Nội dung của cuốn sỏch đề cập đến cỏc vấn đề của vẽ tranh như: bố cục, hình mảng, màu sắc, phương phỏp vẽ tranh.Tỏc giả cũn đề cập đến phương phỏp vẽ tranh ở tiểu học theo hướng phỏt huy
Trang 1Khoa gi¸o dôc tiÓu häc
Trang 2Tr-ờng đại học Vinh
Khoa giáo dục tiểu học
=== ===
hình thành kiến thức và kỹ năng vẽ tranh
cho học sinh tiểu học
ngành giáo dục tiểu học
Giáovi n h-ớng dẫn: ThS Nguyễn Hữu Dị
Sinh vi n hực hiện: Vũ Thị Hồng
Vinh - 2008
Trang 3®-îc lặp đi lặp lại nhưng nâng cao dần qua các bài tập ở các cấp học, các lớp học Ngay trong các lớp học, cùng một vấn đề, cùng một kiến thức đó nhưng
có thể ở lớp 1, 2 đã xuất hiện và tiếp tục lên lớp 4, 5 vẫn xuất hiện.Tuy nhiên, kiến thức, kÜ năng ở các lớp sau cao hơn, khó hơn các lớp trước
Vì vậy, ngay từ cấp học đầu tiên của bậc học phổ thông chúng ta cần phải giúp học sinh lĩnh hội, nắm vững được những tri thức, kĩ năng cơ bản của môn Mĩ thuật để các em có thể tiếp tục học lên các cấp học trên
1.2 Trong môn Mĩ thuật phân môn Vẽ tranh không được đặt thành một phần riêng mà nó được sắp xếp xen kẽ với các phân môn khác: Vẽ theo mẫu, Trang trí, Tập nặn tạo dáng, Th-êng thức mĩ thuật Tất cả đều góp phần làm phong phú nội dung môn MÜ thuật ở tiểu học
Vẽ tranh có một vị trÝ quan trọng trong môn Mĩ thuật Bëi tranh vẽ chính là nơi học sinh thể hiện sự sáng tạo, sự cảm nhận vẻ đẹp tinh tế của sự vật, của cảnh vật trong cuộc sống và thiên nhiên Đồng thời, nó còn là nơi để học sinh thể hiện tình cảm, tâm hån ngây thơ trong sáng của các em qua các bức vẽ
Do đó, giáo viên cần phải giúp đỡ, tạo mọi điều kiện để các em hoàn thành nhiệm vụ và phát huy hết năng lực sáng tạo vốn có của mình
1.3 Thực trạng của việc dạy - học phân môn Vẽ tranh ở tiểu học cho thấy: giáo viên có rất ít kiến thức và kĩ năng về vẽ tranh cũng như các phương
Trang 4pháp dạy học phân môn nµy Giáo viên thường dạy một cách chung chung, chưa có phương ph¸p dạy riêng, đặc thù cho nên giờ học thường đơn điệu, nhàm chán, không gây được hứng thú học tập và phát huy hết năng lực vốn có của học sinh Trừ một số trường tiểu học có giáo viên chuyên d¹y mĩ thuật còn đa số giáo viên thường coi nhẹ dạy lướt qua cho xong các tiết học MÜ thuật hoặc có giáo viên còn dïng tiết học MÜ thuật cho các tiết học khác như: Văn, Toán Vì họ cho rằng đó mới là môn học chính, cần thiết còn môn học
MÜ thuật chỉ là môn học phụ, không bắt buộc và thật sự cần thiết như các môn kia Mặc dù học sinh rất thích học, có em còn mong muốn đến giờ học vẽ để được vẽ những bức tranh đẹp, để giới thiệu những sản phẩm của mình làm ra
mà các em cho là đẹp với bạn bè, với thầy cô giáo và thích được cô giáo khen Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học
Chính vì những hạn chế trên của giáo viên mà làm cho kết quả học tập của học sinh không cao, thiếu tính sáng tạo về bố cục, h×nh m¶ng, màu sắc Bên cạnh đó, còn do sự thiếu thốn về thiết bị dạy học, chưa nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường, các cấp, các ngành nên chất lượng dạy - học mÜ thuật nói chung và phân môn Vẽ tranh chưa cao
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy - học phân môn vẽ tranh? Đó là vấn đề mà mỗi giáo viên dạy mỹ thuật ở tiểu học cần quan tâm và suy nghĩ Để góp phần nhỏ công sức của mình vào giải quyết các
vấn đề đó chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Hình thành kiến thức và kỹ
năng vẽ tranh cho học sinh tiểu học”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây đã có một số tác giả đề cập đến vấn đề dạy học vẽ tranh ở môn MÜ thuật cho học sinh tiểu học Tuy nhiên các công trình
Trang 5này chỉ dừng lại ở việc nghiờn cứu một số kiến thức về cỏc loại tranh vẽ, phương phỏp dạy học vẽ tranh mà chưa thực sự đi sõu vào việc hỡnh thành kiến thức, kỹ năng của từng phõn mụn một cỏch cụ thể cho học sinh.Tuy vậy, đõy chớnh là những tài liệu bổ ớch cho chỳng tụi khi thực hiện đề tài này Cụ thể như:
- Cuốn “Mỹ thuật và phương phỏp dạy học” của Trịnh Thiệp - Ưng Thị Chõu NXB giỏo dục Nội dung của cuốn sỏch đề cập đến cỏc vấn đề của vẽ tranh như: bố cục, hình mảng, màu sắc, phương phỏp vẽ tranh.Tỏc giả cũn đề cập đến phương phỏp vẽ tranh ở tiểu học theo hướng phỏt huy trớ tưởng tượng
và sỏng tạo cho học sinh; nhưng dạy như thế nào thỡ tỏc giả lại chưa đề ra phương phỏp giải quyết một cỏch cụ thể
- Cuốn “phương phỏp giảng dạy mĩ thuật ở tiểu học” của Nguyễn Quốc Toản - NXB giỏo dục (2 tập) cú viết về đề tài Vẽ tranh và phương phỏp vẽ tranh nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc cung cấp một số kiến thức cơ bản cần thiết cho tranh vẽ như: bố cục, hình mảng, màu sắc và phương phỏp dạy học
35 - 40 phút dành cho các em tìm hiểu nội dung đề tài và thực hành là quá ít
Trang 6ỏi, đôi khi các em còn ch-a hoàn thành đ-ợc bài vẽ thì làm sao có thời gian để
“thể hiện” (phóng hình lên giấy theo khuôn khổ định vẽ) nh- tác giả đã nêu
Do đó, cách vẽ này còn ch-a hợp lí đối với học sinh tiểu học
- Cuốn “Tự học vẽ” của Phạm Viết Song - NXB Giỏo dục - 2001 cú đề cập đến cỏch vẽ tranh theo nhiều thể loại khỏc nhau: Vẽ tranh bột màu, vẽ tranh tĩnh vật, tranh phong cảnh, tranh bố cục (tranh đề tài) Giỳp cho mọi người đều cú thể học vẽ và trở thành người biết vẽ Tuy nhiờn, nú tương đối khú hiểu với học sinh tiểu học bởi ngụn ngữ và cỏc bước vẽ quỏ phức tạp
Chớnh từ những “chỗ trống” ở cỏc tài liệu núi trờn đũi hỏi vấn đề dạy học vẽ tranh ở tiểu học cần phải được nghiờn cứu một cỏch cú hệ thống và đầy đủ hơn Đõy cũng chớnh là lớ do mà chỳng tụi nghiờn cứu đề tài này nhằm nõng cao chất lượng dạy - học vẽ tranh cho học sinh tiểu học
3 Mục đớch và nhiệm vụ nghiờn cứu
3.1 Mục đớch nghiờn cứu
Nghiờn cứu để đ-a ra cách vẽ, quy trỡnh thực hiện 1 tiết dạy học vẽ tranh ở tiểu học nhằm nõng cao hiệu quả của việc dạy - học phõn mụn Vẽ tranh núi riờng và mụn Mĩ thuật ở tiểu học núi chung
3.2 Nhiệm vụ nghiờn cứu
- Nghiờn cứu lý luận của việc dạy học trong phõn mụn Vẽ tranh
- Tỡm hiểu thực trạng của việc dạy - học phõn mụn Vẽ tranh ở tiểu học
- Xõy dựng hệ thống kiến thức và kỹ năng về vẽ tranh cho học sinh
- Xỏc lập hệ thống phương phỏp dạy học vẽ tranh và quy trỡnh thực hiện một tiết học vẽ tranh
4 Khỏch thể nghiờn cứu, đối tƣợng nghiờn cứu
4.1 Khỏch thể nghiờn cứu
Quỏ trỡnh dạy học mụn Mĩ thuật ở tiểu học
4.2 Đối tượng nghiờn cứu
Trang 7Hỡnh thành kiến thức và kỹ năng vẽ tranh ở tiểu học
5 Phương phỏp nghiờn cứu:
Để tiến hành nghiờn cứu đề tài này, chỳng tụi đó sử dụng 4 phương phỏp sau:
5.1 Phương phỏp nghiờn cứu lý luận
Để cú cơ sở lý luận về nghiờn cứu đề tài này, chỳng tụi đó tiến hành nghiờn cứu chắt lọc cỏc tài liệu liên quan đến đề tài như: Giỏo dục học, Tõm lớ học, Phương phỏp dạy học mĩ thuật ở tiểu học, Phương phỏp dạy học đặc thự của phõn mụn Vẽ tranh ở tiểu học, khai thỏc nội dung chương trỡnh SGK từ lớp 1 đến lớp 5, tham khảo sỏch giỏo viờn từ lớp 1 đến lớp 5, Chương trỡnh giỏo dục phổ thụng cấp tiểu học do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành số 16/2006/QĐ-BGD ngày 5 - 5 - 2006
5.2 Phương phỏp nghiờn cứu kinh nghiệm
Để đưa ra được những phương phỏp dạy học phõn mụn Vẽ tranh và quy trỡnh thực hiện một tiết dạy học vẽ tranh ở tiểu học một cỏch thiết thực và hiệu quả, chỳng tụi đó học hỏi, tham khảo ý kiến kinh nghiệm giảng dạy của giỏo viờn ở một số trường tiểu học như: Hà Huy Tập II, Lờ Lợi và ý kiến một số bạn sinh viờn ở lớp 45A - GD Tiểu học
5.3 Phương phỏp quan sỏt
Chỳng tụi đó tiến hành quan sỏt, thu thập những tư liệu, thao tỏc biểu hiện trong cỏc giờ dạy - học của giỏo viờn và học sinh trong quỏ trỡnh dạy học phõn mụn Vẽ tranh và đi xuống cỏc lớp để tỡm hiểu, quan sỏt thực tế ở d-ới tr-ờng tiểu học
5.4 Phương phỏp tiến hành thực nghiệm
Để tiến hành kiểm nghiệm và đỏnh giỏ hiệu quả của việc vận dụng cỏc phương phỏp dạy học và quy trỡnh thực hiện một tiết dạy học vẽ tranh đã đề
Trang 8xuất, chỳng tụi trong thời gian thực tế ở trường Lờ Lợi và thực tập ở trường
Hà Huy Tập II đó biờn soạn một số giỏo ỏn và tổ chức dạy thực nghiệm một
số bài như: Vẽ tranh theo đề tài mụi trường - lớp 5, đề tài Con vật (vật nuôi) - lớp 2
Kết quả thu được: 100% học sinh đều hoàn thành bài vẽ, cỏc em học rất tớch cực và nhiệt tỡnh
6 Giả thuyết khoa học
Từ việc tỡm hiểu thực trạng dạy học mụn Mĩ thuật ở tiểu học mà đặc biệt là phõn mụn Vẽ tranh, chỳng tụi cho rằng: Nếu đưa ra được một quy trỡnh
và một số biện phỏp đảm bảo tớnh hệ thống, khoa học, khả thi sẽ nõng cao được hiệu quả dạy - học vẽ tranh trong mụn Mĩ thuật đú là: phỏt huy trí tưởng tượng, sỏng tạo ở học sinh, tư duy khoa học, làm cho cỏc em yờu thiờn nhiờn, yờu cuộc sống, con người hơn
Trang 9Môn MÜ thuật ở tiểu học không nhằm đào tạo học sinh trở thành họa sÜ
mà chủ yếu giúp học sinh có điều kiện để tiếp xúc, làm quen, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên, cña đời sống và của các sản phẩm mÜ thuật Để từ đó giúp các em cã nh÷ng hiểu biết ban đầu về những yếu tố làm ra cái đẹp và những tiêu chuẩn của cái đẹp, giúp các em cảm thấy yêu đời, yêu thiên nhiên hơn Môn MÜ thuật cũng nhằm một mục tiêu chung đó là hướng con người phát triển hài hòa về nhiều mặt, có đủ phẩm chất, năng lực của người lao động mới đáp ứng với nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội Do vậy, từ lâu môn
MÜ thuật đã trở thành môn học chính trong nhà trường phổ th«ng
1.1.1.2 NhiÖm vô
Giáo dục thẩm mĩ giúp cho học sinh nhận ra vẻ đẹp của mọi vật thông qua: đường nét, hình m¶ng, màu sắc, bố cục làm cho các em yêu mến thiên nhiên, cuộc sống, biết quý trọng sản phẩm lao động mà mình và mọi người làm ra
Phát triển ở học sinh khả năng quan sát, nhận xét, năng lực tư duy tưởng tượng, sáng tạo Đây là lợi thế nổi bật nhất của môn MÜ thuật Bởi mÜ thuật là tạo ra cái đẹp mà cái đẹp được thể hiện dưới nhiều dạng, nó muôn màu, muôn vẻ và muốn có cái đẹp thì phải suy nghÜ, sáng tạo
Cung cấp cho học sinh một số kiến thức mÜ thuật cơ bản, tạo điều kiện cho các em hoàn thành nhiệm vô đã đề ra của chương trình Đồng thời, đây
Trang 10cũng chính là những kiến thức mÜ thuật ban đầu làm cơ sở, nền tảng cho các
em có thể học lên các cấp học trên
Giáo dục nghệ thuật truyền thống của dân tộc cho học sinh Thông qua môn MÜ thuật học sinh biết thêm các loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc ta như: tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, nghệ thuật trang trÝ hoa văn trên các loại vật phẩm: trống đồng Đông Sơn, trang trí hoa văn trên khăn,
áo, mũ, bát đÜa và học sinh còn biết thêm được một số tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng của các họa sÜ ViÖt Nam cũng như họa sÜ thế giới
Tạo điều kiện cho học sinh học các môn khác thuận lợi và hiệu quả hơn
vì khi học mÜ thuật đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ, tưởng tượng những cái mà học sinh chưa thấy trong thực tế hoặc tưởng tượng để làm cho bài vẽ của mình trở nên phong phú hơn, sinh động hơn Điều này sẽ giúp cho tư duy của học sinh phát triển nên khả năng tư duy toán học, khoa học tốt hơn Mặt khác, ngôn ngữ của mÜ thuật cô đọng, súc tích, có tính biểu cảm lớn nên đây chính
là điều kiện tốt để giúp học sinh học tập các môn xã hội: Tiếng việt, Lịch sử Ngược lại các môn khác cũng có sự ảnh hưởng rất lớn đến môn MÜ thuật như khi học sinh học về phép đo đại lượng (đo chiều dài), tỉ lệ sẽ giúp các em xác định chính xác tỉ lệ các vật để đưa vào trong tranh
Giúp những học sinh có năng khiếu mÜ thuật có điều kiện học tập ở các trường chuyên nghiệp sau này Đồng thời phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu mÜ thuật cho học sinh Góp phần tạo dựng môi trường thẩm mỹ cho xã hội
Với nhiệm vụ như vậy nhưng dung lượng dành cho môn MÜ thuật rất ít:
1 tuần - 1 tiết, cả năm học có 33 tiết, cả cÊp học có 165 tiết cho nên lượng kiến thức đưa vào ở các lớp chỉ dừng lại ở mức sơ đẳng, được chọn lọc tương đối điển hình Có sự xen kẽ giữa các phân môn, kiến thức được xây dựng theo vòng xoáy tr«n ốc (ở lớp sau có sự nâng cao dần, mức đé khó hơn các lớp
Trang 11trước) Riêng đối với phân môn Vẽ tranh thì các đề tài thường gắn liÒn với các ngày lễ lớn hoặc các chủ đề trong phân môn Tập đọc (Trường em -Trường lớp; Môi trường - Giữ lấy màu xanh (Tập đọc lớp 4)) Do đặc điểm tri giác và tư duy của học sinh tiểu học nên các giờ vẽ trong chương trình được chia làm hai giai đoạn:
Giai ®o¹n 1: C¸c líp 1, 2, 3
Giai ®o¹n 2: C¸c líp 4, 5
Điều này sẽ giúp cho giáo viên thuËn lîi h¬n trong viÖc giáo dục, rèn luyện tri thøc và tư duy cho häc sinh; giúp các em có sự nhận biết về cách vẽ,
về đối tượng từ cảm tính cụ thể sang cách vẽ sáng tạo hơn
Ví dụ: Học sinh lớp 1 có thể vẽ ô tô nhìn ngang nhưng vẫn có 4 bánh, 2 đèn vì các em cho rằng xe ô tô phải có đủ 4 bánh, 2 đèn thì xe mới chạy được Còn đối với học sinh lớp 5 các em có thể vẽ ô tô ở mọi tư thế đều đúng và có thể thiết kế ra loại ô tô có trong trí tưởng tượng của các em
Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ của môn MÜ thuật ở tiểu học mà chương trình đưa vào 5 phân môn:
1.1.2 Đặc điểm tâm lý và ngôn ngữ tạo hình của học sinh tiểu học
Vẽ là một nhu cầu thực sự đối với học sinh tiểu học, nó gắn liền với tâm sinh lý lứa tuổi của các em: ham hoạt động (ham chơi) và ham hiểu biết
Ở tiểu học ngoài nhu cầu vÒ vËt chÊt, c¸c em cßn cã nhu cÇu quan trọng nữa
Trang 12đó là đời sống tinh thần: thích vui chơi, ca hát, rất tình cảm với mọi người xung quanh
Qua thực tế cho ta thấy không có học sinh nào lại không thích vẽ hoặc không vẽ được Tranh vẽ của các em cã nét đẹp riêng mà người lớn không có được rất ngộ nghÜnh, ngây thơ, thật thà và trong sáng
Tất cả các em học sinh ở miền núi hay miền xuôi, ở nông thôn hay ở thành thị đều rất thích vẽ dẫu rằng các em chưa được học vẽ bao giờ Nếu chúng ta chú ý đến các hoạt động của trẻ ta thấy ở mọi lứa tuæi khác nhau các
em đang ở trong nhà hay ở ngoài sân, hễ cầm trên tay mình mẫu phấn, than, gạch non hay một cái que các em đều nghệch ngoạc xuống đất Còn nếu trên lớp học các em lại vẽ vào vở, bìa sách, bàn ghế, thậm chí còn vẽ cả vào lßng bàn tay của mình những hình ảnh rất ngộ nghĩnh, xa lạ với ý nghĩ của chúng
ta Nhưng thông thường các em ở miền núi, nông thôn thì hay vẽ về cảnh rừng cây, con suối, ruộng vườn, các con vật nuôi Còn các em ở thành thị hay vẽ về công viên, đường phố, buổi cắm trại, thành phố về ban đêm
Hầu hết tất cả các em đều vẽ theo kiểu “nghĩ sao vẽ vậy”, còn màu sắc thì m×nh thích màu gì vẽ màu ấy (có em vẽ con trâu nhưng trông rất giống con chó vì em chưa nhìn thấy con trâu bao giờ và thích tô màu vàng cho nó ) Nhưng qua thời gian học tập các em dần dần biết được cách vẽ, hiểu được một số kiến thức mÜ thuật cơ bản Do đã, sản phẩm của các em ngày một chất lượng hơn Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tâm sinh lý lứa tuổi, các giai đoạn phát triển ngôn ngữ t¹o hình cña trẻ Sự hình thành và phát triển ngôn ngữ tạo hình của trẻ cũng dựa trên cơ sở tâm lý lứa tuổi, có tính quy luật Tính quy luật đó ứng với các giai đoạn phát triển của các bậc học: nhà trẻ, mẫu giáo, phổ thông Tuy nhiên chia ra các giai đoạn phát triển hay nhận xét khả năng tạo hình của trẻ đều dựa trên cơ sở chung, không có ý áp đặt tất cả, vì
Trang 13bất cứ lĩnh vực nào nhất là môn MÜ thuật - môn nghệ thuật đều có những ngoại lệ
1.1.2.1 Giai đo¹n nhà trẻ: Từ 18 tháng tuổi - 3 tuổi
Trẻ ở độ tuổi này mới cầm được phấn, chưa quen cầm sáp, bút chì, bút
dạ Khi vẽ trẻ thường vận dụng cả bàn tay có lúc cả khuỷu tay, hay vẽ to, vẽ rộng Vì vậy nét vẽ của trẻ thường cong hơn là thẳng, đôi khi còn chưa rõ đó
là nét cong hay nét thẳng nữa (chỉ lµ những nét nghệch ngoạc) TrÎ chưa có ý định vẽ cái gì, chỉ là sự hoạt động của tay cùng với phấn hay gạch non, que trên nền nhà, trên đất Đó chỉ là những nét vòng vo, chồng chéo nhau, run rẩy, thưa dày đan xen nhau theo sự thích thú của “trò chơi” và nó cũng chưa ra hình gì
1.1.2.2 Giai đoạn mẫu giáo: Gồm nhóm trẻ mẫu giáo bé, mẫu giáo
nhỡ và mẫu giáo lớn
Mẫu giáo bÐ từ 3 - 4 tuổi:
Thời kì đầu trẻ có thói quen như tuổi nhà trẻ Lúc này nét vÏ của trẻ đang còn lẫn lộn, chồng chéo giữa các nét dọc ngang, xiên và nét lượn vòng
vo Ở giai đo¹n này sự chỉ đạo của thần kinh đối với cơ bắp chưa thuần thục, thêm vào đó trẻ chưa có ý định tạo hình, quan sát còn ở dạng hời hợt, không
có chủ định - nhìn và trông theo bản năng, hình ảnh thường thoáng qua bất chợt, chưa đọng lại trong trí nhớ của trÎ lâu Thời kì này hoạt động của trẻ theo bản năng là chủ yếu Đơn giản là vì trẻ muốn hoạt động, thích thú hoạt động vẽ Do đó nét vẽ ban đầu rất tự do “tung hoành” không có giới hạn Giai đoạn này hoạt động vẽ của trẻ chưa có ý định rõ ràng, trẻ quen cầm que, phấn tự do, chưa quen cầm bút chì, sáp màu và cũng chưa quen với việc vẽ trên giấy
Do vậy, giáo viên cần hướng dẫn trẻ cách cầm phấn, chì, sáp một cách nhẹ nhàng và thoải mái bằng 3 ngón tay: ngón cái, ngón trá ở trên và ngãn
Trang 14giữa ở dưới Hướng dẫn trẻ vẽ nét, vẽ hình đơn giản trên trang giấy “có hạn chế” sao cho vừa, không to, quá nhỏ, quá dài cũng không quá ngắn Hai thao tác này tưởng chừng dễ dàng nhưng không hề đơn giản chút nào với trẻ, cần mất khá nhiều thời gian, kiên trì và thường xuyên NÕu được hướng dẫn một cách cụ thể và chu đáo, ở giai đoạn này trẻ có thể vẽ được các hình đơn giản
và cũng biết cách tô màu theo ý thích, nhưng tô màu còn chưa gọn thường bị
“loe” ra ngoài
Giai đoạn mẫu giáo nhỡ: 4 - 5 tuổi
Ở giai đoạn này trẻ bắt đầu kiềm chế được nét vẽ của mình (nét nào cần
vẽ dài, ngắn, cao, thấp ) và các hình vẽ của trẻ đã hao hao giống một cái gì
đó tức là muốn vẽ một cái gì đó theo cách nhìn của các em Nếu theo dõi trẻ
ta thấy trẻ chăm nhìn đối tượng vẽ hơn và trước khi vẽ trẻ còng dành một ít thời gian để nghĩ xem mình nên vẽ cái gì trước, bộ phận nào trước, nét vẽ to hay nhỏ, cao hay là thấp, nét cong hay thẳng Đến đây ta có thể nói rằng sản phẩm của trẻ là “hình vẽ” vì trên trang giấy trẻ đã biết vẽ những gì để thành cái gì theo cách nhìn, cách nghĩ, sự thích thú và đây chính là giai đoạn vẽ theo
Giai đoạn mẫu giáo lớn: 5 - 6 tuổi
Giai đoạn này trẻ đã phát triển hơn về mọi mặt: về thể chất, về nhận thức, cảm xúc và trẻ đã quen dần với công việc học tập, thích học các môn nghệ thuật như: âm nhạc (hát, múa), mỹ thuật (vẽ, nặn, xé, dán, xếp hình các con vật, đồ chơi ) Do đó, nét vẽ của trẻ đã theo ý muốn dài, ngắn, đứng, xiên, thẳng, cong khá rõ ràng, mạch lạc, tự nhiên hơn Đặc biệt là nét vẽ còn
Trang 15có chỗ đậm (to), nhạt (nhỏ), thoáng hơn, hình vẽ rõ dần, đối tượng có thêm nhiều chi tiết Điều này chứng tỏ là trẻ đã quan sát kỹ hơn và bắt đầu có sự suy nghĩ trước khi vẽ, và trẻ đã ý thức được vẽ cái gì, nó thế nào, vẽ ra sao và
cố gắng thể hiện đúng như thế
Nhưng hình vẽ vÉn ở dạng “mô phỏng kỹ”, vẫn xiên xẹo, trông ngộ nghĩnh nhưng rất đáng yêu Lúc này người hướng dẫn cần cung cấp thêm tư liệu về đối tượng vẽ cho trẻ bëi vốn sống của trẻ đang còn rất ít, mức độ quan sát chỉ là thoáng qua, hời hợt, dễ quên, dễ bỏ qua Người hướng dẫn có thể cung cấp tư liệu cho trẻ bằng cách: kể những mẩu chuyện, dïng tranh ảnh gợi
tả, dïng các câu hỏi gợi mở để hướng dẫn trẻ Tuy nhiên, khi hướng dẫn cần lựa chän những cách hợp lý với đối tượng vẽ và tâm lý của học sinh ở giai đoạn này
Tóm lại, ở giai đoạn mẫu giáo hoạt động tạo hình của trẻ có hiệu quả hơn và tạo hình là một trong những nội dung chính của chương trình Bởi lứa tuổi này dễ tiếp thu các loại hình nghệ thuật, trẻ học bằng sự thích thú chứ không bị gò ép, chưa bị chi phối bởi các môn học khác ở các lớp trên
1.1.2.3 Giai đoạn tiểu học: 6 - 11 tuổi
Ở tiểu học, học sinh được học nhiều môn, trong đó có môn MÜ thuật nhưng mỗi tuần chỉ có một tiết và mọi người cũng chưa chú ý đến dạy mÜ thuật nên nó chưa mang lại hiệu quả cao như mong muốn
Thực ra ở tiểu học các em chưa ý thức được môn học nào quan trọng hơn môn học nào mà đó chỉ là ý muốn của người lớn ép buộc các em phải coi trọng các môn như Toán, Tiếng Việt Riêng đối với môn MÜ thuật thì các em
đã có những hiểu biết ban đầu ở mẫu giáo rồi nên lên tiểu học các em đón nhận môn học này một cách hồ hởi và học tập có kết quả, vì các em được vẽ theo cách nhìn, cách nghĩ và theo sự thích thú của mình - tạo ra cái đẹp theo ý mình
Trang 16Cú thể phõn chia thành cỏc giai đoạn cụ thể như sau:
Giai đoạn thứ nhất: Lớp 1
Học sinh lớp 1 vừa từ mẫu giỏo lờn do vậy nột vẽ, hỡnh vẽ, tranh vẽ, cỏch nhỡn, cỏch nghĩ vẫn mang dỏng dấp của giai đoạn mẫu giỏo Đú là nột vẽ cũn tự nhiờn, phúng khoỏng, hỡnh vẽ cũn chung chung, ở dạng sơ đồ, sắp xếp theo lối liệt kờ, kể lể; hỡnh vẽ rời rạc, cú nhiều nột chồng lờn nhau và thường đồng đều về số lượng như là vẽ một ngụi nhà thỡ vẽ thờm một con gà, 1 cỏi cõy, 1 ụng mặt trời Bờn cạnh đú, một số học sinh mẫu giỏo chưa được tiếp xỳc nhiều với hoạt động mĩ thuật nờn khi lờn lớp 1 cỏc em cũn nhiều bỡ ngỡ
và gặp nhiều khú khăn: nột vẽ, hỡnh vẽ thường bị gũ bú, khụng tự nhiờn, hỡnh
vẽ thường nhỏ hơn so với khổ giấy, hoặc ở chớnh giữa hoặc lệch sang phải, trỏi Vỡ vậy ở giai đoạn này giáo viờn cần hướng dẫn học sinh một cỏch kỹ càng, cẩn thận, tỉ mỉ và phải thật nhiệt tỡnh thỡ mới tạo ra cơ sở nền tảng vững chắc cho cỏc em sau này Bởi đõy là lớp học đầu tiờn mà cỏc em làm quen với hoạt động học tức là chuyển từ hoạt động “vui chơi” sang “học tập”
Giai đoạn thứ 2: Lớp 2 - 3
Qua một năm làm quen và tiếp xỳc với mĩ thuật cỏc em đó cú tiến bộ nhiều, cỏc em đó biết lựa chọn cỏc chi tiết hợp lý, sắp xếp cỏc hỡnh ảnh phự hợp với đề tài, biết cỏch tụ màu gọn hơn, nhiều em khỏ cũn biết cỏch phối hợp cỏc màu sắc với nhau để tạo ra một bức tranh đẹp trong suy nghĩ của cỏc em Núi chung học sinh lớp 2 - 3 đó bắt đầu vẽ bằng “tư duy” hơn so với lớp 1 và
vẽ bằng suy nghĩ, hứng khởi nhiều hơn so với cỏch vẽ khuụn mẫu ở lớp 1
Giai đoạn thứ 3: Lớp 4 - 5
Ở giai đoạn này học sinh đó nắm được một số kiến thức và kỹ năng cơ bản của mụn Mĩ thuật núi chung và phõn mụn Vẽ tranh nói riờng Cỏc thao tỏc: quan sỏt, cầm bỳt, cỏch vẽ nột, vẽ hỡnh, tụ màu cũng đi vào nề nếp và
Trang 17thuần thục hơn Các bài vẽ thể hiện rõ được tính tư duy sáng tạo, tính khoa học Bài vẽ của các em đã có chi tiết rõ ràng, gần với thực tế, có nhiều chi tiết vui mắt, sắp xếp hình vẽ có gần có xa, có mảng chính, mảng phụ biết cách phối hợp màu sắc, có độ đậm nhạt làm cho bài vẽ của các em trở nên phong phú, sinh động, hấp dẫn và đẹp hơn Điều này cho thấy qua một thời gian dài (3 - 4 năm) học mÜ thuật chất lượng bài vẽ của các em tốt lên rất nhiều.Và các môn học như: Toán, Tự nhiên - Xã hội đã có tác dụng đến cách học mÜ thuËt của các em, giúp các em tìm hiểu, khai thác, cảm thụ đề tài tốt hơn Tuy nhiên, ở một bộ phận nhỏ học sinh lớp 5 lại bộc lộ một sè hạn chế: màu sắc khô khan, đôi khi các em vẽ hơi công thức có em còn sợ mình vẽ sai, vẽ nhầm
so với đề tài nên các em cố gắng diÔn tả hết tất cả những gì mình trông thấy, mình quan sát được làm cho bài vẽ của các em trở nên rườm rà, chật chội và không thể hiện rõ được đâu là mảng chính, mảng phụ Vì thế khi dạy giáo viên cần hướng dẫn kỹ cho học sinh qua từng bước vẽ: cách tìm hiểu nội dung
đề tài, vẽ hình ảnh chính, vẽ hình ảnh phụ để giúp cho bài vẽ của các em ngày một tốt hơn
Việc phân chia các giai đoạn như trên chỉ là tương đối để có thể thấy được chung nhất về sự hình thành và phát triển ngôn ngữ tạo hình của trẻ; để góp phần nhìn nhận, đánh giá và hướng dẫn trẻ tốt hơn Giáo viên cũng cần lưu ý dù bài vẽ của trẻ như thế nào cũng không nên nhận xét một cách cứng nhắc, có tính cố định và áp đặt một điều gì đó với trẻ
Như vậy: cũng theo một quy luật phát triển chung, cũng giống như các môn học khác để học sinh vẽ được tranh tốt, trở thành một con người phát triển toàn diện, hài hòa về mọi mặt thì cần phải dựa trên cơ sở tâm sinh lý løa tuổi và từng giai đoạn phát triển của học sinh
Trang 181.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Học sinh tiểu học
Các em rất thích học môn MÜ thuật mà đặc biệt là học phân môn Vẽ tranh Bởi vì thông qua tranh vẽ các em bộc lộ được những suy nghĩ, tâm tư, tình cảm nguyện vọng của mình và các em còn muốn “khoe” sản phẩm của mình làm ra với bạn bè, thích được thầy cô khen có học sinh còn cho rằng giờ học MÜ thuật là giờ giải trí sau những giờ học căng thẳng của các môn học khác nên rất thoải mái, tự nhiên Ở giờ học này các em được cầm bút vẽ những gì mình thích và cho là đẹp, thích được dùng những màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng để tô lên sản phẩm của mình Tuy nhiên việc học vẽ tranh của học sinh tiểu học còn một số tồn tại: Các em vẽ rÊt công thức, máy móc, rập khuôn thấy gì là vẽ nấy, chưa có sự tìm tòi hay liên tưởng tới đối tượng khác khi vẽ
và hiện tượng bắt chước là khá phổ biến; vÒ mà u sắc thì các em thích màu gì
là sẽ tô màu đó
1.2.2 Giáo viên dạy môn MÜ thuật ở tiểu học
Đội ngũ giáo viên dạy mÜ thuật ở tiểu học thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn nghiệp vụ sư phạm Đa số các trường tiểu học không có giáo viên chuyên dạy mÜ thuật (trừ các trường tiểu học ở thành phố) mà thường là giáo viên dạy văn hóa kiêm luôn giáo viên dạy mÜ thuật Do đó, năng lực cũng như chuyên môn nghiệp vụ sư phạm của họ rất yếu Việc tổ chức giờ dạy mÜ thuật của họ còng chỉ theo khả năng “biết” của mình chứ chưa thật sự “hiểu”
Có giáo viên còn tổ chức giờ dạy một cách qua loa cho xong nhiệm vụ hoặc
tổ chức dạy một cách đơn điệu, nhàm chán làm cho học sinh chán học, lười học và mất dần hứng thú khi học mÜ thuật Một số giáo viên còn dïng tiết MÜ thuật để cho học sinh làm bài tập toán, bài tập tiếng Việt với suy nghĩ rằng MÜ
Trang 19thuật là mụn phụ ấy mà, học cũng được mà bỏ cũng được rồi hụm sau mỡnh dạy bự vài bài luụn một thể
Chớnh vỡ năng lực hạn chế và ý thức trỏch nhiệm chưa cao của một số giỏo viờn nờn kết quả học tập mụn Mĩ thuật của học sinh chưa cao
1.2.3 Cơ sở vật chất
Triết học duy vật biện chứng Mỏc-Lờ nin đó khẳng định: Vật chất quyết định ý thức, tinh thần Đỳng vậy, nếu chỳng ta làm việc gỡ mà khụng cú cơ sở vật chất thỡ làm việc gỡ cũng khú Dạy học mĩ thuật cũng vậy, muốn cho kết quả dạy và học được nõng cao thỡ cũng cần phải cú đầy đủ trang thiết bị, đồ dựng dạy và học Nhưng trong thực tế đồ dựng dạy và học mĩ thuật ở tiểu học dường như khụng cú gỡ, sỏch đọc thờm và cỏc tài liệu khỏc rất hiếm Mà giỏo viờn đú muốn dạy tốt thỡ giỏo viờn đú phải chuẩn bị hoặc học sinh phải tự chuẩn bị lấy đồ dùng học tập Đối với mụn Mĩ thuật thỡ đồ dựng dạy - học lại rất quan trọng Vớ dụ: khi dạy vẽ theo mẫu thỡ cần phải cú mẫu vật thật để học sinh quan sỏt; dạy vẽ tranh thỡ cần giấy, màu, tranh ảnh minh họa Hiện nay,
đồ dựng dạy - học mĩ thuật cũng khỏ hơn song chỉ dừng lại ở SGK, SGV, vở tập vẽ, chỡ màu, sỏp màu, bỳt dạ mà thụi chứ ớt trường mà học sinh được sử dụng màu bột, màu nước
Từ đó cho thấy, để chất lượng dạy - học mĩ thuật được nõng cao cần phải cú sự quan tõm giỳp đỡ của nhà trường, cỏc cấp, cỏc ngành nhiều hơn nữa về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
1.2.4 Thực trạng giảng dạy và học tập mụn Mĩ thuật ở tiểu học
1.2.4.1 Thực trạng giảng dạy
Thực trạng giảng dạy mĩ thuật ở d-ới tr-ờng tiểu học là tựy tiện, bỏ cũng được mà dạy cũng được, ớt cú sự quan tõm đầu tư của cỏc cấp giỏo dục, chất lượng kộm do trỡnh độ của giáo viên cũn hạc chế Đối với những trường
Trang 20cú giỏo viờn chuyờn về mĩ thuật thỡ số tiết dạy ở trờn lớp của giỏo viờn đầy đủ hơn Những tiết học cú người dự giỏo viờn chuẩn bị tương đối đầy đủ Cũn những giờ khụng cú người dự thỡ thường là học sinh tự tưởng ra cỏc mẫu vật
để vẽ hoặc giỏo viờn ra bài, hướng dẫn sơ qua rồi để đú học sinh tự làm, giỏo viờn đi nơi khỏc (cỏc lớp 4 - 5 trường tiểu học Hà Huy Tập 2) Nếu cú thỡ giỏo viờn cũng chỉ hướng dẫn qua loa chứ khụng dạy tỉ mỉ, kĩ càng Do đú, chất lượng giảng dạy chưa cao Đối với những trường chưa cú giỏo viờn chuyờn về
mĩ thuật thỡ đa số giỏo viờn đọc trong SGK, SGV rồi núi lại cho học sinh cũn học sinh vẽ được những gỡ là tựy cỏc em Cuối giờ miễn học sinh cú sản phẩm nộp cho giỏo viờn là được Bên cạnh đó, sự đỏnh giỏ của giỏo viờn cũng chưa cao vỡ thực tế họ cú rất ớt kiến thức về mụn Mĩ thuật, họ chỉ đỏnh giỏ những cỏi cơ bản (đỳng hoặc sai), học sinh nào vẽ gần giống với thực tế là được chứ chưa phỏt huy tớnh tưởng tượng, sỏng tạo của học sinh Mà cú khi học sinh sỏng tạo lại bị giỏo viờn cho là sai Điều này cũng dễ hiểu, bởi ở cỏc trường này, một giỏo viờn phải dạy tới 8 mụn văn húa rồi, họ cũn thời gian đõu để mà chuẩn bị chu đỏo cho mụn Mĩ thuật (một mụn đũi hỏi sự tỉ mỉ và phải cú năng khiếu), đú là chưa kể đến việc họ cú năng khiếu vẽ hay khụng và tất nhiờn trong tư tưởng của họ mụn Mĩ thuật cũng khụng phải là mụn học chớnh, cần thiết như cỏc mụn kia (tụi đó đi khảo sỏt thực tế tại trường Tiểu học Yờn Lạc - huyện Như Thanh - Thanh Húa)
Vấn đề dặt ra cho ngành giỏo dục là mỗi trường tiểu học dự ở nụng thụn hay thành thị nờn cú từ 1 đến 2 giỏo viờn chuyờn dạy mĩ thuật Điều đú mới đỏp ứng được nhu cầu thực tế của việc giảng dạy mĩ thuật ở tiểu học
Trang 21tham gia, yêu thích hơn cả (1E: 40 em, 2B: 30/43 em, 5B: 19/33 em) so với các phân môn khác trong môn MÜ thuật Tuy nhiên việc học tập của học sinh chưa có nề nếp, kiến thức chưa có hệ thống, thực hành còn ít ỏi Mặt khác, quan niệm về môn học này cßn chưa đúng đắn nên ảnh hưởng nhiều đến giáo dục thẩm mỹ cho học sinh Qua thực tập ở trường tiểu học Hà Huy Tập II, tôi thấy học sinh ít được quan sát, tham quan danh lam thắng cảnh và bảo tàng nên vốn sống, kiến thức về mÜ thuật của các em chưa sâu, không kích thích được hứng thú học tập của các em Mà những bài vẽ theo mẫu, vẽ tranh phong cảnh, tranh đề tài giáo viên chủ yếu là cho học sinh xem tranh giáo viên vẽ hoặc học sinh năm trước để lại Do đó, học sinh sinh ra cái tính bắt chước, rập khuôn lười suy nghĩ Ngoài ra, học sinh còn bị chi phối ảnh hưởng
về các môn chính, phụ của xã hội, của nhà trường, của gia đình Rồi các em còn phải tập trung cho các môn học mà mọi người cho là môn chính, lo cho thi cử, lo bị đánh giá nên việc học tập mÜ thuật dễ bị sao lãng, bỏ quên Tuy nhiên đa số học sinh đều thích học mÜ thuật và có em đạt được kết quả cao trong các kì thi vẽ ở trong nước và quốc tế Dạy học mÜ thuật ở tiểu học là làm sao để thức tỉnh khả năng sáng tạo, tưởng tượng ở học sinh và tạo điều kiện cho các em tham gia hoạt động tạo hình, làm cho đời sống tinh thần của các
em phong phú hơn, thoải mái hơn; góp phần tạo dựng môi trường thẩm mỹ cho xã hội
Trang 22CHƯƠNG 2
Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng vẽ tranh
đối với học sinh tiểu học
2.1 KIẾN THỨC VÀ KĨ NĂNG VẼ TRANH NểI CHUNG
2.1.1 Kiến thức vẽ tranh
- Kiến thức: “là sự hiểu biết sõu rộng” [4, 93]
- Kiến thức vẽ tranh: Kiến thức vẽ tranh chớnh là sự hiểu biết về nội dung đề tài, những nguyờn tắc, phương phỏp xõy dựng bố cục; hỡnh mảng (mảng chớnh, mảng phụ), màu sắc, đường nột để sắp xếp lại thành một bức tranh cõn đối, hài hũa, hợp lý
Khỏi niệm vẽ tranh được nhiều tỏc giả đề cập đến như:
- “Vẽ tranh là sự sắp xếp cỏc yếu tố tạo hỡnh: đường nột, hỡnh, mảng, màu sắc và tỡnh cảm của người vẽ nhằm phản ỏnh sự vật, hiện tượng trong thiờn nhiờn và cuộc sống Vẽ tranh khụng chỉ thể hiện yếu tố kỹ năng, kỹ thuật mà cũn là một quỏ trỡnh sỏng tạo, hỡnh thức gắn liền với nội dung, tỏi tạo lại những hỡnh ảnh, cảnh sinh hoạt, lao động vui chơi hay nhiều vấn đề khỏc trong cuộc sống Tranh mang đến cho người xem những hỡnh ảnh điển hỡnh,
cụ đọng thể hiện được cỏi đẹp của thiờn nhiờn, cuộc sống xó hội, mang đến cho người xem những rung động thẩm mỹ” [2, 78]
Trang 23- “Vẽ tranh là hoạt động của con người nhằm thể hiện một nội dung cụ thể bằng đường nột, hỡnh khối và màu sắc với một bố cục hoàn chỉnh trờn mặt phẳng với một chất liệu hoặc phối hợp nhiều chất liệu khỏc nhau, gọi là chất liệu tổng hợp” [6, 6]
Túm lại: Vẽ tranh là hoạt động của con người nhằm sắp xếp cỏc yếu tố tạo hỡnh: đường nột, hỡnh mảng, màu sắc và tỡnh cảm trờn một mặt phẳng (giấy, gỗ, giấy điệp ) để phản ỏnh sự vật, hiện tượng trong thiờn nhiờn và cuộc sống
- Các loại bố cục th-ờng dùng:
+ Bố cục hình tháp (bố cục hình tam giác):
Dạng bố cục này gây cảm giác vững chãi, tin t-ởng, khoẻ khoắn, đ-ợc
áp dụng rộng rãi từ lâu đời Ví dụ: nghỉ chân bên đồi, hai thiếu nữ và em bé (tranh của hoạ sỹ Tô Ngọc Vân)
+ Bố cục hình tròn (bố cục ê - líp):
Bố cục hình tròn là dạng bố cục có mảng trọng tâm nằm trong khung hình tròn Bố cục này tạo cảm giác mềm mại, uyển chuyển, chuyển động tuần hoàn Ví dụ: Điệu nhảy - tranh của hoạ sỹ Ma-tít-xơ
Trang 24+ Bố cục hình vuông, hình chữ nhật:
Là dạng bố cục có mảng trọng tâm nằm trong hình vuông hay hình chữ nhật, tạo cảm giác cân xứng vững chắc Ví dụ: Tranh hai cô gái bên bờ biển của Gô-ganh
+ Bố cục theo phối cảnh:
Là dạng bố cục theo luật xa gần tức là ng-ời và vật ở gần thì to, rõ ràng,
ở xa thì mờ, nhỏ Mọi hình thể trong tranh đều chịu sự chi phối của đ-ờng tầm mắt Đ-ờng tầm mắt cao thì cảnh mặt đất rộng, đ-ờng tầm mắt thấp thì cảnh mặt đất hẹp Tranh vẽ theo luật phối cảnh còn đ-ợc áp dụng kết hợp với các dạng bố cục khác nh- bố cục hình tam giác, bố cục hình vuông, bố cục hình tròn tạo cho tác phẩm chiều sâu không gian Dạng bố cục theo phối cảnh th-ờng dễ tạo nhịp điệu bằng các đ-ờng l-ợn sóng Việc áp dụng các dạng thức bố cục trên vào vẽ tranh tuỳ thuộc nội dung và ý đồ của ng-ời vẽ tranh
- Một số điểm cần l-u ý khi xây dựng bố cục tranh:
+ Phân bố hình mảng to, nhỏ phải tạo đ-ợc sự nhịp nhàng
+ Tránh dồn bố cục về một phía làm bố cục mất cân đối và không để tỉ
lệ các hình mảng bị dồn nén, quá chật chội, các hình mảng quá lớn làm phá vỡ
sự hài hoà của bố cục tranh, gây cảm giác khó chịu cho ng-ời xem
+ Hình mảng chính không nên quá nhỏ tạo sự rời rạc, gây cảm giác buồn tẻ, lạnh lẽo, hoang vắng
+ Không để đ-ờng tầm mắt (đ-ờng chân trời) cắt đôi tranh thành hai phần bằng nhau
+ Không nên để các đ-ờng xiên chéo vào góc tranh
+ Không nên để đầu các nhân vật nằm sát đ-ờng chân trời
+ Tránh các mảng hình bằng nhau, giống nhau, đang đối nhau ở hai bên bức tranh
+ Tránh để đ-ờng chân trời chia đôi tranh thành hai phần bằng nhau
Trang 25+ Cạnh t-ờng của ngôi nhà nằm chính giữa tranh, hai ngôi nhà bằng nhau, giống nhau, thẳng hàng với nhau
+
2.1.1.4 Đậm, nhạt, màu sắc trong tranh
Đậm, nhạt màu sắc có ảnh h-ởng không ít đến hiệu quả của bức tranh
Bố cục hình thể đẹp mà màu sắc không đẹp thì không thể gọi là bức tranh đẹp Vì thế, cần phải có sự phối hợp giữa màu sắc, độ đậm, nhạt một cách hợp lý với nội dung của bức tranh Nếu tranh thiếu đậm thì sẽ buồn tẻ, chống chếnh, nhạt nhẽo Nếu tranh thiếu sáng sẽ gây cảm giác nặng nề, u uất Mặt khác,
đậm, nhạt còn làm tăng sự thu hút của mảng chính và tạo không gian xa gần cho bức tranh Đối với tranh vẽ màu sắc cần thể hiện đ-ợc nội dung đề tài, đặc
điểm của vùng miền, không gian, thời gian, tính chất của công việc, các màu t-ơi hay đậm nên tập trung cho mảng chính còn các mảng phụ thì nhạt hơn vì
ở xa hơn Và trong thực tế ta thấy màu sắc của các vật ở xa sẽ bị không khí, hơi n-ớc làm mờ dần Do đó, khi vẽ tranh các vật ở xa mờ dần sẽ tạo đ-ợc không gian cho bức vẽ Muốn làm đ-ợc điều đó thì phải tạo đ-ợc gam màu hay hoà sắc cho bức tranh tức là cần phải xác định màu chủ đạo cho bức tranh
Ví dụ: Khi vẽ cảnh đồng lúa quê em lúc chín rộ thì màu chủ đạo sẽ là màu vàng, các vật xung quanh nh- ngôi nhà, các chú trâu đang gặm cỏ ở xa xa ít nhiều cũng bị ảnh h-ởng của màu vàng chủ đạo hoặc vẽ biển có màu chủ
đạo là màu xanh da trời
2.1.1.5 Đ-ờng nét
Tranh không nên có quá nhiều đ-ờng nét r-ờm rà, phức tạp mà cũng không nên quá đơn điệu Cần phải biết lựa chọn những đ-ờng nét chính, tiêu biểu cần thiết để đ-a vào bức tranh của mình cho phù hợp với nội dung đề tài
Tóm lại, một bức tranh có bố cục đẹp là bức tranh có sự phối hợp hài hoà giữa các yếu tố trên
Trang 262.1.1.6 C¸ch vÏ
Tìm, chọn nội dung đề tài; tìm hình tượng tiêu biểu:
Trước khi vẽ ta cần nghiên cứu kĩ nội dung đề tài hoặc hình tượng tiêu biểu mà mình sẽ vẽ để cho phù hợp với đề tài (đối với tranh vẽ theo đề tài) Bởi vì vẽ tranh theo đề tài là một khái niệm rộng về nội dung, một đề tài lớn
có nhiều đề tài nhỏ và trong một đề tài nhỏ có thể vẽ được nhiều bức tranh có nội dung khác nhau Do đó, ta phải lựa chọn lấy một chủ đề sao cho phù hợp với cảm xúc và khả năng thể hiện của mình như:
- Nên thể hiện ở khía cạnh nào thì nêu được nội dung chủ đề
- Nên vẽ những gì, hình tượng nào là chủ yếu, hình tượng nào là phụ Nếu thiếu hình tượng nào thì tranh vẽ không rõ nội dung, có thể bị lạc đề
- Cần nhớ lại tưởng tượng lại những cảnh đã trông thấy hoặc nghe kể, căn cứ vào đó để phác thảo, lấy tài liệu tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để xây dựng bố cục
Còn nếu là đề tài tự do thì người vẽ được tự do lựa chọn đề tài theo sở thích và khả năng của bản thân
Trang 27 Vẽ hỡnh ảnh chớnh, hỡnh ảnh phụ:
Khi đã xác định đ-ợc nội dung chủ đề và vị trí đặt các mảng chính, mảng phụ, ta tiến hành lựa chọn hình t-ợng cho mảng chính, mảng phụ, hình dáng nhân vật, đồ vật trong tranh Có thể phác hình khái quát từng nhân vật,
đồ vật, ch-a cần vẽ chi tiết và những đặc điểm cụ thể
- Vẽ màu: sau khi vẽ đã hoàn chỉnh, tiến hành vẽ màu theo phác thảo hoặc ý đồ đã xác định Các màu t-ơi, màu đậm nên tập trung cho mảng chính, các mảng phụ nhạt hơn vì ở xa
2.1.1.7 Vẽ tranh đề tài
Vẽ tranh theo đề tài:
Vẽ tranh theo đề tài là một khỏi niệm rộng về nội dung vỡ trong đề tài lớn cú nhiều đề tài nhỏ Tuy nhiờn, cú thể hiểu vẽ tranh theo đề tài là vẽ theo
Trang 28một yờu cầu nào đú hay vẽ theo nội dung, chủ đề đó cú sẵn tức là vẽ theo
“đơn đặt hàng” Trong đú vẽ tranh đề tài thỡ người vẽ bắt buộc phải thực hiện một chủ đề nào đú, khụng được tự ý lựa chọn Nếu chủ đề đú khụng phự hợp với cảm xỳc của mỡnh và xa lạ với sự hiểu biết thỡ cũng phải cố gắng nghiờn cứu, tỡm hiểu nội dung để vẽ cho được
Vẽ tranh đề tài gồm có 2 hình thức: Vẽ theo đề tài bắt buộc và vẽ tự do (đề tài tùy ý)
2.1.2 Kĩ năng vẽ tranh
- Kĩ năng: “ là năng lực khéo léo” [4, 89]
- Kĩ năng vẽ tranh: Là năng lực vẽ tranh khéo léo của ng-ời vẽ tức là sắp xếp các hình t-ợng, sử dụng đ-ờng nét, hình mảng, đậm nhạt, màu sắc tạo thành bức tranh đẹp theo nội dung đề tài hoặc ý thích
2.2 Kiến thức và kĩ năng vẽ tranh đối với học sinh tiểu học
Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng vẽ tranh đối với học sinh tiểu học còn ở mức đơn giản, sơ đẳng, chỉ yêu cầu các em nắm đ-ợc những kiến thức cơ bản, ban đầu của môn Mĩ thuật nói chung và phân môn Vẽ tranh nói riêng B-ớc
đầu giúp các em làm quen với các hoạt động mĩ thuật Tuy nhiên mức độ kiến thức, kĩ năng cần đạt đ-ợc nâng cao dần qua các lớp từ lớp 1 đến lớp 5
Trang 292.2.1 Kiến thức vẽ tranh cần đạt đ-ợc đối với học sinh tiểu học
2.2.1.1 Bố cục
Đối với học sinh tiểu học ch-a yêu cầu các em phải vẽ theo luật bố cục
đúng phối cảnh nh- học sinh ở các cấp trên và cũng ch-a đòi hỏi các em cần tuân theo dạng bố cục nào cả Mà chỉ mới yêu cầu học sinh vẽ hình ảnh chính vào khoảng giữa tranh, có kích th-ớc vừa phải, cân đối với giấy vẽ; hình ảnh chính đúng với nội dung đề tài Từ hình ảnh chính học sinh biết tìm các chi tiết, hình ảnh hợp với hình ảnh chính làm cho bức tranh thêm sinh
Tìm, chọn nội dung đề tài:
Ở tiểu học để hướng dẫn học sinh tỡm, chọn nội dung đề tài cú thể ỏp dụng cỏc cỏch sau:
- Giỏo viờn đưa ra một số tranh, ảnh núi về nhiều đề tài khỏc nhau và yờu cầu học sinh hóy chọn ra cỏc bức tranh, ảnh núi về đề tài mà mỡnh sẽ học Sau đú giỏo viờn dựng một số cõu hỏi gợi mở để giỳp học sinh hiểu sõu hơn
Trang 30+ Tại sao em cho rằng 4 bức tranh này lại thuộc đề tài môi trường? (học sinh sẽ nêu nội dung các bức tranh để giải thích)
+ Theo em hiểu, môi trường là gì? (học sinh sẽ vận dụng kiến thức của lớp dưới hoặc các môn khác để trả lời)
+ Môi trường có tầm quan trọng như thế nào đối với cuộc sống của chúng ta? (học sinh nêu được tầm quan trọng của môi trường, từ đó ý thức được bảo vệ môi trường là điều rất cần thiết)
+ Em hãy kể những hoạt động, việc làm nhằm bảo vệ môi trường mà
- Giáo viên có thể cho học sinh đọc thầm, quan sát trong SGK rồi sử dụng phương pháp vấn đáp để tìm ra nội dung của đề tài
- Nếu có điều kiện thì giáo viên cho học sinh quan sát, liên hệ thực tế
để tìm chọn nội dung đề tài
Ví dụ: Khi vẽ tranh đề tài Phong cảnh, học sinh chọn cảnh trường em
để vẽ thì giáo viên nên cho học sinh ra khỏi lớp học để các em quan sát thực
tế quang cảnh trường mình và kết hợp với tưởng tượng, sáng tạo sẽ làm cho bức tranh của các em đạt chất lượng tốt hơn, các em cũng dễ thể hiện hơn khi
có tư liệu sinh động từ thực tế
Trên đây là một số cách nhằm hướng dẫn học sinh tìm, chọn nội dung
đề tài Nhưng dù bằng cách nào thì người vẽ cũng phải dựa trên cơ sở thực tế,
Trang 31liên tưởng với cuộc sống thì những hình ảnh đưa vào trong tranh mới tốt và có tác dụng người xem
T×m bè côc, ph¸c th¶o m¶ng chÝnh, m¶ng phô:
Sau khi hướng dẫn các em tìm chọn nội dung đề tài xong giáo viên sẽ hướng dẫn các em phác thảo (xác định) hình ảnh chính sẽ đặt ở trọng tâm của bức tranh; không lệch sang trái, phải hay lên trên xuống dưới quá nhiều Hình ảnh chính phải to, rõ ràng, phù hợp với nội dung đề tài
VÏ h×nh ¶nh chÝnh, h×nh ¶nh phô:
Sau khi học sinh xác định được vị trí đặt hình ảnh chính, hình ảnh phụ giáo viên sẽ gợi ý cho các em vẽ hình ảnh chính, hình dáng nhân vật, đồ vật trong tranh Từ hình ảnh chính ta sẽ vẽ thêm các chi tiết, hình ảnh phụ hợp với hình ảnh chính làm cho bức tranh thêm sinh động và hấp dẫn
Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh vẽ hình ảnh chính, phụ bằng hai cách: + Giáo viên vẽ trực tiếp lên bảng: Vẽ hình ảnh chính trước sau đó mới
Sau khi học sinh thực hành giáo viên phải xoá bảng hoặc cất tranh minh hoạ các bức vẽ đi vì học sinh tiểu học dễ bắt chước và sao chép Mà sao chép
là điều tối kỵ trong sáng tác hội hoạ, như một nhà tâm lý học người Mỹ đã nói: “Hãy xem một trăm bức tranh và loại nó ra khỏi bức tranh của bạn”