Lời cảm ơn Để hoàn thành tốt đề tài “So sánh cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm“, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận đ-ợc s
Trang 2khóa Luận tốt nghiệp
chuyên ngành: văn học Việt Nam trung đại
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
Ths Hoàng Minh Đạo
Sinh viên thực hiện:
Hà Thị hạnh
Lớp: 45B 2 - Ngữ văn
Vinh - 2008
Trang 3
Lời cảm ơn
Để hoàn thành tốt đề tài “So sánh cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ
trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm“, ngoài sự cố gắng nỗ
lực của bản thân, tôi còn nhận đ-ợc sự quan tâm, chỉ bảo tận tình của thầy
giáo h-ớng dẫn Hoàng Minh Đạo, những đóng góp ý kiến của các thầy cô
giáo trong tổ Văn học Việt Nam 1 - khoa Ngữ văn và sự cổ vũ động viên của ng-ời thân cùng bạn bè Nhân dịp này, cho tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành
đến thầy cô giáo và những ng-ời đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận
Do trình độ của ng-ời thực hiện đề tài này còn nhiều hạn chế nên khóa luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận đ-ợc những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn
Vinh, tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Hà Thị Hạnh
Trang 4Trang
A Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu 3
5 Lịch sử vấn đề 4
6 Cấu trúc khoá luận 8
B Nội dung 9
Ch-ơng 1 Những vấn đề chung 9
1.1 Vị trí của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tiến trình thơ Nôm trung đại Việt Nam 9
1.2 Phân biệt thành ngữ, tục ngữ 14
1.3 Khảo sát, thống kê, phân loại những bài thơ có vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm 17
Ch-ơng 2 Những điểm t-ơng đồng về việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm 33
2.1 T-ơng đồng về hình thức 33
2.2 T-ơng đồng về nội dung 43
2.3 Nguyên nhân sự t-ơng đồng 48
Ch-ơng 3 Những điểm khác biệt về việc vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm 51
3.1 Khác biệt về hình thức 51
3.2 Khác biệt về nội dung 61
3.3 Nguyên nhân sự khác biệt 69
C Kết luận 71
Tài liệu tham khảo 73
Trang 5A Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ những sáng tác có ảnh h-ởng của nền văn học dân gian và kết thúc bằng những vần thơ trào lộng của Nguyễn Khuyến, Tú X-ơng Trong quá trình phát triển lâu dài và rực rỡ ấy, phải kể đến đóng góp của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm Họ là đại biểu xuất sắc cho nền văn ch-ơng trung đại Việt Nam Có thể nói rằng: cả hai ông
đều có tài năng, có đóng góp lớn lao lâu dài cho nền văn học n-ớc nhà Họ tuy
là hai con ng-ời khác nhau, sống và sáng tác ở thời kỳ khác nhau, sự nghiệp văn học không giống nhau nh-ng họ gặp nhau ở việc sáng tác thành công văn học chữ Nôm Đây là loại văn ch-ơng mà không phải nhà văn, nhà thơ nào cũng thành công Nhờ sự đam mê miệt mài trong sáng tạo mà Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đã làm cho nền văn học chữ Nôm phát triển mạnh mẽ, phong phú, đa dạng
Vì lẽ đó, có nhiều ng-ời quan tâm, nghiên cứu về những đóng góp cho văn học chữ Nôm của hai tác giả Một điều đặc biệt nữa trong sáng tác thơ Nôm là, ngoài việc sử dụng câu lục ngôn, thì cả Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm sử dụng khá nhiều thành ngữ, tục ngữ Đây là những chất liệu quen thuộc của sáng tác dân gian
Trên thực tế, đã có nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu về cách
sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm Nh-ng hầu nh- ch-a tác giả nào làm phép so sánh về cách sử dụng nguồn chất liệu đó một cách hệ thống ở hai tác giả trên
1.2 Lựa chọn đề tài khóa luận “So sánh cách sử dụng thành ngữ, tục
ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm“, chúng tôi cố
gắng tìm hiểu một cách có hệ thống ở một số bài có sử dụng thành ngữ, tục
Trang 6sử dụng thành ngữ, tục ngữ của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm về cả hai ph-ơng diện nội dung và hình thức Đặc biệt để thấy đ-ợc sự ảnh h-ởng sâu sắc của văn học dân gian trong các sáng tác của hai ông
1.3 Đi vào tìm hiểu đề tài chúng ta thấy rõ mối quan hệ giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sáng tác thơ Nôm trung đại Việt Nam, đặc biệt là việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ thành công Nhờ đó họ gặp nhau, bổ sung cho nhau làm cho thơ Nôm phát triển hơn, đậm đà bản sắc dân tộc Từ
đó góp phần khẳng định đóng góp lớn lao của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tiến trình thơ Nôm Việt Nam Nó còn giúp ta giảng dạy tốt hơn,
có hiệu quả hơn những bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong nhà tr-ờng
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đi sâu tìm hiểu vấn đề một cách hệ thống bằng việc khảo sát, thống kê
và phân loại
Chỉ ra điểm t-ơng đồng trong cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm Điều này giúp chúng ta có thêm cách hiểu về thơ Nôm của hai ông, những giá trị nhân văn mà nó mang lại cho ng-ời đọc
Lý giải những nguyên nhân của sự t-ơng đồng và khác biệt khi hai tác giả sử dụng thành ngữ, tục ngữ vào trong sáng tác văn học.Từ đó giúp chúng ta hiểu sâu hơn về cuộc đời, sự nghiệp của nhà thơ, đặc biệt hiểu
đ-ợc những đóng góp to lớn của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm cho nên văn học dân tộc
Tóm lại, giải quyết tốt những nhiệm vụ trên sẽ góp phần khẳng định tài năng, sức sáng tạo của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm khi sử dụng nguồn chất liệu văn vần dân gian Từ đó, góp phần lý giải phong cách thơ của hai tác giả
Trang 73 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối t-ợng nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi nghiên cứu ở những bài có sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong các văn bản:
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện sử học: “Nguyễn Tr±i to¯n
tập“, Nxb Khoa học Xã hội, H.1976 Phần “Quốc âm thi tập“
- Văn học cổ cận đại Việt Nam: “Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm“, Nxb Văn học, H 1997 A Thơ Nôm khảo
3.2 Phạm vi nghiên cứu
ở Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi) gồm 254 bài chúng tôi chỉ nghiên cứu
mục Bảo kính cảnh giới gồm 61 bài
Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm phần Thơ Nôm khảo gồm 161 bài chúng
tôi chỉ nghiên cứu 61 bài theo thứ tự từ bài 1 đến 61
Về ảnh h-ởng sáng tác dân gian thì nhiều nh-ng chúng tôi chỉ nghiên cứu ở thành ngữ, tục ngữ
Bên cạnh đó, chúng tôi sử dụng ph-ơng pháp: Phân tích - Tổng hợp, nhằm khái quát hoá, cụ thể hoá từng vấn đề, đ-a ra những nhận xét đánh
Trang 8nhau và khác nhau trong cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ của Nguyễn Trãi
và Nguyễn Bỉnh Khiêm
Hơn nữa, đây là vấn đề thuộc quá khứ nên chúng tôi quán triệt quan
điểm lịch sử khi nghiên cứu
5 Lịch sử vấn đề
Tìm hiểu về cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, lâu nay có một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam quan tâm Sau đây là những ý kiến tiêu biểu:
5.1 Trong cuốn Học tập thơ văn nguyễn Trãi (viết chung với Đoàn Thu
Vân), Nxb Giáo dục, 1994, GS Lê Trí Viễn đã đ-a ra ý kiến:
GS Lê Trí Viển khàng định: “Đõng gõp lỡn nhất cho nẹn văn hóc nưỡc nh¯ cõ lẻ l¯ t²c phẩm “Quỗc âm thi tập sau b¯i hợng văn muôn đội “Bệnh Ngô
đ³i c²o” tập thơ ấy viễt b´ng tiễng Viết”, “Nguyển Tr±i mốt mặt nâng cao tiếng nói hàng ngày lên thành tiếng nói văn học, trong đó bên cạnh sự chọn lọc còn có sử dụng thích hợp lối văn học dân gian ở thành ngữ, tục ngữ; mặt khác đã làm tốt việc thu nhận và biến hóa nhiều t- liệu văn học Trung Quốc v¯o vỗn ngôn ngừ văn hóc cùa ta” [19, 22]
Nh- vậy, GS Lê Trí Viễn đã nêu lên ý thức của Nguyễn Trãi trong việc học tập ngôn ngữ quần chúng trong đó có thành ngữ, tục ngữ vào sáng tác thơ Nôm của ông Tuy vậy, vấn đề đặt ra trong bài viết của GS Lê Trí Viễn chủ yếu là khái quát nội dung Sự khái quát ở đây nếu nói về cách dùng thành ngữ, tục ngữ của Nguyễn Trãi thì còn rất chung và sơ l-ợc
5.2 Đại t-ớng Võ Nguyên Giáp trong Diễn văn kỷ niệm 600 năm sinh
Nguyễn Trãi đã viết:
“Thơ Nôm nguyển Tr±i đ± tiễp thu nhiẹu th¯nh tữu cùa văn hõa dân gian, văn học dân gian, củ khoai, quả ổi, bè rau muống, luống dọc mùng vốn rất xa lạ với văn ch-ơng bác học đã đ-ợc Nguyễn Trãi đ-a vào thơ Nôm của
Trang 9mình một cách rất tự nhiên Tục ngữ, thành ngữ, ca dao, những đặc điểm thanh điệu tiếng Việt, tất cả những khả năng phong phú ấy của ngôn ngữ dân gian đ-ợc Nguyễn Trãi khai thác rất tài tình, để cho hình t-ợng thơ có nhiều màu sắc dân tộc và lời thơ có âm điệu phong phú Nguyễn Trãi đã sớm coi tróng viếc l¯m gi¯u ngôn ngừ v¯ giừ gện sữ trong s²ng cùa tiễng Viết”(trang 4)
Đại t-ớng Võ Nguyên Giáp đã đề cập đến ảnh h-ởng của văn học dân gian đối với thơ Nôm Nguyễn Trãi trong đó có yếu tố thành ngữ, tục ngữ Tuy nhiên đó chỉ là nhận xét khái quát b-ớc đầu, không phải là một nghiên cứu chuyên sâu về ảnh h-ởng của thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
5.3 Bài viết của tác giả Bùi Văn Nguyên Âm vang tục ngữ, ca dao trong
thơ Quốc âm thi tập - Nguyễn Trãi (Tạp chí Ngôn ngữ, số 3/ 1980 đã trực
tiếp đề cập đến đến ảnh h-ởng của văn học dân gian đối với thơ Nôm của Nguyễn Trãi
T²c gi° viễt: “cõ thề nõi yễu tỗ tũc ngừ, ca dao kh² đậm đ¯ trong nhiẹu câu, nhiều bài thơ của ức Trai tiên sinh Tiếng của tổ tiên ta đ-ợc truyền lại gần nh- nguyên vẹn trong tục ngữ, ca dao qua bao thế hệ Tuy nhiên cho đến nay, chúng ta khó biết đích xác đ-ợc xuất xứ nhiều câu tục ngữ, ca dao cổ truyền Chính nhờ Nguyễn Trãi ghi lại một số câu tục ngữ ca dao trong thơ
“Quỗc âm” cùa mệnh m¯ chủng ta cõ đước c²i mỗc lịch sụ chãc chãn đề tệm hiều đước mốt d³ng vẹ tũc ngừ, ca dao vỡi ý nghĩa lịch đ³i cùa nõ” [10, 14]
Chàng h³n câu tũc ngừ “Miếng ăn nủi lờ” đước Nguyển Tr±i vận dũng viễt câu: “L¯m biễng hay ăn lờ nủi non” (B¯i 22 - Bảo kính cảnh giới)
Cuỗi cợng, t²c gi° khàng định “c²ch khai th²c vỗn cõ trong tũc ngừ ca dao cùa Nguyển Tr±i linh ho³t s²ng t³o” [10, 36]
Nguyễn Trãi lấy tục ngữ, ca dao trong hai cách sau:
Một là lấy trọn vẹn cả từ lẫn ý, hoặc gần nh- trọn vẹn và có chỉnh lý chút ít Hai là lấy ý chính trong một câu thơ cách luật hoặc lấy ý chính qua hai
Trang 10câu khác nhau, ghép lại thành hai câu thơ cách luật đối nhau trong phần thực hoặc luận
Bài viết này tác giả Bùi Văn Nguyên đã nêu khái quát ảnh h-ởng của thành ngữ, ca dao trong thơ Nôm Nguyễn Trãi Đồng thời khẳng định sự sáng tạo trong cách vận dụng văn học dân gian vào thơ Nôm của ông, góp phần nâng cao giá trị văn học của tiếng Việt, làm cho tiếng Việt thêm giàu, thêm đẹp
5.4 Chu Thiên trong cuốn Tuyết giang phu tử (Nxb Văn học, 1945) đã
đề cập đến vấn đề sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm nh-ng ch-a thực sự sâu sắc, kỹ l-ỡng và độc lập theo một hệ thống riêng T²c gi° viễt: “Đóc thơ Nguyển Bình Khiêm ta bãt gặp lội ăn tiễng nõi của nhân dân vỡi nhừng th¯nh ngừ, tũc ngừ, ca dao quen thuốc ” [15, 218]
Đây có thể xem là gợi ý hay cho những ng-ời nghiên cứu sau
5.5 Cuốn chuyên luận do Nguyễn Huệ Chi (chủ biên) Nguyễn Bỉnh
Khiêm - danh nhân văn hóa (Bộ VHTT và TT - Viện Khoa học xã hội Việt
Nam, 1991), đây là cuốn sách đ-ợc phôi thai từ hội thảo khoa học toàn quốc
về Nguyễn Bỉnh Khiêm nhân kỷ niệm 500 năm ngày sinh của ông (1491- 1991) đã tập hợp rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu về Nguyễn Bỉnh Khiêm nh-: Trần Đình H-ợu, Đặng Thanh Lê, Bùi Duy Tân Các tác giả cuốn sách đã đặt Nguyễn Bỉnh Khiêm trong một cái nhìn tổng thể hết sức cụ thể và sinh động, nghiên cứu ông với t- cách là một nhà t- t-ởng trong mối dung hòa vỡi mốt nh¯ thơ sãc s°o: “Ngưội đ± cõ nhừng đõng gõp lỡn lao cho
sự phát triển của văn học, tạo ra những sắc điệu và b-ớc ngoặt trong thơ cổ
điền dân tốc” [2, 420] Bên c³nh đõ c²c t²c gi° còn nhấn m³nh tính chất “tữ nhiên”, “trong s²ng”, “dể hiều” trong thơ Nguyển Bình Khiêm Đây l¯ nhừng t- liệu bổ ích cho đề tài này
5.6 Trong bài báo có tiêu đề Thử tìm cách xác định tác giả một số bài
thơ hiện ch-a rõ là Nguyễn Trãi hay Nguyễn Bỉnh Khiêm (Tạp chí Văn học,
Trang 11số 3/1986), tác giả Nguyễn Tài Cẩn đi vào phân loại những bài thơ lâu nay ng-ời ta lẫn lộn giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm Mở dầu bài viết, Nguyển T¯i Cẩn nõi rỏ “đây l¯ vấn đẹ phửc t³p đòi hài sữ cân nhãc vẹ nhiẹu phương diến” [1, 76]
Mặc dù phức tạp nh-ng tác giả đã tìm ra cách để phân biệt Đứng về mặt ngôn ngữ so sánh hai dị bản trong mỗi bài này có thể thấy bao giờ mỗi dị bản cũng có yếu tố chung và yếu tố riêng
Ví dụ: Câu đầu trong bài 161 (Nguyễn Trãi)
Câu đầu trong bài 6 (Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Nguyễn Trãi: “Yêu nhũc nhiẹu phen vẫn đ± túng”
Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Vinh nhũc ba phen hàn đ± túng”
Nghĩa là: “Yêu, nhiẹu chì thấy Nguyển Tr±i
Vinh, ba, chỉ thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhũc, phen, đ± túng l¯ chung c° hai”
[Sđd, tr 76]
Tú c²ch phân chia đõ t²c gi° đẹ ra phương ph²p so s²nh “xẽt cho cợng không có cách nào khác hơn là phải chịu khó đi vào chi tiết rất cụ thể, càng cụ thề c¯ng tỗt” [1, 77 ]
Nhờ đi vào chi tiết cụ thể, cuối cùng tác giả phân ra bài nào của Nguyễn Trãi, bài nào của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đây là một công trình nghiên cứu công phu, tỷ mỉ của Nguyễn Tài Cẩn Qua đây giúp ta hiểu đ-ợc những nét riêng biệt về Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm trong sáng tác, đặc biệt là cách dùng từ, trong đó có cả việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ Tuy nhiên cách xác
Trang 12nghiên cứu so sánh đối chiếu cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm các ch-ơng:
Trang 13Về văn chính luận ta biết đến ông qua Quân trung từ mệnh tập và Bình
Ngô đại cáo Về thơ có tập thơ chứ Hán ức Trai thi tập gồm 105 bài và tập
thơ chữ Nôm Quốc âm thi tập gồm 254 bài Trong những sáng tác đó, thơ
Nôm đóng vai trò quan trọng giúp nhà thơ thể hiện tấm lòng của mình, những cảm nhận tr-ớc thời cuộc, những tình cảm sâu sắc của một con ng-ời hết lòng vì dân vì n-ớc
Với tập thơ Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã trở thành nhà thơ Nôm lớn
đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam và ông nghiễm nhiên ở vị trí của một trong những ng-ời đặt nền tàng cho thơ ca dân tộc, là tác phẩm mở đầu của nền thơ cổ điển Việt Nam
Quốc âm thi tập có 254 bài thơ Nôm, lời thơ uyển chuyển, dung dị, gần
Trang 14chữ Hán, Tập thơ Nôm đại thành của Nguyễn Trãi có khả năng thể hiện sâu sắc tâm hồn dân tộc, cảm quan về thiên nhiên, quê h-ơng, đất n-ớc Ngoài ra, nhờ sử dụng ngôn ngữ dân tộc Nguyễn Trãi có thể bộc lộ các cung bậc tình cảm, các sắc thái trữ tình, thế giới nội tâm và mọi -u phiền một cách tự do, linh hoạt hơn Đóng góp của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt đều rất có giá trị, vì ông là ng-ời làm thơ tiếng Việt khi ngôn ngữ Việt ch-a chiếm lĩnh vị trí
đáng kể trong văn học dân tộc Phạm Văn Đồng- Nhà văn hoá lớn đã từng nhận xét sâu sắc,tinh tế về thơ Nguyễn Trãi và có những định h-ớng:
“Vẹ thơ Nguyển Tr±i, chủng ta nên quý tróng hơn thơ chừ Nôm, tiễng
ta của Nguyễn Trãi đó là vốn rất quý của văn học dân tộc Bình luận về thơ t-ởng không bằng đọc một vài câu thơ:
N-ớc biếc non xanh thuyền gối bãi
Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu
Thơ Nguyễn Trãi hay là vậy! V-ờn văn học n-ớc nhà có những hoa quả
đẹp và thơm ngon thế mà hình nh- chúng ta ch-a thấy hết giá trị tiếng nói của chúng ta có cái giàu cái đẹp của nó, phải biết yêu dùng nó, trau dồi nó, vì sao ph°i đi mướn đâu đâu?” [4, 2]
Bằng lao động nghệ thuật của mình, Nguyễn Trãi góp phần nâng cao giá trị văn ch-ơng của tiếng Việt, làm cho tiếng Việt ngày càng phong phú, càng có giá trị xứng đáng trong vai trò là ph-ơng tiện thứ nhất của văn học
dân tộc Chúng ta có thể nói Quốc âm thi tập là tập đại thành về thơ Nôm đã
góp phần vào v-ờn hoa văn học đầy màu sắc và đặt nền tảng cho thơ ca ngôn ngữ tiếng Việt Tài thơ của ông tập trung ở mối quan hệ giữa ngôn ngữ văn học với ngôn ngữ đời sống, ngôn ngữ bác họ với ngôn ngữ bình dân Bởi vậy trong tập thơ Nôm này chúng ta dễ dàng tìm thấy những bài học về kế thừa và phát huy ngôn ngữ dân tộc trong đó có ph-ơng tiện mang đậm tính chất dân gian nh-: thành ngữ, tục ngữ, ca dao Nguyễn Trãi có ý thức sâu sắc trong việc dùng thành ngữ, tục ngữ, xem nó nh- là một ph-ơng tiện ngôn ngữ đặc
Trang 15biệt để sáng tác văn học Chính điều này tạo phong cách riêng cho ông trong phong cách chung của các nhà văn, nhà thơ dân tộc
Nhân kỷ niệm 520 năm ngày mất của Nguyễn Trãi (1442-1962) ông Ph³m Văn Đọng đ± viễt: “Thơ cùa Nguyển Tr±i l¯ tâm họn cùa Nguyển Tr±i trong sáng và đầy sức sống Có ng-ời nói thơ của Nguyễn Trãi buồn vì cảnh
đời của Nguyễn Trãi buồn Thơ của Nguyễn Trãi có cái buồn, có câu buồn vì
lẽ gì chúng ta đều biết Nh-ng cả tập thơ của Nguyễn Trãi là thơ của một ng-ời yêu đời, yêu ng-ời, tâm hồn của Nguyễn Trãi sống một nhịp với nôn sông đất nưỡc tươi vui” (Nguyển Tr±i - Ng-ời anh hùng dân tộc - Báo Nhân dân, ngày 19/9/1962)
Đọc những lời của Phạm Văn Đồng về Nguyễn Trãi, ta mới thấy sức mạnh của Nguyễn Trãi đối với thơ Nôm nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung Nguyễn Trãi mãi là đỉnh núi luôn in bóng xuống dòng sông, là ngọn
đuốc sáng cho thế hệ sau học tập và noi theo
Nhân tài không bao giờ hết, tiếp sau Nguyễn Trãi có một ng-ời có đóng góp không nhỏ cho thơ Nôm Việt Nam, đó là Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.1.2 Vị trí của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tiến trình thơ Nôm trung
đại Việt Nam
Tấm lòng tiên -u đến già ch-a thôi Cùng, thông, đắc, táng ta có lo chi cho riêng mình
(Thơ chữ Hán - Tự thuật) Nguyễn Bỉnh Khiêm đã viết nh- vậy trong một số bài thơ tự thuật bày
tỏ niềm -u ái sâu sắc của chính mình Chính cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của ông đã phần nào thể hiện tấm chân tình ấy Sinh năm 1491, khi nhà Lê đã
đạt đến mức cực thịnh, mất năm 1585 khi nhà Mạc chiếm cứ phần lớn Bắc bộ, còn nhà Lê chiếm cứ từ Thanh Hoá trở vào, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cống hiến cho văn học gần suốt một thế kỷ Đây là giai đoạn mà giai cấp phong kiến đi
Trang 16dần đến sào huyệt suy thoái Ông là một tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam trung đại
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để cho đời một khối l-ợng tác phẩm lớn, có giá trị, viết bằng chữ Hán và chữ Nôm Tác
phẩm chữ Hán có Bạch Vân am thi tập với khoảng 1000 bài thơ, hiện nay chỉ còn non khoảng 2/3, một bài tựa, bài Trung tân quan bi ký và bài Thạch thánh
ký cùng một số bài văn tế Thơ Nôm của ông gộp lại trong tập Bạch Vân quốc ngữ thi tập khoảng 170 bài thơ làm theo thể Đ-ờng luật xen lục ngôn Ngoài
ra còn có các tác phẩm sấm ký nh-: Trình quốc công sẩm ký, Trình tiên sinh
quốc ngữ
Bạch Vân quốc ngữ thi tập là tập thơ Nôm có giá trị mà Nguyễn Bỉnh
Khiêm để lại Điều đặc biệt là tập thơ này không có tên đề mục cụ thể cho từng bài hay từng phần nh- thơ Nôm Nguyễn Trãi hoặc các tác giả Hồng Đức
ở thơ Nôm Nguyễn Trãi tuy không có đề mục từng bài cụ thể nh-ng lại có đề mục cho từng phần, mỗi phần gồm các bài ví dụ: Bảo kính cảnh giới (61 bài) Còn ở thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm từ bài 1 đến bài 20 chỉ là số thứ tự không
có đề mục từng bài hay từng phần
Nguyễn Bỉnh Khiêm có vai trò quan trọng cho giai đoạn văn học thế kỷ XVI, sáng tác của ông là tiếng nói chung của cả một tầng lớp trí thức dân tộc phải sống trong buổi suy vi của chế độ phong kiến Để bày tỏ nỗi lòng ấy ông tìm đến thơ Nôm nh- ng-ời bạn tâm giao để gửi gắm tâm sự
Trong sáng tác văn học dù đề tài thơ giống nhau nh-ng mỗi nhà văn có phong cách riêng biệt không lẫn với ai ví dụ: Cả Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Trãi đều nói đến cái nhàn tản nh-ng ở Nguyễn Bỉnh Khiêm không chứa niềm u uất của một nhân cách cao đẹp bị chèn ép mà chứa đựng sự chán nản về cuộc đời và suy t- triết lý sâu sắc.Hiểu đ-ợc nh- vậy ta mới khẳng
định đóng góp của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với thơ Nôm n-ớc nhà
Trang 17Ngôn ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp thu có chọn lọc, cải biến từ chất liệu văn học dân gian, thành ngữ, tục ngữ để trở thành câu thơ của mình Sự biến hoá ấy vừa mang âm h-ởng dân gian vừa mang đậm phong cách Nguyễn Bỉnh Khiêm Với việc dùng thi liệu văn học dân gian, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đóng góp một phần không nhỏ cho ngôn ngữ thơ Nôm Việt Nam vừa bình dị vừa mang tính triết lý sâu sắc.Trong thơ của ông có thiên nhiên đất n-ớc và cuộc sống con ng-ời Việt Nam Đó là sản vật của quê h-ơng, là lời ăn lối mặc, nếp nghĩ của ng-ời Việt Rõ ràng viết bằng tiếng mẹ đẻ, thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm đã phản ánh đậm đà nét đời sống của nhân dân, làm cho thơ Nôm đi vào lòng ng-ời một cách dễ dàng
Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm có tiếp thu ảnh h-ởng của văn liệu Hán học thành ngừ H²n hóc, khẩu ngừ H²n hóc đước Viết ho².Ví dũ: “Hậu sinh
kh° uý” (s²ch Luận ngữ), nghĩa là kẻ sinh sau là kẻ đáng sợ Nguyễn Bỉnh
Khiêm viết
Dẫu thấy hậu sinh thì dễ sợ Sừng kia chẳng mọc, mọc hơn tai
(Thơ Nôm - bài 73) (Nghĩa là: Không đ-ợc coi th-ờng, phải coi trọng ng-ời sinh sau mình vì kẻ sinh sau mình có tiềm năng có thể v-ợt mình, nh- sừng mọc sau tai nh-ng sừng sẽ dài hơn tai)
Thi liệu Hán học Việt hoá tuy không nhiều, nh-ng nhìn chung thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm ít từ ngữ điển cổ Hán học Điều đó chứng tỏ ý thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong việc vận dụng ngôn ngữ dân tộc Đọc thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm ta có thể khẳng định sự giản dị, thuần thục, thanh thoát của ngôn ngữ văn học Việt, trong việc đồng hoá thi liệu Hán học tiếp thu ảnh h-ởng ngôn ngữ bình dân và văn học dân gian Nhờ cách sử dụng ngôn ngữ nh- vậy nên nội dung trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm phong phú, đa
Trang 18những gì gần gũi quanh ta, đang diễn ra hàng ngày hàng giờ Đó là lời khuyên răn của ng-ời đi tr-ớc với con cháu, suy nghĩ về cuộc đời, về nỗi khổ của ng-ời dân, tất cả nỗi lòng tâm tình của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với non sông
Nguyễn Bỉnh Khiêm là cầu nối giữa văn học truyền thống và văn học giai đoạn mới Ông tiếp thu có chọn lọc truyền thống thơ ca dân gian của các tác giả đi tr-ớc, đồng thời luôn đổi mới mình để phù hợp với xu thế thời đại Bời văn chương luôn cần sữ s²ng t³o, “khơi nhừng nguọn chưa ai khơi v¯ s²ng t³o nhừng gệ chưa cõ” (Nam Cao)
Nói tóm lại, Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Trãi là những tác giả tiêu biểu của văn học trung đại nói riêng và văn học Việt Nam nói chung thành công ở thể loại thơ Nôm Họ gặp nhau ở cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ - những chất liệu văn học dân gian, để nói về cuộc đời, nhân tình thế thái Cả hai ông đều có vai trò to lớn trong nền văn học Việt Nam trung đại
1.2 Phân biệt thành ngữ, tục ngữ
Thành ngữ, tục ngữ là nguồn chất liệu quý giá và là đối t-ợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: folklore, sử học, dân tộc học, tâm lý học, phong tục học, văn học, văn hóc học, xã hội học Trên thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ Tuy nhiên, vấn đề phân biệt thành ngữ với tục ngữ từ tr-ớc đến nay còn có nhiều ý kiến tranh luận, bàn cãi,
có những nội dung thống nhất, nh-ng cũng có những vấn đề phạm vi còn ch-a
Trang 19nhất trí ở đây chúng tôi đề cập đến những công trình, bài viết trong văn học dân gian Việt Nam và ngôn ngữ học Việt Nam Có thể nói rằng các nhà nghiên cứu văn học đã đề cập đến nhiều vấn đề của thành ngữ, tục ngữ bằng
sự phân biệt thành ngữ với tục ngữ
Tác giả D-ơng Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (in lần 2 tại
H¯ Nối, 1951) đ± phân biết hai kh²i niếm “th¯nh ngừ” v¯ “tũc ngừ” như sau:
“Mốt câu tũc ngừ nõ ph°i cõ mốt ý đầy đù hoặc khuyên răn, hoặc chì b°o điẹu gì, còn thành ngữ chỉ là những lời sẵn để ta tiện dùng để diễn đạt một ý gì hoặc tr³ng th²i gệ cho cõ m¯u mè” [5, 15]
Từ định nghĩa trên, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan trong cuốn Tục ngữ
ca dao dân ca Việt Nam (Nxb Khoa học Xã hội, 1978) đã có sự phân biệt rõ
r¯ng hơn khi nhấn m³nh thêm: “Tũc ngừ l¯ mốt câu tữ nõ diển đ³t trón ven một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một lý luận, một công lý, có khi là một sự phong phú, thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu m¯ ngưội đ± quen dợng, nhưng tữ nõ không diển đ³t mốt ý trón vén” [12,30]
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đã ch-a đề cập đến những
đơn vị trung gian giữa thành ngữ và tục ngữ Mặc dù vậy, các thành tựu nghiên cứu văn học đã gợi ý cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học
Trong cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (1968) Nguyễn Văn Tu đã
khàng định r´ng: “Tục ngữ là một câu hoàn chỉnh chỉ một nội dung đầy đủ, không cần nhừng th¯nh phần củ ph²p n¯o c°” [16, 87] nhưng ông không xem tục ngữ là một đối t-ợng của từ vựng học mà là đối t-ợng của văn học dân gian
Cðng cõ ý kiễn cho r´ng, “Tũc ngừ l¯ mốt câu ho¯n chình” Cợ Đệnh Tủ
trong bài Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ (1973) đã sử dụng chức năng làm
tiêu chí khu biết th¯nh ngừ, tũc ngừ Ông cho r´ng: “Th¯nh ngừ mang chửc
Trang 20năng định danh, còn tũc ngừ mang chửc năng thông b²o” [s.đ.d, tr 12] đây l¯ một b-ớc tiến mới trong việc nghiên cứu đơn vị này
Còn Hồ Lê trong Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại (Nxb
KHXH, H¯ Nối, 1976) khi phân biết th¯nh ngừ, tũc ngừ đ± cho r´ng: “Th¯nh ngữ là những cụm từ cố định, còn tục ngữ là những câu cố định mang một nội dung đúc kễt kinh nghiếm s°n xuất hoặc đỗi nhân xụ thễ” [s.đ.d, tr26] Đây l¯ quan niệm gây nhiều rắc rối, lẫn lộn vì đã tách nội dung ra khỏi hình thức,
đồng thời lại đ-a thêm nhiều khái niệm khi phân biệt các khái niệm
Nhìn chung, các tác giả đã cho chúng ta một cách hiểu chung về thành ngữ, tục ngữ Giúp ta nhìn lại hai khái niệm này trên cả hai ph-ơng diện nội dung và hình thức Tuy nhiên, việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ chỉ mang tính chất t-ơng đối Vì trên thực tế có nhiều tr-ờng hợp rất khó để phân biệt
cụ thể là thành ngữ hay tục ngữ
ở đề tài này chúng tôi không đi sâu và phân biệt hai khái niệm thành ngữ và tục ngữ Để thuận tiện cho quá trình khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích, so sánh làm sáng tỏ vấn đề, chúng tôi xem thàng ngữ, tục ngữ là chất liệu văn vần dân gian Nó bền vững về mặt cấu tạo, hoàn chỉnh, bóng bẩy
về nghĩa Với một hình thức ngắn gọn nh-ng súc tích, giàu vần điệu, thành ngữ, tục ngữ đ-ợc sử dụng rộng rãi, giàu giá trị biểu cảm
Có thể nói, thành ngữ, tục ngữ là một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ tiếng Việt Nắm vững và sử dụng đúng chỗ thành ngữ, tục ngữ sẽ làm cho nội dung ngôn ngữ trở nên phong phú, sinh động và giàu tính thuyết phục.Nắm
đ-ợc những ý nghĩa to lớn của thành ngữ, tục ngữ nên nhiều nhà thơ đã có ý thức sử dụng nó trong các sáng tác văn học của mình Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm là hai tác giả đã đ-a nhiều thành ngữ, tục ngữ vào những sáng tác văn học, đặc biệt là trong sáng tác thơ Nôm Tuy nhiên, bên cạnh những t-ơng
đồng thì hai tác giả này cũng có nhiều nét khác biệt trong cách sử dụng thành
Trang 21ngữ, tục ngữ để đem lại những điểm riêng, độc đáo tạo giá trị cao cho các sáng tác nghệ thuật
Chúng ta sẽ đ-ợc thấy rõ điều này trong phần khảo sát, thống kê, phân loại thành ngữ, tục ngữ ở thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.3 Sự hiện diện thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.3.1 Trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
1.3.1.1 Khảo sát
Qua khảo sát 61 bài thơ Nôm mục Bảo kính cảnh giới trong tập Quốc
âm thi tập (trích trong cuốn Nguyễn Trãi toàn tập Nxb KHXH, Hà Nội, 1976)
chúng tôi rút ra một số điều sau:
Có 34/61 bài thơ có sử dụng thành ngữ, tục ngữ chiếm 55,73%
Tuy nhiên đây chỉ là tỷ lệ t-ơng đối vì ở mục Bảo kính cảnh giới có
những bài thơ trùng với thơ Quốc âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà ta ch-a xác
định cụ thể là của ai
Ví dụ:
Giàu sang ng-ời trọng, khó ai nhìn
Giàu ng-ời họp khó ng-ời tan
Có 61 thành ngữ, tục ngữ đ-ợc Nguyễn Trãi sử dụng với 62 l-ợt, nh- vậy trung bình cứ 7,9 câu thơ thì xuất hiện một thành ngữ, tục ngữ Trong đó
có 19 thành ngữ, tục ngữ Hán -Việt, chiếm 30,6%, và 43 thành ngữ, tục ngữ thuần Việt chiếm 69,4%
Trong 34 bài thì tác giả sử dụng từ 1- 6 thành ngữ, tục ngữ ở các bài:
Trang 22Sử dụng một thành ngữ, tục ngữ có 20 bài, chiếm 58,8% (gồm các bài:
Không có bài sử dụng 5 thành ngữ, tục ngữ nh-ng đặc biệt có duy nhất
1 bài sử dụng tới 6 thành ngữ, tục ngữ (trên 8 câu thơ) đó là bài 149, chiếm 2,94%
Tỷ lệ này cho thấy Nguyễn Trãi đã sử dụng một số l-ợng thành ngữ, tục ngữ rất phong phú trong sáng tác thơ Nôm của mình
Về vị trí của các thành ngữ, tục ngữ chúng tôi nhận thấy:
ở vị trí đầu bài có 9 thành ngữ, tục ngữ đ-ợc sử dụng, chiếm 14,5% (gồm các bài: 140, 144, 145, 147, 148, 149, 160, 172, 182)
ở vị trí giữa bài (từ câu 2-7) có 44 thành ngữ, tục ngữ đ-ợc sử dụng, chiếm 71% (gồm các bài: 128, 129, 131, 133, 135, 136, 140, 141, 142, 142,
Trang 23- “Cùa nhiẹu sơn d± đem nhau đễn
Khõ ờ kinh th¯nh thiễu kÍ ban”
Lòng ng-ời quanh tựa n-ớc non
quanh”
(Thơ Nôm - Bài 136)
- “Phủ quý thệ nhiẹu kÍ đễn chen
Vỗn đội thễ th²i tính chưa quen”
(Thơ Nôm - Bài 140)
- “Cơm ăn miển cõ,dầu xoa b³c
²o mặc âu chi qu°n cð đen”
- Qua ngày đoạn tháng
- Khỏi nhà ra thất nghiệp
- Miệng hùm hang sói
- Thế thái nhân tình (HV)
- Cơm ăn áo mặc
- Tạc đỉnh canh điền (HV)
- Kẻ khen ng-ời chê
Trang 24đòn
- Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng
- Của ng-ời thì bồ tát, của mình
thì buộc lạt
- Miếng ăn thì đến, miếng đòn
thì đi
Trang 25- “Trong t³o ho² cõ cơ mầu
Hay đổ hay dúng mỡi kÍo âu”
- Hột cải mũi kim (HV)
- Đ-ờng danh lối lợi
Trang 26- “Thấy bề triẹu quan đ± ng³i vướt
Trong dòng phẳng cõ phong ba”
Trang 27- “Quân tụ nưỡc giao âu nhừng l³t
Hiẹn nhân rướu thễt ló l¯ nọng”
Mục đích của việc phân loại này nhằm tìm hiểu giá trị của những thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, đồng thời thấy đ-ợc sự linh hoạt, sáng tạo trong cách sử dụng thành ngữ, tục ngữ của Nguyễn Trãi
Trong 61 bài thơ Nôm thành ngữ, tục ngữ sử dụng ở dạng nguyên thể chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, theo thống kê có 6 thành ngữ, tục ngữ dùng nguyên dạng chiếm 9,7% Đặc biệt có 2 thành ngữ, tục ngữ Hán-Việt chiếm 3,2% và 4 thành ngữ, tục ngữ thuần Việt chiếm 6,5%
Trang 28Ví dụ: Tạc đỉnh canh điền tự tại nhàn
(Thơ Nôm - bài140) (“T³c đình canh điẹn”, nghĩa l¯: đ¯o giễng m¯ uỗng, c¯y ruống m¯ ăn, chẳng nhờ cậy ai, cũng chẳng ai c-ớp của mình)
Vạn diệp thiên chi bởi một cây
(Thơ Nôm -bài 145) (“V³n diếp thiên chi”, nghĩa l¯: nghện l² nghện c¯nh)
- Sáng tạo tổ hợp mang tính thành ngữ, tục ngữ có 13 thành ngữ, tục ngữ, chiếm 21,1% (gồm các bài: 128, 140, 141, 145, 150, 153, 154, 165, 172,
1.3.2 Trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.3.2.1 Khảo sát
Chúng tôi lựa chọn 61 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm (từ bài 1
đến bài 61, trích thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm - in trong cuốn Thơ văn
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Văn học, Hà Nội, 1997) và rút ra những điểm sau:
Có 45/61 bài thơ Nôm có sử dụng thành ngữ, tục ngữ chiếm 73,8% Nh-ng ở phần khảo sát thơ Nôm Nguyễn Trãi chúng tôi đã giới thiệu thì đây chỉ là tỷ lệ t-ơng đối vì ở hai tác giả này có nhiều bài trùng nhau
Trang 29Nguyễn Bỉnh Khiêm đ-a vào sử dụng 55 thành ngữ, tục ngữ với 65 l-ợt, nh- vậy trung bình cứ 7,5 câu thơ thì xuất hiện 1 thành ngữ, tục ngữ Trong số
đó có 13 thành ngữ, tục ngữ Hán - Việt, chiếm 23,6% và 42 thành ngữ, tục ngữ thuần Việt, chiếm 76,4%
Trong 45 bài thơ thì tác giả sử dụng từ 1-5 thành ngữ, tục ngữ ở các bài:
Sử dụng 1 thành ngữ, tục ngữ có 29 bài, chiếm 64,4% (gồm các bài: 3,
ở thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu sử dụng 1 thành ngữ, tục ngữ
và không có bài nào sử dụng 4;5 thành ngữ, tục ngữ
Vị trí của các thành ngữ, tục ngữ chúng tôi khảo sát và rút ra kết luận sau:
ở vị trí đầu bài có 13 thành ngữ, tục ngữ đ-ợc sử dụng chiếm 20% (gồm các bài: 1, 3, 5, 14, 16, 17, 18, 36, 41, 48, 49, 58, 61)
ở vị trí giữa bài có 42 thành ngữ, tục ngữ đ-ợc sử dụng chiếm 64,6% (gồm các bài: 1, 2, 2, 4, 6, 8, 10, 10, 11, 15, 19, 19, 20, 21, 26, 30, 31, 32, 34,
34, 37, 39, 39, 40, 41, 41, 41, 42, 43, 43, 43, 45, 46, 48, 50, 53, 54, 57, 58, 59,
60, 61)
Vị trí cuối bài có 10 thành ngữ, tục ngữ đ-ợc sử dụng chiếm 15,4% (gồm các bài: 10, 11, 12, 15, 19, 22, 40, 54, 55, 61)
Thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu cũng
đ-ợc đ-a vào sử dụng ở vị trí giữa bài thơ Đây cũng là dụng ý của tác giả và chúng ta sẽ đ-ợc tìm hiểu ở phần so sánh
Trang 301.3.2.2 Thèng kª, ph©n lo¹i (Qua kh¶o s¸t 61 bµi th¬ N«m)
- “LÇn lõa ng¯y qua th²ng qua
Mèt phen xu©n tìi mèt phen gi¯”
- “Kh«n ngoan mìi biÔt th¨ng thÖ gi²ng
D³i dèi n¯o hay tiÒu câ ®¯i”
(Th¬ N«m- bµi 2)
- “Gi¯u ba bõa khâ hai niªu
Yªn phËn thÖ h¬n hÔt mãi ®iÑu”
- Qua ngµy ®o¹n th¸ng
- ¦u d©n ¸i quèc
- Yªu nªn tèt, ghÐt nªn xÊu
Trang 31- “Thanh vãng thủ quê, gi¯u nấn ná
Dừ l¯nh miếng thễ mặc chi khen”
(Thơ Nôm -bài 8)
- “Kệa ai °i bãc lưng đeo ấn
Nó kh²ch ngòi đông tay rư câu”
(Thơ Nôm- bài 9)
- “Hối c° công danh nhiẹu tho° chí
Thủ n¯h sơn r± mấy hay mợi”
(Thơ Nôm- bài 10)
- “L¯m ngưội chỡ thấy t¯i m¯ cậy
Có nhọn bao nhiêu l³i cõ tợi”
(Thơ Nôm- bài 10)
- “Niẹm xưa trung ²i thẹ chàng phũ
C¯nh cð điẹn viên thủ đ± quen”
(Thơ Nôm- bài 11)
- “Trội cðng biễt nơi l¯nh dừ
Ho³ phủc chàng dong c²i tõc chen”
(Thơ Nôm- bài 11)
- “Yêu đội phận gi¯u tữ t³i
Lành dữ khen chê, cũng mặc ai”
(Thơ Nôn - bài 12)
- “Tuồi gi¯ ngo³i t²m mươi gi¯
Thoăn thoãt xem b´ng bõng ngữa qua”
(Thơ Nôm - bài 14)
- “Gi¯ đước thủ quê dầu nấn n²
Nghĩ xem thễ sữ biễng đua chen”
Trang 32- “Quân tụ mỡi hay ngưội xuất xử
Trướng phu cðng cõ chí anh hợng”
-Aỉ tần non thục
- Tiến thoái l-ỡng nam (HV)
- Ma nhi bất lận, nát nhi bất truy
(HV)
- Thớt tanh ruồi đậu
- Tuế hàn tam hữu (HV)
- Một điều nhịn bằng chín điều lành
- Đắp tai cài cốc
- Quân tử tr-ợng phu
- Thiên hạ vi công (HV)
Trang 33- “Dụng dưng mói viếc g²c bên ngo¯i
Dầu đước, dầu thua, ai mặc ai”
- “Ngưội nhiẹu hầu h³ nên quân tụ
Ta ít đua chen cðng trướng phu”
- Dầu đ-ợc dầu thua
- Hậu sinh khả uý (HV)
- Quân tử tr-ợng phu
- Có bột mới gột nên hồ
Trang 34- “Gi¯u ngưội hóp, khõ ngưội tan
Thõi ấy h´ng lẹ sữ thễ gian”
(Thơ Nôm - Bài 46)
- “M°ng tiễng dừ l¯nh tai qu°n đãp”
(Thơ Nôm - Bài 46)
- “L¯m ngưội chen chủc nhóc đua hơi
Chàng kh²c nhân sinh ờ gụi chơi”
- “Thỡt cõ tanh tao ruọi mỡi đậu
Ang không mật mỡ kiến bò chi?
- “Kiễn th²c bời ang bợi ngót
Ruọi qua vệ b²t đãng cay”
- Tuế nguyệt nh- thoa (HV)
Trang 35tố phụ hay chọn hình ảnh hoặc sử dụng một vế
Tiến hành phân loại theo tiêu chí này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể trong cánch sử dụng thành ngữ, tục ngữ của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ông sử dụng dạng nguyên thể nhiều hơn hay ở dạng chế biến (không nguyên dạng)
Điều này giúp chúng ta khẳng định tài năng sáng tạo của Nguyễn Binh Khiêm khi sử dụng nguồn chất liệu của văn học dân gian Hơn nữa, giúp chúng ta dễ dàng so sánh tỷ lệ sử dụng thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và
Trang 36Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đ-a một số l-ợng lớn thành ngữ, tục ngữ vào trong sáng tác thơ Nôm của mình Chúng tôi nhìn thấy cách sử dụng chất liệu văn học dân gian này của tác giả cũng hết sức linh hoạt và sáng tạo Cụ thể nh- sau:
Khảo sát 61 bài thơ Nôm thành ngữ, tục ngữ đ-ợc tác giả sử dụng ở dạng nguyên thể chiếm tỉ lệ rất nhỏ Thống kê cho they chỉ có hai thành ngữ, tục ngữ nguyên dạng, chiếm 3% (gồm các bài: 37 và 61) không có thành ngữ Hán -Việt dùng nguyên thể
Ví dụ: Non xanh n-ớc biếc x-a là hẹn
(Thơ Nôm - bài 37) (“Non xanh nưỡc biễc”: diển t° c°nh thiên nhiên tươi đép)
Gối vác, nằm s-ơng than Tấn Tuỳ
(“No lòng ấm cật”: ý nõi đội sỗng vật chất đước đ°m b°o)
Sáng tạo những tổ hợp mang tính thành ngữ, tục ngữ có 18 thành ngữ, tục ngữ, chiếm 27,7% (Gồm các bài 2, 2, 9, 12, 16, 17, 20, 34, 40, 41, 43, 49,
Trang 37Ch-ơng 2
Những điểm t-ơng đồng về việc vận dụng
thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
và Nguyễn Bỉnh Khiêm
2.1 T-ơng đồng về hình thức
Nói đến hình thức và sử dụng thành ngữ, tục ngữ là nói cách sử dụng, vận dụng nh- thế nào trong bài thơ ? Đó là về số l-ợng câu dùng trong bài, tỷ
lệ, vị trí sắp xếp Giống nhau về hình thức sẽ dẫn đến giống nhau về nội dung
Sự giống nhau ấy thể hiện ở các ph-ơng diện sau:
2.1.1 Sự t-ơng đồng về số l-ợng bài, tỷ lệ và vị trí của thành ngữ, tục ngữ
Theo khảo sát ngẫu nhiên 61 bài thơ trong Bảo kính cảnh giới của
Nguyễn Trãi và 61 bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì số l-ợng tỷ lệ thành ngữ, tục ngữ ở hai tác giả có nét t-ơng đồng, họ đã đ-a vào sử dụng ở nhiều bài thơ chiếm tỷ lệ khá cao
Nguyễn Trãi 34/61 bài sử dụng thành ngữ, tục ngữ, chiếm 55,72% Nguyễn Bỉnh Khiêm 45/61 bài có sử dụng thành ngữ, tục ngữ chiếm 73,8%
Sự t-ơng đồng này hơn kém nhau 18,08% Thành ngữ, tục ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi có 61 và Nguyễn Bỉnh Khiêm có 55 Nh- vậy, số l-ợng hơn kém nhau chỉ 6 thành ngữ, tục ngữ Đây là điều hiếm thấy khi so sánh hai tác giả và tạo điều kiện cơ sở để chúng ta phát hiện ra điểm t-ơng đồng xung quanh nó Dù là khảo sát ngẫu nhiên không lựa chọn nh-ng có sự trùng lặp nh- vậy là điều lạ, điều thuận lợi giúp chúng tôi thực hiện đề tài này Phải chăng phải có điều kiện gì đó khiến hai tác giả gần gũi đến nh- vậy Điều đầu tiên đó là sự đam mê văn ch-ơng, có ý thức về nghề văn, hai tác giả luôn có sự
Trang 38Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm đều sử dụng các thành ngữ, tục ngữ ở các vị trí khác nhau Có bài đ-a vào ở đầu, có bài ở giữa (từ 2-7) và ở cuối bài
ở vị trí đầu bài thơ:
Nguyễn Trãi có 9 thành ngữ, tục ngữ đ-ợc sử dụng chiếm 14,5%
Nguyễn Bỉnh Khiêm có 13 thành ngữ, tục ngữ chiếm 20%
Dùng các thành ngữ tục ngữ ở ngay đầu bài thơ tác giả nêu lên triết lí khái quát ngay từ đầu, tạo sự mới mẻ, gây sự chú ý tìm tòi cho ng-ời đọc
Nguyễn Trãi nêu triết lí ngay từ đầu bài thơ:
Phú quý thì nhiều kẻ đến chen
Uốn đời thế thái tính ch-a quen
Cơm ăn miễn có, dầu xoa bạc,
áo mặc âu chi quản cũ đen
Khó ngặt hãy bền lòng khó ngặt
Chê khen mựa ngại tiếng chê khen
Ruộng nhiều quê tổ năm ba thửa
Tạc đỉnh canh điền tự tại nhàn
Thủa khó, dẫu chào, chào cũng lặng
Khi giàu, chẳng hỏi, hỏi thì quen
Quen, hiềm dan díu điều làm bạn
Lặng, kẻo lân la nỗi bạn men
Trang 39Đạo nọ, nghĩa này, trăm tiếng b-ớm
Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền
(Câu này lấy ý từ câu tục ngữ Hán - Viết:” Bần cư trung thị vô nhân vấn- Phú tại sơn lâm hữu khách tầm Nghĩa là: Giầu sơn lâm lắm kẻ tìm đến- Khó giữa chợ chẳng ma nào nhìn)
ở vị trí giữa bài thơ (câu 2-7) của Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
đều có sử dụng thành ngữ, tục ngữ
Nguyễn Trãi có 44 thành ngữ, tục ngữ chiếm 71%
Nguyễn Bỉnh Khiêm có 42 thành ngữ, tục ngữ chiếm 64,6%
Đây là những vị trí làm cho bài thơ trở nên cân đối, hài hoà
Đạo đức hiền lành đ-ợc mọi ph-ơng
Tự nhiên cả muốn chúng suy nh-ờng
Lợi tham hết lấy, nhiều thì cạnh, Nghĩa phải đem cho, ít chẳng ph-ờng
Sự thế sá phòng khi đ-ợc mất Lòng ng-ời tua đoán thủa mừng th-ơng
“Chẳng nh¯n“ xưa chép lời truyền b°o
Khiến chớ cho qua một đạo th-ờng
(Thành ngữ, tục ngữ: Khi đ-ợc khi mất)
Giống nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đ-a thành ngữ, tục ngữ vào giữa bài thơ:
Giàu chỉnh chện, khó lai dai
Vần chuyển l-u thông há của ai Vũng nọ ghê khi làm bãi cát
Doi kia có thủơ lút hòn Thai