thực tiễn

và truyền thống nghiên cứu văn học, và thông điệp nghệ thuật phù hợp với quan niệm của R.Jakobson là "tác phẩm thơ" hay là "tổng thể thi ca nhỏ nhất" Vấn đề là cần hiểu "câu" hay "đơn vị ngữ cú" đó nh- thế nào và "thông điệp nghệ thuật" tục ngữ là gì Điều quan trọng nữa là xem xét này đặt tục ngữ ở vị trí trung gian giữa câu và văn bản

Tóm lại, tục ngữ là đơn vị trung gian nằm ở giao điểm giữa ngôn ngữ và lời nói, là đơn vị có tính thông báo, vừa là câu đồng thời là một văn bản và có thể nói là giữa phong cách ngôn ngữ khoa học (đúc rút kinh nghiệm) và phong cách nghệ thuật (thông điệp nghệ thuật, tác phẩm thơ)

1.1.2 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ và ca dao

Thành ngữ và ca dao là những bộ phận rất dễ lẫn lộn với tục ngữ, việc xác định ranh giới giữa chúng là việc khó khăn và là vấn đề đặt ra đối với những ng-ời nghiên cứu về tục ngữ Với đề tài của chúng tôi là nghiên cứu về

Trang 14

một bộ phận của tục ngữ nên không thể không phân biệt Tục ngữ với những

đơn vị gần gũi và ít nhiều liên quan là thành ngữ và ca dao

1.1.2.1 Phân biệt tục ngữ với thành ngữ

Từ tr-ớc đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tục ngữ

ở các công trình này, có một số tác giả đặt đơn vị liền kề với tục ngữ là thành ngữ mà không có sự phân biệt hay giải thích rõ ràng Ví dụ nh- GS Nguyễn Lân trong "Từ điển tục ngữ, thành ngữ Việt Nam" (Nxb KHXH, 1997) giải thích gộp chung thành ngữ, tục ngữ theo thứ tự chữ cái A,B,C, chứ không tách riêng hoặc chú thích đâu là thành ngữ, đâu là tục ngữ Trong "Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam" của nhóm Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào, (Nxb Giáo dục,1993) cũng nh- vậy Bên cạnh đó lại có nhiều tác giả đi tìm ranh giới để phân biệt thành ngữ và tục ngữ

Ng-ời đầu tiên phân biệt thành ngữ và tục ngữ là tác giả D-ơng Quảng Hàm (1943): "Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn, hoặc chỉ bảo một điều gì Còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì cho có màu mè" [11,15]

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan (1978) tán thành ý kiến ấy và chỉ nhấn mạnh thêm: "Tục ngữ là một câu" còn "thành ngữ là một phần của câu là một nhóm từ"

Những kiến giải trên đ-ợc nhiều ng-ời chấp nhận, nh-ng vẫn còn băn khoăn lớn: Có những thành ngữ có cấu tạo ngữ pháp là một câu, ng-ợc lại có những câu gọi là tục ngữ lại chỉ có cấu tạo nhóm từ

Các tác giả Chu Xuân Diên, L-ơng Văn Đang và Ph-ơng Tri trong "Tục ngữ Việt Nam" (1975) đ-a ra tiêu chí phân biệt mới: "Thành ngữ là khái niệm

và tục ngữ là những phán đoán" [4,27 - 28] và" những tri thức ấy khi ta rút lại thành những khái niệm thì ta có thành ngữ, còn khi đ-ợc trình bày, đ-ợc diễn

đạt thành những phán đoán thì ta có tục ngữ " [4,73]

Trang 15

Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong cuốn "Văn học dân gian" đã đ-a ra hai tiêu chí để phân biệt nội dung và hình thức: "Tục ngữ là một thành phẩm trọn vẹn cả về hình thức và t- duy (có nội dung và ý nghĩa rõ ràng) Còn thành ngữ

là "bán thành phẩm" giống nh- những "tấm bê tông đúc sẵn", ở trong mỗi thành ngữ chỉ diễn đạt một khái niệm (chứ không phải là một phán đoán nh- tục ngữ) nghĩa là chỉ t-ơng đ-ơng với một từ hoặc một tổ hợp từ"

Tác giả Nguyễn Văn Mệnh đi sâu hơn vào việc phân biệt rạch ròi ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ trong bài "Ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ" (Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, 1972) Ông khẳng định: "Giữa thành ngữ và tục ngữ, có thể tìm ra những đặc điểm khu biệt rõ ràng ở cả hai ph-ơng diện nội dung và hình thức" ông kết luận: "Có thể nói nội dung của thành ngữ mang tính chất hiện t-ợng còn nội dung tục ngữ mang tính chất quy luật Từ sự khác nhau cơ bản về nội dung dẫn đến sự khác nhau về hình thức ngữ pháp, về năng lực hoạt động trong chuỗi lời nói Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ

là một cụm từ, ch-a phải là một câu hoàn chỉnh Tục ngữ thì khác hẳn Mỗi tục ngữ tối thiểu là một câu" [tr.13]

Cũng trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 1/1973, trong bài "Góp ý kiến về sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ ", tác giả Cù Đình Tú đã đ-a ra những tiêu chí chức năng để khu biệt thành ngữ và tục ngữ Theo ông: "Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tục ngữ là sự khác nhau về chức năng Thành ngữ là những

đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, nói khác đi, dùng để gọi tên một sự vật, tính chất, hành động " và "Tục ngữ đứng về mặt ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn so với thành ngữ Tục ngữ cũng nh- các sáng tạo khác của dân gian nh- ca dao, truyện cổ tích đều là các thông báo Nó thông báo một nhận định, một kết luận về một ph-ơng diện nào đó của thế giới khách quan

Do vậy, mỗi tục ngữ đọc lên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý t-ởng Đó cũng chính là lý do giải thích tục ngữ có cấu tạo là các kết cấu hai

Trang 16

trung tâm" [tr.14] Ngoài việc sử dụng chức năng làm tiêu chí để khu biệt tục ngữ và thành ngữ, ông còn có một đóng góp khá quan trọng khi đ-a ra quan niệm: Thành ngữ có kết cấu một trung tâm và tục ngữ có kết cấu hai trung tâm

Trong giáo trình "Từ vựng tiếng Việt", Nguyễn Thiện Giáp cho rằng:

"Tục ngữ là mang chức năng thông báo", "Phân biệt với thành ngữ là những ngữ mang chức năng định danh" [tr 25] Trong lần tái bản, ông viết: "Nh-ng khác với thành ngữ ở chỗ là nghĩa của tục ngữ bao giờ cũng là một phán đoán Về mặt nội dung, nghĩa của tục ngữ gần với cụm từ tự do, bởi vì nó không biểu thị một khái niệm nh- thành ngữ mà biểu thị một tổ hợp các khái niệm" [tr 87]

Từ các ý kiến của các tác giả trên đây có thể xác lập các tiêu chí để phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ nh- sau:

a Về nội dung ý nghĩa

Nội dung của tục ngữ là nội dung của phán đoán Tục ngữ nêu lên một kinh nghiệm sâu sắc, một nhận định cụ thể, một ph-ơng châm xử thế, một quan niệm, một kết luận Vì vậy, ý nghĩa của tục ngữ có thể suy ra từ ý nghĩa của các thành tố

Ví dụ:

- Gieo gió, gặt bão

Gây ra điều ác sẽ phải chịu hậu quả nặng nề, nghiêm trọng do điều đó mang lại

- Sấm kêu, rêu mọc

Một kinh nghiệm về quy luật phát triển của tự nhiên: Trời m-a đất ẩm -ớt thì rêu sẽ phát triển

- Muốn ăn cá, phải thả câu

Câu này vừa có nghĩa đen, vừa có nghĩa bóng, nh-ng th-ờng dùng theo nghĩa bóng: "Muốn đ-ợc h-ởng quyền lợi thì phải tốn công sức"

- Cây có cội, n-ớc có nguồn

(Cội: gốc; nguồn: nơi bắt đầu của sông, suối) Có ông bà cha mẹ mới

Trang 17

Nội dung của thành ngữ là nội dung của khái niệm ý nghĩa mà thành ngữ biểu thị là nghĩa bóng toát ra từ toàn bộ kết cấu chứ không phải suy ra từ từng thành tố

Thành ngữ có chức năng định danh (gọi tên một khái niệm, một hình

ảnh, một trạng thái) và chỉ là một bộ phận cấu tạo nên câu:

Diễn tả sự vất vả, lam lũ, cần cù

Tục ngữ có chức năng thông báo (diễn đạt 1 ý trọn vẹn)

Ví dụ:

- ác giả, ác báo

Làm điều ác sẽ gặp điều ác

- Có chí thì nên

Có hoài bão lớn, nhẫn nại, kiên trì thì sẽ thành công

- Nhất n-ớc, nhì phân, tam cần, tứ giống

Nêu lên kinh nghiệm sản xuất

Trang 18

- ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung

- Đẹp nh- tiên, lo phiền cũng xấu

Ranh giới giữa tục ngữ và thành ngữ chỉ mang tính chất t-ơng đối Khi bắt gặp những câu mà chúng ta không xác định đ-ợc nó thuộc thành ngữ hay tục ngữ thì cần phải dựa vào cả 3 tiêu chí trên

1.1.2.2 Phân biệt tục ngữ với ca dao

Giữa thành ngữ và tục ngữ có những đơn vị trung gian nửa nọ nửa kia khó phân biệt rạch ròi thì giữa tục ngữ và ca dao cũng vậy Tục ngữ và ca dao

là hai đơn vị gần gũi và ít nhiều có liên quan đến nhau Cả hai đều là những

đơn vị thông báo, trong tục ngữ và ca dao đều có những chủ đề: gia đình; hôn nhân, vợ chồng; lao động

Các nhà nghiên cứu văn học dân gian sử dụng tiêu chí nội dung để phân biệt tục ngữ và ca dao nh-ng có những câu khó xếp nó là tục ngữ hay ca dao, vì vậy các công trình s-u tầm th-ờng gộp chung lại là "Tục ngữ phong dao",

"Tục ngữ ca dao"

Trong giáo trình "Lịch sử văn học Việt Nam - Văn học dân gian" (1973) hai ông Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên xếp tục ngữ vào loại "lời ăn tiếng

Trang 19

nói của nhân dân" còn ca dao thì đ-ợc xếp vào các thể loại "trữ tình dân gian" Các tác giả đặt ra tiêu chí mới để phân biệt tục ngữ và ca dao: "Tục ngữ thiên

về lí trí" (nội dung triết lí dân gian) nêu lên những kinh nghiệm thời tiết, sản xuất, phán đoán

Ca dao thiên về tình cảm (nội dung trữ tình dân gian) Tục ngữ hình thành trong lời thoại hàng ngày, trong tình huống giao tiếp cụ thể (không gian, thời gian, ng-ời đối thoại) nhằm mục đích giao tiếp, ca dao lại thuộc một loại khác, đó là giao tiếp nghệ thuật (có thể ngâm, hát có nhạc kèn, theo làn điệu ) Ca dao là những văn bản nghệ thuật

Trang 20

1.1.3 Đặc điểm chung của tục ngữ

1.1.3.1 Đặc điểm về nguồn gốc

Theo Vũ Ngọc Phan trong cuốn "Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam" (Nxb Văn học, 2004), tục ngữ xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết Ban đầu nó mang hình thức thô sơ dần dần đ-ợc sửa đổi qua các thế hệ của loài ng-ời

Từ lâu, tiếng Việt Nam ta đã là một thứ tiếng độc lập Sử cũ Trung Quốc có chép: "Về đời vua Thành V-ơng nhà Chu (1109 tr-ớc công lịch) có n-ớc Việt Th-ờng ở phía Nam Giao Chỉ sai sứ đem chim bạch trĩ sang cống Phải phiên dịch 3 lần mới thông hiểu đ-ợc tiếng nhau"

Theo các nhà ngôn ngữ học, thứ tiếng nói tối cổ của dân tộc ta, do sự tiếp xúc giữa các dân tộc, đã chịu ảnh h-ởng các tiếng ấn Độ, Mã Lai, Trung Quốc Còn cụ thể ra, tiếng nói tối cổ ấy nh- thế nào, nó có giống tiếng Việt Nam ta nói bây giờ không thì vẫn ch-a rõ Mãi cuối thế kỷ VIII, sau khi Phùng H-ng chết, nhân dân lập đền thờ ông và suy tôn là "Bố Cái đại v-ơng", ng-ời ta mới căn cứ vào 2 chữ "bố cái" mà nói: Tiếng Việt Nam ta vào thời Phùng H-ng tuy ch-a phát triển mấy, nh-ng cũng đã gần giống thứ tiếng chúng ta nói ngày nay

Đến nay, ta vẫn còn câu tục ngữ:

- Con dại, cái mang

Câu này có thể là rất cổ, nói đến thời mẫu hệ: những hành động của con, ng-ời mẹ chịu hoàn toàn trách nhiệm Chúng ta không xác định đ-ợc câu này xuất hiện vào thời kỳ nào mà chỉ biết nó là một câu cổ về cả nội dung lẫn hình thức

Lại có câu: "Con mống, sống mang" chỉ vào thời phụ hệ Câu này cũng

là một câu cổ, còn nó xuất hiện vào thời nào, chúng ta cũng ch-a biết đ-ợc Chữ "mống" đây có nghĩa là nổi lên, làm một việc chống đối gì Còn "sống"

Trang 21

chỉ vào cha ("sống", "mái" tức là đực, cái) Câu trên này có nghĩa là: con làm việc gì cha phải chịu trách nhiệm Gia tr-ởng có quyền hành trong gia đình, nên khi trong gia đình xảy ra việc gì thì bọn thống trị tróc vào đầu gia tr-ởng

Việc đặt tục ngữ ra đời vào thời kỳ lịch sử nào chúng ta ch-a làm đ-ợc Vì: tục ngữ ít nói đến tên ng-ời, tên đất; ít nói đến những chuyển biến lớn trong xã hội Tục ngữ của ta nói nhiều đến thiên nhiên, đến tình duyên, đến gia đình Tục ngữ có nhiều câu, nhiều bài qua nhiều thế hệ và tuỳ theo từng

địa ph-ơng, đã bị sữa chữa cả về hình thức và nội dung không còn nguyên vẹn nữa Theo Vũ Ngọc Phan, ông sắp xếp những câu tục ngữ đã ra đời tr-ớc thời Pháp thống trị (tức cổ đại), những câu đã ra đời trong Pháp Nhật thuộc (tức cận đại), những câu xuất hiện từ Cách mạng tháng Tám trở lại đây (tức hiện

đại và đ-ơng đại)

Sự hình thành của tục ngữ Việt Nam có thể quy vào ba nguồn chính sau:

- Những câu tục ngữ hình thành trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân

- Những câu tục ngữ rút ra hoặc tách ra từ các sáng tác dân gian khác

- Những câu tục ngữ hình thành do con đ-ờng dân gian hoá những lời hay ý đẹp rút ra từ các tác phẩm văn học viết

1.1.3.2 Đặc điểm cấu tạo

Tục ngữ dù có cấu tạo nh- một cụm danh từ, cụm động từ nh-ng vẫn

là câu mang ý nghĩa trọn vẹn Đó là câu về thông báo một nội dung trọn vẹn, tức là có một chủ đề, một tổ hợp nghĩa và một ngữ điệu nhất định

Ví dụ:

- Tấc đất, tấc vàng

-Về ngữ điệu: Có một sự ngắt nhịp: Tấc đất/ tấc vàng

- Tổ hợp nghĩa:

+ "Đất" vốn rất rẻ, trái với "vàng" vốn rất quý, hiếm, đắt

+ ở một nơi nào đó, đất rất hiếm, rất đắt (tiền giả định 1)

Trang 22

+ Đất sản sinh ra hoa màu, lúa má nuôi sống con ng-ời (tiền giả

định 2)

- Chủ đề:

+ Giá trị của đất đai: không nên lãng phí, bỏ hoang

Phần lớn các câu tục ngữ gồm có hai vế:

Ví dụ:

- Sấm động / gió tan

- Một l-ợt tát / một bát cơm

- Đất thiếu trồng dừa / đất thừa trồng cau

Cách cấu tạo của các vế theo luật cân đối cả về âm thanh lẫn ý

và vần cách Dựa vào mức độ hoà âm có vần tuyệt đối và vần t-ơng đối

Trang 23

- Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa

- Ng-ời sống về gạo, cá bạo về n-ớc

* Vần cách hai âm tiết:

Ví dụ:

- Một miếng khi đói bằng một gói khi no

- Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng

- Lo trẻ mùa hè không bằng lo bò què tháng sáu

- Sợ mẹ cha không bằng sợ tháng ba dài ngày

* Vần cách năm âm tiết:

Ví dụ:

- Xới cơm thì xới lòng ta, so đũa thì phải so ra mọi đ-ờng

* Vần cách sáu âm tiết:

Ví dụ:

- Đen đông, chớp lạch, quái ráng hoa bầu, trong ba điều ấy

có lành đâu

Trang 24

* Vần tuyệt đối: Là hiện t-ợng láy lại toàn bộ phần vần ở một vị trí nào

đó trong câu tục ngữ

Ví dụ:

- Khôn đâu đến trẻ, khoẻ đâu đến già

- Sai con toán, bán con trâu

Vần là một hình thức nghệ thuật tạo nên âm h-ởng m-ợt mà cho tục ngữ, tạo ra những câu văn đọc nghe xuôi tai, dễ nhớ, dễ l-u truyền và phổ biến một cách có hiệu quả những kinh nghiệm trong quần chúng

Bên cạnh vần, nhịp là yếu tố không thể thiếu trong tục ngữ Nó "thể hiện ở các tạm ngừng khi nói, bắt nguồn từ sự cấu trúc hoá tục ngữ khi ng-ời

ta làm nó" Nhịp trong tục ngữ khá đa dạng và linh hoạt, nó góp phần phân xuất thành phần cú pháp và thành phần ngữ nghĩa của câu tục ngữ

Ví dụ:

- ăn trông nồi / ngồi trông h-ớng

- Uống n-ớc / nhớ nguồn

1.1.3.3 Đặc điểm ý nghĩa

Tục ngữ tồn tại và tham gia vào tất cả mọi lĩnh vực của cuộc sống, phản

ánh rõ nét sự hình thành những thói quen, tập quán, phong tục trong suy nghĩ cũng nh- trong hành động của ng-ời Việt Tục ngữ có nội dung phong phú phản ánh các hiện t-ợng thiên nhiên và các hiện t-ợng xã hội Nội dung t- t-ởng của tục ngữ Việt Nam rõ ràng bao hàm những phần tinh hoa nhất của

Trang 25

Tục ngữ cung cấp cho ngôn ngữ cửa miệng cũng nh- ngôn ngữ văn học một hình thức biểu hiện súc tích, giàu hình ảnh

Tục ngữ là tài sản tinh thần chung của nhân dân lao động "Tục ngữ là kết quả kinh nghiệm của mọi dân tộc, là l-ơng tâm của mọi thế kỉ kết thành công thức" (Rivarol) Tr-ớc đây, hiện nay và sau này tục ngữ vẫn sẽ giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của ng-ời dân Việt

Sự có mặt của tục ngữ không chỉ làm cho văn học dân gian có thêm một thể loại mà còn có ý nghĩa đóng góp tích cực vào sự tồn tại và phát triển của các thể loại khác trong đó tiêu biểu là thơ ca dân gian và thơ ca bác học Trong thơ ca cổ điển, đối với các nghệ sĩ lớn nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Du,

Hồ Xuân H-ơng những vinh quang chói lọi trong sáng tạo nghệ thuật của họ gắn liền với nghệ thuật vận dụng tục ngữ đạt đến trình độ tinh vi, điêu luyện Bác Hồ xem tục ngữ nh- là những "hòn ngọc qúy" Ng-ời đã vận dụng một cách thấm nhuần "cách nói, tiếng nói của quần chúng" trong văn chính luận của mình Có thể nói: "trong tục ngữ có một nhà triết lí và một nhà thơ Và khi tục ngữ lên tiếng là cả hai cùng nói lên sự thật và cái đẹp của cuộc sống và ngôn ngữ" [14,246]

1.2 Lớp từ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tiếng Việt

1.2.1 Về nguồn gốc

Theo ngôn ngữ học thống kê, "mọi ngôn ngữ tự nhiên đều tồn tại một lớp từ cơ bản" Những từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên thuộc lớp từ cơ bản của tiếng Việt cùng với những lớp từ khác nh- lớp từ chỉ bộ phận cơ thể ng-ời, lớp

từ chỉ hoạt động con ng-ời, lớp từ chỉ động vật, lớp từ chỉ thực vật,…

Tự nhiên là tổng thể nói chung tồn tại chung quanh con ng-ời mà không phải do con ng-ời tạo ra Những từ chỉ hiện t-ợng tự nhiên nh-: m-a, nắng, đất, trời, trăng, sao, bão, lụt,…

Lớp từ cơ bản trong tiếng Việt có đặc điểm chung: hầu hết là những từ

đơn tiết, đề cập đến những sự vật hiện t-ợng cơ bản nhất, cốt yếu nhất của xã

Trang 26

hội loài ng-ời ngay từ khi mới hình thành Vì thế, chúng xuất hiện từ xa x-a

và xuất hiện tất yếu với mọi dân tộc

Ng-ời ph-ơng Đông, trong đó có Việt Nam quan niệm thiên nhân hợp nhất Trong mối quan hệ giữa con ng-ời với tự nhiên, ng-ời Việt Nam phụ thuộc vào tự nhiên, n-ơng nhờ tự nhiên hơn là chiếm lĩnh tự nhiên Trong cuộc sống, ông cha ta luôn quan sát thế giới tự nhiên để dự báo về thời tiết phục vụ cho cuộc sống cũng nh- cho sản xuất nông nghiệp,ng- nghiệp

Qua thời gian, những kinh nghiệm này đ-ợc tích luỹ và ngày càng phong phú, đa dạng tạo nên một kho báu kinh nghiệm của cả dân tộc, điều này đ-ợc thể hiện rõ trong tục ngữ tiếng Việt - một thể loại văn học dân gian

"Gió": gió bấc, gió nam, gió heo may, gió nồm,

"Trời": trời nồm, trời gió, trời oi,

Nó còn là một yếu tố có khả năng tham gia cấu tạo nhiều đơn vị từ ngữ

cố định, có khả năng kết hợp dễ dàng với các từ khác trong vốn từ tiếng Việt Trong tục ngữ lớp từ chỉ hiện t-ợng tự nhiên xuất hiện với số l-ợng t-ơng đối lớn 590/16.098 câu

1.2.3 Về ý nghĩa

Con ng-ời tồn tại trong tự nhiên, bởi vậy mối quan hệ giữa con ng-ời và

tự nhiên là một mặt cơ bản của đời sống văn hoá F Ăng ghen: "Con ng-ời là

Trang 27

một phần của thiên nhiên hơn là một cái gì tách biệt với thiên nhiên Con ng-ời và thiên nhiên là một " Nghề nông, nhất là nông nghiệp lúa n-ớc ở n-ớc ta sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều Không phải chỉ phụ thuộc vào một hai hiện t-ợng riêng lẻ nào mà là cùng một lúc phụ thuộc vào tất cả: trời, đất, nắng, m-a, gió,

Ng-ời Việt tích luỹ đ-ợc một kho kinh nghiệm hết sức phong phú về hiện t-ợng tự nhiên, điều này đ-ợc thể hiện rõ trong kho tàng tục ngữ ng-ời Việt

Tự nhiên đó là những cái đ-ơng nhiên tồn tại, không phải do ý muốn, hiểu biết và sáng tạo của con ng-ời Là c- dân nông nghiệp nên m-a, gió, sấm, chớp,… và đặc biệt là mặt trời đã trở thành một trong những thần linh quan trọng đối với con ng-ời, đó là sự tôn trọng, sự sùng bái tự nhiên - tín ng-ỡng dân gian

Lớp từ chỉ hiện t-ợng tự nhiên có vai trò quan trọng trong cấu tạo và ngữ nghĩa của phát ngôn tục ngữ tiếng Việt.Nó có thể kết hợp linh hoạt với các động từ, tính từ, danh từ đi sau nó, có khả năng làm thành phần trung tâm của cụm danh từ, làm thành phần chính của câu (đứng đầu câu làm chủ ngữ của câu)

Tiểu kết:

ở ch-ơng này chúng tôi đ-a ra các quan niệm về tục ngữ của một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Việt Nam chúng tôi đi đến kết luận chung nhất: tục ngữ là đơn vị trung gian nằm ở giao điểm giữa ngôn ngữ và lời nói là đơn

vị có tính thông báo vừa là câu đồng thời là văn bản và có thể nói là giữa phong cách ngôn ngữ khoa học và phong cách nghệ thuật.Việc phân biệt tục ngữ với những đơn vị gần gũi nh- thành ngữ, ca dao để thấy rõ tục ngữ có phạm vi độc lập có đối t-ợng nghiên cứu riêng.Lớp từ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ mang đầy đủ những đặc điểm chung của tục ngữ,có vai trò quan trọng trong cấu tạo và ngữ nghĩa của tục ngữ

Trang 28

Có nhiều cách phân chia từ loại trong tiếng Việt, cách phân chia đ-ợc nhiều ng-ời chấp nhận hiện nay là phân chia tiếng Việt thành 9 loại: Danh từ,

động từ, tính từ, số từ, đại từ, phụ từ, kết từ, tình thái từ, trợ từ

Những từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tục ngữ tiếng Việt phần lớn thuộc từ loại danh từ: "danh từ là lớp từ có ý nghĩa phạm trù sự vật, biểu thị những đơn vị có thể nhận thức đ-ợc trên cơ sở tồn tại của chúng d-ới hình thức những hiện t-ợng trong tự nhiên và xã hội hoặc trong sự suy nghĩ của con ng-ời" [16,44]

Danh từ thuộc nhóm thực từ là một tiểu nhóm thứ hai sau động từ chiếm

số l-ợng lớn trong vốn từ tiếng Việt có khả năng kết hợp rất đa dạng và linh hoạt với các từ loại khác đứng tr-ớc và sau nó, có khả năng làm trung tâm của cụm danh từ, làm thành phần chính của câu

Trang 29

2.2 Khả năng kết hợp của những từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên

Những từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên trong tiếng Việt hầu hết thuộc nhóm danh từ chung không tổng hợp Xét về đặc điểm ngữ pháp danh từ có khả năng làm trung tâm của cụm danh từ Và làm thành phần chính của câu

Trang 30

2.2.1 Danh từ có khả năng làm trung tâm của cụm danh từ

Theo mô hình cụm danh từ của Nguyễn Tài Cẩn đ-a ra, có 7 vị trí, đây

là mô hình lí t-ởng của cụm danh từ

Ví dụ:

Tất cả/ những/ cái /con/ mèo/ đen/ ấy

1 2 3 D1 D2 -1 -2 Trong những câu tục ngữ có từ ngữ chỉ hiện t-ợng tự nhiên hầu hết có danh từ làm trung tâm của cụm:

- Trên trời có vẩy tê tê là m-a sắp sửa kéo về nay mai

- Đứng d-ới đất lo ng-ời trên cây

-Cá d-ới n-ớc biết đâu mà mò

- Cây trong rừng ai rung

Trang 31

Ví dụ:

thuyền câu thuyền l-ới chèo vào cho mau

bao giờ trông thấy Hòn Mê thì mừng

(Hòn Mê thuộc Tĩnh Gia - Thanh Hoá)

- "mây" kết hợp đ-ợc với các động từ: kéo, phủ, giăng, che,

Ví dụ:

(Hòn Rồng thuộc tỉnh Khánh Hoà)

(Cửa Đại thuộc Hội An - Quảng Nam)

* Trời:

- Th-ờng đi kèm với tính từ chỉ tính chất: cao, nồm, oi, giá,

Ví dụ:

- Đất thấp, trời cao

- Trời nồm tốt mạ, trời giá tốt rau

- Th-ờng đi kèm với các động từ: cho, gởi, đánh, sinh, trao,

Ví dụ:

- Hay làm thì no, trời cho mới giàu

- Trời sinh trời d-ỡng

- Trời đánh còn tránh miếng ăn

- Chê của nào trời trao của ấy

Trang 32

- Gió to mới biết cây cứng mềm

- Gió bấc hiu hiu, sếu kêu thì rét

- Kết hợp với các động từ: thổi, đ-a, đẩy, xua, lay,

Ví dụ:

- Gió thổi là chổi trời

- Gió xua m-a chạy, gió đẩy m-a tan

- Đông cây gió lay không đổ

Trang 33

- M-a chi m-a oán m-a thù, m-a quanh m-a quất bàu Thần Phù không m-a

(Làng Thần Phù thuộc xã Thuỷ Châu, H-ơng Thuỷ,

tỉnh Thừa Thiên - Huế)

- M-a tháng ba hoa đất

- M-a tháng bảy gãy cành trám

Trang 34

- N-íc Thanh Lam, ma Ngäc Béi

+ KÕt hîp víi danh tõ chØ thêi gian (th¸ng):

Trang 35

- Móng dài thì nắng, móng cụt thì m-a, móng vừa thì bão

- Mống cao gió táp, mống áp m-a rào

- Mống Cu Đê chạy về dọn gác, mống Cửa Đại cá mại chết khô

- Mống Cấm, mống Thơi, không động trời cũng cắn n-ớc

* Sao:

- Kết hợp với các tính từ: trong suốt, dày, th-a,…

Trang 36

Ví dụ:

- Sao trong suốt chẳng n-ớc gì đâu

- Sao dày thì m-a, sao th-a thì nắng

* Đất:

- Kết hợp với các tính từ chỉ tính chất: lành, tốt, xấu, rắn, thiếu, thừa, nỏ,

Ví dụ:

- Đất lành chim đậu

- Đất tốt trồng cây r-ờm rà, những ng-ời thanh lịch nói ra dịu dàng

- Đất xấu nặn chẳng nên nồi

- Đất rắn trồng cây khẳng khiu

- Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng rau

- Chớp thừng chớp chão, chẳng bão thì m-a

- Kết hợp với các danh từ riêng (địa danh):

Ngày đăng: 02/12/2021, 23:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Đức Các (1995), Tục ngữ với một số thể loại văn học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ với một số thể loại văn học
Tác giả: Trần Đức Các
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995
2. Nguyễn Đức Dân (1986), “ Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dông” , Ngôn ngữ, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dông”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1986
3. Chu Xuân Diên (2004), Mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 2004
4. Chu Xuân Diên, L-ơng Văn Đang (1975) , Tục ngữ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
5. Vũ Dung - chủ biên (1993), Từ điển thành ngữ - tục ngữ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ - tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung - chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
6. Hoàng Minh Đạo (2006), “ Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hóa học” , Ngôn ngữ, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận tục ngữ từ góc độ văn hóa học”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Minh Đạo
Năm: 2006
7. Phan Thị Đào (1999), Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam, Nxb Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Đào
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1999
8. Nguyễn Xuân Đức (2000), “ Về nghĩa của tục ngữ” , Ngôn ngữ, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nghĩa của tục ngữ”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Năm: 2000
9. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề văn học dân gian, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2003
10. Nguyễn Thiện Giáp (1985), Từ vựng Tiếng Việt, Nxb ĐH và THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN
Năm: 1985
11. D-ơng Quảng Hàm (1951), Việt Nam văn học sử yếu, Quốc gia giáo dục xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: D-ơng Quảng Hàm
Năm: 1951
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)(1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tõ ®iÓn thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
13. Hoàng Văn Hành (1980), “ Tục ngữ trong cách nhìn của ngữ nghĩa học” , Ngôn ngữ, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ trong cách nhìn của ngữ nghĩa học”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1980
14. Nguyễn Thái Hoà (1998), Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc và thi pháp, Nxb Khoa học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam - cấu trúc và thi pháp
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã Hội
Năm: 1998
15. Đinh Gia Khánh - chủ biên (1997), Văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh - chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
16. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Thị Kim Liên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
17. Hồ Lê (1976), Vấn đề cấu tạo từ Tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cấu tạo từ Tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1976
18. Nguyễn Lực, L-ơng Văn Đang (1993), Thành ngữ Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lực, L-ơng Văn Đang
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
19. Nguyễn Văn Mệnh (1972), “ Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ” , Ngôn ngữ, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Mệnh
Năm: 1972
20. Đái Xuân Ninh (1978), Hoạt động của từ Tiếng Việt , Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của từ Tiếng Việt
Tác giả: Đái Xuân Ninh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1978

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w