Nh-ng ở Tế Hanh chúng ta thấy ngay từ những bài thơ đầu tiên viết về đề tài đấu tranh thống nhất nh- Nam Bắc, Bắc Nam; Tiếng ca không giới tuyến… Hình ảnh miền Nam luôn hiện lên trong tâ
Trang 1Tr-ờng Đại học Vinh Khoa ngữ văn
====*****====
Chủ đề đấu tranh thống nhất n-ớc nhà trong thơ tế hanh
Khoá luận tốt nghiệp đại họcChuyên ngành: văn học Việt Nam hiện
đại
Giáo viên h-ớng dẫn: Ngô thái lễ Sinh viên thực hiện : nguyễn thị duyên Lớp : 45B1 - Ngữ văn
Vinh - 2008
Trang 2A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp 1954, đất n-ớc ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền thực hiện hai nhiệm vụ khác nhau Miền Bắc tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa, trong khi đó miền Nam vẫn nằm trong sự kìm kẹp của Mỹ và tay sai Sự có mặt của chúng đã gây ra nhiều tội ác cho nhân dân miền Nam Mặc dù vậy, với tinh thần và ý chí của quân và dân ta, với tư tưởng “Nam Bắc l¯ một” đ± đúc kết thành một chân lý, là động lực to lớn để làm nên những chiến thắng vĩ đại Điều này cũng đã trở thành kim chỉ nam cho lớp ng-ời sáng tác và nghiên cứu văn học giai đoạn này
Với nhiệm vụ của mình văn học phản ánh một cách chân thực đời sống lịch sử, xã hội, chính trị của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và quá trình đấu tranh thống nhất n-ớc nhà ở miền Nam Các thế hệ nhà văn nh¯ thơ với nguồn c°m hứng từ đề t¯i “Đấu tranh thống nhất nước nh¯” đ± xây dựng nên một thế giới thơ đầy hình ảnh sinh động Ta thấy một Hồ Chí Minh, một Sóng Hồng, một Tố Hữu… vẫn bền vững với những vần thơ cách mạng mang âm hưởng sử thi h¯o hùng Một lớp c²c nh¯ “Thơ mới” như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận… có nhiều đổi mới về t- t-ởng đã tìm đ-ợc mối hoà hợp đồng nhất của hồn thơ với chất thơ của cuộc sống Lúc này một chủ đề mới đến với các nhà thơ đã trở thành chủ đề bao quát và những thành công tiêu biểu - đó l¯ đề t¯i “Đấu tranh thống nhất nước nh¯”
1.2 Quê h-ơng miền Nam đã sinh ra và nuôi d-ỡng nhiều hồn thơ và mỗi hồn thơ lại mang một một nét phong cách độc đáo riêng Vì thế, cũng là một ng-ời con của miền Nam nên những tình cảm của Tế Hanh dành cho quê h-ơng mình là điều không thể tránh khỏi Sống ở ngoài Bắc nh-ng tấm lòng nhà thơ luôn canh cánh nghĩ về miền Nam thân yêu Không ngày nào nỗi nhớ
ấy nguôi đi mà ng-ợc lại nó cứ tăng dần theo năm tháng Tình cảm của ụng
Trang 3đối với miền Nam thật sâu đậm, ụng nhớ thiên nhiên cũng nh- con ng-ời miền Nam Trong tâm hồn nhà thơ lúc nào cũng mong cho n-ớc nhà đ-ợc thống nhất, Nam Bắc sum họp một nhà
Tuy là nhà thơ quê nam nh-ng đọc thơ Tế Hanh chúng ta thấy rõ rằng đó
là một nhà thơ của cả hai miền nhập làm một:
“Như chiếc đ°o bốn bề chao mặt sóng Hồn tôi vang tiếng vọng c° hai miền“
Đất n-ớc cỏ cây đều là của chúng ta, của cả miền Nam và miền Bắc Nh-ng miền Nam còn gian khổ chiến đấu vì thế miền Nam luôn canh cánh bên lòng chúng ta và nhà thơ Và đó là miền Nam nửa đồng bào, nửa Tổ quốc chứ không phải miền Nam qua quê h-ơng Quãng Ngãi của ông Có một thời
kỳ nhất là ở giai đoạn đầu của những năm đất n-ớc bị kẻ thù chia cắt, đọc một
số bài thơ của một số tác giả chúng ta chỉ thấy miền Nam qua quê h-ơng của từng tác giả Nh-ng ở Tế Hanh chúng ta thấy ngay từ những bài thơ đầu tiên
viết về đề tài đấu tranh thống nhất nh- Nam Bắc, Bắc Nam; Tiếng ca không giới tuyến… Hình ảnh miền Nam luôn hiện lên trong tâm trí với bao nỗi khắc
khoải của nhà thơ
1.3 Trong thơ Tế Hanh nói nhiều tới tình yêu với những cung bậc sắc thái tình cảm nh-ng phần sâu đậm trong thơ ụng sau kháng chiến là những vần thơ viết về đề t¯i “Đấu tranh thống nhất nước nh¯” Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ đề tài này trở thành nét đặc sắc và tập trung trong thơ Tế Hanh Ngay sau khi kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Tế Hanh đã có bài viết về vấn
đề này và nó luôn phát triển thêm một b-ớc tiến mới ở mỗi tập thơ tiếp theo Viết nhiều về miền Nam nh-ng ở mỗi bài thơ có một cách thể hiện khác nhau tạo nên một sự toàn diện trong lối viết của mình vì thế Tế Hanh xứng đáng
được mệnh danh l¯ “nh¯ thơ cða thống nhất nước nh¯”
1.4 Hôm nay với kho² luận n¯y chúng tôi chọn đề t¯i “Đấu tranh thống nhất nước nh¯ trong thơ Tế Hanh” với hy vọng đóng góp một phần nhà bé
Trang 4năng lực của mình để bạn đọc hiểu rõ hơn và thấy đ-ợc những biểu của một hồn thơ luôn gắn bó thiết tha với quê h-ơng đất n-ớc Và để khẳng định vị trí xứng đáng của tác giả trong nền văn học Việt Nam
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tìm lại toàn bộ những công trình nghiên cứu về tác giả Tế Hanh ta thấy phần nào xứng đáng với kết quả lao động nghệ thuật của ông.Điểm lại ta thấy -ớc chừng có khoảng vài chục bài viết về Tế Hanh nh-ng ở đây chỉ xin đ-a ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
2.1 Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam phần Tế Hanh (Nhà xuất bản văn
học -tái bản nhiều lần)
2.2 Hà Minh Đức - Nhà văn và tác phẩm phần Tế Hanh (Nhà xuất bản
văn học - Hà Nội 1971)
2.3 Mã Giang Lân - Văn học hiện đại Việt Nam -Vấn đề tác giả phần Tế
Hanh (Nhà xuất bản giáo dục)
2.4 Chế Lan Viên - Tuyển tập Tế Hanh I phần “Tế Hanh hay thơ v¯ c²ch
mạng" trang 388-397
2.5 Vũ Tiến Quỳnh - Tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình - Bình luận văn học của các nhà văn - Nghiên cứu Việt Nam và thế giới phần Tế
Hanh (Nhà xuất bản Tổng hợp Khánh Hoà
Cùng với các bài viết trên còn có các tạp chí văn nghệ của các tác giả: Thiếu Mai (Tạp chí văn học số 2-1969), Anh Tố (Báo văn nghệ số 377 ra ngày 01/01/1971)…
Những vấn đề mà các bài viết quan tâm:
- Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đ± giới thiệu với b³n đọc “một ch¯ng rể mới” cða phong tr¯o “Thơ mới” với những nét đ²ng yêu, đó l¯ ngòi
bút trân trọng của một nhà phê bình, dù chỉ dừng lại ở sự giới thiệu bởi ch-a ai biết được “con đường người sẽ đi” nên Ho¯i Thanh chưa muốn nói nhiều Song
Trang 5qua phần giới thiệu chúng ta cũng thấy đ-ợc phần nào một Tế Hanh trong t-ơng lai
- Bài viết của Hà Minh Đức trong “Nhà văn và tác phẩm” mới vừa l¯ b¯i
giới thiệu, vừa là những khái quát về chặng đ-ờng thơ Tế Hanh, tác giả đã nêu
ra mặt tích cực và hạn chế một cách rõ ràng ở đây ta bắt gặp một sự liên t-ởng lôgic về hồn thơ Tế Hanh phát triển theo định h-ớng cảm xúc, các b-ớc biến đổi và phát triển ấy đ-ợc khai thác trên một ph-ơng diện nghiên cứu nhất quán từ nội dung đến nghệ thuật Song ở bài viết này tác giả thiên về đánh giá nghệ thuật nhiều hơn là nói về cảm ứng thơ, mà cái chủ đạo cốt lõi trong tình cảm của Tế Hanh là chất trữ tình đậm đặc Chính chất trữ tình đó đã làm nên những thành công trong sáng tác Tác giả bài viết này thiên về điểm yếu đánh giá nghệ thuật và khái quát lên thành nhiều h-ớng, đ-a ra nhiều ph-ơng thức tiếp cận thơ Tế Hanh
- Chế Lan Viên với đề tài Tế Hanh thơ hay cách mạng ở đây nói về b-ớc
chuyển biến trong phong cách cũng nh- tâm hồn từ khi có cách mạng và nhận xét bút pháp nghệ thuật của Tế Hanh
Nhìn chung trong các bài viết kể trên các tác giả đều khẳng định một
điều rằng: Tế Hanh là nhà thơ có tấm lòng yêu tha thiết quê h-ơng miền Nam của ông Và trong ụng luôn mong cho n-ớc nhà đ-ợc thống nhất Miền Nam
đ-ợc Tế Hanh nói đến trong các sáng tác của mình bằng ngòi bút chân thành của một đứa con thuỷ chung, của một tấm lòng sắt son luôn h-ớng về quê h-ơng
Trên cơ sở vấn đề đã đ-ợc khẳng định ở các bài viết, Khoá luận này tiếp thu nh-ng nhận định đ-ợc đ-a ra và khái quát ở mức độ tổng quát nhất Tất cả những ý kiến nhận xét đánh giá của các bài viết đều đ-ợc suy nghĩ và có chọn lọc một cách kỹ càng khi liên hệ đến vấn đề mình cần đề cập Trên những h-ớng tiếp cận đó, các bài viết còn dừng lại ở những vần đề cơ bản Chính vì vậy khoá luận này phát triển theo từng b-ớc nghiên cứu cụ thể Từ những nhận
Trang 6định khái quát đó, khoá luận soi vào những lý lẽ dẫn chứng cụ thể để chứng minh làm rõ cho nhiều luận điểm chung Từ đó có thể nắm vững hơn, sâu hơn
và cụ thể hơn vấn đề mình cần quan tâm Nh- vậy không phải nhận định nào cũng đ-ợc phát triển ra theo nhiều chiều h-ớng và cũng không phải tất cả các nhận định đều dã đủ cho quãng đời sáng tác của một nhà thơ, bởi tâm hồn thơ
Tế Hanh vẫn ch-a là con đ-ờng cuối Và nh- thế có nghĩa là khoá luận cố gắng tiếp thu những ý kiến của các nhà nghiên cứu, các bài viết song trên một ph-ơng diện khác, khoá luận đi theo h-ớng nghiên cứu cụ thể ở các tập thơ
trong giai đoạn 1954 - 1975 Làm sao để khái quát lên rõ nhất những thành
công cũng nh- phần còn tồn tại nơi các tác giả
3 Nhiệm vụ của đề tài
Hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ đặt ra cho nền văn học một nhiệm vụ hết sức cấp thiết đó là luôn đặt vấn đề thống nhất n-ớc nhà lên trên hết Khoá luận này chúng tôi đi tìm hiểu những nét đặc sắc độc đáo về nội dung và nghệ thuật trong các sáng tác của Tế Hanh Từ đó rút ra đ-ợc phong cách nghệ thuật của
ông trong mảng thơ đấu tranh thống nhất n-ớc nhà Mặt khác, ở đây cũng cần thấy đ-ợc những đóng góp to lớn của Tế Hanh trong mảng thơ này
4 Đối t-ợng và ph-ơng pháp nghiên cứu
4.1 Đối t-ợng
Đối t-ợng nghiên cứu của khoá luận này là toàn bộ thơ của Tế Hanh trong giai đoạn 1954 -1975, tập trung chủ yếu vào những sáng tác tiêu biểu, nổi bật viết về đề t¯i “Đấu tranh thống nhất nước nh¯” Trên cơ sở đó điểm qua c²c t²c gi° kh²c về đề t¯i “Đấu tranh thống nhất nước nh¯” để so s²nh
4.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Đối với khoá luận này chúng tôi sử dụng các ph-ơng pháp nghiên cứu nh- so sánh, tổng hợp, phân tích, đối chiếu… trong đó hai ph-ơng pháp nghiên cứu chính:
- Ph-ơng pháp phân tích: Đây là ph-ơng pháp chủ đạo
Trang 7- Ph-ơng pháp so sánh: So sánh với một số nhà thơ viết về đề t¯i “Đấu tranh thống nhất đất nước” để thấy được nét độc đ²o riêng cða Tế Hanh
5 Cấu trúc khoá luận
Trên cơ sở nhiệm vụ và ph-ơng pháp đề ra, h-ớng khoá luận mà chúng tôi đi theo có cấu trúc sau:
A Phần mở đầu:
Lý do chọn đề tài
Lịch sử vấn đề
Nhiệm vụ của đề tài
Đối t-ợng và ph-ơng pháp nghiên cứu
Cấu trúc khoá luận
Trang 8vụ chiến l-ợc riêng nh-ng phối hợp chặt chẽ với nhau ở giai đoạn 1954 -1975, dân tộc ta d-ới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và Bác Hồ, đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử mới là đấu tranh thống nhất n-ớc nhà và b-ớc đầu xây dựng cơ sở cho thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trong giai đoạn này n-ớc ta đã trải qua một cơn biến động xã hội lớn trong lịch sử Đây là giai đoạn đồng bào đồng chí ta ở bên kia giới tuyến đã phải chịu đựng nhiều tan tóc đau th-ơng do cuộc chiến tranh xâm l-ợc đế quốc Mỹ gây nên Đồng thời cũng là giai đoạn miền Nam thành đồng tổ quốc viết nên trang sử hào hùng chói lọi chiến công trong lịch sử chống giặc ngoại xâm Bên cạnh đó miền Bắc đ-ợc giải phóng vừa thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa đấu tranh chống lại sự phá hại của Mỹ và tay sai Vấn đề thống nhất n-ớc nhà đ-ợc đặt ra hàng đầu Mong muốn của nhân dân lúc này là đất n-ớc không có chiến tranh, không có sự tàn phá của kẻ thù, Bắc Nam sum họp một nhà Chính mong muốn đó đã thúc dục, tạo nên sức mạnh trong lòng quần chúng Với sự nỗ lực của quân dân cả n-ớc chúng ta đã làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975
Trang 91.2 Nhiệm vụ của văn học
Chính từ hoàn cảnh xã hội nh- trên cho nên từ 1954 -1975 văn học phục
vụ hai nhiệm vụ chiến l-ợc Việt Nam: khôi phục kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất n-ớc nhà ở miền Nam Tuy phục vụ hai nhiệm vụ nh-ng nhìn chung từ 1954 - 1975 văn học chủ yếu phục
vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ trên lập tr-ờng dân tộc dân chủ và Chủ nghĩa xã hội Văn học giai đoạn này là sự tiếp nối trên cái mạch t- t-ởng và cảm xúc
đã đ-ợc định h-ớng, định hình từ giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp Nghĩa là văn học vẫn nằm trong không khí yêu cầu của chiến tranh Cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài suốt hai m-ơi năm là một cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện Nên thơ muốn phản ánh đ-ợc bề dài và bề rộng của cuộc chiến tranh ấy phải là một dòng thơ rất sinh động và đa dạng Và nguồn thơ ấy
đ-ợc lấy ra từ cuộc chiến tranh anh dũng của nhân dân ta Có thể nói văn học giai đoạn này kể cả trong thơ ca và văn xuôi đều thực hiện nội dung chính chủ yếu là tố cáo tội ác thống trị của bọn Mỹ Diệm, khắc sâu tình cảm Bắc Nam, tình cảm đối với Đảng, Bác Hồ kính yêu Và đặc biệt là trong văn học luôn thể hiện mơ -ớc ngày thống nhất n-ớc nhà Trong các tác phẩm hình ảnh của miền Bắc, miền Nam có những b-ớc thay đổi rõ rệt theo dòng thời gian của lịch sử
Chẳng hạn nếu nh- tr-ớc đây chúng ta thấy miền Nam hiện lên với một hiện thực đen tối:
Có ai biết ba nghìn đêm ấy Mỗi đêm là biết mấy thân rơi
Có ai biết bao nhiêu máu chảy Máu miền Nam hơn chín năm trời
Thì lúc này miền Nam đã có một hiện thực t-ơi sáng hơn
Ôi Tổ Quốc giang sơn hùng vĩ
Đất anh hùng của thế kỷ hai m-ơi
Trang 10Hãy kiêu hãnh trên tuyến đầu chống Mỹ Cả miền Nam anh dũng tuyệt vời
Miền Nam trong lửa đạn sáng ngời
1.3 Tình hình thơ Việt Nam viết về đấu tranh thống nhất n-ớc nhà
Thơ Việt Nam giai đoạn này viết nhiều về đấu tranh thống nhất n-ớc nhà, viết nhiều về miền Nam, miền Bắc và mỗi miền hiện lên một nét khác nhau
Có rất nhiều các nhà thơ tập trung sáng tác vào mảng đề tài này Dòng thơ chống Mỹ cứu n-ớc đi đến thống nhất n-ớc nhà của ta đ-ợc thừa h-ởng dòng thơ yêu n-ớc của dân tộc ta từ tr-ớc tới nay Hàng loạt các sáng tác đ-ợc ra
đời chứng tỏ một đội ngũ nhà thơ hết sức đông đảo và đựơc chia làm ba nhóm: Nhóm các nhà thơ lớp tr-ớc nh- Tr-ờng Chinh, Hồ Chí Minh, Tố Hữu… Nhóm những nhà thơ mới có b-ớc đổi mới t- t-ởng trong chống Pháp nh- Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên… Nhóm các nhà thơ hình thành trong chống Mỹ nh- Thanh Thảo, Thu Bồn, Lâm Thị Mỹ Dạ…
Đến với thơ Tố Hữu chúng ta thấy đ-ợc tấm lòng tha thiết yêu quý miền Nam, thông cảm sâu sắc với những đau th-ơng của đồng bào đồng chí sống trong ách kìm kẹp của bọn Mỹ, Nguỵ Đồng thời tác giả nhiệt liệt ca ngợi cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân miền Nam Tin t-ỏng một cách mãnh liệt vào Cách mạng, vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất n-ớc nhà:
Tôi muốn viết những dòng thơ t-ơi xanh Vẫn nóng viết những dòng thơ lửa cháy
Trong giai đoạn này Tố Hữu vẫn giữ đ-ợc vị trí là ngọn cờ đầu của thơ ca
chống Mỹ Với ba tập thơ: Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa Tác giả có xu
h-ớng khái quát những vấn đề nóng hổi cập nhật của lịch sử Trong thơ ông luôn hiện lên tình cảm của hai miền Nam - Bắc:
Từng ngọn cỏ cành cây miền Bắc Vẫn rung rinh theo gió tự miền Nam Cả đụi miền xao xuyến tiếng ve ran
Trang 11(Có thể nào yên) Tuy nhiên hình ảnh miền Nam vẫn giữ vai trò lớn trong thơ Tố Hữu nói
nhiều về miền Nam Ngay từ bài thơ mở đầu Quê mẹ tác giả đã nói lên điều đó Bạn đọc rất cảm thông và hoan nghênh các tập thơ nh- Riêng chung, Một khối hồng, Mũi Cà Mau của Xuân Diệu Nhiều bài thơ cùng ra đời nh-ng thể
hiện rõ nhất vẫn là thơ ca ngợi tấm g-ơng anh dũng: Trần Thị Lý - một cô gái miền Nam, hay vụ Phú Lợi nơi hàng trăm chiến sỹ bị đầu độc, Nguyễn Văn Trỗi là ng-ời anh hùng hiên ngang tr-ớc kẻ thù… Những tác phẩm ấy kế tiếp nhau đánh dấu b-ớc đi của thơ ca
Tr-ớc cách mạng ta bắt gặp một Xuân Diệu với cái tôi cô đơn luôn muốn giao cảm hết mình, đ-ợc sống hết mình, luôn có khát vọng sống đ-ợc h-ởng thụ nh-ng bị cuộc đời chối bỏ Đó là một Xuân Diệu:
Ta là Một là Riêng là Thứ nhất Không có chi bè bạn nổi cùng ta
Nh-ng sau Cách mạng cũng nh- khi cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi Xuân Diệu có sự chuyển đổi lớn về t- t-ởng Lúc này Xuân Diệu đã
ý thức đ-ợc mình là ai, nhiệm vụ của mình là gì:
Tôi cùng x-ơng thịt với nhân dân của tôi Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu
Có lẽ do điều cơ bản ấy mà thi sĩ đã sáng tác thơ với nhịp độ rất nhanh,
giống nh- một nhà phê bình đã nói Thi sĩ đã đẻ thơ nh- gà đẻ trứng Do hoàn
cảnh xã hội lúc đó yêu cầu mỗi ng-ời phải có tầm nhìn xa để thấy đ-ợc tình hình và nhiệm vụ mới, phải có sự chuyển biến mạnh mẽ trong tâm hồn Xuân
Diệu mới thể hiện sự v-ơn lên của mình qua các tập thơ: Riêng chung, Mũi Cà
Mau, Cầm tay nhau… Nh-ng Mũi Cà Mau là tập thơ Xuân Diệu tập trung vào
đề tài đấu tranh thống nhất n-ớc nhà Đất n-ớc hiện lên cụ thể sâu sắc:
“Đất nước trong tôi là một khối Dĩng sông Bến H°i ch°y qua tim“
Trang 12ở đây Xuân Diệu đã chỉ ra kẻ thù của dân tộc lúc này là đế quốc Mỹ và tay sai bán n-ớc chia cắt đất nước, hại dân Xuân Diệu một mặt thể hiện tình cảm của mình với miền Nam nh-ng mặt khác cũng bộc lộ lòng căm giận kẻ thù, tình cảm xót xa của mình tr-ớc cảnh đồng bào miền Nam đang trong n-ớc sôi lửa bỏng:
“Sao tôi chỉ có hai b¯n tay Sao tôi chỉ có trái tim này Tôi muốn khóc thành rừng thành lửa Th¯nh cơn thÛnh nộ đất đ² bay“
Và Xuân Diệu đã nhìn thấy đúng cái hiện thực của miền Nam những
“b¯ m² Năm Căn”, “Những em ứng”, “những chị Vân”…là lòng thuỷ chung
và niềm tin không gì lay chuyển đ-ợc của nhân dân đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất n-ớc nhà Thơ chống Mỹ của Xuân Diệu là tình yêu n-ớc và lòng căm thù giặc:
“Yêu với căm hai đợt sóng ¯o ¯o
Vỗ bên lĩng dội m±i tới trăng sao“
Hay chúng ta từng thấy trong Điêu tàn một đất n-ớc Chàm của dĩ vãng,
của quá khứ đã lùi xa với những gì còn lại của một đất n-ớc Trong thơ Chế Lan Viên hiện lên những hình ảnh t-ởng t-ợng mang màu sắc ma quỷ của đầu lâu x-ơng máu thật là rùng rợn và khiếp đảm Nh-ng giờ đây hồn thơ Chế Lan Viên đã có một sự thay đổi, một t- t-ởng mới, một giọng thơ mới đầy sức sống, nhiệt huyết về một đất n-ớc đang trải qua giờ phút khốc liệt của cuộc chiến tranh Những trang sử vẻ vang của dân tộc cũng nh- truyền thống hào hùng đã đ-ợc thể hiện một cách tập trung và sinh động trong thơ ông:
“Khi Nguyễn Tr±i l¯m thơ v¯ đ²nh giặc Nguyễn Du viết Kiều đất n-ớc hoá thành văn Khi Nguyễn Huệ c-ỡi voi vào cửa Bắc
H-ng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng
Trang 13Nhửng ng¯y tôi sống đây l¯ nhửng ng¯y đẹp hơn tất c°“
Qua các chặng đ-ờng thơ trong ba m-ơi năm đi theo cách mạng, hình
ảnh miền Nam đã cất cánh cho những áng thơ Chế Lan Viên trong giai đoạn này Màu xanh bát ngát của núi rừng Tr-ờng Sơn đến màu xanh vô tận của Hải đảo, ở đâu cũng thấy Tổ quốc đang v-ơn mình sống dậy nh- đất trời tong buổi bình minh:
“Ng¯y sinh nhật th²ng năm Đồng B´ng Bắc Bộ Lúa chiêm phơi chiếu bạc chiếu vàng
Khắp Trung Châu những xóm làng hết khổ Hết đêm rồi đời lật dở sang trang“
Hiện thực đất n-ớc đang bừng b-ng sôi dậy đã đem lại cho thơ một không khí vui t-ơi, một màu sắc rạng rỡ Hầu hết các nhà thơ viết về Tổ quốc, miền Nam đều mang âm h-ởng trữ tình ngợi ca Nếu Tố Hữu thiên về vẻ đẹp cuộc sống giữa bầu trời tự do độc lập:
“Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi Rụng cọ đồi chè đồng xanh ng¯o ng³t“
Hay: “Ta đi giửa ban ng¯y
Trên đường c²i ung dung ta bước“
Thì Chế Lan Viên lại đi vào cái rực rỡ của thiên nhiên đất n-ớc:
“Tôi muốn đến trước đất trời lẩn sắc Nơi bốn mùa đã hoá thành thơ
Nơi đ²y bể san hô với thữc ngð“
Không chỉ có các nhà thơ trong giai đoạn tr-ớc sáng tác của đề tài này
mà ngay cả những nhà thơ sống trong hoàn cảnh cả n-ớc chống Mỹ cũng đem
lại nhiều áng thơ hay Chúng ta không thể quên bài Mồ anh hoa nở (Thanh
Hải) Đây là bài thơ kể về sự khủng bố dã man của giặc, nói về cái chết của ng-ời cộng sản Toàn bộ bài thơ bừng lên không khí lạc quan tin t-ởng vào
Trang 14thắng lợi cuối cùng của lý t-ởng cộng sản bài thơ tr-ớc hết là bằng chứng nói lên sự man rợ của kẻ thù:
“Hôm qua chũng giết anh Xác phơi đầu ngõ xóm Khi lũ chúng quay đi Mắt trừng còn doạ dẫm Thằng này là cộng sản Không được đữa n¯o chôn“
Bài thơ nói lên tội ác của kẻ thù, hành động của chúng nhằm đe doạ khủng bố Âm m-u nham hiểm là tiêu diệt ý chí Cách mạng đang nhen nhóm trong lòng quần chúng Nh-ng tr-ớc sự tàn bạo hống hách của lũ giặc thì quần chúng vẫn không khiếp đảm, lòng đau th-ơng đã biến thành lòng căm thù, thành hành động, bất chấp mọi lời đe doạ của kẻ thù thì quần chúng vẫn tổ chức đám tang cho anh rất chu đáo:
“Lủ chũng vụa quay đi Chiếc quan tài sơn son
б đưa anh về mộ“
Cuộc kháng chiến càng lan rộng, kéo dài khốc liệt thì thơ chống Mỹ càng phong phú đa dạng Những lớp nhà thơ hoà hợp nhau không phân biệt tuổi tác, phong cách làm cho hàng ngũ thơ thêm đông đảo Những bài thơ hay, những tập thơ tốt lần l-ợt ra đời Dòng thơ chống Mỹ là một con sông lớn tràn đầy sức chiến đấu Có thể nói trong sự đóng góp của giới văn học trong công cuộc chống Mỹ cứu n-ớc của toàn dân mà Đại hội VI của Đảng đã ghi nhận thơ ở
vị trí hàng đầu Do tính chất nhạy bén và truyền cảm nhanh của thơ, thơ đã có mặt ở khắp mọi nơi mọi lúc của cuộc kháng chiến Chính những áng thơ đã tạo nguồn cổ vũ lớn cho công cuộc đấu tranh thống nhất n-ớc nhà
Trang 15Tế Hanh tên thật là Trần Tế Hanh sinh ngày 20 tháng 06 năm1921 ở thôn
Đông Yên, xã Bình D-ơng, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Thuở nhỏ học ở tr-ờng làng rồi tr-ờng huyện Năm 1936 đậu tiểu học,
ra Huế học tr-ờng trung học (tr-ờng Quốc Học) Năm 1943 đậu tú tài triết học Sinh ra trong một gia đình nhà nho, ông yêu thơ văn từ nhỏ Năm 1935 gặp và yêu thơ mới Khi ra Huế đ-ợc tiếp xúc rộng rãi hơn với các bạn trong phong trào thơ mới nh- Huy Cận, Xuân Diệu, và đọc thơ thế giới (nhất là thơ Pháp) thì ụng bắt đầu làm thơ Năm 1932 khi học năm thứ ba tr-ờng trung học, ông
viết tập thơ đầu tiên lấy tên là Nghẹn ngào Năm 1940, tập thơ đó đ-ợc giải
th-ởng thơ của Tự lực văn đoàn Một số bài mới viết trong các năm 1940, 1941
cùng với những b¯i trong tập “ngẹn ng¯o” t³o thành tập Hoa niên in cuối năm
1941 Trong thời gian 1942, 1943, 1944 ông chuẩn bị một tập thơ khác với cảm xúc khác, chỉ đăng rải rác trên các báo ở Hà Nội và Sài Gòn Sau đó tìm
lại đ-ợc bản thảo, ông lấy tên là Tập thơ tìm lại
Năm 1943,sau khi đậu tú tài ụng ra Hà Nội vào học tr-ờng luật nh-ng rồi
bỏ về Huế đi dạy học ở tr-ờng t- thục cùng Hoài Thanh, Nguyễn Văn Bổng
Trang 16Tháng 8 năm 1945 ông tham gia khởi nghĩa ở Huế và bắt đầu sinh hoạt tại
tổ chức “Văn ho² cứu cuốc” do Tố Hữu l±nh đ³o, ở đó ông gặp thêm Chế Lan Viên, L-u Trọng L-… Đầu năm 1946 ông vào Đà Nẵng tham gia uỷ ban nhân dân thành phố, làm uỷ viên giáo dục và trong ban phụ trách văn hoá cứu cuốc thành phố Đà Nẵng
Sau ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946 ông tham gia ban tuyên truyền mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng Năm 1947 ông tham gia phụ trách tr-ờng trung học bình dân miền Nam trung bộ do chủ tịch Phạm Văn Đồng lúc
dó là đại diện Đảng và chính phủ thành lập và h-ớng dẫn
Ngày 01/11/1947, ông đ-ợc kết nạp vào Đảng Năm 1948, ông tham gia ban lãnh đạo Liên đoàn văn hoá kháng chiến miền Nam Trung Bộ và đến năm
1949 tham gia thành lập và lãnh đạo hội văn nghệ liên khu V
Trong thời gian chống Pháp, ông đi nhiều nơi ở liên khu V, vào cả vùng bị chiếm cực Nam Trung Bộ Tham gia phụ trách tạp chí miền Nam và báo văn nghệ liên khu V Thời gian n¯y, ông cho in hai tập thơ “Hoa mùa thi” (1948) v¯ “Nhân dân một lòng” (1953)
Sau hiệp định Giơnevơ 1954, ông tập kết ra Bắc về công tác ở Hội văn nghệ trung -ơng Từ năm 1957, khi thành lập hội Nhà văn Việt Nam, ông ở trong ban lãnh đạo hội Từ năm 1963, ông là uỷ viên th-ờng vụ hội Nhà văn Việt Nam và uỷ viên th-ờng vụ hội liên hiệp văn học - nghệ thuật Việt Nam ễng lần l-ợt ở trong các ban phụ trách báo văn nghệ, tạp chí tác phẩm mới và Nhà xuất bản Văn học Từ năm 1968 ông là Tr-ởng ban đối ngoại hội Nhà văn Việt Nam, sau đại hội nhà văn lần thứ 3, năm 1983 ông là uỷ viên chấp hành hội, làm chủ tịch hội đồng dịch của hội, và từ 1986 là chủ tịch hội đồng thơ của hội Nhà văn Việt Nam và là uỷ viên uỷ ban Trung -ơng Liên hiệp văn học - Nghệ thuật Việt Nam Do có tiếp xúc với tác phẩm và các nhà văn n-ớc ngoài,
ông đã đóng góp vào việc giới thiệu văn học Việt Nam ra n-ớc ngoài và văn học thế giới vào Việt Nam
Tế Hanh đã d-ợc tặng th-ởng nhiều huân ch-ơng, huy ch-ơng trong n-ớc và ngoài n-ớc:
Trang 17- Huân ch-ơng kháng chiến chống Pháp
- Huân ch-ơng chống Mỹ cứu n-ớc
- Huy ch-ơng vì thế hệ trẻ (của doàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh)
- Huy ch-ơng Lênin của Liên Xô
- Kỷ niệm ch-ơng Hasec của Tiệp Khắc
- Huân ch-ơng công trạng của Ba Lan
- Giải th-ởng Hồ Chí Minh (1996)
2.1.2 Các tập thơ đều tập trung một chủ đề đấu tranh thống nhất n-ớc nhà
Hoà chung với phong trào đi thực tế để tìm đề tài cho mình, Tế Hanh đã tập kết ra Bắc Nếu nh- các nhà thơ khác sau khi hoà bình lập lại đã tập trung viết về đề tài xã hội chủ nghĩa thì Tế Hanh lại viết về đề tài đấu tranh thống nhất n-ớc nhà Là ng-ời con của miền Nam tập kết ra Bắc nên những vần thơ của ông luôn h-ớng về miền Nam là điều không thể tránh khỏi Sống ở miền Bắc nh-ng ông luôn dành tình cảm của mình với miền Nam Suốt cuộc đời sáng tác thơ của mình, Tế Hanh dành phần lớn thời gian viết về miền Nam Đề
tài “Đấu tranh thống nhất nước nh¯“ luôn th-ờng trực theo ông Có rất nhiều tập thơ viết về đề tài này đó là các tập thơ: Lòng miền Nam (1959), Gửi miền Bắc (1958), Tiếng sóng (1960), Hai nửa yêu th-ơng (1966), Khúc ca mới
(1966), Đi suốt bài ca (1970), Câu chuyện quê h-ơng (1973), Theo nhịp tháng
ngày (1974) Ngay tên gọi của các tập thơ, chúng ta đã thấy toát lên t- t-ởng nội dung của tác phẩm Nh- tập thơ Gửi miền Bắc đã chứng minh đ-ợc rằng
lòng ông không chỉ h-ớng về nơi quê h-ơng nơi chôn rau cắt rốn mà còn mở
rộng ra to¯n đất nước Việt Nam Đúng l¯: “Nh- chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng / Hồn tôi vang tiếng vọng cả hai miền” Ng¯y còn công t²c ở trong Nam, nh¯ thơ
cũng nh- tất cả đồng bào ta trong đó luôn nghĩ đến miền Bắc nh- một nơi thân thuộc, hơn thế nữa đó là một chốn thiêng liêng, nơi đó có trung -ơng Đảng, có chính phủ, có Bác Hồ, có thủ đô Hà Nội với Ba Đình lịch sử…, nơi đó có trái tim
đất n-ớc Ông đã từng thốt lên tha thiết “ôi miền Bắc, vì sao mong nhớ thế“ và
ông mơ -ớc một ngày kia đến l-ợt mình cũng đ-ợc ra miền Bắc:
Trang 18“Bao giờ đến phiên ta ra bắc Mấy đèo qua mấy núi cũng qua
Có ai gọi tên tôi trong gió bấc Trong gió nồm tôi muốn gừi hồn ra“
(Gửi miền Bắc)
Hoà cùng với thời gian, cùng với cuộc đấu tranh của nhân dân ông đã có những tập thơ, bài thơ thể hiện rõ bối cảnh của xã hội ta lúc bấy giờ Ông luôn mơ -ớc cho n-ớc nhà đ-ợc thống nhất làm một, nên thơ ông cũng tràn đầy những dòng thơ thể hiện -ớc vọng đó Ông viết nhiều về miền Bắc, miền Nam, viết nhiều về công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng là cơ sở
để ông viết về cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân miền Nam Và Hai nửa yêu th-ơng là tập thơ thể hiện rõ tình th-ơng yêu của tác giả đối với hai miền
“Một nừa yêu thương“ của Tế Hanh đối với miền Bắc là: thắm thiết, nồng
nàn, say s-a nhạy cảm với những cái mới đẹp đẽ của chế độ xã hội chủ nghĩa
đang nảy nở từng giờ từng phút Đó là cái đẹp của công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp làm đổi thay cái quan hệ sản xuất ở nông thôn Đó là những đêm trăng quây quần họp tổ chuẩn bị vụ mùa, đó là hình ảnh công nghiệp hoá huy hoàng
với nhà máy phân lân Lâm Thao đã rộ v-ơn cao trên đất đỏ Và “một nừa yêu thương“ Tế Hanh dành cho miền Nam ruột thịt anh dũng của ông Dù đề cập
đến vấn đề gì ông luôn nhắc đến miền Nam, gửi vào đó tấm lòng của mình với miền Nam thân yêu Có thể nói dù viết về đề tài đấu tranh thống nhất đã nhiều năm nh-ng ở mỗi bài lại mang một ý vị khác nhau Và ở tập thơ này Tế Hanh góp vào thơ ca đấu tranh thống nhất nhiều thành tựu mới đánh dấu đ-ợc một giai đoạn trong sáng tác của mình Thơ viết về miền Nam của Tế Hanh ở đây vẫn giữ vị ngọt ngào nh-ng nó đã bớt đi phần xót xa day dứt, và tăng nhiều phần chiến đấu lạc quan ở đây ông thể hiện rõ sự tin t-ởng của mình vào cuộc chiến đấu gay go quyết liệt này Ông tin vào sức mạnh của nhân dân Việt Nam, tin vào tinh thần quyết tử vì đất n-ớc của họ
Trang 19Nếu nh- ở các tập thơ tr-ớc, Tế Hanh chủ yếu nói lên tiếng nói tố cáo của mình đối với tội ác dã man của kẻ thù, hay miêu tả lại công cuộc đấu tranh anh
dũng gian khổ của nhân dân ta thì ở Khúc ca mới (1966) tác giả đi sâu vào ngợi
ca sức mạnh của nhân dân Giống nh- tên gọi, tập thơ là một khúc ca ca ngợi
về cái mới của đất n-ớc Ông ca ngợi cuộc sống mới, một cuộc sống hoà bình của nhân dân miền Bắc, đây cũng là một khúc ca, khúc hát chiến đấu của nhân dân miền Nam Ông ca ngợi những cuộc chiến thắng vang dội Ba Gia, Đà Nẵng, ca ngợi anh hùng Ông làm thơ h-ởng ứng lời kêu gọi mặt trận giải phóng miền Nam - đây là một khúc ca xung trận, một bản anh hùng ca về cuộc
đấu tranh của dân tộc Nó là nguồn cổ vũ lớn lao cho dân tộc, thúc dục mỗi
ng-ời làm việc hết sức mình để ngày thắng Mỹ tới gần Với Đi suốt bài ca nhà
thơ muốn nói lên sự đồng tâm nhất trí của toàn dân trong công cuộc kháng
chiến chống Mỹ Đây là bài ca “Đ²nh thắng giặc Mỹ thống nhất nước nh¯“
chính những vần thơ này của tác giả chúng ta có điều kiện để đi suốt bài ca anh hùng đó Mọi ý nghĩ, mọi hành động của mỗi ng-ời dân Việt Nam đều h-ớng
về mục tiêu chung, nh- “Nhửng con t¯u hướng tới một sân ga“
“Đất bỗng ấm nơi hầm chông chiến luỹ Trời cuối tầm tên lửa sáng thêm ra Tình càng nồng giữa đôi lứa cách xa
Và chúng ta đi ngày đêm không nghỉ
Đánh thắng giặc Mỹ Thống nhất nước nh¯ “
Thơ Tế Hanh đã tạo cho nhân dân một niềm tin- tin ở ngày mai ở chiến thắng cho dù tr-ớc mắt có gian khổ đến đâu nh-ng cuối cùng thắng lợi nhất
định thuộc về ta
Tập thơ kết thúc giai đoạn sáng tác của Tế Hanh viết về đề tài đấu tranh
thống nhất n-ớc nhà 1954 - 1975 là tập Theo nhịp tháng ngày Là ng-ời con
của miền Nam, ông luôn h-ớng về quê h-ơng, theo dõi từng sự kiện xảy ra ở
Trang 20quê h-ơng, theo dõi từng b-ớc đi lên của cách mạng miền Nam Ông luôn h-ớng về những ng-ời dân miền Nam bất khuất, họ chiến đấu dũng cảm, lạc quan, biết v-ợt lên mọi đau khổ để đứng vững trên quê h-ơng để chống lại sự tàn ác của kẻ thù Trong giai đoạn này Mỹ không chỉ thực hiện cuộc đấu tranh xâm l-ợc ở miền Nam mà còn tấn công phá hoại cả miền Bắc Vì thế Tế Hanh vẫn có những bài thơ viết về miền Bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại của Mỹ
và xây dựng xã hội chủ nghĩa
Còn rất nhiều điều để nói nh-ng chỉ mới từng ấy thôi chúng ta co thể thấy
đ-ợc rằng toàn bộ tập thơ giai đoạn 1954 - 1975 Tế Hanh đều đề cập đến đề tài
đấu tranh thống nhất n-ớc nhà Nh-ng ở mỗi tập thơ lại có cách thể hiện tâm t- tình cảm của tác giả khác nhau Chính những nét khác nhau đó đã tạo nên một
Tế Hanh riêng độc đáo
2.2 Nguồn cảm hứng chủ đạo của Tế Hanh khi viết về đề tài đấu tranh thống nhất n-ớc nhà
2.2.1 Để viết về đề tài này nguồn cảm hứng chủ đạo của Tế Hanh tr-ớc
hết bắt nguồn từ tình cảm máu thịt, những kỉ niệm về quê h-ơng đất n-ớc Là ng-ời con của miền Nam xa quê h-ơng, trong ông luôn trào dâng một tình cảm thắm thiết với quê h-ơng Ông cảm thấy đau khổ xót xa khi đứng tr-ớc cảnh miền Nam đang chìm trong máu lửa Ông dành trọn tình cảm của mình với quê h-ơng bởi nơi đó đã có dấu ấn bao kỉ niệm thơ ấu của ông Đọc thơ Tế Hanh ta thấy ông là nhà thơ của quê h-ơng đất n-ớc, của yêu đ-ơng trong sáng Tế Hanh luôn dành những cảm xúc đẹp cho quê h-ơng: một quê h-ơng thực và một quê h-ơng lý t-ởng của tâm hồn ông Tế Hanh có nhiều bài thơ hay khi những rung động của ông trở về với những kỉ niệm tuổi thơ và làm nên vẻ mặt
quê h-ơng lung linh xao động V-ờn x-a, Tiếng sóng, Cái chết của em Aí, Mặt quê h-ơng… ở đây cảm hứng đ-ợc gợi lên từ những kỷ niệm tuổi thơ Những
kỷ niệm tuổi thơ ấy đã đ-ợc trái tim nhà thơ l-u giữ bền vững, thơ Tế Hanh có những hình ảnh đẹp, những cảm xúc đằm thắm về quê h-ơng mình Những kỷ
Trang 21niệm hồn nhiên tắm mát bên sông cũng đ-ợc Tế Hanh đ-a vào thơ một cách
đẹp đẽ Nếu nh- tr-ớc cách mạng Tế Hanh từ quê Quảng Ngãi ra Huế học, con
đ-ờng, phong cảnh quen thuộc của ông cũng chỉ từ Huế về quê Thơ ông lúc này đ-ợc viết với những ấn t-ợng thị giác mạnh mẽ Làng quê cảnh vật con ng-ời và tâm hồn của họ trong niềm vui lao động và hạnh phúc giản dị hàng ngày đến những cảnh quê tàn tạ, hao mòn, xơ xác.Ông đã ghi lại hình ảnh
những cây ổi, cây lê, cây chuối của v-ờn cũ một cách chi tiết với những nỗi
nhớ r-ng r-ng Sau này xa quê h-ơng ông miêu tả về quê h-ơng theo trí nhớ của trái tim, đó là điều mà không phải ai cũng làm đ-ợc Với Tế Hanh có thể nói mà không sợ sai lệch là: Nhà thơ đã miêu tả rất đạt cảnh quê h-ơng vào lúc hồi ức và sự xa cách đang phủ lên nó ánh hào quang kỳ diệu Nhớ quê h-ơng ngoài nhớ cảnh là nỗi nhớ con ng-ời đau th-ơng anh dũng ở mọi tầng lớp Ông viết về em ái, chị Duyên, anh Hải… cần cù gan dạ Trong những sáng tác của mình ông đã kết hợp đ-ợc chất tự sự và chất trữ tình, hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng
2.2.2 Cùng với những kỷ niệm, tình cảm đằm thắm thì thực tế lúc này đất
n-ớc tạm thời bị chia cắt làm hai miền Miền Bắc đ-ợc giải phóng nh-ng miền Nam - quê h-ơng ông đang chìm trong lửa máu Thêm nữa gia đình phân li, cha mẹ, vợ con, anh em, bạn bè kẻ Nam ng-ời Bắc Cũng nh- nhiều ng-ời cùng hoàn cảnh từ miền Nam ra Bắc tập kết Tế Hanh luôn canh cánh bên lòng nỗi nhớ th-ơng, mong sẻ chia với quê h-ơng đồng chí đồng bào Tâm trạng ấy
d-ờng nh- cũng phù hợp với tâm hồn giàu suy cảm của ông Lòng miền Nam, gửi miền Bắc, tiếng sóng, hai nửa yêu th-ơng… là những tập thơ ra đời trong
khoảng những năm này Đấy là tiếng lòng là rung động thật từ trong cõi sâu nhất của tình cảm, nhận thức tiềm thức nơi ông Hàng loạt những bài thơ hay của ông đ-ợc d- luận chú ý và đánh giá cao Lúc này đang sống ở Bắc nh-ng
ông luôn nghĩ, luôn gửi tấm lòng mình cho miền Nam Ông không trực tiếp xông pha nơi chiến trận nh-ng ông mong -ớc rằng sẽ tạo ra đ-ợc sức mạnh
Trang 22tinh thần cổ vũ cho nhân dân miền Nam đấu tranh Để đạt đ-ợc -ớc nguyện đó thì không gì hơn là sáng tác thật nhiều gửi vào miền Nam Những áng thơ của
ông luôn chứa đựng tình cảm Bắc-Nam son sắt Các sáng tác của ông đã bám sát vào thực tế lịch sử ở giai đoạn đầu kháng chiến chống Mĩ, ông d-ờng nh- vẫn non nớt khi viết về đề tài này, bởi lúc này ch-a biết lịch sử sẽ đi về đâu Nh-ng càng về sau, cuộc kháng chiến của chúng ta càng chiến thắng thì thơ
ông đã trở nên khoẻ khoắn dõng dạc, dám nói lên tiếng nói tố cáo kẻ thù, nói lên tình cảm của mình với quê h-ơng
Chính dựa vào hai nguồn cảm hứng dồi dào này mà ông đã sáng tác về đề tài thống nhất n-ớc nhà một cách đậm đặc và thành công
2.3 Những biểu hiện về mặt nội dung trong thơ “Thống nhất nước
nhà“ của Tế Hanh
2.3.1 Tình cảm thắm thiết yêu quý miền Nam của tác giả
Trong tiềm thức của tâm hồn mỗi ng-ời, đặc biệt là ng-ời làm thơ, quê h-ơng có vị trí quan trọng, nó là nguồn cảm hứng vô tận trong thơ Việt Nam,
là dòng sữa ngọt ngào nuôi d-ỡng bao tâm hồn thi sĩ qua nhiều thế hệ Xuân
Diệu cho đó là:“Nhửng tế b¯o đầu tiên nguyên sơ cða tâm hồn con người“
Quê h-ơng luôn đọng lại những ám ảnh đậm sâu và dai dẳng góp phần tạo nên một hồn thơ, một cốt cách nghệ thuật Quê Hà Tĩnh đã cho thơ Huy Cận phần chân chất sâu lắng và Huế với những gì đã lắng đọng trong tâm hồn thơ Tố
Hữu để có những câu thơ da diết:
“Huế ơi quê mẹ cða ta ơi
Nhớ tự ngày x-a tự thủa nào Mây núi hiu hiu chiều lặng lặng Mưa nguồn gió biển nắng xa khơi“
(Quê mẹ)
Cùng nằm trong mạch nguồn viết về quê h-ơng của các nhà thơ, Tế Hanh cũng là ng-ời viết nhiều về quê h-ơng với những tình cảm sâu đậm Quê h-ơng
Trang 23là mạch nguồn chính xuyên chảy dạt dào trong cả đời thơ và cũng là mạch thơ
Tế Hanh có những bài thơ hay nhất, thành công nhất
Ng-ời đọc đã từng biết Tế Hanh từ Quê h-ơng (1939), bài thơ nằm trong
tập thơ Nghẹn ngào (sau bổ sung thêm và đổi là Hoa niên đ-ợc trao giải Tự lực
văn đoàn) Bằng tấm lòng yêu quê h-ơng, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên và những kỷ niệm nồng nàn nhất của mình tác giả đã rất thành công khi nói về quê nhà một làng chài l-ới Tuổi thơ của Tế Hanh chắc chắn đã trải qua những mùi mặn nồng của mớ cá và tiếng ru vừa bát ngát vừa êm đềm của sóng vỗ
Đứng ở làng quay mặt về ph-ơng nào cũng thấy những tấm l-ới, những mái chèo và những cánh buồm no gió Ông đã tự giới thiệu:
“L¯ng tôi vốn l¯m nghề ch¯i lưới Nước bao vây c²ch biển nừa ng¯y trời“
Chính cái thiên nhiên này đã đem đến cho Tế Hanh những câu thơ đầy sức lực:
“Dân trai tr²ng bơi thuyền đi đ²nh c² Chiếc thuyền nhẹ hăng nh- con tuấn mã
Phăng mái chèo mạnh mẽ v-ợt tr-ờng giang Cánh buồm gi-ơng to nh- mảnh hồn làng Dướn thân trắng bao la thâu góp gió“
Sau năm 1954, đất n-ớc tạm thời chia cắt, Tế Hanh tập kết ra Bắc Trong c°nh sống “Ng¯y Bắc đêm Nam” nhưng tấm lòng nh¯ thơ vẫn da diết gắn bó
với quê h-ơng với miền Nam ở các tập thơ Tiếng sóng, Bài thơ tháng bảy,
…mặc dù nói đến vấn đề khác nh-ng vẫn nằm trong cảm hứng Hai nửa yêu
th-ơng:
“Như chiếc đ°o bốn bề chao mặt sóng Hồn tôi vang tiếng vọng c° hai miền“
Trong các tác phẩm thơ trong giai đoạn đấu tranh chống Mỹ nh- Khúc
ca mới, Đi suốt bài ca,… Tế Hanh luôn gửi tâm tình của mình với quê h-ơng
Trang 24Có thể thấy Tế Hanh là nhà thơ có nhiều tập thơ dành riêng cho quê Nam nhất
và cũng là nhà thơ có số l-ợng bài thơ nhiều nhất về quê Nam Nh-ng quê h-ơng miền Nam không phải chỉ hiện diện trong những bài thơ trực tiếp về quê h-ơng mà cả trong những bài thơ viết về chủ đề khác cũng đề cập đến miền Nam Đi thăm Tân Trào, nhà thơ cũng mang theo nguyên vẹn tấm lòng miền
Nam “Lĩng miền Nam mơ ước đến Tân Tr¯o“, đến thăm một nhà thi sĩ Xô
viết, ông không quên nhớ đến bài thơ mà thi sĩ viết tặng chị Trần Thị Nhâm - ng-ời con gái Việt Nam anh hùng, ng-ời đồng h-ơng dũng cảm của mình
“V¯ đây kỉ niệm về Việt Nam Cùng với tháng ngày thêm thắm thiết Chiếc nón trắng chiếc đèn cá chép B¯i thơ tặng chÛ Trần ThÛ Nhâm“
(Thăm một nhà thơ Xô viết)
Sang thăm cộng hoà dân chủ Đức, trong cảnh n-ớc Đức bi chia cắt làm hai miền, c°m thông với nước b³n ng¯y ng¯y “trông về phương đông hướng mặt trời mọc”, trong ông luôn nặng lòng với quê h-ơng đất n-ớc Vì thế hai
tiếng “quê hương“, “miền Nam“, “quê nh¯“, “xữ sở“…xuất hiện trong thơ
Tế Hanh với tần số cao Mặc dù xuất hiện nhiều nh-ng nó không gây ở ng-ời
đọc sự nhàm chán với mỗi lần xuất hiện là sắc thái tình cảm của tâm hồn, cảm xúc của nhà thơ lại trỗi dậy:
“Tôi thấy đời tôi gắn liền với biển Tụng con sóng vui tụng lượn sóng buồn“
(Tiếng sóng)
Hay:
“Tôi cầm sũng xa nh¯ đi kh²ng chiến Nh-ng lòng tôi nh- m-a nguồn giú biển Vẫn trở về lưu luyến bên sông“
(Nhớ con sông quê h-ơng)
Trang 25Hình ảnh quê h-ơng luôn trong trái tim của ông:
“Sờ lên ngức nghe tr²i tim thầm nhắc Hai tiếng quê hương hai tiếng miền Nam“
Tế Hanh đã miêu tả quê h-ơng theo trí nhớ của trái tim Trong bài Nhớ con sông quê h-ơng (1956), nhà thơ nhớ từng bờ tre mặt n-ớc, nhớ bà con
“mưa nắng ngo¯i đồng“, “ch¯i lưới bên sông“, nhớ bà con đồng chí và nhớ
cả những ng-ời không quen biết Hình ảnh quê h-ơng hoà với kỷ niệm tuổi thơ
bạn bè bơi lội trên sông n-ớc và thiên nhiên t-ơi đẹp:
“Tôi nhớ không nguôi ²nhs²ng m¯u v¯ng Tôi quên sao đ-ợc sắc trời xanh biếc Tôi nhớ c° nhửng người không quen biết“
Tất nhiên cảnh sắc làng quê đ-ợc mô tả, đ-ợc khám phá thêm những gì mới mẻ từ đợt rung động đầu tiên trong sáng đối với một miền quê nghèo chài l-ới Tế Hanh đã h-ớng tới những miền quê và đ-ợc nhân lên với lòng yêu quê h-ơng đất n-ớc Nhà thơ nói về con sông quê h-ơng với một giọng tâm tình làm chúng ta nhớ đến hết thảy những con sông của quê ta: Sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Vệ, sông Ba… Những con sông miền Trung, con sông nào mà chẳng xanh mát và con sông nào mà chẳng có những hàng tre soi tóc Rồi tác giả chợt nhớ đến những kỉ niệm về tuổi thơ với dòng sông Lời thơ tha thiết đến cảm động, đọc một lần chất ngọt nh- thấm trên đầu l-ỡi khiến ta nhớ mãi:
“Khi mùi tre rÚu rÚt tiếng chim kêu Khi mặt n-ớc chập chờn con cá nhảy Bạn bè tôi chụm năm chụm bảy Bầy chim non bơi lội trên sông Tôi đ-a tay ôm n-ớc vào lòng Sông mở nước ôm tôi v¯o d³“
Hay nh- bài V-ờn x-a là một bài thơ hay cả về ý tứ, cả về câu chữ, hình
ảnh, nhịp điệu:
“M°nh vườn xưa mỗi ng¯y mỗi xanh
Trang 26Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ trở l³i vườn xưa“
Mở đầu là hai câu nói lên tác động của thời gian và tác động theo hai h-ớng khác nhau Đối với cảnh vật, cây cối thời gian giúp cho trở nên xanh tốt sầm uất, đối với con ng-ời thời gian làm cho già nua mòn mỏi Với cách đặt câu đối sánh này hiện lên khắc nghiệt nh- một định luật không thể gì c-ỡng lại
đ-ợc Tr-ớc sức mạnh thời gian, hai câu sau chỉ là -ớc mơ, một hy vọng mong manh Trở lại v-ờn x-a điều đó mới t-ởng là dễ nh-ng thực ra không dễ chút nào Trong cuộc đời bao nhiêu bất trắc, bao nhiêu lo toan bận rộn, làm sao cho
hai người cùng trở về Câu hài “có bao giờ” nói lên sự bâng khuâng khắc
khoải, cái điều thiết tha mong đợi nh-ng ch-a chắc chắn thực hiện Có thể nói hình ảnh mảnh v-ờn x-a và ng-ời mẹ nh- một bến đợi ấm áp luôn gợi nhớ, nhắc tuổi trẻ yêu nhau hãy trở về nh-ng tuổi trẻ mãi xa cách và mong đợi bao giờ trở về v-ờn x-a Vẫn là sự khắc khoải -ớc mong, Tế Hanh nói lên thiết tha một tấm lòng đoàn tụ nh-ng điều đó không đâu thuộc ý nguyện của con ng-ời
Có một cái gì lớn lao hơn đang chi phối, chỉ huy mỗi công việc ta làm Tác giả nói lên tình cảm xót xa của sự xa cách ấy
Bên cạnh việc miêu tả hình ảnh con sông, mảnh v-ờn x-a với những kỉ niệm tuổi thơ thì tác giả còn đi vào thể hiện tình cảm của mình đối với những ng-òi thân yêu nhất trong gia đình: đó là hình ảnh ng-ời em, hình ảnh ng-ời mẹ… Đang sống trên đất Bắc nhà thơ cảm thấy cô đơn nơi cuộc sống không ng-ời thân Nỗi cô đơn riêng lẻ thấm vào từng hình ảnh thơ Phải chăng đó là
“Mặt trăng mặt trời c²ch trở“ là “Sao hôm sao mai không cùng ở“ Đến
Sầm Sơn, nơi đông vui hội hè của bạn bè, của tình yêu lứa đôi nh-ng Tế Hanh cảm thấy cô đơn:
“Dẫu lĩng ta có ho² con t¯u Lòng em chẳng bao giờ thành biển
Em ở đâu rồi em ở đâu“
Trang 27(Em ở đâu)
Bài thơ Chiêm bao xuất phát từ một kỉ niệm tình yêu của riêng mình,
nh-ng nhà thơ đã biết hoà vào nỗi đau chung nên vừa nói đ-ợc tình cảm riêng vừa biểu hiện đ-ợc nỗi nhớ nhung thuỷ chung và xót xa của ng-ời con trai miền Nam đang sống trên đất Bắc nhớ tới ng-ời yêu xa cách:
“Dầu em đâu anh đâu Hai ta vẫn gần nhau Giấc chiêm bao đêm tr-ớc Soi s²ng c° ng¯y mai“
Mặc dù xa nhau anh một nơi em một nơi là vậy, nh-ng trong tâm trí của tác giả vẫn thấy d-ờng nh- giữa hai ng-ời không có khoảng cách Hai ng-ời vẫn gần nhau cùng nhau v-ợt qua thử thách để đi đến một ngày mai t-ơi sáng hơn
Ta biết trong thơ Việt Nam hiện đại, Tố Hữu đã thành công khi miêu tả những bà mẹ của cuộc đời chung, những bà mẹ anh hùng, đó là bà má Hậu Giang, mẹ Tơm, mẹ Suốt…, Thì Tế Hanh lặng lẽ miêu tả ng-ời mẹ nuôi con từ thuở ấu thơ cho đến khi con đã tr-ởng thành Tình cảm thẳm sâu và độ l-ợng chở che trong suốt cuộc đời con dù con đã tr-ng thành lớn khôn Hình ảnh ng-ời mẹ ở quê Nam luôn đi vào giấc ngủ của nhà thơ và câu hỏi đặt ra thật
đau lòng:
“Nhửng đêm thữc giấc giửa canh khuya Nhớ quê h-ơng nghĩ đến cảnh phân chia Con lại hỏi:
Mẹ còn không hỡi mẹ?
Mẹ già thế quân thù hung bạo thế T²m năm rồi chàng biết mẹ cĩn không“
Trang 28Sống xa quê nh-ng hình ảnh ng-ời mẹ luôn trong tâm trí nhà thơ, trong suốt tám năm trời nhà thơ lúc nào cũng lo cho mẹ Trong cảnh chiến tranh loạn lạc nh- vậy không biết mẹ có qua khỏi hay không, mẹ có chống chọi đ-ợc với sự hung bạo của kẻ thù không Câu hỏi đó làm cho ông quặn đau khi nghĩ đến mẹ
Rồi đó là hình ảnh nhà thơ ng-ời con đã ngoài sáu m-ơi bên mộ mẹ, từ biệt mẹ đã gây nhiều xúc động về lẽ tử sinh, về quy luật của đất trời và cái hữu hạn của một đời ng-ời Những ng-ời thân yêu cũng lần l-ợt đi về cõi chết ở
đây mịt mùng xa vắng quá liệu mẹ có nhớ đ-ợc lòng con:
“Cũi đầu tụ biệt mẹ
Từ biệt cả làng quê Quê mẹ không còn mẹ Bao giờ con l³i về“
(Bên mồ mẹ)
Khi viết về quê h-ơng Tế Hanh đã tạo ra một không gian nghệ thuật độc
đáo Đó là không gian ký ức, không gian tâm t-ởng Trong nỗi cách xa đặc biệt, trong nỗi đau chia cắt nhớ th-ơng, mảng thơ viết về tình cảm quê h-ơng th-ờng có âm điệu buồn Nh-ng phải nói Tế Hanh thực sự lôi cuốn ng-ời đọc ở những bài thơ có điệu buồn nhớ th-ơng xa cách này Nó vừa gần gũi gắn bó, lại dai dẳng khôn nguôi nh- một điệp khúc trong điệu tâm hồn của nhà thơ và
trong thơ ông Có rất nhiều câu thơ tác giả thể hiện nỗi nhớ nh-: “Tôi nhớ
khôn nguôi nỗi nhớ màu vàng / Tôi nhớ cả những ng-ời không quen biết“ (Nhớ con sông quê h-ơng) Hay: “Ta thấy nhớ b³n bè văn nghệ“ (Gửi miền
Bắc ), “điệu quê hương tr¯n đầy mong nhớ“ (Điệu quê h-ơng), “Ôi nhớ l¯m
sao nhửng mu¯ chim én / ôi nhớ l¯m sao nhửng mùa c² chuồn“ (Tiếng sóng),
“Ban ng¯y công t²c bận / Ban đêm d¯nh nhớ em“ (Chiêm bao)
Khó có thể thống kê hết đ-ợc nỗi đau này trong thơ Tế Hanh Cùng với
“nhớ” l¯ những từ, cụm từ chỉ nỗi nhớ: vấn vương, không quên, l¯m sao tin
đ-ợc… diễn tả nỗi da diết nhớ th-ơng của nhà thơ Có nhiều bài thơ tác giả đặt
Trang 29tên bằng nỗi nhớ: Nhớ con sông quê h-ơng, nhớ mẹ, Bạn ơi hãy nhớ, nhớ Quy Nhơn… nỗi nhớ nh- đ-ợc giăng mắc bằng sợi tâm tình nh- một đốm sáng lấp lánh lên từ một vùng ký ức thẳm sâu rất thực và rất mộc nên cú sức rung động
đến không ngờ Không phải chỉ có những khung cảnh hoành tráng phóng khoáng của biển, cũng không phải là dòng sông mênh mông xanh biếc, thơ Tế Hanh khiến ta bùi ngùi sâu xa hơn về những kỉ niệm, khởi đầu của mỗi cuộc
đời, khởi thuỷ của dòng ký ức Phải là ng-ời nặng lòng với quê h-ơng mới thấm đ-ợc vào lòng mình, mới nuôi nấng đ-ợc lòng ký ức của mình qua mấy
chục năm trời cái hình ảnh “nhửng v°y c² r°i trên đường lấp l²nh“, cái h-ơng
vị “gió đưa thơm mùi c² nướng ngọt ng¯o“ và cả những “đôi vai gầy g²nh c² sang sông“
Chính những vần thơ viết về nỗi nhớ th-ơng da diết ấy đã góp phần cổ vũ thêm cho nhà thơ đ-a những vần thơ của mình phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ Ông luôn nhớ về tất cả những gì gắn bó với quê h-ơng, với gia đình ng-ời thân Tế Hanh dành cho quê h-ơng những tình cảm đằm thắm thiết tha nhất Cho nên khi đọc thơ ông ta có những suy nghĩ về cái tình của Tế Hanh
đối với quê h-ơng miền Nam
2.3.2 Tỡnh cảm Bắc - Nam son sắt
Viết về đề tài “Thống nhất nước nhà”, Tế Hanh khụng chỉ dừng lại núi lờn tỡnh cảm của mỡnh đối với quờ hương miền Nam yờu dấu mà ụng cũn thể hiện ở đú cỏi tỡnh cảm Nam - Bắc sắt son khụng phai mờ Hầu hết ở cỏc tập
thơ của mỡnh giai đoạn 1954 - 1975, Tế Hanh đều đề cập tới vấn đề này Hàng
loạt cỏc bài thơ, tập thơ ra đời núi lờn tấm lũng của nhiều người con miền Bắc
dành cho người dõn miền Nam và ngược lại Tỡnh cảm Bắc - Nam thật đa
dạng Đú là tỡnh cảm cựng chung nhiệm vụ đấu tranh giành độc lập dõn tộc, là tỡnh đồng chớ, tỡnh đồng đội, tỡnh cảm vợ chồng khi kẻ Bắc người Nam Theo dũng lịch sử tỡnh cảm đú được thể hiện ngày một rừ hơn ở cỏc tập thơ viết trong giai đoạn sau
Trang 30Ngay từ tập thơ đầu tiên Lòng miền Nam (1956) Tế Hanh đã viết về tình
cảm Bắc - Nam son sắt Trong bài Nam Bắc, Bắc Nam mặc dù cả hai người
chưa một lần quen biết, sống ở hai miền khác nhau của Tổ quốc nhưng ở họ đã nảy sinh những tình cảm đằm thắm không muốn rời xa, luôn hướng về nhau Tình cảm của họ dành cho nhau vừa là tình cảm đồng chí, vừa là tình yêu:
“Một nửa tình đồng chí, một nửa tình yêu” Hai miềm Nam Bắc xa nhau là thế
nhưng với Tế Hanh dường như khoảng cách đó đã dần ngắn lại thậm chí mất
đi ranh giới giữa hai miền Bài Tiếng ca không giới tuyến đã minh chứng cho
điều đó Đây chỉ là tình cảm của những em thiếu nhi ở hai miền dành cho nhau nhưng cũng đủ góp vào đó tình cảm Nam - Bắc trong hoàn cảnh lúc bấy giờ
Dù chiến tranh kẻ thù có tàn phá đến đâu nhưng khi được sự giúp đỡ động viên của miền Bắc thì con người miền Nam sẽ dành được chiến thắng Bài thơ như một cuộc đối thoại giữa các em thiếu nhi Tùng Luật (Phía bắc sông Hiền Lương) với các em thiếu nhi Xuân Mỹ (Phía nam sông Hiền Lương), cuộc đối thoại đó có câu hỏi, câu trả lời bất chấp cả khi bị bọn giặc đánh đập, chửi bới Chính sức mạnh của tiếng hát vang vọng cả hai miền đã làm cho lũ giặc phải sợ:
“Tiếng ca không giới tuyến Rào rạt nước Hiền Lương Khúc hát của tình thương Bay khắp trời Quảng Trị
………
Bọn tay sai giặc Mỹ
Lũ cú vọ ăn đêm Trước khúc hát thiêng liêng
Sợ, chui vào bóng tối”
(Tiếng ca không giới tuyến)
Trang 31Tình cảm Nam - Bắc còn là tình cảm vợ chồng Do đất nước chia cắt
mỗi người phải sống ở mỗi nơi khác nhau Tuy xa nhau, người vợ ở nhà không biết người chồng có thể về với mình hay không, nhưng với sự thuỷ chung họ vẫn mòn mong chờ chồng Nỗi lòng đó bất chấp cả thời gian, bất chấp sự tra tấn dã man của kẻ thù và đây chính là sức mạnh tinh thần lớn nhất đối với những người đi chiến đấu:
“Em chờ anh không sợ bọn hung tàn
Dầu chúng nó giam cầm, tra tấn, giết Tình em đối với anh không thể chết
Em chờ anh - đau khổ ấy vinh quang
Em chờ anh không nghĩ đến thời gian”
Vả hai miền chung ruột mềm máu chảy
Vả hai miền chung tình nghĩa anh em
Vả hai miền chung những ngày tháng bảy
Vả hai miền chung một khoảng trời xanh”
(Bài thơ tháng bảy)
Điệp ngữ “Vả hai miền” được lặp lại trong đoạn thơ càng khẳng định
thêm tình cảm Bắc - Nam sắt son một lòng Trên đất nước này miền Bắc cũng như miền Nam luôn là một khối thống nhất, c¶ hai cùng dòng máu chảy, cùng tình nghĩa anh em, cùng khoảng trời xanh,…Tình cảm đó theo dòng thời gian
sẽ không nhạt phai mà lại càng thêm thắm thiết hơn Như một cơ thể sống chứa đựng những dòng máu đỏ lan chảy khắp mọi nơi đem lại sự tồn tại cho
Trang 32con người Bằng cách so sánh hình tượng thì hình ảnh Tổ quốc với hai miền Nam - Bắc ruột thịt không thể tách khỏi một khối thống nhất Không có lý do
gì có thể chia cắt được dải đất Việt Nam này thành những mảnh vụn riêng rẽ
Vì một mục đích chung nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam đều biến lòng tin của mình thành hành động cụ thể để xua đi bức màn đêm dày đặc, trả lại cho
Tổ quốc những khoảng trời xanh mà theo lẽ tự nhiên đó là một điều tất yếu
Ở bài Mẹ mãi còn hình ảnh người mẹ hiện lên trong tâm trí của nhà thơ
bằng những xúc động sâu xa, chân thành Tế Hanh đã nhớ đến mẹ, đến miền Nam, nơi bom đạn đã cày xéo trên mảnh đất thân yêu Không biết giờ đây mẹ
có còn nữa hay không, một câu hỏi khắc khoải trong tâm trí nhà thơ Ông tin rằng người mẹ thân yêu ấy vẫn còn, vẫn đứng vững dưới làn bom, mưa đạn của kẻ thù Mẹ là một của miền nam, miền Nam gan dạ và anh dũng trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược Ở miền Bắc tuy xa mẹ, xa những hình ảnh thân thương nhất nhưng trong tâm hồn thi sĩ vẫn giữ mãi kh«ng bao giê quªn Khoảng cách đã được rút ngắn lại, nhà thơ như đang đứng trước mẹ, trò chuyện tâm tình Qua đó Tế Hanh cũng thể hiện được tình cảm Bắc - Nam ruột thịt như một hòn máu không thể nào chia cắt, không thể nào tách rời:
“Nhưng mẹ ơi, con có xa mẹ đâu Như thịt xuơng không thể xa nhau Nhưng miền Nam vẫn dính liền miền Bắc Một hòn máu không thể nào chia cắt”
(Mẹ mãi còn)
Chúng ta biết không phải miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa là theo một đường thẳng mà vẫn có lúc gặp khó khăn Đó là lúc Mỹ tiến hành phá hoại miền Bắc và từ đây nỗi đau của miền Bắc cũng chính là nỗi đau của miền Nam:
“Đau Hà Nội là nỗi đau cả nước Chiến thắng thủ đô là chiến thắng toàn dân”
Trang 33(Hà Nội và hai ta) Giữa miền Bắc và miÒn Nam có mối quan hệ khăng khít với nhau, nỗi đau của một miền cũng chính là nỗi đau của cả nước Cả hai miền đều giúp đỡ lẫn nhau để vượt qua những chặng đường chông gai của chiến tranh Người dân miền Bắc luôn hướng về miền Nam ruột thịt thân yêu cổ vũ nhân dân miền Nam chiến đấu nhanh chóng thống nhất nước
“Những con người hoà bình miền Bắc Theo lời dạy Bác Hồ xây tổ quốc vinh quang
Cá tập đoàn long lanh như bạc rắc Mai con tàu sẽ cập bến miền Nam”
Để rồi hàng loạt các lá thư được chuyển đến cả hai miền một cách thuận lợi Đó là những lá thư của người con gửi cho mẹ ở Tuyên Quang, lá thư tình gửi cho người yêu ở Tháí Bình, lá thư gửi người bạn ở Hà Nội… Những lá thư này được viết từ trong chiến trường lửa đạn miền Nam gửi tâm tư tình cảm đối với miền Bắc yêu dấu của mình Khi nhận được thư của bạn đang kháng chiến với những trang viết về tội ác của giặc đối với nhân dân miền Nam, sống ở miền Bắc, Tế Hanh cảm thấy mình bất tài không làm được gì cho quê hương:
“Nay bạn ở miền Nam tôi miền Bắc Thư không nói nhưng lòng thầm nhắc Như lời tiền tuyến nhắn hậu phương Tôi đã làm gì cho xứ sở quê hương”
Viết về tình cảm Bắc - Nam son sắt, Tế Hanh đã lồng vào đó tình yêu
nam nữ Bài thơ Chiêm bao xuất phát từ một kỷ niệm tình yêu của riêng mình,
nhưng nhà thơ đã biết hoà vào nỗi đau chung nên vừa nói được tình cảm riêng vừa biểu hiện được nỗi nhớ nhung, thuỷ chung và xót xa của người con trai miền Nam đang sống trên đất Bắc nhớ tới người yêu xa cách
“Dầu em đâu anh đâu
Trang 34Hai ta vẫn gần nhau Giấc chiờm bao đờm trước Soi sỏng cả ngày sau”
(Chiờm bao)
Chớnh tỡnh yờu làm con người lớn lờn hoà vào cuộc sống chung quanh, tỡnh yờu đưa lại cho ta cỏch nhỡn mới nhiều ý nghĩa
2.3.3 Tiếng nói tố cáo kẻ thù
Trong thơ Tế Hanh bên cạnh nỗi nhớ quê h-ơng da diết, tình cảm Bắc -
Nam son sắt ta còn thấy đ-ợc những sáng tác của ông với tiếng nói tố cáo bè lũ c-ớp n-ớc Chính nỗi lòng nhớ th-ơng càng da diết thì tiếng nói ấy càng sâu sắc mãnh liệt hơn
Quê h-ơng ụng trải qua nhiều biến động lớn lao, nào là khói lửa chiến tranh ở thời kỳ thế giới đại chiến, rồi quê h-ơng lại hồi sinh trong những ngày Cách mạng tháng Tám và vùng lên quật khởi trong kháng chiến chống Pháp
Tế Hanh càng hiểu và yêu mến mảnh đất miền Nam khi ụng khám phá ra sức mạnh của nhân dân đã đ-ợc giải phóng, đ-ợc làm chủ ruộng đồng, v-ờn t-ợc
Từ đây quê h-ơng nh- thể chất đã có linh hồn, nhân dân là lực l-ợng chủ yếu tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp Và cũng chính nơi đây với những phong trào cách mạng của nhân dân trong chiến đấu và sản suất với những tấm g-ơng sáng nổi lên từ những ng-ời lao động bình th-ờng đã góp phần thay đổi cách nhìn cách cảm của nhà thơ đang chuyển mình theo cách mạng Nh-ng rồi quê h-ơng lại bị chìm trong sự thống trị tàn phá của đế quốc Mỹ và tay sai, tấm lòng yêu quê h-ơng của Tế Hanh đã mở rộng ra chung trong tấm lòng đối với
đất n-ớc nhất là với miền Nam
Kẻ thù đã làm cho hình ảnh quê h-ơng mang bao nét căm giận:
“Hôm qua ai thù giặc
Mà môi em mím chặt
Trang 35Hôm nay ai xót th-ơng
Mà mi em mờ sương“
(Mặt quê h-ơng) Những làng quê tồn tại từ bao đời đã bị xoá mất tên làng, xoá đi dáng hình thân thuộc của những vùng đất Tế Hanh xót xa căm giận khi nghe từng tội ác của giặc:
“C²i giếng đầu l¯ng, c²i giếng đầu l¯ng
Êm nh- kỉ niệm trong nh- ngọc Một mảnh lòng tôi ở miền Nam
- Bọn giặc Mỹ r°i đầy thuốc độc“
Bài thơ đ-ợc làm từ một cái tin trên báo: Giặc Mỹ ném thuốc độc xuống giếng ở làng quê miền Nam Cái tin ấy có thể bay đi sau những xúc động ở ng-ời đọc Nh-ng với Tế Hanh cái tin ấy đã ở lại trong nỗi đau xót xa của ụng
và khơi dậy bao kỉ niệm, xáo trộn hình ảnh quá khứ bình yên với hiện tại đau khổ để tạo nên bài thơ Cái giếng làng là nơi hội tụ của bao ng-ời dân, nơi để mọi ng-ời trò chuyện sau những ngày làm việc mệt mỏi Vậy mà giờ đây bàn tay của Mỹ đã rải đầy thuốc độc, nó đã xóa đi cái truyền thống của dân làng: Không chỉ bà “thuốc độc xuống giếng” giết h³i người dân l¯nh m¯ chúng còn thể hiện “sức m³nh” d± thú b´ng những c°nh tra tấn dã man tàn bạo, điển hình là vụ Phú Lợi Cùng viết về mối thù Phú Lợi, trong khi Tố Hữu đã thét lên những tiếng căm hờn và tin vào một ngày mai t-ơi đẹp hơn, ngày của chiến thắng chiến bại quân xâm l-ợc:
“B±o ng¯y mai l¯ gió nổi hôm nay Trời chớp giật, tất đến ng¯y sét đ²nh“
Thì Tế Hanh lại trực tiếp tố cáo tội ác dã man của giặc:
“Hơn s²u nghìn người bÛ giam cầm
Trang 36Chiến tranh mà kẻ thù xâm l-ợc với mục đích không từ một thủ đoạn nào, chúng đã biến vùng đất thiêng thành những bãi mìn vùi lấp bao nhiêu x-ơng máu của ng-ời dân vô tội Tế Hanh đó thẳng tay tố cỏo những kẻ vụ lại
bỏn nước:
“V¯ th´ng Thiệu tên tay sai tồi tệ nhất Tên Việt gian dòi bọ rúc chuồng xia Con chó ghẻ thối tha mùi xác chết Con ngứa què vữt bí giửa đường đi“
Những lời thơ không ở mức bình th-ờng, không phải là những lời đ-ợc trau chuốt gọt giũa mà là một lời thơ gắn với một sự khinh bỉ căm giận Tới mức những con vật nh- con chó, con ngựa đã đ-ợc hình t-ợng hoá cho những nhân vật tay sai, mà đứng đầu là Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu…Tế Hanh đã
Trang 37quyết liệt phê phán mà không có sự e ngại rụt rè, ụng đã đánh tới tấp vào bộ măt ghê tởm của kẻ thù
Trong sáng tác của mình, khi viết về tội ác của giặc Tế Hanh ra sức tố
cáo những hà nh động tà n bạo của chúng Chúng làm cho “Người đ¯n b¯ Ninh Thuận“ phải xa rời quê h-ơng bởi sự tàn phá dã man của giặc Chúng
bắt lìa xa nhà cửa, dồn dân lập ấp, mọi sinh hoạt của con ng-ời nằm trong sự kiểm soát của giặc Và ng-ời đàn bà ấy cũng nh- nhiều ng-ời dân vô tội khác
bị chúng coi là những con vật vô tri vô giác không biết phản ứng, không có khả năng kháng cự:
“Ban ng¯y chũng th° cho ra
Đêm v¯o đồn ngð như l¯ bĩ trâu“
Không chỉ thế những ng-ời thân của chị cũng lần l-ợt bị giết hại d-ới bàn tay tội ác:
“Tang cha cĩn trắng trên đầu
Đến chồng bÛ giết, mẹ rầu chết theo“
Từ ng-ời cha đến ng-ời mẹ, ng-ời chồng thân yêu đều để lại cho chị miền xót th-ơng Giờ đây trong cảnh n-ớc mất nhà tan, chị trở thành ng-ời cô độc lạc lõng giữa vòng vây kẻ thù
Viết về miền Nam trong ụng luôn dâng trào một niềm cảm th-ơng sâu sắc, đặc biệt viết về quê h-ơng thì hình ảnh của sự tàn phá, ng-ời dân bị sát hại hiện lên rất rõ Sự đổ vỡ về vật chất nh- nhà cửa, ruộng v-ờn không còn ý nghĩa với ng-ời dân quê ụng Bởi vì trong mỗi con ng-ời luôn nung nấu ý chí sắt đá, một mối thù không đội trời chung v-ợt ra ngoài đại d-ơng bao la, vũ trụ
rộng lớn Mối thù đó không thể tính đ-ợc:
“Quê hương giặc ph² tan t¯nh Cửa nhà ra bụi thuyền mành ra tro Cuộc đời bữa đói bữa no
Thù này lấy biển mà đo chửa vừa