1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số vấn đề trong thương mại điện tử và thử nghiệm xây dựng website bán sách

78 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mô hình hiện nay thường được phát triển cho các ứng dụng này là mô hình kiến trúc đa tầng - Database chọn sử dụng trong ứng dụng là Microsoft SQL Server 2000 - Web Server Chọn là IIS và

Trang 1

LỜI CẢM ƠN!

Chúng em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại Học Vinh, Ban chủ nhiện khoa Công nghệ thông tin, các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, trang bị cho chúng em những kiến thức cần thiết trong những năm học tại trường

Chúng em xin cảm ơn Thạc sĩ Phan Anh Phong đã tận tình hướng dẫn, quan tâm và giúp đỡ chúng em trong suốt quá trình làm đồ án để chúng em có thể hoàn thành đồ án tốt nghiệp này

Chúng tôi xin cảm ơn các anh, các chị và các bạn đã có những ý kiến đóng góp, nhận xét, động viên và quan tâm, giúp đỡ chúng tôi vượt qua khó khăn trong suốt quá trình làm đồ án

Cuối cùng chúng con xin cảm ơn cha mẹ, gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất về vật chất lẫn tinh thần, động viên và khích lệ chúng con trong thời gian qua

Vinh, tháng 5 năm 2008 Sinh viên thực hiện

Nguyễn Văn Công

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Công nghệ thông tin là một ngành mới xuất hiện trong vài thập niên trở lại đây

Và đã khẳng định được vị trí của nó trong nhiều lĩnh vực Việc ứng dụng Công nghệ thông tin xuất hiện ở nhiều lĩnh vực: Giáo dục, quốc phòng, kinh tế, văn hóa

… bởi vậy nó mang lại hiệu quả, chính xác, nhanh chóng và thuật tiện và góp phần phát triển kinh tế xã hội đất nước

Một trong những đóng góp to lớn của Công nghệ thông tin, là việc áp dụng Công nghệ Thông tin nói chung và Internet nói riêng trong giới thiệu và bán hàng qua mạng Hình thức này được gọi là Thương mại điện tử Thương mại điện tử gần đây ngày một phát triển, sự phát triển, sự ra đời của các ngôn ngữ lập trình cho phép chúng ta có thể thiết kế xây dựng các ứng dụng thương mại điện tử dưới nhiều hình thức khác nhau

Thương mại điện tử không chỉ mở ra những cơ hội kinh doanh mới, những sản phẩm và dịch vụ mới, những ngày nghề kinh doanh mới, những sản phẩm dịch vụ mới, những ngành nghệ kinh doanh mới mà bản thân nó thực sự là một hình thức kinh doanh mới: phương thức kinh doanh điện tử Thương mại điện tử chuyển hóa các chức năng kinh doanh, từ nghiên cứu thị trường và sản xuất sản phẩm đến bán hàng, dịch vụ sau bán hàng từ hình thức kinh doanh truyền thống đến phương thức kinh doanh điện tử

Được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Ths Phan Anh Phong, Em đã lựa chọn đề tài:” Tìm hiểu một số vấn đề trong thương mại điện tử và thử nghiệm

xây dựng website bán sách ” để làm đồ án tốt nghiệp của mình

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, tìm hiểu, nghiên cứu trên trên các tài liệu đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè, do thời gian có hạn và khả năng còn hạn chế, nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được sự đánh giá, góp ý của Thầy cô và các bạn để em kịp thời có những sửa đổi, bổ sung

Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ tận tình của thầy giáo Ths

Phan Anh Phong, người đã trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đồ án này và các

Trang 3

thầy cô giáo trong khoa Công nghệ thông tin Trường Đại họa Vinh cùng các bạn sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 5 năm 2008

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn! Error! Bookmark not defined

LỜI NÓI ĐẦU 2

I Lý do chọn để tài 5

II Mục đích nghiên cứu 6

III.Bố cục của đồ án gồm: 6

IV Kết quả đạt được 6

V Hướng nghiên cứu và phát triển 6

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

CHƯƠNG I : 7

TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 7

I Thương mại điện tử 7

II Lợi ích của thương mại điện tử 9

III Các công đoạn của thương mại điện tử 9

CHƯƠNG II: 11

MỘT SỐ KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 11

I kỹ thuật về an toàn trong thương maị điện tử 11

1 Bảo vệ các máy khách 11

2 Đối phó với các cookie 12

3 Giao thức Secure Socket Layer (SSL) 13

3 Giao thức S-HTTP 15

4 Chữ ký số (Digital signature) 16

II Thanh toán trong thương mại điện tử 17

1 Sự phát triển của hệ thống thanh toán 18

2 Thanh toán trong nội bộ một hệ thống ngân hàng 20

3 Thanh toán liên ngân hàng 22

CHƯƠNG III 24

TÌM HIỂU CÔNG CỤ XÂY DỰNG HỆ THỐNG 24

I Công nghệ NET 24

1 Giới thiệu về Net 24

2 Kiến trúc Net Framework 25

3 Ngôn ngữ C# 26

II Hệ quản trị có sở dữ liệu sql server 2000 27

1 Giới thiệu SQL Server 2000 27

2 Giới thiệu về Transact SQL (T-SQL) 28

3 Sử dụng SQL Server 2000 29

PHẦN II : XÂY DỰNG WEBSITE BÁN SÁCH VNBOOKS 30

CHƯƠNG I: BÀI TOÁN THỰC TẾ 30

I Vấn đề đặt ra 30

II Bài Toán 30

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ 33

I Phân tích các yêu cầu 33

II Yêu cầu đối với bài toán thương mại điên tử 33

CHƯƠNG III: THIẾT KẾ WEBSITE 46

I Đặc tả các modul xử lý của chức năng khách hàng 46

II Đặc tả chức năng của nhà quản trị website 50

III Hệ thống file và các modul của trang web 69

PHẦN IV: KẾT LUẬN 77

TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 5

PHẦN I: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI

I Lý do chọn để tài

Công nghệ thông tin là một ngành mới xuất hiện trong vài thập niên trở lại đây Và đã khẳng định được vị trí của nó trong nhiều lĩnh vực Việc ứng dụng Công nghệ thông tin xuất hiện ở nhiều lĩnh vực: Giáo dục,quốc phòng, kinh tế, văn hóa … bởi vậy nó mang lại hiệu quả, chính xác, nhanh chóng và thuật tiện và góp phần phát triển kinh tế xã hội đất nước

Một trong những đóng góp to lớn của Công nghệ thông tin, là việc áp dụng Công nghệ Thông tin nói chung và Internet nói riêng trong giới thiệu và bán hàng qua mạng Hình thức này được gọi là Thương mại điện tử Thương mại điện tử gần đây ngày một phát triển, sự phát triển, sự ra đời của các ngôn ngữ lập trình cho phép chúng ta có thể thiết kế xây dựng các ứng dụng thương mại điện tử dưới nhiều hình thức khác nhau

Thương mại điện tử có thể xem là giới thiệu, mua bán hàng qua Internet Dựa vào nền tảng web 2.0 và các hệ quản trị cơ sở dữ liệu

Mô hình hiện nay thường được phát triển cho các ứng dụng này là mô hình kiến trúc đa tầng

- Database chọn sử dụng trong ứng dụng là Microsoft SQL Server 2000

- Web Server Chọn là IIS và ngôn ngữ giao tiếp là kịch bản ASP.NET và ngôn ngữ lập trình C# trong bộ công cụ Microsoft Visual Studio 2005

Mức độ phức tạp và quy mô của ứng dụng Thương mại điện tử, cộng thêm yêu cầu đòi hỏi tốc độ truy cập và mức bảo mật cao nên Chọn ASP.NET và C# phát triển là một lợi thế đáp ứng yêu cầu thực tế

Vì lý do trên, được sự hướng dẫn của thầy giáo Ths.Phan Anh Phong, em

đã lựa chọn đề tài “Tìm hiểu một số vấn đề trong thương mại điện tử và thử nghiệm xây dựng website bán sách” để làm đồ án tốt nghiệp cho mình

Browser

Trang 6

II Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu các kỹ thuật trong thương mại điện tử, Kịch bản script kết hợp với ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng C# kết hợp với hệ quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft SQL Server 2000 là một sức mạnh giúp phát triển ứng dụng thương mại điện tử, mà cụ thể là ứng dụng bán sách trong đề tài của em

III.Bố cục của đồ án gồm:

Lời mở đầu

Phần I: Tổng Quan đề tài

Phần II: Cơ sở lý thuyết

Phần III:Xây dựng website bán sách VnBooks,cài đặt

- Áp dụng xây dựng hệ thống bán sách trực tuyến website vnbooks

V Hướng nghiên cứu và phát triển

Tìm hiểu sâu hơn về các kỹ thuật trong thương mại điện tử và phát triển trên các ngôn ngữ khác và các hệ quản trị như MySQL và Oracle

Xây dựng ứng dụng thương mại điện tử quy mô lớn hơn, đa mặt hàng hơn, phong phú hơn, có nhiều tiện ích hỗ trợ cho khách hàng hơn và giao diện đồ họa thân thiện hơn với người dùng, và tiện lợi nhất

Xây dựng hoàn thiện hơn các module của chương trình và áp dụng các công nghệ mới nhằm tăng tốc độ truy cập website và khả năng tương tác với người dùng nhiều hơn

Trang 7

PHẦN II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

I Thương mại điện tử

1 Thương mại điện là gì ?

Thương mại điện tử (E-commerce) là hình thái hoạt động kinh doanh bằng các phương pháp điện tử, từ việc trao đổi “thông tin” kinh doanh thông qua các phương tiện công nghệ điện tử

- là bán hàng trên mạng

- là bán hàng trên Internet

- là kinh doanh trên Internet

Đúng vậy, hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về Thương mại điện tử Nhiều người hiểu Thương mại điện tử là bán hàng trên mạng, trên Internet Một số

ý kiến khác cho rằng thương mại điện tử là thương mại bằng điện tử Những cách hiểu này đều đúng trên góc độ nào đó nhưng chưa nói lên được phạm vi rộng lớn của thương mại điện tử

Thương mại điện tử không chỉ là bán hàng trên mạng hay bán hàng trên Internet mà là hình thái hoạt động kinh doanh bằng phương pháp điện tử Hoạt động kinh doanh bao gồm tất cả các hoạt động trong kinh doanh như giao dịch, mua bán, thanh toán, đặt hàng, quảng cáo và kể cả giao hàng Các phương pháp điện tử ở đây không chỉ có Internet mà bao gồm việc sử dụng các phương tiện công nghệ điện tử như điện thoại, máy FAX, truyền hình và mạng máy tính (trong đó có Internet) Thương mại điện tử cũng bao hàm cả việc trao đổi thông tin kinh doanh thông qua các phương tiện công nghệ điện tử Thông tin ở đây không chỉ là những số liệu hay văn bản, tin tức mà nó gồm cả hình ảnh, âm thanh và phim video

Trang 8

2 Thương mại điện tử và tầm quan trọng của nó

Ngày nay, thương mại điện tử đã trở thành nghành kinh tế mũi nhọn trên thế giới và đã xuất hiện nhiều trung tâm thương mại và thị trường chứng khoán trên thế giới

Nhờ vào sự phát triển của phương tiện truyền thông, đặc biệt là sự phát triển của tin học đã tạo điều kiện cho mọi người có thể giao tiếp với nhau một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn thông qua các dịch vụ Internet Vì là một môi trường trường truyền thông rộng khắp thể giới nên thông tin có thể tới từng thành viên một cách nhanh chóng và thuận lợi Chính vì vậy mà tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại điện tử thông qua Internet Thương mại điện tử nhanh chóng trở nên phổ biến trên khắp thể giới trở thành một công cụ rất mạnh mẽ để bán hàng và quảng cáo hàng hóa của các nhà cung cấp Đối với khách hàng, có thể lựa chọn, so sánh hàng hóa phù hợp cả về loại hàng, dịch vụ giá cả, chất lượng và phương thức giao hàng cho khách hàng

Có rất nhiều ý kiến cho rằng Thương mại điện tử là sự thay đổi lớn nhất trong kinh doanh kể cả sau cuộc cách mạng công nghiệp

Thương mại điện tử không chỉ mở ra những cơ hội kinh doanh mới, những sản phẩm và dịch vụ mới, những ngành nghề kinh doanh mới mà bản thân nó thực sự là một phương thức kinh doanh mới: Phương thức kinh doanh điện tử Thương mại điện tử chuyển hóa các chức năng kinh doanh, từ nghiên cứu thị trường và sản xuất sản phẩm đến bán hàng, dịch vụ sau bán hàng từ phương thức kinh doanh truyền thống đến phương thức kinh doanh điện tử

3 Thực tế thương mại điện tử ở Vệt Nam

Doanh thu từ các hoạt động Thương mại điện tử ở khu vực Châu á hiện tại là khá thấp với khu vực khác

Khi đặt vấn đề phát triển Thương mại điện tử ở một nước, việc đầu tiên cần đề cập đến là mức độ phát triển nền CNTT của nước này Việt nam là một nước có nền CNTT kém phát trển so với thế giới nói chung và khu vực nói riêng Xoay quanh vấn đề phát triển CNTT ở Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề nổi cộm Có thể lấy ví

Trang 9

dụ: Vấn đề bản quyền phần mềm, vấn đề đội ngũ những người làm tin học còn quá

ít ỏi và thếu đào tạo cơ bản, vấn đề hướng phát triển, đầu tu cơ bản, đầu tu mạo hiểm

Theo các dự báo về một nền kinh tế kỹ thuật số của thế kỹ 21 thì thương mại điện tử là một yếu tố then chốt Không liên quan đến những trở ngại vừa nêu, Thương mại điện tử có thể đặc trương thuận lợi và bình đằng với tất cả mọi người Khi phát triển Thương mại điện tử, Việt Nam cũng được thừa hưởng tất cả những thuận lợi này

II Lợi ích của thương mại điện tử

Thương mại điện tử ngày càng đóng vai trò quan trọng đời sống xã hội vì đó

là những phương pháp giao dịch nhanh nhất, hiệu quả nhất, tận dụng được tối đa mọi nguồi lực

- Thương mại điện tử giúp cho Doanh nghiệp nắm bắt được những thông tin phong phú về thị trường và đối tác

- Thương mại điện tử giúp giảm chi phí sản xuất

- Thương mại điện tử giúp giảm chi phí bán hàng và tiếp thị

- Thương mại điện tử thông qua Internet giúp người tiêu dùng và doanh nghiệp giảm đáng kể thời gian và chi phí giao dịch

- Thương mại điện tử tạo điều kiện cho việc thiết lập và củng cố mối quan hệ giữa các thành viên tham gia vào quá trình thương mại Vì thương mại điện tử được tiến hành trên mạng, trên khoảng cách địa lý không còn ngăn cách cho cả người bán hàng và người mua hàng Thương mại điện tử mang lại sự hiện diện toàn cầu cho khách hàng

- Thương mại điện tử tạo điện tử tạo điều kiện sớm tiếp cận với nền kinh tế số hóa

III Các công đoạn của thương mại điện tử

Gồm sáu công đoạn chính:

1 Khách hàng, từ một máy tính từ một nơi nào đó, sau khi truy cập và chọn sản phẩm của mình và điền thông tin thanh toán và địa chỉ liên hệ vào đơn đặt hàng của

Trang 10

website bán hàng (còn gọi là website thương mại điện tử) Doanh nghiệp cần nhận được yêu cầu mua hàng hóa hay dịch vụ của khách hàng và phản hồi xác nhận tóm tắt lại những thông tin cần thiết như mặt hàng đã chọn, địa chỉ giao nhận và phiếu đặt hàng

2 Khách hàng kiểm tra lại các thông tin và nhấy chuột vào nút đặt hàng, từ bàn phím hay chuột của máy tính, để gửi thông tin trả về cho doanh nghiệp

3 Doanh nghiệp nhận lưu trữ thông tin đặt hàng đồng thời chuyển tiếp thông tin thanh toán(số thẻ tin dụng, chủ thẻ ) đã được mã hóa đến máy chủ (server, thiết bị

xử lý dữ liệu) của trung tâm cung cấp dịch vụ, xử lý thẻ thông tin qua Internet Với quá trình mã hóa thông tin thanh toán của khách hàng được bảo mật an toàn nhằm chống gian lận trong các giao dịch (chẳng hạn doanh nghiệp sẽ không biết được thông tin về thẻ tin dụng của khách hàng)

4 Khi trung tâm thẻ tín dụng nhận được thông tin thanh toán, sẽ giải mã thông tin giao dịch sau bức tường lửa và tách rời mạng Internet, nhằm mục đích bảo mật tuyệt đối cho các giao dich thương mại, định dạng lại giao dịch và chuyển tiếp thông qua thanh toán đến ngân hàng của doanh nghiệp, theo một đường dây thuê bao riêng (một đường truyền số liệu riêng biệt)

5 Ngân hàng của doanh nghiệp gửi thông điệp điện tử yêu cầu thanh toán đến ngân hàng hoặc công ty cung cấp thẻ tín dụng của khách hàng Và tổ chức tài chính này

sẽ phản hồi là đồng ý hoặc từ chối thanh toán đến trung tâm xử lý thẻ tín dụng trên mạng Internet

6 Trung tâm xử lý thẻ tín dụng trên Internet sẽ tiếp tục chuyển tiếp thông tin phản hồi trên đến doanh nghiệp và tùy theo đó doanh nghiệp thông báo cho khách hàng được rõ là đơn đặt hàng sẽ được thực hiện hay không

Trang 11

CHƯƠNG II:

MỘT SỐ KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Thương mại điện tử là một lĩnh vực kinh doanh mới, mang nhiều tiềm năng

và hứa hẹn nhiều thành quả Nhưng để ứng dụng nó vào thực tế còn có rất nhiều vấn

đề kỹ thuật liên quan, đòi hỏi chúng ta cần phải nắm bắt và áp dụng một các có hiệu quả Sau đây là một số kỹ thuật chủ yếu được mọi người quan tâm khi phát triển ứng dụng Thương mại điện tử

I kỹ thuật về an toàn trong thương maị điện tử

1 Bảo vệ các máy khách

Các máy khách (thông thường là các computer) phải được bảo vệ nhằm chống lại các đe doạ xuất phát từ phần mềm hoặc dữ liệu được tải xuống máy khách từ Internet

Như chúng ta đã biết, active content bao gồm nhiều chương trình được

nhúng vào các trang Web, tạo nên sự sống động cho các trang Web Tuy nhiên, một active content giả có vẻ vô hại nhưng lại gây ra các thiệt hại khi chúng chạy trên máy khách Các chương trình được viết bằng Java, JavaScript mang lại sự sống động cho các trang Web Một số các công cụ active content phổ biến khác là các ActiveX control Bên cạnh các mối đe doạ xuất phát từ các chương trình bên trong các trang Web, thì các trình đồ hoạ, các trình duyệt gài sẵn (trình duyệt plug-ins) và các phần đính kèm thư điện tử cũng là các mối đe doạ có thể gây hại cho các máy khách khi các chương trình ẩn này được thực hiện

Nhiều active content gây hại có thể lan truyền thông qua các cookie Các đoạn văn bản nhỏ này được lưu giữ trên máy tính của bạn và có chứa các thông tin nhạy cảm không được mã hoá Điều này có nghĩa là bất kỳ ai cũng có thể đọc và làm sáng tỏ một cookie, thu được thông tin có trong đó Thông tin này liên quan đến thẻ tín dụng, mật khẩu và thông tin đăng nhập

Trang 12

Do cookie giống như các thẻ đăng nhập vào các Web site, chúng không gây hại trực tiếp cho các máy khách nhưng nó vẫn là nguyên nhân gây ra các thiệt hại

do chứa nhiều thông tin không mã hoá

Một mối đe doạ khác đối với máy khách là một server site đóng giả một Web site hợp pháp Đây thực sự là một mối quan tâm an toàn đối với máy khách, các máy khách cần có trách nhiệm nhận biết các máy chủ của mình Các mục tiếp theo trình bày các cơ chế bảo vệ hiện có, chúng được thiết kế nhằm ngăn chặn hoặc giảm đáng kể khả năng các hiểm hoạ xảy ra đối với máy khách

2 Đối phó với các cookie

Cookie được lưu giữ trong máy trạm, hoặc được tạo ra, sử dụng và huỷ bỏ trong một lần duyệt Web Ta có thể cho phép đặt ra thời gian tồn tại từ 10, 20 hoặc

30 ngày Một cookie có chứa nhiều thông tin, chẳng hạn như tên của Web site phát hành nó, các trang mà ta đã truy cập vào, tên người sử dụng và mật khẩu, các thông tin về thẻ tín dụng và địa chỉ Chỉ có site tạo ra các cookie mới có thể lấy lại các cookie này, các cookie thu thập và lưu giữ các thông tin không nhìn thấy được Chính vì thế ta không phải nhập lại tên người sử dụng, mật khẩu cho lần truy cập tiếp theo Các phiên bản trình duyệt ban đầu cho phép các site lưu giữ các cookie không có chú thích Ngày nay, các trình duyệt cho phép lưu giữ các cookie mà không cần sự cho phép, hoặc cảnh báo cho biết một cookie chuẩn bị được lưu giữ, hoặc không cho phép vô điều kiện tất cả các cookie Internet Explorer có các tuỳ chọn để thiết lập sự kiểm soát các cookie

Không một máy khách nào có thể phòng thủ tốt nếu thiếu phần mềm chống virus Các phần mềm chống virus bảo vệ máy tính khỏi bị các virus đã được tải xuống tấn công Vì vậy, chống virus là một chiến lược phòng thủ Nó chỉ hiệu quả khi tiếp tục lưu giữ các file dữ liệu chống virus hiện hành Các file chứa thông tin nhận dạng virus được sử dụng để phát hiện các virus trên máy tính Do các virus mới được sinh ra rất nhiều, cần đề phòng và cập nhật các file dữ liệu chống virus một cách định kỳ, mới có thể phát hiện và loại trừ các virus mới nhất

Trang 13

3 Giao thức Secure Socket Layer (SSL)

Giao thức SSL của Netscape và giao thức truyền siêu văn bản an toàn HTTP) của CommerceNet là hai giao thức cho phép truyền thông tin an toàn qua Internet SSL và S-HTTP cho phép các máy khách và máy chủ quản lý các hoạt động mã hoá và giải mã trong một phiên Web an toàn

(S-SSL và S-HTTP có các mục tiêu khác nhau Trong khi (S-SSL đảm bảo kết nối giữa hai máy tính, S-HTTP gửi các thông báo riêng lẻ an toàn Việc mã hoá các thông báo gửi đi và giải mã các thông báo nhận diễn ra tự động và trong suốt đối với cả SSL và S-HTTP SSL làm việc ở tầng vận tải, còn S-HTTP làm việc ở tầng ứng dụng

SSL cung cấp một bắt tay (thoả thuận ban đầu, còn gọi là thủ tục handshake)

an toàn, trong đó các máy khách và máy chủ trao đổi một khối dữ liệu ngắn gọn các thông báo Trong các thông báo này, máy khách và máy chủ thoả thuận mức an toàn được sử dụng để trao đổi các chứng thư số Mỗi máy luôn luôn phải nhận dạng được máy kia Các máy khách và máy chủ phải có chứng thư hợp lệ khi tiến hành giao dịch Sau khi nhận dạng, SSL mã hoá và giải mã luồng thông tin giữa hai máy Điều này có nghĩa là thông tin trong yêu cầu HTTP và đáp ứng HTTP đều được mã hoá Thông tin được mã hoá bao gồm URL (địa chỉ IP của trang Web) mà máy khách đang yêu cầu, các hình thái bất kỳ chứa thông tin (do người sử dụng tạo ra),

nó có thể bao gồm cả số thẻ tín dụng) và dữ liệu liên quan đến quyền truy nhập HTTP (chẳng hạn như tên người sử dụng và mật khẩu) Tóm lại, tất cả truyền thông (giữa các máy khách và các máy chủ sử dụng SSL) được mã hoá Khi SSL mã hoá tất cả dòng thông tin giữa máy khách và máy chủ, đối tượng nghe trộm chỉ có thể nhận được các thông tin không thể hiểu được

Do SSL nằm ở đỉnh tầng TCP/IP của giao thức Internet, SSL có thể đảm bảo các kiểu truyền thông khác nhau giữa các máy tính, bổ sung thêm cho HTTP Ví dụ, SSL có thể đảm bảo các phiên FTP, cho phép đưa lên hoặc tải xuống một cách riêng

lẻ các tài liệu nhạy cảm, các bảng tính và các dữ liệu điện tử khác SSL có thể đảm bảo các phiên Telnet an toàn, trong đó người sử dụng máy tính từ xa có thể đăng nhập vào các máy host của công ty hoặc gửi đi mật khẩu và tên người sử dụng Giao thức (thực hiện SSL) là một phiên bản an toàn của HTTP, được gọi là HTTPS

Trang 14

Bằng cách đặt tên giao thức HTTPS trước URL, để báo hiệu rằng muốn thiết lập một kết nối an toàn với máy chủ từ xa Ví dụ, nếu gõ vào giao thức và URL như sau

https://www.amazon.com, lập tức ta thiết lập được một liên kết an toàn với Amazon.com

SSL có hai độ dài là 40 bít và 128 bít Chúng chỉ ra độ dài của khoá phiên riêng, được sinh ra cho mọi giao dịch có mã hoá Thuật toán mã hoá sử dụng khoá phiên để mã hoá văn bản trong một phiên giao dịch an toàn Khoá dài hơn có khả năng chống lại tấn công hiệu quả hơn Chính phủ Mỹ chỉ cho xuất khẩu khoá phiên

40 bit và cấm xuất khẩu khoá 128 bít Khi phiên giao dịch kết thúc, các khoá phiên

bị loại bỏ hoàn toàn, không tái sử dụng cho các phiên giao dịch tiếp theo

Sau đây, chúng ta có thể xem xét cách SSL làm việc (cuộc trao đổi giữa bên máy khách và máy chủ thương mại Nên nhớ rằng, SSL phải xác thực site thương mại (tối thiểu) và mã hoá mọi cuộc truyền giữa 2 máy tính Khi trình duyệt của một máy khách đến một Web site bí mật của một máy chủ, máy chủ gửi một lời chào tới trình duyệt Trình duyệt đáp lại bằng một lời chào Việc tiến hành trao đổi lời chào, hoặc bắt tay cho phép 2 máy tính quyết định các chuẩn mã hoá và nén (mà chúng cùng hỗ trợ)

Tiếp theo, trình duyệt (bên máy khách) yêu cầu máy chủ đưa ra một chứng thư số, giống như việc yêu cầu nhận dạng ảnh: “Chứng minh cho tôi biết anh có phải là www.gmail.com hay không?” Đáp lại, máy chủ gửi cho trình duyệt một chứng thư Một Certificate authority (CA được công nhận) đã ký chứng thư này Trình duyệt kiểm tra chữ ký số có trên chứng thư của máy chủ, dựa vào khoá công khai của CA, khoá này được lưu giữ trong trình duyệt Hoạt động này xác thực máy chủ thương mại

Máy khách và máy chủ thoả thuận rằng mọi trao đổi phải được giữ bí mật, bởi

vì những thông tin được truyền đi trên Internet bao gồm số thẻ tín dụng, số hoá đơn

và các mã kiểm tra Để thực hiện bí mật, SSL sử dụng mã hoá khoá công khai (không đối xứng) và mã hoá khoá riêng (đối xứng) Thoạt đầu, trình duyệt sinh ra một khoá riêng dùng chung cho cả hai Sau đó, trình duyệt mã hoá khoá riêng bằng khoá công khai của máy chủ Khoá công khai của máy chủ được lưu giữ trong chứng thư số, máy chủ gửi chứng thư này cho trình duyệt trong quá trình xác thực

Trang 15

Một khi khoá được mã hoá, trình duyệt gửi nó cho máy chủ Ngược lại, máy chủ giải mã thông báo bằng khoá riêng của nó và tìm ra khoá riêng dùng chung Tất cả các thông báo giữa máy khách và máy chủ được mã hoá bằng khoá riêng dùng chung (cũng được biết đến như là một khoá phiên)

3 Giao thức S-HTTP

S-HTTP là một mở rộng của HTTP, cung cấp một số đặc tính an toàn, trong

đó có xác thực máy khách và máy chủ, mã hoá và chống chối bỏ yêu cầu/đáp ứng Giao thức này được CommerceNet Consortium phát triển, hoạt động ở tầng ứng dụng Nó cung cấp mã hoá đối xứng để thiết lập xác thực máy khách/máy chủ và các tóm lược thông báo nhằm đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu Máy khách và máy chủ có thể sử dụng các kỹ thuật S-HTTP một cách riêng lẻ Điều này có nghĩa là trình duyệt của máy khách có thể yêu cầu an toàn bằng cách sử dụng một khoá riêng (khoá đối xứng), trong khi đó máy chủ có thể yêu cầu xác thực máy khách bằng cách sử dụng các kỹ thuật khoá công khai

Các chi tiết về S-HTTP được máy khách và máy chủ thoả thuận trong phiên giao dịch đầu Máy khách hoặc máy chủ có thể định rõ - một đặc tính an toàn riêng

là Required (yêu cầu), Optional (tuỳ chọn) hoặc Refused (từ chối) Khi một thành viên quy định rằng đặc tính an toàn riêng là Required, nó sẽ chỉ tiếp tục kết nối nếu thành viên khác (máy khách hoặc máy chủ) đồng ý tuân theo đặc tính an toàn đã được định trước Nếu không, sẽ không có kết nối an toàn nào được thiết lập

Giả thiết, trình duyệt của máy khách định rõ yêu cầu mã hoá để đảm bảo an toàn tất cả các cuộc truyền thông Điều này có nghĩa là các giao dịch yêu cầu đặt hàng cần được duy trì bí mật Những đối thủ cạnh tranh có thể nghe trộm nhưng không thể đoán biết được nội dung giao dịch Người bán muốn được đảm bảo rằng, người mua đúng là người anh ta nói, chứ không phải là đối tượng lừa đảo Đồng thời yêu cầu chống chối bỏ để người mua không phủ nhận được việc anh ta đã đặt hàng Trong thực tế, người ta sử dụng chữ ký số bí mật

S-HTTP có cách thiết lập một phiên giao dịch an toàn khác với SSL Trong khi SSL tiến hành bắt tay máy khách/máy chủ để thiết lập một cuộc truyền thông an

Trang 16

toàn, S-HTTP thiết lập các chi tiết an toàn thông qua header (phần đầu trong gói tin) của gói đặc biệt Header định nghĩa kiểu kỹ thuật an toàn, cụ thể là mã khoá riêng, xác thực máy chủ, xác thực máy khách và đảm bảo tính toàn vẹn thông báo Header cũng quy định thuật toán nào được hỗ trợ, máy khách hay máy chủ (hoặc cả hai) hỗ trợ thuật toán đó, kỹ thuật an toàn nào được yêu cầu, đặc tính an toàn riêng là tuỳ chọn hay từ chối Một khi máy khách và máy chủ thoả thuận được các thiết lập an toàn bắt buộc giữa chúng, tất cả các thông báo trong phiên giao dịch sau này được đóng gói an toàn trong một phong bì an toàn (secure envelope) Đây là một tiện ích

an toàn đóng gói thông báo và đảm bảo tính bí mật, toàn vẹn và xác thực máy khách/máy chủ Nhờ đó, mọi thông báo chuyển tiếp trên mạng hoặc Internet được

mã hoá, không ai có thể đọc trộm Mọi sửa đổi trên thông báo đều bị phát hiện, nhờ vào kỹ thuật toàn vẹn Nó cung cấp một mã phát hiện thông báo bị sửa đổi Người

ta sử dụng các chứng thư số do một CA phát hành để xác thực các máy khách và máy chủ Phong bì an toàn bao gồm tất cả các đặc tính an toàn trên

4 Chữ ký số (Digital signature)

Digital signature - chữ ký số là nền tảng bảo đảm an ninh cho nền kinh tế trí thức, đồng thời là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp trong thương mại điện tử Ngoài ra chữ ký số còn dùng để quản lý việc cấp phát truy cập các trung tâm dữ liệu hoặc phần mềm có kiến trúc kiểu Clien/server Việc đảm bảo này dựa trên cơ sở hệ thống mã khoá đối xứng hoặc bất đối xứng (Symmetric encryption& Asymmetric encryption)

Mỗi phương pháp này tương ứng với cơ chế khoá tương ứng là: khoá đơn (single key) và cặp khoá (dual key-public/private key) Nếu chúng ta dùng khoá đơn

có nhược điểm là tính bảo mật không cao vì khoá này được dùng chung cho cả người gửi và người nhận Còn ở hệ thống khoá công khai/khoá bí mật thì cả người nhận và người gửi đều có khoá riêng bí mật, do đó rất thuận tiện cho việc đảm bảo tính toàn vẹn, tin cậy và tính không thể từ chối trong giao dịch điện tử

Quá trình tạo chữ ký số và ký vào tài liệu điện tử (file, Messages):

Giả sử Bob được cung cấp hai khoá điện tử: Một khoá gọi là khoá công khai (public key) và một khoá còn lại gọi là khoá riêng được giữ bí mật (private key)

Trang 17

Cặp khoá điện tử (public/private key), có đặc điểm như sau: Bất kỳ người nào cũng

có thể lấy khoá công khai của Bob vì khoá này đã được Bob đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền tạo, lưu trữ, cấp phát và quản lý khoá công khai cho các thành viên tham gia ví dụ cấp cho Susan Đồng thời cơ quan này cũng là nơi xác nhận khoá công khai mà Bob đã đăng ký là đúng của Bob, đây cũng là chứng lý để giải quyết khi có tranh chấp (Bob chỉ giữ kín khoá bí mật) Giả sử anh ta có 2 người (Bob và Susan) cùng tham gia vào hệ thống mạng

Giả sử Bob gửi một (file hoặc mesages) cho Susan thì trước hết Bob phải băm (Hash) tài liệu đó nhờ phần mềm thành một tài liệu rút gọn (messager digest) Bản rút gọn này thường có kích thước tuỳ thuộc thuật toán băm, thường có độ dài 128 bit đối với MD-5 và SHA-1

Sau đó tài liệu rút gọn (message digest) sẽ được Bob "ký" vào bởi khoá bí mật của mình, đó chính là chữ ký số của Bob

Bước tiếp theo phần mềm của Bob sẽ thực hiện việc ký lên tài liệu điện tử (messages, file) để gửi và thực hiện việc gửi tài liệu điện tử này cho Susan Tại bên nhận (Susan) dùng khoá công khai của Bob đã được cấp để giải mã tài liệu nhận được từ Bob để giải mã tài liệu nhận được.Thực tế là Susan phải làm hai việc là:

- Dùng khoá công khai của Bob để giải mã chữ ký số nhận được từ văn bản của Bob gửi (Mesages digest)1

- Dùng phần mềm của mình hoạt động theo thuật toán băm để tạo ra (Mesages digest) 2

Susan tiến hành so sánh (Mesages digest)1 và (Mesages digest) 2 Nếu kết quả giống nhau thì có nghĩa là tài liệu nhận được đúng là của Bob đã gửi và chỉ có Susan mới "giải mã" được tài liệu của Bob gửi cho mình

II Thanh toán trong thương mại điện tử

Thanh toán là một thuật ngữ mô tả việc chuyển giao các phương tiện tài chính từ bên này sang một bên khác Có rất nhiều hình thức thanh toán Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế và đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, xuất hiện thêm nhiều hình thức thanh toán, nhất là các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt Để hỗ trợ cho các giao dịch TMĐT, cần

Trang 18

nghiên cứu các giải pháp cho thanh toán trực tuyến, tương ứng với các hình thức thanh toán truyền thống

1 Sự phát triển của hệ thống thanh toán

Tiền tệ được coi là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc trong việc trả các món nợ Các- Mác cho rằng:

“Tiền là một vật được kết tinh, hình thành một cách tự nhiên trong trao đổi” Về thực chất, tiền tệ là hàng hóa đặc biệt, làm vật ngang giá chung để đo lường giá trị của hàng hóa Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi nó xuất hiện trong lưu thông với tư cách là tiền mặt Ngày nay, hầu hết các giao dịch trên thị trường trong nền kinh tế của chúng ta, tiền trong dạng là tiền mặt hoặc séc là phương tiện trao đổi, có nghĩa là nó được dùng thanh toán hàng hóa dịch vụ trong đời sống kinh tế - xã hội

Các chức năng và các dạng của tiền được thể hiện rõ nét qua sự tiến triển của

hệ thống thanh toán hay nói khác đi là của phương thức hướng dẫn các giao dịch trong nền kinh tế và cùng với nó, hệ thống thanh toán và phát triển qua nhiều thập

kỷ

Thanh toán đơn giản là thuật ngữ ngắn gọn mô tả việc chuyển giao các phương tiện tài chính từ một bên sang một bên khác Vì thế, việc một bên thanh toán sử dụng các quỹ (dưới hình thức tiền mặt, một khoản tiền gửi, một hạn mức tín dụng hay các hình thức khác) là tiền đề cho việc thưc hiện thanh toán

Tiền là phương tiện thực hiện trao đổi hàng hóa, đồng thời là việc kết thúc quá trình trao đổi Lúc này tiền thực hiện chức năng phương tiện thanh

toán, sự vận động của tiền tệ có thể tách rời hay độc lập tương đối với sự vận động của hàng hoá Thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, tiền không chỉ sử dụng để trả các khoản nợ về mua chịu hàng hóa, mà chúng còn được sử dụng để thanh toán những khoản nợ vượt ra ngoài phạm vi trao đổi như nộp thuế, trả lương, đóng góp các khoản chi dịch vụ

Lưu thông không dùng tiền mặt là các quá trình tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán không trực tiếp bằng tiền mặt mà

Trang 19

thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản ở Ngânàng, tổ chức tín dụng hoặc bù trừ lẫn nhau giữa những người phải thanh toán và những người thụ hưởng

Thanh toán không dùng tiền mặt chỉ được phát triển và hoàn thiện trong nền kinh tế thị trường và được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế tài chính đối nội cũng như đối ngoại Sự phát triển rộng khắp của thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay là do yêu cầu phát triển vượt bậc của nền kinh tế hàng hoá Kinh tế hàng hoá phát triển càng cao, khối lượng hàng hoá trao đổi trong nước và ngoài nước càng lớn thì cần có những cách thức trả tiền thuận tiện, an toàn và tiết kiệm Xét về mặt lý luận, thanh toán không dùng tiền mặt là một hình thức vận động của tiền tệ

Ở đây, tiền vừa là công cụ kế toán và vừa là công cụ để chuyển hoá hình thức giá trị của hàng hoá và dịch vụ Mặt khác, thanh toán không dùng tiền mặt là nghiệp vụ có quá trình chứa đựng những công nghệ tinh vi và phức tạp

Khi thực hiện chức năng phương tiện thanh toán có thể sử dụng tiền đủ giá (vàng) hoặc dấu hiệu giá trị.Trở ngại chính của tiền giấy và tiền kim loại là chúng

dễ bị đánh cắp và có thể tốn nhiều chi phí vận chuyển; để khắc phục nhược điểm này, cùng với bước phát triển của hệ thống thanh toán là sự ra đời của séc trong hoạt động của Ngân hàng hiện đại Điều này cải tiến một bước rất quan trọng trong thanh toán, nâng cao hiệu quả thanh toán Chúng có thể được sử dụng bù trừ trong thanh toán, giảm chi phí vận chuyển và đặc biệt là nó an toàn, ghi theo số lượng tiền tuỳ ý Tuy nhiên, nó có hai nhược điểm cơ bản: thanh toán chậm do không được ghi “Có” ngay vào tài khoản người thụ hưởng và chi phí in ấn, quản lý còn cao

Hình thức thanh toán là tổng thể các quy định về một cách thức trả tiền, là sự liên kết các yếu tố của quá trình thanh toán Các hình thức cụ thể:

Ủy nhiệm chi: là một hình thức thanh toán khá phổ biến trong môi trường kinh tế các nước khi bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường Việc chuyển nợ có uỷ quyền như các doanh nghiệp nhờ Ngân hàng trả lương vào Tài khoản của công nhân, việc nộp các loại phí bảo hiểm cũng là một dịch vụ thanh toán mới tương tự như ủy nhiệm nhưng hình thức luân chuyển thông tin có thể là đĩa hoặc băng từ hay qua mạng viễn thông Ủy nhiệm thu: ủy nhiệm thu do người thụ hưởng lập gửi vào Ngân hàng phục vụ mình để thu tiền hàng đã giao hay dịch vụ đã cung ứng, thông thường là các dịch vụ điện, nước, điện thoại

Trang 20

Các loại séc chuyển khoản, bảo chi, định mức, chuyển tiền do người mua phát hành để trả tiền hàng hoá, dịch vụ

Ngân phiếu thanh toán: Thực chất là một lệnh trả tiền đặc biệt của chủ sở hữu nào đó, việc trả tiền thực hiện theo đúng chứng từ thanh toán có tên Ngân phiếu thanh toán

Thư tín dụng: đối với thanh toán trong nước được sử dụng ít, chủ yếu được sử dụng trong việc thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ

Các loại thẻ thanh toán: Thẻ thanh toán do Ngân hàng phát hành bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán khác, rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy rút tiền tự động

Để khắc phục nhược điểm của séc, cùng với phát triển của máy tính điện tử và

hệ thống viễn thông, trong mấy thập kỷ qua hệ thống thanh toán được cải tiến và hoàn thiện, chuyển sang một hệ thống mới với các khái niệm mới: “Tiền điện tử”,

“Ví điện tử”, “Thẻ thanh toán”, “hệ thống chuyển khoản điện tử” Ngoài ra, ở nhiều nước đã tổ chức hệ thống chuyển tiền liên Ngân hàng (thanh toán bù trừ liên Ngân hàng), được dùng để thanh toán liên Ngân hàng trong phạm vi quốc gia và quốc tế Việc thanh toán cũng được thực hiện không chỉ tại các Chi nhánh Ngân hàng mà hàng loạt kênh giao dịch mới ra đời: ATM, PC, Telephone, Mobile phone

2 Thanh toán trong nội bộ một hệ thống ngân hàng

Ngân hàng là một loại hình thức doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ Dịch vụ ở đây được hiểu là các hoạt động kinh tế đóng góp trực trực tiếp hay gián tiếp vào sự thoả mãn nhu cầu của con người và nó là một thành phần quan trọng Các hoạt động dịch vụ cùng với khu vực công nghiệp hợp thành một dây chuyền cài vào nhau của một nền kinh tế hiện đại Chức năng làm trung gian thanh toán của Ngân hàng Thương mại thực chất là Ngân hàng làm thủ quỹ, thực hiện các nhiệm vụ uỷ quyền của khách hàng

Trong các loại nghiệp vụ Ngân hàng, vai trò làm trung gian thanh toán cho nền kinh tế là một nghiệp vụ rất quan trọng, nó có lịch sử gắn liền với lịch sử hình

Trang 21

thành và phát triển của hệ thống Ngân hàng cũng như có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển

Các giao dịch thanh toán của khách hàng và nội bộ ngân hàng (đổi tiền, đầu

cơ, đầu tư, quyết toán thanh toán…) thực hiện dưới hình thức tiền mặt, chuyển khoản (trong hệ thống) hoặc chuyển tiển (liên ngân hàng)

Trước đây, do điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật khó khăn, việc thanh toán của khách hàng trong một hệ thống Ngân hàng thường được quản lý và xử lý phân tán trên cơ sở chứng từ và luân chuyển qua bưu điện Sau đó, khi

có điện thoại và telex, các Ngân hàng sử dụng việc chuyển tiền bằng điện báo của bưu điện Những giao dịch này bắt đầu và kết thúc không đồng thời,

do đó, các ngân hàng phải tổ chức hệ thống thanh toán trong nội bộ

(intrabank payment) Hệ thống thanh toán này phù hợp với mô hình quản lý phân tán và thời gian hoàn tất một giao dịch từ một cho đến 15 ngày (điều kiện Việt Nam) Khi máy tính ra đời, nhiều Ngân hàng thương mại lớn đã thực hiện việc kết nối máy tính giữa Trụ sở chính với các Chi nhánh, sử dụng các máy tính lớn (mainframe) và trạm làm việc (terminal) Đồng bộ với nó là hệ thống quản lý và xử

lý tập trung các giao dịch của khách hàng

Các nghiệp vụ thanh toán giữa các khách hàng trong một hệ thống ngân

hàng được thực hiện dưới hình thức chuyển khoản (books transfer), ghi

“Nợ” và ghi “Có” tức thì cho khách hàng Việc quản lý tài khoản khách hàng,

xử lý giao dịch tập trung cho phép thực hiện các giao dịch trực tuyến (online), tức thời (real time), giảm tối đa các rủi ro trong thanh toán và tối ưu hóa trong quản lý vốn của ngân hàng và khách hàng

Cùng với sự phát triển của hệ thống kỹ thuật và đổi mới cấu trúc kinh doanh của ngân hàng, việc “bán” các dịch vụ thanh toán cũng từng bước được củng cố và phát triển về lượng và chất Trước đây, khách hàng muốn

thực hiện giao dịch phải đến chi nhánh ngân hàng nơi mở tài khoản, tới quầy giao dịch gặp các nhân viên kế toán chuyên trách theo từng công đoạn của một sản phẩm thanh toán (séc, ủy nhiệm chi, thanh toán liên ngân hàng…)

Ngày nay, công nghệ đã trợ giúp cho việc tích hợp các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng Do tài khoản khách hàng được quản lý tập trung nên khách hàng

Trang 22

có thể đến bất kỳ chi nhánh nào, đến bất cứ quầy giao dịch nào để thực hiện bất kỳ giao dịch nào Thậm chí, khách hàng có thể tự thực hiện giao dịch trên các máy trạm của ngân hàng hay sử dụng các loại thẻ thanh toán tại các điểm bán lẻ POS, máy ATM, PC, telephone, Internet để thực hiện các giao dịch với khách hàng khác có mở tài khoản tại hệ thống ngân hàng đó hay ở

hệ thống ngân hàng khác một cách linh hoạt và tiện lợi

3 Thanh toán liên ngân hàng

Trong quan hệ thanh toán trong nước và thanh toán quốc tế, các Ngân hàng

có thể ký kết các văn bản thoả thuận về việc thanh toán bù trừ giữa hai bên hoặc nhiều bên về thanh toán tiền nội địa hay thanh toán bù trừ về ngoại

tệ Các Ngân hàng mở tài khoản tại tiền gửi thanh toán cho nhau, quy định

về loại tiền, hạn mức thấu chi, thời gian thấu chi, tất toán theo định kỳ, cách tính lãi

Đặc điểm thuận lợi là có thể tận dụng các thế mạnh trong thanh toán cho nhau ở những nơi Ngân hàng này chưa có chi nhánh những chi nhánh

khác có, lợi thế về ngoại tệ của mỗi Ngân hàng khác nhau, đảm bảo thanh toán nhanh chóng Nó rất thuận lợi cho nhóm Ngân hàng lớn trong việc quản

lý điều hành vốn tập trung tại trụ sở chính trong khi chưa thể mở rộng thanh

toán bù trừ đa biên, tăng khả năng đảm bảo thanh toán, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn với mức tối ưu trước khi phải vay mượn trên thị trường tiền tệ hay vay chiết khấu tại Ngân hàng Trung ương

Hiện nay, việc tổ chức thanh toán bù trừ song biên do các ngân hàng

tự thỏa thuận và quyết toán thanh toán qua tài khoản tại Ngân hàng nhà nước Ngân hàng nhà nước chịu trách nhiệm chính trong tổ chức thanh toán

bù trừ chứng từ và bù trừ điện tử liên ngân hàng Đối với thanh toán quốc tế

có Ngân hàng thanh toán quốc tế - IBS tổ chức bù trừ Đặc biệt, đến đầu năm

2004, 55 ngân hàng thành viên (trong đó có 11 Ngân hàng Trung ương)

của CLS bank (Continuous Linked Settlement) đã tham gia mạng bù trừ đa tiền tệ (CAD, USD, EUR, JNY, GB, CHF và dự kiến sẽ có thêm 7 loại tiền

nữa) nhằm giảm rủi ro, cung cấp tiện ích quản lý vốn trong ngày, tăng tính lỏng

Trang 23

của vốn tiền tệ, giảm lỗi và giảm phí giao dịch

Bù trừ qua mạng ATM, POS: Trong thập kỷ 80, một số Ngân hàng lớn thường đầu tư riêng cho mình một hệ thống ATM, các khách hàng của Ngân hàng nào chỉ được sử dụng thẻ tại các máy ATM của Ngân hàng đó Sau này, các Ngân hàng điều nhận thấy việc sử dụng chung hệ thống thiết bị là tiết kiệm và cũng không ảnh hưởng lớn đến cạnh tranh nên cùng nhau góp vốn xây dựng các trung tâm xử lý thẻ hoặc sử dụng kỹ thuật để cùng khai thác mạng ATM của các Ngân hàng kết nối với nhau Trung tâm xử lý thẻ có trách nhiệm quản lý hệ thống và xác định các giao dịch của mỗi Ngân hàng làm căn cứ thanh toán bù trừ về vốn cũng như phân bổ chi phí

Trên cơ sở liên kết giữa các Ngân hàng trong việc phát triển mạng lưới ATM, việc giao dịch và thanh toán của các khách hàng và Ngân hàng

Trang 24

CHƯƠNG III TÌM HIỂU CÔNG CỤ XÂY DỰNG HỆ THỐNG

I Công nghệ NET

1 Giới thiệu về Net

Microsoft NET gồm 2 phần chính: Framework và Integrated Development Environment (IDE) Framework cung cấp những gì cần thiết và căn bản, chữ Framework có nghĩa là khung hay khung cảnh trong đó ta dùng những hạ tầng cơ

sở theo một qui ước nhất định để công việc được trôi chảy IDE cung cấp một môi trường giúp chúng ta triển khai dễ dàng, và nhanh chóng các ứng dụng dựa trên nền tảng NET Nếu không có IDE chúng ta cũng có thể dùng một trình soạn thảo

ví như Notepad hay bất cứ trình soạn thảo văn bản nào và sử dụng command line

để biên dịch và thực thi, tuy nhiên việc này mất nhiều thời gian Tốt nhất là chúng

ta dùng IDE phát triển các ứng dụng, và cũng là cách dễ sử dụng nhất Thành phần Framework là quan trọng nhất NET, đây là thành phần cốt lõi của trường, còn IDE chỉ là công cụ để phát triển dựa trên nền tảng đó Trong NET toàn bộ các ngôn ngữ C#, Visual C++ hay Visual Basic.NET đều dùng cùng một IDE Tóm lại Microsoft NET là nền tảng cho việc xây dựng và thực thi các ứng dụng phân tán thế hệ kế tiếp Bao gồm các ứng dụng từ client đến server và các dịch vụ khác Một

số tính năng của Microsoft NET cho phép những nhà phát triển sử dụng như sau:

- Một mô hình lập trình cho phép nhà phát triển xây dựng các ứng dụng dịch

vụ web và ứng dụng client với Extensible Markup Language (XML)

-.NET cho phép chúng ta có thể lập trình trên các thiết bị di động một cách hiệu quả

- Nhiều công cụ hỗ trợ như Visual Studio NET, để phát triển các dịch vụ Web XML, ứng dụng trên nền Windows hay nền web một cách dể dàng và hiệu quả

- Cung cấp các server phục vụ bao gồm: Windows 2000, SQL Server, tất cả điều tích hợp, hoạt động, và quản lý các dịch vụ XML Web

Trang 25

2 Kiến trúc Net Framework

.NET Framework là một platform mới làm đơn giản việc phát triển ứng dụng trong môi trường phân tán của Internet .NET Framework được thiết kế đầy đủ để đáp ứng theo quan điểm sau:

- Để cung cấp một môi trường lập trình hướng đối tượng vững chắc, trong đó mã nguồn đối tượng được lưu trữ và thực thi một cách cục bộ Thực thi cục bộ nhưng được phân tán trên Internet, hoặc thực thi từ xa

- Để cung cấp một môi trường thực thi mã nguồn mà tối thiểu được việc đóng gói phần mềm và sự tranh chấp về phiên bản

- Để cung cấp một môi trường thực thi mã nguồn mà đảm bảo việc thực thi an toàn mã nguồn, bao gồm cả việc mã nguồn được tạo bởi hãng thứ ba hay bất cứ hãng nào mà tuân thủ theo kiến trúc NET

- Để cung cấp một môi trường thực thi mã nguồn mà loại bỏ được những lỗi thực hiện các script hay môi trường thông dịch

- Để làm cho những người phát triển có kinh nghiệm vững chắc có thể nắm vững nhiều kiểu ứng dụng khác nhau Như là từ những ứng dụng trên nền Windows đến những ứng dụng dựa trên web

- Để xây dựng tất cả các thông tin dựa triên tiêu chuẩn công nghiệp để đảm bảo rằng mã nguồn trên NET có thể tích hợp với bất cứ mã nguồn khác

.NET Framework có hai thành phần chính: Common Language Runtime (CLR)

và thư viện lớp NET Framework CLR là nền tảng của NET Framework Chúng ta có thể hiểu runtime như là một agent quản lý mã nguồn khi nó được thực thi, cung cấp các dịch vụ cốt lõi như: quản lý bộ nhớ, quản lý tiểu trình và quản lý từ xa Ngoài ra nó còn thúc đẩy việc sử dụng kiểu an toàn và các hình thức khác của việc chính xác mã nguồn, đảm bảo cho việc thực hiện được bảo mật và mạnh mẽ Thật vậy, khái niệm quản lý mã nguồn là nguyên lý nền tảng của runtime Mã nguồn mà đích tới Runtime thì được biết như là mã nguồn được quản lý (managed code) Trong khi đó mã nguồn mà không có đích tới runtime thì được biết như mã nguồn không được quản lý (unmanaged code)

Thư viện lớp, một thành phần chính khác của NET Framework là một tập hợp hướng đối tượng của các kiểu dữ liệu được dùng lại, nó cho phép chúng ta có thể

Trang 26

phát triển những ứng dụng từ những ứng dụng truyền thống command-line hay những ứng dụng có giao diện đồ họa (GUI)

3 Ngôn ngữ C#

a) Giới thiệu về ngôn ngữ C#

Ngôn ngữ C# khá phổ biến với khoảng 80 từ khóa và hơn mười mấy kiểu dữ liệu được xây dựng sẵn Ngôn ngữ C# có ý nghĩa cao khi nó thực thi những khái niệm lập trình hiện đại C# bao gồm tất cả những hỗ trợ cho cấu trúc, thành phần component, lập trình hướng đối tượng Những tính chất đó hiện diện trong một ngôn ngữ lập trình hiện đại Và ngôn ngữ C# hội đủ những điều kiện như vậy, hơn nữa nó được xây dựng trên nền tảng của hai ngôn ngữ mạnh nhất là C++ và Java

Phần côt lõi của bất cứ ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng nào là sự hỗ trợ của nó cho việc định nghĩa và làm việc với những lớp Những lớp thì định nghĩa những kiểu dữ liệu mới, cho phép người phát triển mở rộng ngôn ngữ để tạo mô hình tốt hơn để giải quyết vấn đề Ngôn ngữ C# chứa những từ khóa cho việc khai báo những kiểu lớp đối tượng mới và những phương thức hay thuộc tính của lớp,

và cho việc thực thi đóng gói, kế thừa, và đa hình, ba thuộc tính cơ bản của bất cứ ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng

Trong ngôn ngữ C# mọi thứ liên quan đến khai báo lớp điều được tìm thấy trong phần khai báo của nó Định nghĩa một lớp trong ngôn ngữ C# không đòi hỏi phải chia ra tập tin header và tập tin nguồn giống như trong ngôn ngữ C++

C# cũng hỗ trợ giao diện interface, nó được xem như một cam kết với một lớp cho những dịch vụ mà giao diện quy định Trong ngôn ngữ C#, một lớp chỉ có thể

kế thừa từ duy nhất một lớp cha, tức là không cho đa kế thừa như trong ngôn ngữ C++, tuy nhiên một lớp có thể thực thi nhiều giao diện Khi một lớp thực thi một giao diện thì nó sẽ hứa là nó sẽ cung cấp chức năng thực thi giao diện

Trong ngôn ngữ C#, những cấu trúc cũng được hỗ trợ, nhưng khái niệm về ngữ nghĩa của nó thay đổi khác với C++ Trong C#, một cấu trúc được giới hạn, là kiểu dữ liệu nhỏ gọn, và khi tạo thể hiện thì nó yêu cầu ít hơn về hệ điều hành và

bộ nhớ so với một lớp Một cấu trúc thì không thể kế thừa từ một lớp hay được kế

Trang 27

thừa nhưng một cấu trúc có thể thực thi một giao diện

Ngôn ngữ C# cung cấp những đặc tính hướng thành phần oriented), như là những thuộc tính, những sự kiện Lập trình hướng thành phần được hỗ trợ bởi CLR cho phép lưu trữ metadata với mã nguồn cho một lớp Metadata mô tả cho một lớp, bao gồm những phương thức và những thuộc tính của nó, cũng như những sự bảo mật cần thiết và những thuộc tính khác Mã nguồn chứa đựng những logic cần thiết để thực hiện những chức năng của nó

(component-Do vậy, một lớp được biên dịch như là một khối self-contained, nên môi trường hosting biết được cách đọc metadata của một lớp và mã nguồn cần thiết

mà không cần những thông tin khác để sử dụng nó

b) Những ưu điểm của C#

Ngôn ngữ C# là một ngôn ngữ được dẫn xuất từ C và C++, nhưng nó được tạo từ nền tảng phát triển hơn Microsoft bắt đầu với công việc trong C và C++ và thêm vào những đặc tính mới để làm cho ngôn ngữ này dễ sử dụng hơn Nhiều trong số những đặc tính này khá giống với những đặc tính có trong ngôn ngữ Java Không dừng lại ở đó, Microsoft đưa ra một số mục đích khi xây dựng ngôn ngữ này Những mục đích này được được tóm tắt như sau:

- C# là ngôn ngữ hiện đại

II Hệ quản trị có sở dữ liệu sql server 2000

1 Giới thiệu SQL Server 2000

SQL Server 2000 là một hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu (Relational Database Management System - RDBMS) sử dụng Transact-SQL để trao đổi dữ liệu giữa Client computer và SQL Server computer Một RDBMS bao gồm databases, database engine và các ứng dụng dùng để quản lý dữ liệu và các bộ

Trang 28

phận khác nhau trong RDBMS

SQL Server 2000 được tối ưu để có thể chạy trên môi trường cơ sở dữ liệu rất lớn (Very Large Database Environment) lên đến Tera-Byte và có thể phục vụ cùng lúc cho hàng ngàn user SQL Server 2000 có thể kết hợp với các server khác như Microsoft Internet Information Server (IIS), E-Commerce Server, Proxy Server SQL Server có 7 editions:

- Enterprise : Chứa đầy đủ các đặc trưng của SQL Server và có thể chạy tốt

trên hệ thống lên đến 32 CPUs và 64 GB RAM Thêm vào đó nó có các dịch vụ giúp cho việc phân tích dữ liệu rất hiệu quả (Analysis Services)

- Standard: Rất thích hợp cho các công ty vừa và nhỏ vì giá thành rẻ hơn

nhiều so với Enterprise Edition, nhưng lại bị giới hạn một số chức năng cao cấp (advanced features) khác, edition này có thể chạy tốt trên hệ thống lên đến 4 CPU

và 2 GB RAM

- Personal: được tối ưu hóa để chạy trên PC nên có thể cài đặt trên hầu hết

các phiên bản windows kể cả Windows 98

- Developer: Có đầy đủ các tính năng của Enterprise Edition nhưng được

chế tạo đặc biệt như giới hạn số lượng người kết nối vào Server cùng một lúc Ðây là edition mà các bạn muốn học SQL Server cần có Chúng ta sẽ dùng edition này trong suốt khóa học Edition này có thể cài trên Windows 2000 Professional hay Win NT Workstation

- Desktop Engine (MSDE): Ðây chỉ là một engine chạy trên desktop và

không có user interface (giao diện) Thích hợp cho việc triển khai ứng dụng ở máy client Kích thước database bị giới hạn khoảng 2 GB

- Win CE: Dùng cho các ứng dụng chạy trên Windows CE

- Trial: Có các tính năng của Enterprise Edition, download free, nhưng giới

hạn thời gian sử dụng

2 Giới thiệu về Transact SQL (T-SQL)

Transact-SQL là ngôn ngữ SQL mở rộng dựa trên SQL chuẩn của ISO (International Organization for Standardization) và ANSI (American National Standards Institute) được sử dụng trong SQL Server T-SQL được chia làm 3

Trang 29

nhóm:

+ Data Definition Language (DDL):

Ðây là những lệnh dùng để quản lý các thuộc tính của một database như định nghĩa các hàng hoặc cột của một table, hay vị trí data file của một database thường có dạng :

Trang 30

PHẦN II : XÂY DỰNG WEBSITE BÁN SÁCH VNBOOKS

CHƯƠNG I: BÀI TOÁN THỰC TẾ

I Vấn đề đặt ra

Như đã phân tích ở trong phần I, II chúng ta thấy được tầm quan trọng của nền kinh tế số và TMDT là không thể thiếu,thương mại toàn cầu đã có một bước đột phá lớn qua việc áp dụng đúng cách TMDT làm phương tiện giao dịch và thực hiện nghiệp vụ thương mại Trong thương mại tính phổ dụng, dễ dàng thuận tiện,

an toàn và nhanh chóng trong giao dịch là yếu tố quyết định sự thành bại, vì vậy áp dụng công nghệ thông tin là một tất yếu

Ở nước ta hiện nay theo cách thông thường thì khách hàng đi mua sách thường phải đi tới các của hàng sách hay các nhà sách, tự chọn cho mình những quyển sách yêu thích, sau khi lựa chọn được những quyển đạt yêu cầu thì khách hàng đưa sách đến quầy để thanh toán tiền Nhưng đây chỉ là cách mua hàng truyền thống của người Việt thôi, và nó còn nhiều mặt rất hạn chế, nếu khách hàng

ở xa những trung tâm, nhà sách thì việc lựa chọn tìm trực tiếp là rất trở ngại và việc tìm kiếm cũng rất mất nhiều thời gian …

Với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay thì những trở ngại đó đã được cải thiện, khái niệm Internet không còn xa lạ gì với mọi người, nên việc tìm kiếm thông tin trên net là rất phổ biến Nên việc chúng ta xây dựng một trang website giới thiệu và bán sách với những thông tin hỗ trợ chi tiết cho khách hàng là nhu cầu cần thiết cho mọi người

II Bài Toán

Với mục tiêu đặt ra ở trên, website của nhà sách sẽ cung cấp những thông tin vế sản phẩm đó là các loại sách của mình một cách hệ thống và chi tiết, tiện lợi cho khách hàng tìm kiếm ra kết quả nhanh nhất Nội dung của website:

 Giới thiệu các gian hàng sách, giới thiệu về nhà xuất bản, tác giả những thông tin mới của nhà xuất bản kế hoạch …

 Giới thiệu các loại sách đã phát hàng và những quyển sắp phát hành

để khách hàng tiện chọn lựa

Trang 31

 Hướng dẫn mua hàng và cách thanh toán mà công ty (website) hỗ trợ

 Khách hàng tìm kiếm sách và tạo đơn hàng đặt hàng gửi nhà quản trị website

 Góp ý và yêu cầu những sản phẩm mà hiện tại trên website của có

III Hướng giải quyết bài toán

Với những yêu cầu của bài toán trên đăt ra thì ở đây, Em sử dụng công nghệ ASP.NET và ngôn ngữ lập trình C# và có sử dụng một số control AJAX của Microsoft tạo cho trang web tiện lợi và xử lý nhanh hơn, tối ưu hơn

Sử dụng hệ quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft SQL Server 2000 để lưu trữ và

xử lý kết nối SQL Server 2000 là một hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu (RDBMS) sử dụng Transact-SQL để trao đổi dữ liệu giữa Client computer và SQL Server computer Một RDBMS bao gồm databases, database engine và các ứng dụng dùng để quản lý dữ liệu và các bộ phận khác nhau trong RDBMS

SQL Server 2000 được tối ưu để có thể chạy trên môi trường cơ sở dữ liệu rất lớn (Very Large Database Environment) lên đến Tera-Byte và có thể phục vụ cùng lúc cho hàng ngàn người dùng SQL Server 2000 có thể kết hợp “ăn ý” với các server khác như Microsoft Internet Information Server (IIS), E-Commerce Server, Proxy Server

Với sức mạnh của SQL Server 2000 và tính bảo mật của nó, Em đã sử dụng làm hệ quản trị lưu trữ thông tin cho ứng dụng website của mình, với mục tiêu ứng dụng được những điểm mạnh của nó để vận hành ứng dụng nhanh nhất và hiệu quả nhất

Về phía nhà quản lý thì ngoài việc nhận thông tin từ khách hàng còn phải đưa thông tin về loại sách và sách lên trang website đảm bảo thông tin luôn cập nhật, Cần phải xây dựng một cơ sở dữ liệu chặt chẽ và đảm bảo không dư thừa dữ liệu và nhất quản giúp cho trang website truy vấn nhanh hơn và thiết kế giao diện thân thiện, đơn giản không gây phiền hà cho khách khi tìm kiếm sách và không phải ngạc nhiên khi truy cập vào website

Phần trình bày các gian hàng sách trên của hàng ảo cũng là một phần cực kỳ quan trọng nó quyết định lượng truy cập và mua hàng của khách hàng

Trình bày sách theo chủ đề theo đầu sách và theo loại sách nhằm giúp cho khách

Trang 32

hàng nhanh chóng tìm ra sách mình mong muốn

Giỏ hàng: Khách hàng sẽ cảm thấy rất thuận lợi khi quá trình tìm kiếm sách của mình không bị một gián đoạn nào, khi cảm thấy một quyển sách yêu thích thì khách hàng sẽ có quyền đưa vào giỏ hàng, và tiếp tục tìm kiếm những quyển tiếp theo một cách dễ dàng và tổng tiền của những quyển sách mình chọn xem có phù hợp với túi tiền của mình hay không?

Trước khi khách hàng đặt hàng gửi đến nhà cung cấp thì khách hàng phải xác minh thông tin cái nhân, đây không phải là một điều bất tiện cho khách hàng

mà để đảm bảo khách hàng là những người mua hàng thực sự và để khách hàng có thể tham gia vào các chương trình hỗ trợ khách hàng của công ty của nhà sách

Công việc tiếp theo của nhà quản lý là sau khi khách hàng đã gửi đơn hàng thì có nhiệm vụ thông kê các quyển sách và xử lý các đơn hàng đã được đặt hàng ở

hệ thống, thống kê xem số lượng hóa đơn đăng ký trong ngày và hóa đơn nào đã

xử lý hóa đơn nào chưa xử lý

Trang 33

CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ THIẾT KẾ

I Phân tích các yêu cầu

Xây dựng một nhà sách ảo trên mạng bán các loại sách và các thiết bị khác,

trong đó chủ yếu là xử lý quá trình bán hàng giữa cửa hàng với khách hàng là những người sử dụng Interner Chúng ta có thể hình dung bán hàng trên cửa hàng

ảo, ở trên website cũng tương tự như trên cửa hàng thực nhưng chỉ có khác là khách hàng có quyền tìm kiếm trên toàn bộ trang web qua các gian hàng một cách nhanh chóng và gián tiếp với nhà cung cấp

Chương trình cho phép công ty thực hiện một số nghiệp vụ như sau:

- Đưa hàng lên giới thiệu trên website

- Duyệt yêu cầu của khách hàng

- Thống kê hóa đơn đặt hàng và thông kê khách hàng

- Phân quyền quản lý phần quản trị website cho nhân viên

Trang giao diên người dùng cho phép khách hàng lựa chọn sản phẩm, đồng thời thực hiện các thao tác như sau:

- Xem các loại sách hiện có của công ty trên mạng và giá của các quyển sách

đó

- Đặt hàng với công ty

- Yêu cầu các sách mới, góp ý với công ty

II Yêu cầu đối với bài toán thương mại điên tử

Như đã phân tích trong phần I,II thì nước ta hiện nay hình thức thanh toán điện tử chưa phổ biến, mà chủ yếu theo cách truyền thống Đây cũng chính là lý do khiến cho nền thương mại điện tử của nước ta còn chậm phát triển và không thu hút được các nhà đâu tư nước ngoài Bởi lý do khung pháp lý của các hệ thông thương mại giữa Ngân hàng và nhà kinh doanh chưa có tiếng nói chung, do vậy trong phạm vi đề tài này chỉ xây dựng một hệ thống gian hàng ảo bán sách trên mạng và dừng lại ở mức tạo lập và xác thực các đơn hàng mà khách hàng đặt hàng qua mạng

Với bài toán này có các hoạt động chính như sau:

 Hoạt động của khách hàng

Trang 34

 Hoạt động của nhà quản lý

 Hoạt động của khách hàng:

Một khách hàng khi truy cập vào website bán sách thì họ sẽ tự hỏi ở đây bán những loại sách nào ?

Hình thức mua hàng như thế nào? Và thanh toán ra sao?

Do đó để đáp ứng nhu cầu của khách hàng thì phải đảm bảo những thông tin chi tiêt về sản phẩm và hướng dẫn mua hàng, đăt hàng và hình thức thanh toán, giá cả của sản phẩm, giới thiệu sơ qua về từng quyển sách

 Hoạt động của nhà quản lý

Đối với của hàng ảo trên Internet, việc quản lý là một công việc tương đối mới, người quản lý giao tiếp và quản lý khách hàng và quản lý sản phẩm thông qua thông tin các đơn đặt hàng và thông tin khách hàng được lưu trên

cơ sở dữ liệu của website, nhà quản lý dựa vào thông tin trên đơn hàng và thời gian giao hàng để tiến hàng xử lý đơn hàng, thống kê sản phẩm hiện tại

có trên của hàng ảo theo từng chủng loại sach, theo tác giả…

Bổ sung và sửa đổi thông tin các loại sách và thông tin sách, việc bổ sung, sửa đổi sách được thực hiện thông qua trang quản trị, nhà quản lý có thể thêm sách, thay đổi giá cả của từng quyển sách

Trang 35

Từ những yêu cần đặt ra như trên chúng ta có sơ đồ chức năng như sau:

Sơ đồ luồng dữ liệu mức ngữ cảnh:

THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Sửa thông tin sách

Tìm kiếm sách

Thống kê sách

Thống kê loại sách

Đăng ký mua sách

Thống kê đơn hàng

Xử lý hóa đơn

Quản trị website

Thương mại điện

Đơn đặt hàng

Xử lý đặt hàng

Yêu cầu TT khách Khách hàng

Trang 36

Sơ đồ luồng dữ liệu:

Nhập

thông tin

Sửa thông tin

Xử lý

thông tin

Tìm kiếm thông tin

Khách hàng

Người quản lý

Khách hàng Người quản lý

KHO DỮ LIỆU

Yêu cầu sửa TT

Đáp ứng yêu cầu sửa TT

Yêu cầu sửa TT

Đáp ứng yêu cầu sửa TT

Trang 37

Thêm đầu

sách

Nhập sách mới

Đáp ứng yêu cầu Yêu cầu thêm đầu sách

Yêu cầu nhập loại sách

Đáp ứng yêu cầu

Yêu cầu nhập sách mới

Đáp ứng yêu cầu

Trang 38

Phân rã chức năng sửa thông tin:

Đáp ứng yêu cầu

Đáp ứng yêu cầu

Yêu cầu sửa

TT khá

ch

Trang 39

Phân rã chức năng : Tìm kiếm thống kê hóa đơn mua sách

Thông kê loại

sách

Thống kê chi tiết sách

Đáp ứng yêu cầu

Đáp ứng yêu cầu

Yêu cầu Tkê

Sách Loại Sách

Yêu cầu tìm kiếm

Yêu cầu tìm kiếm

Ngày đăng: 02/12/2021, 23:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phạm Hữu Khang, Lập trình cơ sở dữ liệu, NXB Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập trình cơ sở dữ liệu
Nhà XB: NXB Lao động xã hội
[2] Hoàng Hữu Việt, Giáo trình C# programming, IT Faculty, Vinh University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình C# programming
[3].Cao Thanh Sơn, Giáo trình Thiết kế web ASP.NET, IT Faculty, Vinh University Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thiết kế web ASP.NET
4. Lê Vĩnh Danh, Thương mại điện tử Đề tài Cấp nhà nước KC 0105, năm 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: mại điện tử Đề tài Cấp nhà nước KC 0105
[5].Zorayda Ruth Andam,Nhóm công tác e-ESEAN UNDP-APDIP, Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử, tháng 5 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh doanh điện tử và thương mại điện tử
[6] Damon Armstrong, Pro ASP.NET 2.0 website programing 2005 [7] Brennan Stehling, Pro ASP.NET for SQL Server 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pro ASP.NET 2.0 website programing 2005" [7] Brennan Stehling
[8]. Microsoft.Visual.C.Sharp.2005.Step.by.Step.Oct.2005 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w