Xmiêcnôp và một số nhà tâm lý học khác đã nghiên cứu, khẳng định rằng: Sự phát triển trí tuệ là kết quả của việc lĩnh hội nên quan hệ giữa dạy học với trí tuệ phải được đặt lên hàng đầu,
Trang 1Vinh - 2008
Trang 2Lời cảm ơn
Bằng tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm
ơn cô giáo - Ths Hồ Thị Hạnh - Ng-ời đã tận tình, chu đáo h-ớng dẫn
em hoàn thành luận văn này
Em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể các thầy cô giáo khoa Giáo dục tiểu học đã giảng dạy và h-ớng dẫn, giúp đỡ, động viên, khuyến khích em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn tr-ờng mầm non bán công Quang Trung II, tr-ờng mầm non bán công Tr-ờng Thi, tr-ờng mầm non bán công Bình Minh đã tạo diều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn bạn bè và những ng-ời thân trong gia đình
đã đóng góp ý kiến, giúp đỡ động viên tôi hoàn thành tốt luận văn này Xin trân trọng cảm ơn !
Vinh, tháng 5 - 2008
Tác giả
NguyễnThị D-ơng
Trang 3Mục lục Trang
Phần I: phần mở đầu 1
I Lý do chọn đề tài 2
II Mục đích nghiên cứu 2
III Đối t-ợng và khách thể nghiên cứu 2
IV Giảthyết khoa học 2
V Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 2
VI Nhiệmvụ nghiên cứu 2
VII Ph-ơngpháp nnghiên cứu 2
PHầN II: phần nội dung 4
Ch-ơng I: CƠ Sở Lý LUận của đề tài 4
I Lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.Trênthế giới 4
2 Lịch ử nghiên cứu ở Việt nam 6
II Trítuệ của trẻ mẫu giáo 8
1.Kháiniệm trí tuệ 8
2.Sựhình thành và phát triển trí tuệ 9
3.Đặcđiểm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 11
4 Đol-ờng mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 13
4.1 Đo l-ờng trí tuệ
13Đo l-ờng mức độ phát triển của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 17
5.Các yếu tố ảnh h-ởng tới sự phát triển trí tụê của trẻ mẫu giá5-6 tu21 5.1 Điều kiện sinh học 21
5.2 Môi tr-ờng 22
5.3 Giáodục 23
5.4 Hoạt động 25 5.5 Giao tiếp trong nhóm bạn cùng tuổi 26
CH-ơng II: thực trạng mức độ phát triển trí tuệ của
Trang 4Trẻ mẫu giáo 27
4 Ph-ơng pháp trò chuyện và phỏng vấn sâu 30
3.2.1 Thực trạng mức đọ phát triển trí tuệ của trẻ 5-6 tuổi 35 3.2.1.1 Đánh giá chung về mức độ phát triển trí tuệ của trẻ
3.2.1.2 Phân tích mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi theo các ph-ơng diện so sánh 40 3.2.2 Tìm hiểu một số yếu tố ảnh h-ởng đến thực trạng mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mấu giáo 5-6 tuổi 47 3.2.2.1 Giáo viên và cách thức tổ chức các hoạt động cho trẻ 47
3.2.3 Một số chân dung trẻ 5r-6 tuổi có mức độ phát triển
Phần III Kết luận và kiến nghị 61
Trang 5Phần 1: PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Trong thế giới hiện đại, cốt lõi của khoa học và công nghệ là trí tuệ của con người Trong mọi tiềm lực thì tiềm lực trí tuệ con người là quan trọng, có giá trị quyết định sự thành bại tronh mọi lĩnh vực Sự hùng mạnh của các nước
là do tiềm năng trí tuệ quyết định trước tiên Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta coi: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và các văn bản chính thức về việc giáo dục để đào tạo con người tự chủ, năng động, sáng tạo đã được đề ra
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân
ở nước ta Trí tuệ là một thành phần quan trọng của nhân cách con người
Trí tuệ và đánh giá trí tuệ luôn là mối quan tâm của các nhà khoa học và
sư phạm Nhiều nghiên cứu của các nhà tâm lý học cho thấy trong vòng 6 năm đầu sự phát triển trí tuệ cá nhân tăng rất nhanh và thực tế gia tốc phát triển của trẻ em hiện nay cũng ngày càng tăng Hơn nữa kết thúc tuổi mẫu giáo trẻ sẽ bước vào bậc tiểu học với sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập, một hoạt động bắt buộc đầy khó khăn Vì những lý
do trên việc lượng giá trí tuệ của trẻ mẫu giáo luôn cần được đặt ra Đánh giá trí tuệ của trẻ mẫu giáo không chỉ xem như một bài toán định lượng kết quả của giáo dục mầm non mà còn là cơ sở định hướng phát triển giáo dục tiểu học
Hiện nay, tuy công tác chuẩn bị tâm lý, đặc biệt là trí tuệ cho trẻ mầm non đến trường đã được quan tâm Nhưng thực tế sự quan tâm này chưa đúng hướng,
có khá nhiều học sinh và một số giáo viên chủ trương cho trẻ biết trước càng nhiều càng tốt thông qua việc dạy trước chương trình lớp 1, khuyến khích trẻ nhớ một cách rập khuôn máy móc, không chú ý dạy trẻ cách thức hành động trí óc… nên hiệu quả phát triển trí tuệ của trẻ chưa cao
Mặt khác, ở các trường Mầm non hiện nay việc đánh giá trí tuệ của trẻ Mẫu giáo còn hời hợt, cảm tính, chủ quan, chưa có công cụ đánh giá chính xác, đáng tin cậy Đây cũng là việc làm rất khó khăn Việc sử dụng cách đo trí tuệ của trẻ bằng trắc nghiệm khách quan đem lại kết quả đáng tin cậy nhưng ít được
dùng đến Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu mức
độ phát triển trí tuệ của trẻ 5 - 6 tuổi” nhằm nắm được mức độ phát triển trí tuệ
của trẻ Từ đó tìm ra nguyên nhân của các mức độ phát triển để có những biện pháp tác động phù hợp nhằm giúp trẻ 5 - 6 tuổi phát triển trí tuệ
Trang 6II Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng mức độ phát triển trí tuệ của trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi
và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ phát triển của trẻ trên cơ sở đó đề xuất một
số biện pháp nhằm góp phần nâng cao mức độ phát triển trí tuệ của trẻ Mẫu giáo
5 - 6 tuổi
III Đối tượng và khách thể nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu:
Mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
2 Khách thể nghiên cứu:
Trí tuệ trẻ mẫu giáo
IV Giả thuyết khoa học:
Hiện nay, mức độ phát triển trí tuệ của trẻ không đồng đều và chưa cao,
đa số trẻ đạt mức trí tuệ từ trung bình trở xuống, có sự khác nhau giữa mức độ phát triển trí tuệ của nam và nữ Nguyên nhân chính là nhà trường và gia đình chưa tổ chức tốt các hoạt động giáo dục nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ
V Giới hạn và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ của trẻ Mẫu giáo
5 - 6 tuổi bằng trắc nghiệm Raven màu Dự giờ ở trường Mầm non và tìm hiểu việc phát triển trí tuệ ở gia đình
VI Nhiệm vụ nghiên cứu
1 Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về sự phát triển trí tuệ của trẻ Mẫu giáo 5
- 6 tuổi
2 Khảo sát nức độ phát triển trí tuệ của trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Bước đầu tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng thực trạng mức độ phát triển trí tuệ của trẻ
3 Đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao mức độ phát triển trí tuệ cho trẻ Mẫu giáo 5 - 6 tuổi
VII Phương pháp nghiên cứu:
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nhằm thu thập, phân tích, hệ thống hoá tri thức khoa học để xây dựng cơ
sở lý luận của đề tài
Trang 7Sử dụng trắc nghiệm Raven màu để đo mức độ trí tuệ của các nghiệm thể được nghiên cứu
3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 8Phần II PHẦN NỘI DUNG Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
I LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trí tuệ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cuộc sống, hoạt động của con người Vì thế từ lâu nó đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Kết quả đạt được thật lớn lao cả về lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
1 Trên thế giới:
Nghiên cứu vấn đề trí tuệ và trí tuệ trẻ Mẫu giáo được triển khai theo nhiều hướng khác nhau, có thể tóm lược tập trung vào một số xu hướng nghiên cứu cơ bản sau:
* Nghiên cứu xác định nguồn gốc, tìm ra cách thức đo lường trí tuệ và trí tuệ của trẻ Mẫu giáo nói riêng
+ Ngay từ thế kỷ XVIII trí tuệ được xem xét liên quan với não do F Gall
đề cập
+ Sau đó tác giả Francis Galton (1822 - 1911) với cuốn sách gây nhiều tranh cãi: “Sự di truyền các tài năng” đã đặc biệt nhấn mạnh cơ sở di truyền của thiên tài Nhưng rồi bằng nghiên cứu thực nghiệm ông đã đưa ra kết luận trí tuệ
là kết quả của tốc độ và việc xử lý các đáp ứng của con người đối với các kích thước của môi trường F Galton được coi là người đặt nền móng cho sự ra đời
tư tưởng đo lường trong tâm lý học
Những năm tiếp theo là thời kỳ phát triển rầm rộ của việc nghiên cứu tìm
ra các phương pháp đánh giá trí tuệ bằng trắc nghiệm
+ Năm 1905, Alfred Binet và Theophile Simon soạn trắc nghiệm trí tuệ để chọn học sinh vào trường học phù hợp Trắc nghiệm có tên là Binet - Simon Năm 1916, Giáo sư Terman tại Đại học Stanford cải tiến trắc nghiệm này và gọi tên là Stanford - Binet Năm 1960 trắc nghiệm này được cải tiến nhiều lần và hiện nay được dùng chuyên cho trẻ từ 2 - 14 tuổi
+ Năm 1912, nhà tâm lý học người Đức W Stern đã đưa ra khái niệm “hệ
số thông minh” (IQ) được xác định bởi công thức:
Trang 9+ Năm 1939, thang Wechsler Bellevue do D Wechler đưa ra dùng cho người lớn và năm 1949 ông đưa ra trắc nghiệm Wisc cho trẻ từ 16 tuổi trở lên và năm 1967 có thêm loại WPPSI (thang đo trí tuệ cho trẻ Mẫu giáo, học sinh tiểu học)
+ Năm 1953 công thức đánh giá IQ được D Wechsler xác định lại:
100 15
Trong đó X là điểm trí tuệ
X là điểm trung bình của toàn mẫu, SD là độ lệch chuẩn
+ Tác giả có thể kể đến tiếp là J C Raven với test Raven gần như dành cho mọi lứa tuổi và test Raven màu dành cho trẻ nhỏ (dưới 10 tuổi)
* Hướng nghiên cứu về cấu trúc trí tuệ nói chung và một số thành phần tâm lý trong trí tuệ của trẻ Mẫu giáo nói riêng
Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về cấu trúc trí tuệ có các tác giả như: Charles Spearman, J P Guilford, Phi Lip Vermon, R Sternberg, H Gardner,
N A MenchinXcaia, E N Cabanova…
Các nhà nghiên cứu còn quan tâm tìm hiểu các thành phần tâm lý trong trí tuệ và quan hệ của chúng Họ tìm hiểu khả năng tri giác, trí nhớ, khả năng tư duy và một số biểu hiện khác trong sự phát triển trí tuệ của trẻ Mẫu giáo như:
+ Tác giả I A Konhienco vào năm 1955 đã tìm hiểu sự nhận lại, nhớ lại tài liệu trực quan và tài liệu lôgic ở trẻ Mẫu giáo
+ Năm 1956 A A, LiublinXcai nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ của từ ngữ trực quan việc hình thành những biểu tượng ở trẻ Mẫu giáo
+ Năm 1961 Z M BôgôlapXcaia chỉ ra những đặc điểm của hoạt động định hướng trong quá trình hình thành biểu tượng đầu tiên về mặt sự vật ở trẻ Mẫu giáo
+ Năm 1976 L T Kotliasôva tìm hiểu về tri giác sự vật quen thuộc và mới lạ của trẻ
* Hướng nghiên cứu sự hình thành và phát triển trí tuệ theo các giai đoạn,
sự phát triển trí tuệ của trẻ Mẫu giáo
Tác giả tiêu biểu của hướng nghiên cứu này là: L X Vưgôtxki, J Piaget,
A N Leonchinev,…
L X Vưgôtxki khẳng định cần phân biệt hai trình độ trong các quá trình tâm lý người là trí tuệ vốn có và trí tuệ được vũ trang bằng công cụ, phương diện
Trang 10hỗ trợ, dạy học ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển trí tuệ Từ đây hướng nghiên cứu trí tuệ được mở rộng và tiếp tục bởi nhiều cộng sự, học trò của ông như: A N Lêonchiev, P I Galperin, E N Canbanôva - Menle,…
* Hướng nghiên cứu quan hệ giữa trí tuệ với hoạt động học tập, với tính sáng tạo
+ Tác giả L V Dancốp, A A Xmiêcnôp và một số nhà tâm lý học khác
đã nghiên cứu, khẳng định rằng: Sự phát triển trí tuệ là kết quả của việc lĩnh hội nên quan hệ giữa dạy học với trí tuệ phải được đặt lên hàng đầu, tổ chức hoạt động học tập là quá trình tổ chức sự phát triển trí tuệ của trẻ
+ Một số nhà nghiên cứu cho ràng sáng tạo liên quan và gắn chặt với sự phát triển trí tuệ như: J P Guiford hay H H Anderson…
+ A.N Lêonchiev khẳng định rõ tầm quan trọng của trò chơi học tập đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ Mẫu giáo
Ngoài ra một số tác giả như: E I Chikheeva, Ph A Xôkhin, đã nghiên cứu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ trước tuổi học trong mối quan hệ với trí tuệ
* Hướng nghiên cứu trí tuệ trong mối quan hệ với cảm xúc
Năm 1995 quyển sách “trí tuệ cảm xúc” của Danniel Goleman phát hành trong đó ông đã khẳng định rằng: “Có hai hình thức khác nhau của trí tuệ: trí tuệ
lý trí và trí tuệ cảm xúc” trí tuệ cảm xúc là một phần trong những nhân tố quan trọng giúp con người thành đạt trong cuộc sống Đây là cách nhìn mới mẻ về trí tuệ Ý nghĩa và các mối quan hệ của “trí tuệ cảm xúc và trí tuệ lý trí” đang là mối quan tâm của tâm lý học hiện đại
2 Lịch sử nghiên cứu trí tuệ ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, vấn đề trí tuệ và trí tuệ của trẻ mẫu giáo cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Nhiều công trình nghiên cứu trí tuệ trẻ em được tiến hành ở viện khoa học giáo dục, trường đại học sư phạm Hà Nội, các trường Cao đẳng sư phạm mẫu giáo Trung ương
Nội dung nghiên cứu trí tuệ trẻ em rất phong phú, theo nhiều hướng cụ thể khác nhau như:
* Hướng nghiên cứu về sự phát triển của từng thành phần tâm lý trong trí tuệ của trẻ Mẫu giáo
+ Tư duy của trẻ mẫu giáo được tác giả Trần Xuân Hương nghiên cứu với
đề tài: “Sự hình thành tư duy trực quan sơ đồ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”
Trang 11+ Tìm hiểu ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo có nhiều tác giả quan tâm như: Lưu Thị Lan, Nguyễn Thế Đăng,…
+ Tìm hiểu trình độ tri giác của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi và ảnh hưởng của
nó đến khả năng tượng tưởng trong hoạt động vẽ của tác giả Lê Thanh Thuỷ (1991 - 1996)
+ Năm 1998, công trình nghiên cứu đặc điểm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi do Nguyễn Thạc chủ nhiệm đã vạch rõ phát triển các thành phần tâm lý trí tuệ như: quan sát, trí nhớ, tưu duy, tưởng tượng, ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo là không như nhau
* Hướng nghiên cứu chuẩn hoá, Việt Nam hoá các trắc nghiệm trí tuệ, thử nghiệm các test đánh giá trí tuệ ở trẻ em
+ Ở Việt Nam các trắc nghiệm trí tuệ đã ứng dụng đầu tiên ở các bệnh viện để chuẩn đoán bệnh tâm thần như bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, bệnh viện tâm thần thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là bệnh viện nhi Hà Nội, bệnh viện nhi Việt Nam - Thuỷ Điển
+ Hướng nghiên cứu ứng dụng test để đánh giá trí tuệ cảu trẻ mẫu giáo được Nguyễn Thị Như Mai thực hiện với đề tài: “Thử áp dụng phương pháp dùng tranh vẽ để tìm hiểu sự phát triển trí tuệ của trẻ em tuổi mẫu giáo” (1986)
+ Nhóm các nhà nghiên cứu Trần Trọng thuỷ, Nguyễn Huy Tú, Lê Đức Phúc, Nguyễn Công Khanh đã Việt hoá các bộ test nước ngoài để đo trí thông minh (IQ), trí sáng tạo (CQ) và trí cảm xúc (EQ) của Việt nam trong đề tài khoa học xã hội cấp nhà nước KX - 05, chu kỳ 2001 - 2006
* Hướng nghiên cứu ảnh hưởng của hạt động học tập, hoạt động vui chơi đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo, trẻ đầu tuổi học, tương quan giữa trí tuệ và thể lực
+ Năm 2001 tác giả Trương Thị Xuân, đã nghiên cứu “sử dụng hệ thống trò chơi trong công tác chuẩn bị trí tuệ cho trẻ học toán ở lớp 1”
+ Tác giả Phan Trọng Ngọ đã nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của trẻ dưới ảnh hưởng của việc thay đổi cơ sở định hướng hành động học tập ở đề tài: “Sự phát triển trí tuệ của học sinh lớp 1 dưới ảnh hưởng của việc thay đổi cơ sở định hướng trong dạy học” (1994)
+ Năm 2002 tác giả Lê Minh Hà nghiên cứu tương quan giữa trí tuệ và thể lực của trẻ mẫu giáo: “Nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ và thể lực của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”
Trang 12* Hướng nghiên cứu sự phát triển trí tuệ của trẻ em nói chung, trẻ mẫu giáo nói riêng
Nhiều nhà khoa học trong nước như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng thuỷ, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Kế Hào, Nguyễn Ánh Tuyết,… đã quan tâm nghiên cứu phân tích rõ đặc điểm phát triển trí tuệ theo lứa tuổi
Như vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu về trí tuệ, sự phát triển trí tuệ nói chung và trí tuệ của trẻ mẫu giáo nói riêng Song việc nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở các vùng miền khác nhau để có biện pháp giáo dục phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả phát triển trí tuệ cho trẻ còn ít được quan tâm nghiên cứu Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu mức độ phát triển của trẻ 5 - 6 tuổi” để nghiên cứu nhằm góp một phần nhỏ làm phong phú thêm hướng nghiên cứu này
II TRÍ TUỆ CỦA TRẺ MẪU GIÁO:
1 Khái niệm trí tuệ:
Vấn đề trí tuệ trong tâm lý học đã được nghiên cứu từ lâu, nhưng nó là vấn đề phức tạp nên cho đến nay vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về trí tuệ Có thể tóm tắt khái quát các định nghĩa trí tuệ thành 3 nhóm sau:
Nhóm 1: Coi trí tuệ là năng lực học tập
Nhóm 2: Đồng nhất trí tuệ với năng lực tư duy trìu tượng của cá nhân Nhóm 3: Coi trí tuệ là năng lực thích ứng của cá nhân
Quan niệm thứ nhất đã có từ lâu và khá phổ biến, đại diện có nhà tâm lý học Nga B G Ananhiev theo B G Ananhiev trí tuệ là đặc điểm tâm lý phức tạp của con người mà kết quả công việc học tập và lao động phụ thuộc vào nó
Quan niệm thứ 2 hiểu trí tuệ là năng lực phát triển tư duy trìu tượng Nhóm này đã chỉ ra được mối quan hệ giữa trí tuệ với năng lực tư duy trìu tượng
và coi tư duy là thành phần cốt lõi của trí tuệ Tuy nhiên nhóm quan niệm này đã thu hẹp nội hàm và phạm vi thể hiện của trí tuệ Bởi trí tuệ không chỉ thể hiện trong tư duy mà còn cả trong hoạt động
Nhóm quan niệm thứ 3 coi trí tuệ là khả năng thích ứng của cá nhân là phổ biến hơn cả, nó thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều nhà nghiên cứu lớn: J Piaget, U Sterner, D Wechsler,…
Theo J Piaget; bất kỳ trí tuệ nào cũng đều là một sự thích ứng D Wechsler cho rằng: Trí tuệ là khả năng tổng thể để hoạt động một cách có suy nghĩ, tư duy hợp lý, chế ngự được môi trường xung quanh Trí tuệ là khả năng
Trang 13xử lý thông tin để giải quyết vấn đề mà nhanh chóng thích nghi với tình huống mới Như vậy, các quan điểm cơ bản trên đây đối với việc định nghĩa trí tuệ không loại trừ lẫn nhau Mỗi quan điểm chỉ lấy một mặt nào đó của trí tuệ làm trọng tâm Nhưng không có định nghĩa nào trong các định nghĩa trên chứa đựng được hầu hết bản chất của các hiện tượng phức tạp như trí tuệ của con người Vì vậy, để có cách hiểu bao quát về vấn đề trí tuệ, cần tính đến đặc trưng của nó Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ rõ khi nghiên cứu về trí tuệ cần chú ý đến một số vấn đề lý luận và phương pháp luận như sau:
+ Trí tuệ là yếu tố tâm lý có tính độc lập tương đối với các yếu tố tâm lý khác của cá nhân
+ Trí tuệ được hình thành và biểu hiện trong hoạt động của chủ thể,
+ Sự phát triển của trí tuệ chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh học và chịu chế ước của các yếu tố văn hoá - xã hội
+ Trí tuệ có chức năng đáp ứng mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể với môi trường sống, tạo ra sự thích ứng tích cực của cá nhân Theo lập trường trên, Blây khe V M và Burolachuc L F (1978) đã đưa ra định nghĩa sau: “Trí tuệ - đó là một cấu trúc động, tương đối độc lập của thuộc tính nhận thức của nhân cách, được hình thành và thể hiện trong hoạt động, do những điều kiện văn hoá - lịch sử quy định và chủ yếu đảm bảo cho sự tác động qua lại phù hợp với hiện thực xung quanh, cho sự cải tạo có mục đích hiện thực ấy” Trong nghiên cứu thực tiễn về trí tuệ, người ta thường sử dụng khái niệm của Blây khe V M
và Burolachuc Phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi sẽ thực hiện theo tinh thần của định nghĩa trên
2 Sự hình thành và phát triển trí tuệ
Đây là vấn đề từ lâu đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, nhưng mãi đến thế kỷ XX người ta mới hiểu một cách chính xác trí tuệ có bản chất hoạt động Cơ chế hình thành và phát triển trí tuệ là cơ chế chuyển hoá cái “vật chất” thành cái “tinh thần” Vấn đề này thể hiện ở hai quan điểm nổi bật sau:
* Quan điểm của J Piaget
J Piaget cho rằng sự phát triển trí tuệ trẻ em là quá trình tạo lập ra cấu trúc trí tuệ mới theo khuynh hướng kế thừa, phủ định những cấu trúc đã có Để
có được cấu trúc đó chủ thể phải tiến hành các hoạt động tương tác với môi trường nhằm tích luỹ, xây dựng và hoàn thiện những tri thức, thao tác đã có để
Trang 14đến mức độ cho phép chuyển hoá chúng thành một cấu trúc mới có chất lượng cao hơn
J Piaget giải thích sự phát triển này theo nguyên tắc giống như phát triển sinh học, nhằm để thích ứng với môi trường Theo quan điểm của J Piaget, quá trình phát triển trí tuệ của trẻ em một mặt phụ thuộc vào sự chín muồi cấu trúc sinh học của cơ thể, đặc biệt là cấu trúc của hệ thần kinh, mặt khác lại chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường sống
Như vậy, sự phát triển trí tuệ của trẻ em chịu tác động của quy luật nội tại
và quy luật bên ngoài Hai quy luật này thống nhât trong hành động của chủ thể nhằm tác động tích cực vào thực tại khách quan thực chất của sự phát triển trí tuệ là sự biến đổi về chất ở khả năng trí tuệ, các phẩm chất trí tuệ
* Quan điểm của các nhà tâm lý học Xô Viết như: L X Vưgôtxki, L V Dancôv, Đ B Encônhin, N A Menchinxcaia…
- Theo quan điểm của các nhà tâm lý học Xô Viết mà đại biểu là L X Vưgôtxki thì hoạt động tâm lý con người bắt nguồn từ hoạt động bên ngoài Nhờ hoạt động mà chức năng tâm lý người được hình thành và phát triển Vì thế sự phát triển trí tụe trẻ em cũng không thể tách khỏi hoạt động Từ đó, họ coi sự phát triển trí tuệ trẻ em là kết quả của việc lĩnh hội kinh nghiệm của loài người
Do vậy, trong các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ thì quan hệ giữa trí tuệ với giáo dục được đặt lên hàng đầu và giáo dục giữ vai trò chủ đạo
+ Sự phát triển trí tuệ theo N Đ Lêvitôv được biểu hiện ở các chỉ số: tính độc lập của tư duy, độ nhanh, bền của sự lĩnh hội tào liệu học tập, tốc độ của sự định hướng trí tuệ khi giải quyết các nhiệm vụ, bài tập, tình huống không giống với bài tập mẫu, nhiệm vụ, tình huống quen thuộc…
+ N A Menchinxcaia lại quan tâm đến đặc điểm của hoạt động tư duy và các mối quan hệ giữa chúng trong sự phát triển trí tuệ như: Độ nhanh chậm của việc lĩnh hội, tính mềm dẻo của quá trình tư duy, mối liên hệ giữa các thành phần trực quan và trừu tượng của tư duy, mức độ khác nhau của hoạt động phân tích - tổng hợp
+ Một số tác giả khác còn cho rằng sự phát triển trí tuệ của trẻ như là việc hình thành và phát triển một số phẩm chất trí óc:
- Tốc độ của sự định hướng trí tuệ: là khả năng tái hiện nhanh và lựa chọn nhanh để giải quyết vấn đề
Trang 15- Tốc độ khái quát hoá các mối liên hệ và quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng cùng loại
- Tính sáng tạo của tư duy được đặc trưng bởi tính tiết kiệm và tính phê phán với kết luận hay kết quả vừa có
- Tính mềm dẻo của trí tuệ thể hiện ở việc dễ hay khó khi xây dựng lại hành động thích hợp với biến đổi của điều kiện Như vậy, điểm đặc trưng của bản chất của sự phát triển trí tuệ là ở chỗ vừa thay đổi cấu trúc cái được phản ánh, vừa thay đổi phương thức phản ánh chúng Sự phát triển đó được thể hiện chủ yếu thông qua sự hình thành và phát triển các thao tác trí óc, phẩm chất tư duy và đạt được hiệu quả cao nhất của sự lĩnh hội có thể có Do đó, trong sự trong sự phát triển trí tuệ là sự thống nhất giữa việc vũ trang tri thức và việc phát triển một cách tối đa phương thức phản ánh chúng (cách học, cách dành lấy tri thức) Trong sự thống nhất đó dẫn đến làm thay đổi cấu trúc bản thânhệ thống tri thức làm cho hệ thống tri thức càng thêm sâu sắc và phản ánh đúng bản chất, tiếp cận đến chân lý và điều chỉnh, mở rộng các phương thức phản ánh, thậm chí xoá bỏ phương thức phản ánh cũ, lạc hậu để hình thành những phương thức phản ánh mới, hợp lý, sáng tạo hơn, phù hợp với quy luật tự nhiên xã hội
Tóm lại các quan điểm trên cho chúng tôi hiểu rằng sự phát triển trí tuệ là
sự biến đổi về chất ở khả năng trí tuệ, các phẩm chất trí tuệ, sự liên tục hình thành các cấu trúc mới trên cơ sở các cấu trúc đã có Sự phát triển là quá trình tự thân Vì thế chủ thể phải tiến hành các hành động tương tác với môi trường nhằm tích luỹ và hoàn thiện những tri thức, thao tác đã có để đạt đến mức độ cho phép chuyển hoá chúng thành một cấu trúc mới về chất, mà biểu hiện ở sự biến đổi thực sự về chất ở khả năng trí tuệ và các phẩm chất trí tuệ Sự phát triển này chịu sự tác động của quy luật bên trong cũng như sự thống nhất giữa chúng
3 Đặc điểm phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Trí tuệ của trẻ mẫu giáo là một cấu trúc động, tương đối độc lập của các thuộc tính nhận thức của trẻ, được hình thành và thể hiện trong các hoạt động của lứa tuổi
Trí tuệ của trẻ mẫu giáo được xem xét trong phạm vi đề tài này là trí thông minh Vì đây là loại trí tuệ rất cần thiết giúp trẻ học tốt ở trường phổ thông sau này Hơn nữa trí thông minh của trẻ mẫu giáo được nhìn nhận ở khả năng giải quyết các bài tập nhận thức, thế nên các trắc nghiệm trí tuệ có tính đến đặc trưng lứa tuổi là hợp lý và dễ thực hiện được Do vậy, trí tuệ của trẻ mẫu giáo sẽ được nghiên cứu theo tinh thần của khái niệm trên
Trang 16Sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo cũng tuân theo cơ chế chung của sự phát triển trí tuệ của con người Đó chính là sự tạo lập ra các cấu trúc trí tuệ mới trên cơ sở những cấu trúc đã cớ ở lứa tuổi nhà trẻ trước đó Sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo thể hiện ở sự biến đổi các chỉ số trí tuệ, khả năng trí tuệ, các hành động của lứa tuổi, là sự biết được nhiều cái mới bằng hành động khám phá, hành động tri giác, hành động tư duy
Sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo còn được biểu hiện ở việc thực hiện các hành động trí tuệ như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trìu tượng hoá, phán đoán, suy luận một cách hợp lý - lôgic Tuy nhiên sự phát triển khả năng này ở lứa tuổi mẫu giáo mới ở trình độ sơ đẳng Như vậy, sự phát triẻn trí tuệ của trẻ mẫu giáo là sự phát triển khả năng nhận thức, giải quyết nhiệm vụ nhận thức và những vấn đề cụ thể của lứa tuổi một cách đúng đắn, hiệu quả
Mức độ trí tuệ của trẻ mẫu giáo phản ánh sự phân mức trí tuệ của lứa tuổi mẫu giáo Mức độ trí tuệ của trẻ mẫu giáo là kết quả phân mức trí tuệ (chỉ số trí tuệ - IQ) dựa trên thang điểm chuẩn dành cho lứa tuổi, được tiến hành qua việc
đo lường trí tuệ trên một nhóm nghiệm thể tương đối chuẩn
Mức độ trí tuệ trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi ở đề tài này được chúng tôi tập trung vào việc tìm hiểu chỉ số IQ thông qua các trắc nghiệm chuyên biệt dành cho lứa tuổi
- Hành động trí tuệ của trẻ phát triển khá rõ về chất đặc biệt là các hành động nhận thức Đặc trưng hành động tri giác của trẻ ở lứa tuổi này là mang tính
mô hình hoá Khi tri giác trẻ đã biết chia cắt sự vật thành nhiều phần và xác định được mối liên hệ giữa các thành phần với nhau để hướng tới việc xây dựng mô hình chuẩn cảm giác
- Hành động tư duy đặc trưng ở lứa tuổi này là hành động tư duy trực quan hình ảnh ở mức độ cao Ở cuối tuổi mẫu giáo có bước chuyển từ tính hình tượng sang tính trừu tượng khái quát khi giải quyết các nhiệm vụ trí tuệ Trẻ đã dần thể hiện khả năng tự khám phá mối lien hệ giữa các sự vật, hiện tượng, biết suy luận về những hiện tượng liên quan hay không liên quan Hành động thử được hạn chế tối đa và chuyển thành hành động định hướng bên trong, tư duy trực quan hình ảnh phát triển mạnh mẽ
- Ngoài ra các thao tác nhận thức cũng phát triển khá rõ ở độ tuổi này Các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trìu tượng hoá được phát triển mạnh trong hoạt động, giao lưu
Trang 17- Ở trẻ đã hình thành khả năng suy luận nhưng ở mức độ sơ đẳng Trẻ chưa suy luận được bằng tư duy mà là sự chuyển dịch các hình ảnh từ cấu trúc này sang cấu trúc khác, đó chính là kiểu tư duy xếp kề Khi giải quyết nhiệm vụ nhận thức, đối với loại bài tập đòi hỏi dựa trên các biểu tượng đã có thì trẻ thực hiện được, nhưng đối với những bài tập đòi hỏi vượt lên trên kinh nghiệm cảm tính thì trẻ chưa thực hiện được, khả năng khái quát hoá của trẻ cũng thay đổi đáng kể, vì vốn kinh nghiệm và ngôn ngữ của trẻ phát triển mạnh Khả năng phán đoán có nhiều tiến bộ, có những phán đoán hay những kết luận được trẻ rút
ra từ những suy lý, quy nạp, diễn dịch khá lôgic Trẻ đã biết dựa trên những mối liên hệ đúng đắn đã được xác lập của sự vật, hiện tượng để đưa ra phán đoán hợp lý Các hình thức tư duy lôgic cũng phát triển khá nhanh chóng
- Cuối lứa tuổi mẫu giáo khả năng đảo ngược lại với biểu tượng của tư duy và sắp xếp lại đã bắt đầu hình thành giúp trẻ tiến hành thử nghiệm trong óc
để suy luận nhanh chóng, nhờ đó tư duy hình thức bắt đầu chớm nở
- Tư duy trực quan hình ảnh của trẻ vẫn còn bị hạn chế khi giải các bài tập bảo toàn lượng và chất do hình ảnh trực quan chi phối mạnh, lúc này trẻ chuyển sang vận dụng những hình ảnh ở mức độ cao gọi là tư duy trực quan sơ đồ
- Tư duy trực quan sơ đồ là kiểu tư duy trực quan hình tượng mới, trong
đó hình tượng đã được rút gọn bớt những chi tiết rườm rà chỉ còn giữ lại những
bộ phận chủ yếu nhất Đây là bước chuyển trung gian từ tư duy hình tượng dến
tư duy lôgic Vì thế trẻ hiểu một cách dễ dàng cách biểu diễn và sử dụng sơ đồ
để tìm hiểu sự vật Trẻ đã có thể nhận ra mối liên hệ giữa cái bộ phận và cái toàn thể, lĩnh hội tri thức ở trình độ khái quát cáo, từ đó hiểu được bản chất của sự vật và có thể khái quát, cụ thể hoá đối tượng thành mô hình trực quan Đây là một bước tiến đáng kể trong sự phát triển tư duy và cả trí tuệ của trẻ
- Trẻ 5 - 6 tuổi cũng đã xuất hiện những yếu tố của tư duy trìu tượng Trẻ
sử dụng thành thạo các vật thay thế khi đã phát triển tốt chức năng ký hiệu của ý thức, ở trẻ đã có sự chuyển biến rõ về chất trong các hành động khám phá, các hành động bắt chước rập khuôn được thay dần bằng các hành động sáng tạo với
sự huy động thực sự của khả năng trí tuệ
4 Đo lường mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
4.1 Đo lường trí tuệ
a Đo lường trí tuệ là gì:
+ Đo lường tâm lý: Là sự lượng hoá hiện trạng các yếu tố tâm lý nhờ sự trợ giúp của các phương tiện khách quan và phương pháp trợ giúp toán học Nói
Trang 18cách khác đo lường tâm lý là sử dung phương tiện khách quan nào đó để mô tả
và lượng hoá những dấu hiệu của các yếu tố tâm lý theo chuẩn đã định
+ Đo lường trí tuệ là nhằm giúp cho nhà sư phạm thông qua đo lường phát hiện ra một trình độ phát triển nào đó của trẻ tại một thời điểm noà đó, nhưng quan trọng hơn trí tuệ được xem là gì, muốn đo yếu tố nào trong trí tuệ
+ Cách hiểu đơn giản: Đo lường trí tuệ là giúp ta khám phá ra tuổi trí tuệ hay điểm số trí tuệ của cá nhân để phân loại trí tuệ theo từng mức độ được định sẵn
Ngoài việc xác định chỉ số của mỗi cá nhân, đo lường trí tuệ còn có thể khảo sát chính xác đặc điểm khác nhau của hoạt động trí tuệ như vốn kiến thức, khả năng khái quát, suy luận lôgic, dung lượng bộ nhớ, vốn từ vững
Như vậy, đo lường trí tuệ được hiểu là việc đánh giá trí tuệ theo một chuẩn đo lường được xác định và thiết lập trước một cách khoa học Thực chất của việc đo lường này là tìm hiểu năng lực trí tuệ Đo lường năng lực tí tuệ nhằm phân mức trí tuệ cuả trẻ dựa theo phân phối chuẩn trong lý thuyết xác suất thông kê
b Đo lường trí tuệ bằng trắc nghiệm
+ Trắc nghiêm (test) là gì: Theo nguyên nghĩa trắc nghiệm (test) là phép thử, phép đo Nó được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt xã hội và trong nhiều lĩnh vực khoa học Trong tâm lý học trắc nghiêm được hiểu là phép thử đã được chuẩn hoá, trở thành công cụ để nhà nghiên cứu đo lường các khía cạnh tâm lý con người Có nhiều định nghĩa tiêu biểu về trắc nghiệm như:
+ Trắc nghiệm là một thực nghiệm thử nghiệm, mang tính chất của một bài tập nhất định, bài tập này kích thích một hình thức nhất định của tính tích cực và việc thực hiện nó là một triệu chứng của sự hoàn thiện các chức năng nhất định, được đánh giá về mặt định lượng và định tính
+ Trắc nghiệm tâm lý là một công cụ đã được tiêu chuẩn hoá, dùng để đo lường khách quan một hay nhiều khía cạnh tâm lý của nhân cách hoàn chỉnh qua những mẫu trả lời bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ hoặc những dạng hành vi khác
+ Trắc nghiệm trí tuệ được hình thành dựa trên quan niệm về trắc nghiệm tâm lý
Theo J.Piaget: “trắc nghiệm tí tuệ là công cụ tiêu chuẩn để đo lường trí tuệ cao cấp Công cụ này gồm hệ thống bài tập từ dễ đến khó, sắp xếp phù hợp
Trang 19với các lứa tuổi khác nhau để tìm ra kết quả trung bình ứng với các lứa tuổi Kết quả trung bình này là trình độ trí tuệ trung bình của một người cụ thể
+ Trắc nghiệm trí tuệ theo cách hiểu phổ biến là: “tập hợp các phương pháp chẩn đoán tâm lý học dùng để xác định chỉ số trí tuệ của mỗi cá nhân Mỗi trắc nghiệm bao gồm nhiều test nhỏ (các thang độ) nhằm khảo sát các đặc điểm khác nhau của hoạt động trí tuệ”
Một trắc nghiệm tốt nào cũng phải hội đủ 3 tiêu chuẩn: Phải tin cậy, ứng nghiệm, phải được tiêu chuẩn hoá
+ Đo lường trí tuệ bằng trắc nghiệm trí tuệ
- Đo lường trí tuệ bằng trắc nghiệm trí tuệ là: Quá trình yêu cầu nghiệm thể giải quyết các bài tập trong trắc nghiệm theo những quy định chung nhất để tạo ra một kết quả trắc nghiệm Kết quả trắc nghiệm giúp chủ thể biết được mức
độ của mình khi được đánh giá thực chất của việc đo lường trí tuệ bằng trắc nghiệm là việc sử dụng 1 công cụ đo trí tuệ để đo lường xem trí tuệ cao - thấp và qua đó để xác định mức độ trí tuệ
+ Phương pháp trắc nghiệm trí tuệ hiện đang được dùng phổ biến rộng rãi trên thế giới, vì nó có nhiều điểm lợi thế, tuy nhiên không phải là vạn năng Có thể vạch ra một số ưu điểm và hạn chế của phương pháp này như sau:
* Ưu điểm: Phương pháp trắc nghiệm có ưu điểm nổi trội cả về phương diện thực tiễn và lý luận
- Về thực tiễn:
1 Đây là phương tiện hữu hiệu để nhà nghiên cứu tường minh hoá, khách quan hoá và lượng hoá khái niệm của mình về trí tuệ Nó là một mô hình để qua đó nhà nghiên cứu quan sát, phân tích được những yếu tố trong trí tuệ cá nhân
2 Do tính chất tiêu chuẩn của trắc nghiệm nên nó trở thành công cụ đo lường phổ biến, qua đó có thể so sánh, phát hiện sự khác biệt cá nhân về trí tuệ
3 Do tính chất ngắn gọn, kỷ thuật tiến hành và xử lý không phức tạp, vì thế nhanh chóng có kết quả sơ bộ về trí tuệ của số lượng lớn nghiệm thể, đặc biệt với trắc nghiệm trí tuệ nhóm
- Về lý luận: Do trắc nghiệm được soạn thảo theo một quan niệm lý luận nhất định, nên dựa vào độ ứng nghiệm và độ tin cậy của kết quả trắc nghiệm so với cái có thực của trí tuệ, có thể kiểm tra độ tin cậy của lý luận về trí tuệ cũng như tính đúng đắn của quá trình soạn thảo và chuẩn hoá trắc nghiệm
* Hạn chế:
Trang 201 Chỉ chú ý đến kết quả bài tập do nghiệm thể độc lập thực hiện mà không quan tâm đến quá trình nghiệm thể làm các bài tập đó Vì thế trắc nghiêm trí tuệ không phản ánh được bản chất và xu hướng phát triển của trí tuệ cá nhân, chỉ hướng tới một số yếu tố nhất định của trí tuệ Hạn chế này của trắc nghiệm
đã được J.Piaget;L.X.Vưgôtxky và nhiều nhà tâm lý học lớn chỉ ra Ngay từ khi còn là trợ lý cho A.Binet và SiMon, J.Piaget đã nhận thấy trắc nghiệm chỉ quan tâm tới kết quả giải bài tập của trẻ em mà không chú ý tới cách chúng thực hiện các bài tập đó Quan sát, phân tích các câu hỏi lời của trẻ J.Piaget tin rằng điều quan trọng đối với nhà nghiên cứu không phải là kết quả của lời giải Vì vậy ông cho rằng nếu chỉ sử dụng các trắc nghiệm của A.Binet và SiMon thì sẽ rất khó phản ánh được bản chất của trí tuệ trẻ em L.X.Vưgôtxky lại phân tích các trắc nghiêm của A.Binet và SiMon ở góc độ khác Ông nhận thấy những trắc nghiệm này phần lớn sử dụng phương pháp cho trẻ em độc lập giải quyết các bài tập và qua việc tăng dần độ khó của chúng để xác định mức độ trí tuệ của trẻ Nguyên tắc của các trắc nghiệm này là không có sự hợp tác giữa nghiệm thể với nghiệm viên trong khi các em giải bài tập Cơ sở của nguyên tắc này là các bài tập trẻ giải quyết được nhờ sự hợp tác của nghiệm viên thì sẽ không có ý nghĩa phản ánh trí tuệ của chúng theo L X Vưgôtxki đây là quan niệm sai Ông cho rằng trắc nghiệm như vậy mới chỉ nhằm vào phát hiện mức độ hiện thời của sự phát triển Do đó nó chỉ cho biết quá khứ và kết quả hiện tại mà không dự báo được
xu hướng phát triển của trí tuệ, tức là không chỉ ra được “vùng phát triển gần nhất” trong trí tuệ của trẻ phương pháp đo lường như vậy cần nhưng chưa đủ
2 Các nghiệm pháp của trắc nghiệm chủ yếu là hệ thống bài tập hướng tới một số yếu tố nhất định của trí tuệ, còn bỏ qua nhiều yếu tố tâm lý khác nhau Vì vậy một kết quả trắc nghiệm tốt (một chỉ số IQ cao) chưa hẳn là đã đảm bảo chắc chắn cho trẻ thành công trong những tình huống tương ứng trong thực tiễn
3 Các bài tập trắc nghiệm phần lớn nhằm vào đo lường những yếu tố tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tư duy là những yếu tố dễ thay đổi và phát triển trong quá trình hoạt động và học tập của trẻ Vì vậy, kết quả thực hiện bài tập này không thể được coi là ổn định, cố định, đại diện cho năng lực trí tuệ của trẻ em Nên việc sử dụng trắc nghiệm thiếu thận trọng dễ dẫn đến đánh tráo đối tượng nghiên cứu Trắc nghiệm được sử dụng tràn lan sẽ tạo ra hiện tượng “nhờn” đối với nghiệm thể Nếu lạm dụng trắc nghiệm đo lường, biến nó thành phương tiện huấn luyện phục vụ cho mục đích đánh giá sẽ phương hại đến sự phát triển trí tuệ và làm giảm giá trị thực của trắc nghiệm
Trang 21Các yếu tố khác như: Sự khác biệt về tầng lớp xã hội, chủng tộc, về di truyền cũng ảnh hưởng đến sự phát triển trí tuệ
Việc đo lường trí tuệ bằng trắc nghiệm trở nên phổ biến và được tán đồng nếu mục đích đo lường là nghiêm túc
Như vậy, trắc nghiệm là phương tiện tốt để nhà nghiên cứu đánh giá nhanh chóng và khái quát trình độ trí tuệ của cá nhân tại một thời điểm nhất định Nhưng để chuẩn đoán đầy đủ bản chất và sự phát triển của trí tuệ thi một mình phương pháp trắc nghiệm chưa đủ, cần thiết phải phốu hợp giữa nó với các phương pháp khác Theo Boehm (1985) việc thực hiện trắc nghiệm trong lĩnh vực giáo dục có 3 chức năng chính là:
1 Khảo sát và chuẩn đoán
2 Chọn lọc và xếp đặt vị trí
3 Đánh giá và nghiên cứu
Trắc nghiệm trí tuệ chúng tôi dùng trong đề tài này được thực hiện theo chức năng thứ 3 Vì thế đo lường trí tuệ bằng trắc nghiệm là hợp lý và có thể thực hiện được
4.2 Đo lường mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Chúng tôi chọn test Raven màu để đo lường trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, bởi đó là trắc nghiệm “phi ngôn ngữ”, nên nó thích hợp với việc nghiên cứu trẻ ở độ tuổi này
* Xuất xứ và cơ sở lý luận của test Raven
Test Raven hay trắc nghiệm “khuôn hình tiếp diễn” Raven do nhà tâm lý học Anh J.C Raven xây dựng Test Raven được công bố lần đầu tiên năm 1938, được chỉnh lý và bổ sung năm 1947, lần thứ 2 năm 1956
Trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn của Raven được xây dựng trên cơ sở:
- Thuyết tri giác hình dạng của tâm lý học Ghetstan
- Thuyết Ghetstan mới của Spearman
Các nhà tâm lý học Ghetstan nhấn mạnh vào tính chỉnh thể, thống nhất của các sự vật, hiện tượng Họ cho rằng các hình ảnh trong tri giác đều là cái Ghetstan có nghĩa đếu là một cấu trúc hoàn chỉnh Theo họ hình ảnh tri giác bao giờ cũng có xu thế có một hình ảnh trọn vẹn
Ví dụ: Nhìn một hình tam giác mất một góc vẫn tạo ra hình ảnh về một hình tam giác có 3 cạnh và 3 góc Như vậy ktâm lý học Ghetstan đã đồng nhất cấu trúc bên ngoài - cấu trúc vật lý với cấu trúc bên trong - cấu trúc tâm lý Dựa
Trang 22vào quan điểm này, Raven thấy rằng có thể đưa ra một loạt những bài tập là một chỉnh thể nhất định bao gồm các nguyên tố tạo thành chỉnh thể đó Lý thuyết này mới chỉ định hướng cho Raven xây dựng trắc nghiệm Còn cơ sở trắc nghiệm Raven chính là ở lý thuyết Ghetstan mới của Spearman Theo quan điểm của thuyết này thì quá trình tri giác một sự vật nào đó gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Tri giác khái quát toàn bộ sự vật
Giai đoạn 2: Tri giác các chi tiết cục bộ nhằm tạo ra tính chất của sự vật như tính liên tục, tính trọn vẹn, sự giống nhau và khác nhau giữa các bộ phận, chi tiết, sự thay đổi liên tiếp của các cấu trúc, sự thay đổi vị trí, sự phân giải của các cấu trúc lớn thành các cấu bộ phận
Giai đoạn 3: Tri giác tổng thể sự vật lần nữa
Như vậy ở đay nhận thức sự vật không chỉ là tri giác đơn thuần mà còn phải có sự tham gia tích cực của tư duy, chú ý…vì thực chất của tư duy lúc này
là quá trình cấu trúc lại các hình ảnh của tri giác cho đến khi giải quyết được các nhiệm vụ của tri giác J C Raven cho rằng: nếu các nguyên lý hình thành tri giác, lý trí của Spearman mà đúng thì có thể xây dựng bộ trắc nghiệm để phát triển khả năng của con người về quan sát và tư duy tức thời, thông qua liên hệ giữa các hình ảnh được tri giác với việc tư duy cấu trúc lại các hình ảnh đó cho phù hợp với cấu trúc tổng thể của sự vật Tuy nhiên ông cũng cho rằng trí tuệ của cá nhân không thể chỉ dựa vào khả năng tri giác mà còn có nhiều yếu tố khác chi phối
* Nội dung về quá trình xây dựng Test Raven
Test “ khuôn hình tiếp diễn” có 5 loại bài A, B, C, D và E đưa ra những khuôn hình phi ngôn ngữ để cá nhân quan sát, tìm ra mối quan hệ giữa chúng, nhận biết bản chất của hìmh bổ sung và từ đó làm phát triển suy luận theo hệ thống
Thang đo gồm 60 bài tập chia làm 5 loại (mỗi loại gồm 12 bài)
Loại A: Được xây dựng theo nguyên tắc trọn vẹn và toàn bộ Các chi tiết trong cấu trúc ấy được sắp xếp một cách liên tục, gắn liền với nhau trong một chỉnh thể Nên việc giải quyết các bài tập loại A là tìm được mối liên hệ trong chỉnh thể này Do vậy với loại này đòi hỏi ở nghiệm thể khả năng tri giác toàn
bộ sự vật Loại A có khả năng đo được tri giác khái quát của nghiệm thể
Trang 23Loại B: Được xây dựng theo nguyên tắc giống nhau của các cặp hình Loại này có thể giúp chúng ta đo được khả năng phân tích trong tư duy để tìm mối quan hệ giống và tương đồng của các sự vật, hiện tượng
Loại C: Được xây dựng theo nguyên tắc tính tiếp diễn - lôgic của sự biến đổi các cấu trúc Bài tập của loại C chứa đựng những thay đổi của các hình phù hợp với nguyên tắc phát triển Loại C có thể đo đạc được khả năng khái quát hoá, trừu tượng hoá để suy diễn ra một lôgic, đó là sự tư duy theo kiểu toán học
Loại D: Xây dựng trên sự thay đổi vị trí lôgic của các hình
Loại E: Dựa trên cơ sở phân tích cấu trúc của các bộ phận Đây là loại bài phức tạp nhất Muốn giải được nó đòi hỏi sự nỗ lực cao của hoạt động tư duy phân tích, tổng hợp
Để xây dựng được bộ test này, Raven đã mất nhiều công sức nghiên cứu, trải qua một quá trình thực nghiệm, xem xét chỉnh lý dần dần mới được hoàn thiện Test Raven được xây dựng từ năm 1936 nhưng tới năm 1960 mới được hoàn thiện như ngày nay
Test Raven là một loại test dùng để đo trí tuệ cho mọi độ tuổi Vì nó có ưu điểm là có tính khách quan và có khả năng loại trừ cao những khác biệt về đặc điểm văn hoá, xã hội, dân tộc của đối tượng nghiên cứu Nó vừa là loại trắc nghiệm cá nhân vừa là loại trắc nghiệm nhóm nên có thể tiến hành nghiên cứu nhiều đối tượng trong cùng một lúc Nhưng nó hạn chế là chỉ cho biết kết quả cuối cùng mà không biết được quá trình dẫn đến kết quả đó Do vậy sử dụng phương pháp trắc nghiệm cần phải kết hợp với các phương pháp khác mới thu được kết quả tốt Đối với lứa tuổi trẻ nhỏ và người già thì dùng bộ trắc nghiệm Raven khuôn hình tiếp diễn màu là thích hợp hơn cho độ tuổi đó Trắc nghiệm Raven màu
* Trắc nghiệm raven màu
Tập khuôn hình tiếp diễn Matrix 1947 gồm các bộ phận A, AB và B đã được xây dựng cho trẻ 3 đến 10 tuổi Mỗi bộ có 12 bài Mỗi bài đều in trên các nền màu tươi để thu hút và duy trì sự chú ý của trẻ nhỏ Hình của màu làm nổi rõ tính chất của bài phải giải nhưng không gợi ý cách giải Đối với trẻ nhỏ các bộ
A, AB và B của test Raven màu dùng để nghiên cứu trí tuệ của trẻ là thích hợp hơn Vì trẻ nhỏ 3 đến 6 tuổi thường kém tập trung và hiệu suất hoạt động còn rất thất thường nên không có test trí tuệ nào có thể dự báo chính xác về mức độ phát triển trí tuệ về sau này Tuy nhiên dùng test Raven màu dưới dạng tập hình hoặc dưới dạng khuôn thủng để khảo sát trẻ dưới 6 tuổi vẫn có giá trị về mặt tâm lý
Trang 24Test này đánh giá được khả năng trí tuệ của trẻ không phụ thuộc vào kiến thức
và trình độ học tập của trẻ Trong giai đoạn mà khả năng so sanh và suy luận theo kiểu loại suy của đối tượng chưa phát triển máy hoặc chưa đạt độ chín muồi hoặc bị suy giảm Test này cho thấy rõ đối tượng có hay không có khả năng so sánh và suy luận theo kiểu loại suy, nếu không thì so với mọi người khác, đối tượng có khả năng cấu trúc các tri giác về không gian thành một tập hợp sắp xếp
có hệ thống đến mức nào Vì thế chúng tôi chọn test Raven màu để nghiên cứu trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Muốn sử dụng test để đo lường trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi đạt hiệu quả cao cần chú ý đến một số yêu cầu sau:
- Việc thực hiện trắc nghiệm trí tuệ phải tiến hành sao cho nhẹ nhàng, không gây căng thẳng hoặc áp lực tâm lý cho trẻ
- Trắc nghiệm với mục đích là nghiên cứu thực trạng tiềm năng trí tuệ của trẻ nên không cần giáo viên hay phụ huynh chuẩn bị kỹ trước về nội dung, đáp
án, tránh làm cho giáo viên hiểu lầm nếu kết quả trắc nghiệm của lớp mình kém thì mình sẽ bị đánh giá là hiệu quả công tác giáo dục thấp
- Chọn thời gian trắc nghiệm phù hợp với giờ giấc, sinh hoạt của trẻ trong ngày không được xáo trộn chế độ sinh hoạt của trẻ 5 - 6 tuổi tại trường mầm non
- Phải nắm chắc kỹ thuật làm trắc nghiệm cho đối tượng trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi Khi hướng dẫn trẻ làm bài trắc nghiệm ngôn ngữ của nghiệm viên phải ngắn gon, rõ ràng, dễ hiểu, có trọng tâm, biết cách hướng dẫn trẻ làm một cách hứng thú
- Tiếp theo nghiệm viên cần chú ý tới một số đặc điểm tâm lý của lứa tuổi mẫu giáo 5 - 6 tuổi khi thực hiện bài trắc nghiệm trí tuệ, dễ bị phụ thuộc vào người khác, hay vội vàng hấp tấp…
Tóm lại: Sau khi xác định rõ việc nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là nắm được chỉ số thông minh (IQ) của trẻ dựa trên công
cụ đo lường khoa học băng trắc nghiệm, chúng tôi chọn trắc nghiêm Raven màu
là thích hợp với độ tuổi Với công cụ đo này thực hiện đối với trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi theo đúng yêu cầu, nghiêm túc thì sẽ thu được kết quả khách quan đáng tin cậy Từ đó, nhà nghiên cứu có cơ sở tham khảo góp phần định hướng đề xuất các biện pháp tác động giáo dục phù hợp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả phát triển trí tuệ cho trẻ mẫu giáo, chuẩn bị để trẻ học tốt ở phổ thông
Trang 25Kết luận: Nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi hiện nay là rất cần thiết và có thể thực hiện được Mức độ trí tuệ của cá nhân là các mức độ trí tuệ cụ thể được phân loại dựa trên kết quả đo lường trí tuệ khi chiếu theo một thang đo chuẩn
- Sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo được nhìn nhận ở sự phát triển khả năng nhận thức giải quyết nhiệm vụ nhận thức giải quyết vấn đề đặt ra cho độ tuổi một cách đúng đắn Mức độ trí tuệ của trẻ là kết quả phân mức chỉ số IQ dựa trên thang điểm chuẩn dành cho lứa tuổi thông qua việc đo lường trí tuệ trên một nhóm nghiệm thể tương đối chuẩn
Đo lường trí tuệ bằng trắc nghiệm là việc làm khoa học, kết quả đo lường mức độ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi là cơ sở tham khảo để góp phần định hướng
đề xuất biện pháp tác động giáo dục phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển trí tuệ của trẻ, góp phần chuẩn bị cho trẻ học tốt ở phổ thông
5 Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo
Theo các nhà tâm lý học, sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố đó là: yếu tố sinh học, môi trường, giáo dục và hoạt động cá nhân Quan hệ của các yếu tố tới sự phát triển trí tuệ của trẻ là không như nhau Đây là vấn đề được tranh cãi nhiều trong các trường phái tâm lý học khác nhau Nhưng quan điểm tâm lý học Macxit cho rằng: yếu tố sinh học không quyết định hoàn toàn tới sự phát triển trí tuệ mà nó được khúc xạ và phát động bởi hoạt động của cá nhân Còn yếu tố môi trường văn hoá - xã hội là nguồn gốc, là nội dung của trí tuệ Môi trường văn hoá - xã hội vừa quy định nội dung, phương thức phát triển trí tuệ, vừa là sản phẩm của nó Nhưng không phải mọi cái trong môi trường đều ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ mà chỉ khi diễn ra quan hệ sinh thành lẫn nhau giữa nó với hoạt động của chủ thể thì mới thực sự trở thành nguồn gốc của sự phát triển Yếu tố giáo dục đóng vai trò chủ đạo đối với sự phát triển trí tuệ nhưng vẫn phụ tuộc vào hoạt động và tính chủ thể đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ Sau đây
sẽ lần lượt xem xét kỹ vai trò của các yếu tố điều kiện sinh học, môi trường văn hoá - xã hội, giáo dục, hoạt động đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ
5.1 Điều kiện sinh học:
Điều kiện sinh học bao gồm những đặc điểm bên ngoài cũng như bên trong cơ thể con người, đặc biệt là các điều kiện về tư chất bẩm sinh, di truyền ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển trí tuệ của trẻ “các ghen cung cấp tiềm năng cho trí tuệ” Nó quy định giới hạn tối đa chiều hướng và tốc độ phát triển
Trang 26thao tác trí tuệ Mỗi trẻ mẫu giáo đều có những điều kiện, khuynh hướng phát triển riêng, có thế mạnh riêng về điều kiện sinh học, nhờ đó giúp trẻ phát triển trí tuệ của mình một cách tích cực thông qua sự trải nghiệm và hoạt động của bản thân Nếu không có não người và hệ thống thần kinh thì không có trí tuệ của con người Vì thế Phan Trọng Ngọ cho rằng: Chính cơ sở sinh lý thần kinh, trung khu não là yếu tố có trước, là tiền đề cơ bản của trí tuệ
Nếu đứa trẻ có thể chất phát triển bình thường thì đó là điều kiện rất cần thiết để trí tuệ trẻ phát triển một cách tự nhiên Ngược lại nếu sự phát triển thể chất của trẻ không bình thường đều ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển trí tuệ của trẻ
Chính B G Ananhiev đã khẳng định là nhờ vào các đặc điểm về thể chất
và sự phát triển hoàn thiện dần của hệ thần kinh thì trí tuệ của trẻ em mới có thể phát triển Nhà tâm lý học J Piaget cũng chỉ rõ sự chín muồi các phức hợp thần kinh đã có thành những khả năng mới, tạo điều kiện cần thiết cho sự xuất hiện một số hành vi nào đó Thực tế cho thấy hiện tượng có trẻ mẫu giáo bị béo phì hay bị suy dinh dưỡng quá mức có thể làm hạn chế tới sự phát triển trí tuệ Vì những trẻ này thường sẽ khó khăn hơn trong hoạt động và giao tiếp nên cơ hội
để bộc lộ khả năng trí tuệ bị hạn chế Thậm chí có trẻ bị chậm phát triển trí tuệ
Rõ ràng các điều kiện sinh học và sự phát triển thể chất bình thường là điều kiện
cơ bản và cần thiết cho sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo Tuy nhiên thể chất
và điều kiện sinh học còn được nhìn nhận trong mối liên hệ với các đặc điểm bên trong N A Menchinxcaia cho rằng: “Sự phát triển trí tuệ được quy định không những phụ thuộc yếu tố bên ngoài mà còn từ bên trong Tức là nó còn phụ thuộc vào trình độ phát triển đã đạt được, tuỳ thuộc vào những đặc điểm của lứa tuổi và đặc điểm tâm lý cá nhân” Yếu tố bên trong là yếu tố tâm lý đã có như trình độ nhận thức hiện có, hứng thú, động cơ và những đặc điểm nhân cách khác trong sự phát triển trí tuệ của trẻ
5.2 Môi trường:
Môi trường nơi trẻ sống và hoạt động có ảnh hưởng rất quan trọng tới sự phát triển trí tuệ của trẻ Môi trường xung quanh hàng ngày mà trẻ tiếp xúc la ngọn nguồn vô tận cung cấp vốn hiểu biết ban đầu cho trẻ về thế giới xung quanh Thế giới xung quanh đối với trẻ mẫu giáo đó là thiên nhiên, sự vật, con người và các hiện tượng trong xã hội Khi hoà nhập với môi trường xung quanh cùng với sự hỗ trợ cần thiết của người lớn thì khả năng quan sát, tính tò mò, óc khám phá, khả năng phán đoán, suy luận của trẻ được phát triển mạnh
Trang 27- Môi trường sống ở trường mầm non là nơi mà trẻ sẽ được hoà nhập, trải nghiệm, lĩnh hội Trong môi trường này trẻ được tham gia vào nhiều hoạt động một cách thích thú, tự do theo ý mình để phát triển nhận thức, trí tuệ Như vậy, chính môi trường mầm non đã tạo mục đích, điều kiện, phương tiện, động cơ thúc đẩy trẻ hoạt động nhận thức một cách tích cực, tự lập, nhờ đó hứng thú nhận thức được hình thành ngày một bền vững Người lớn đã tận dụng mọi cơ hội trong môi trường này để phát triển khả năng trí tuệ, các hành động trí tuệ của trẻ một cách có chủ định
- Môi trường xung quanh ở tại gia đình hàng ngày trẻ được tiếp xúc có giá trị hết sức quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ Môi trường gia đình tạo cho trẻ cảm giác an toàn, thoải mái, tích cực hoạt động khám phá thế giới xung quanh: Với đồ vật, con vật và nhiều vật dụng khác nhờ đó hứng thú nhận thức, óc tò mò, tính độc lập, sáng tạo của trẻ được phát triển Ngoài ra, ảnh hưởng của nếp sống văn hoá gia đình cũng làm cho khả năng trí tuệ của trẻ được hình thành, phát triển rất có hiệu quả
- Môi trường thiên nhiên, xã hội mà trẻ được tiếp xúc tìm hiểu càng tích cực sẽ là nguồn cung cấp vô tận vốn hiểu biết cho trẻ và đó cũng chính là điều kiện để trẻ nuôi dưỡng và phát triển những phẩm chất trí tuệ của mình A P Uxôva cho rằng: “Hoạt động của trẻ càng nhiều hình, nhiều vẻ thì con đường nhận thức thế giới xung quanh và con đường phát triển những khả năng của trẻ càng phong phú”
5.3 Giáo dục
Giáo dục được hiểu là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của người lớn đối với trẻ Trẻ mẫu giáo nhận sự tác động có chủ đích của người lớn mà nổi bật nhất là tác động của giáo viên và cha mẹ
Trẻ em không đứng một mình đối diện với thế giới xung quanh, quan hệ của nó với thế giới xung quanh bao giừo cũng phải thông qua người lớn Người lớn là người mang trong mình kinh nghiệm xã hội - lịch sử mà trẻ phải lĩnh hội… Chỉ nhờ sự hướng dẫn của người lớn trẻ em mới tiếp thu được kho tàng quý báu đó một cách có hiệu quả
Ở trường mầm non, giáo viên tác động đến trẻ bằng cách thức, biện pháp giáo dục mang tính mô phạm có một ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ Thông qua việc tổ chức tốt chế độ sinh hoạt cô đáp ứng thoả mãn các nhu cầu cơ bản của trẻ trong đó có nhu cầu nhận thức Hàng ngày, cô khơi gợi, kích thích nhu cầu nhận thức của trẻ, tạo điều kiện để trẻ tự lực tìm cách giải
Trang 28đáp, nhờ đó khả năng trí tuệ của trẻ được bộc lộ và phát triển Kiến thức cô mang đến cho trẻ được tổ chức hình thức hấp dẫn phù hợp với lứa tuổi đó là bằng các trò chơi, các tình huống chứ không phải vội vàng “nhồi nhét” những biểu tượng sẵn có Theo như ý kiến của V F.Ađôepxki vấn đề không phải là chúng ta cố gắng dạy cho trẻ những kiến thức bằng cách này hay cách khác mà chúng ta phải làm cho năng lực trí tuệ mà trẻ tích luỹ được hoạt động Nghĩa là giáo dục mẫu giáo không phải là truyền thụ kiến thức mà là làm hoàn thiện bộ máy lĩnh hội kiến thức V F.Ađôepxki đã nói: “không phải là truyền thụ kiến thức cho trẻ nhỏ, mà chúng ta phải làm sao cho trẻ tự mình có thể có khả năng tìm đến kiến thức”
Việc dạy trẻ mẫu giáo để cho trẻ phát triển trí tuệ đòi hỏi cô giáo phải biết lựa chọn các phương pháp giáo dục phù hợp Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo nên việc tổ chức tốt hoạt động này sẽ ảnh hưởng lớn tới sự phát triển trí tuệ của trẻ, làm cho trí tuệ của trẻ thực sự biến đổi về chất Bên cạnh đó trẻ còn được làm quen với hoạt động học tập do co giáo tổ chức nên góp phần khá lớn đối với sự phát triển trí tuệ cảu trẻ Quan hệ giữa dạy học với sự phát triển được hiểu theo tư tưởng của L X Vưgôtxki coi dạy học đi trước sự phát triển và kéo theo sự phát triển L X Vưgôtxki chỉ rõ trước khi đến trường, trí tuệ trẻ em đã được phát triển nên dạy học không phải là sự phát triển Dạy học
có thể kìm hãm hoặc thúc đẩy sự phát triển Nếu dạy học đi sau sự phát triển thì
sẽ kìm hãm nó và ngược lạ Do vậy, dạy học theo đúng chức năng của nó phải đi trước và kéo theo sự phát triển Ông còn vạch ra là cần phải phân biệt hai trình
độ trong quá trình phát triển của trẻ: trình độ phát triển hiện thời và khả năng phát triển gần nhất hay “vùng phát triển gần nhất” Giáo dục - dạy học phải hướng vào “vùng phát triển gần nhất” để hướng dẫn sự phát triển trí tuệ cho trẻ, nên nó giữu vai trò chủ đạo đối với sự phát triển
Quan hệ của cô với trẻ trong quá trình giáo dục cũng là yếu tố quan trọng góp phần phát triển trí tuệ của trẻ Nếu cô giáo quan hệ với trẻ theo kiểu áp đặt hay quá khuôn phép thì hạn chế tính độc lập, nhu cầu, hứng thú nhận thức của trẻ Nhưng nếu trong khi chơi, khi cô vừa là cô, vừa là bạn cảu trẻ, cùng chia sẻ, khéo léo khuyến khích, giúp đỡ trẻ khi cần thiết sẽ làm cho trí tuệ trẻ phát triển Trẻ rất cần sự chỉ bảo giúp đỡ của người lớn nhưng không làm mất đi hứng thú nhận thức của trẻ khi hướng dẫn Chính quan hệ gần gũi, thân mật giữa cô với trẻ khi cùng chơi, cùng làm sẽ tạo điều kiện cho tiềm năng trí tuệ của trẻ được bộc lộ và phát triển, đồng thời tạo cho trẻ tâm trạng thoải mái, tự tin, nhờ đó tính
Trang 29Gia đình là trường học đầu tiên của trẻ Tác động của người lớn trong gia đình đến trẻ nhất là tác động của cha mẹ có vai trò đặc biệt quan trọng Trẻ sống trong một gia đình êm ấm, thuận hoà được hưởng bầu không khí tâm lý gia đình tốt, sẽ giúp cho trí tuệ của trẻ phát triển thuận lợi Cách thức dạy dỗ của cha mẹ
đã để lại dấu ấn sâu sắc trong tâm hồn, trí tuệ của trẻ Nếu cha mẹ nuôi dạy con cái một cách độc đoán, quá nghiêm khắc: Đặt ra nhiều nguyên tắc, luôn bắt ép trẻ phải thực hiện mà không giải thích để trẻ hiểu thì dễ gây ra cho trẻ sự khó chịu, nổi cáu trẻ thường sợ hãi, không thân thiện với mọi người, như thế sẽ kìm hãm sự phát triển trí tuệ của trẻ Ngược lại nếu cha mẹ quá nuông chiều con, ít đưa ra đòi hỏi đối với trẻ, không giám sát chặt chẽ chúng thì dễ nảy sinh ở trẻ tính ngạo mạn, hay bốc đồng, dễ nổi loạn sẽ ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển trí tuệ của trẻ Cách nuôi dạy trẻ hợp lý nhất tạo điều kiện tốt cho sự phát triển trí tuệ của trẻ là bằng mệnh lệnh có giải thích, nhưng không cứng nhắc mà
có thể có độ mềm dẻo nhất định Đây là kiểu tác động của cha mẹ dựa trên tình yêu thương có giải thích nên tạo cho trẻ sự thoải mái, tự tin, dễ dàng hoà nhập, hợp tác với mọi người Hơn nữa trẻ được cha mẹ dễ dàng đáp ứng những nhu cầu chính đáng đặc biệt là nhu cầu nhận thức thông qua các quổi dạo chơi, tham quan, lễ hội nên trí tuệ của trẻ có cơ hội bộc lộ phát triển Trẻ còn được cha mẹ quan tâm dành nhiều thời gian trò chuyện, chơi cùng, đặt ra những câu hỏi, khuyến khích trẻ tự tìm tòi,suy nghĩ để đưa ra được lời giải riêng, nhờ đó kích thích hứng thú nhận thức, óc tò mò, nhu cầu ham hiểu biết và khả năng tư duy, tưởng tượng của trẻ được phát triển Chính nhờ có cách nuôi dạy hợp lý của cha mẹ: Tác động tới trẻ bằng tình yêu thương có giải thích và sự đầu tư chính đáng hợp lý với lứa tuổi mẫu giáo, tạo quan hệ thân thiện, thoải mái mà giúp cho các phẩm chất trí tuệ của trẻ được hình thành, phát triển Như vậy, giáo dục có sự ảnh hưởng lớn lao đến sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo mà nổi rõ ở cách thức tổ chức hoạt động cho trẻ của giáo viên
5.4 Hoạt động
Hoạt động có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển tâm lý - trí tuệ của mỗi cá nhân Nếu không có hoạt động của chính trẻ thì không có gì hết, không có sự lĩnh hội, cũng không có sự phát triển Vì thế, nếu trẻ thực hiện các hoạt động của lứa tuổi một cách tích cực sẽ làm cho các thành phần tâm lý trí tuệ của trẻ phát triển mạnh A V Daparogiet đã khẳng định rằng các quá trình tâm
lý diễn ra trong hoạt động của con người và là những thành phần tất yếu của hạot động đó
Trang 30- Những biến đổi chủ yếu nhất trong sự phát triển trí tuệ của trẻ là do hoạt động chủ đạo của lứa tuổi quy định mà ở trẻ mẫu giáo là hoạt động vui chơi Hoạt động vui chơi hình thành tính chủ định của các quá trình tâm lý Khi chơicác quá trình nhận thức của trẻ phát triển mạnh, đặc biệt khả năng quan sát, tái hiện cùng với khả năng khám phá, mô tả thế giới xung quanh bằng hình ảnh, ngôn ngữ Vui chơi thúc đẩy sự phát triển tư duy của trẻ, chuyển hình thức tư duy bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong theo cơ chế chuyển vào trong, làm phát triển mạnh tư duy trực quan hình ảnh, tư duy trực quan sơ đồ và các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp so sánh, khái quát hoá, trìu tựng hoá… Trong khi chơi trẻ thực hiện hành động chơi phù hợp với vai trò, tìm cách giải quyết các tình huống chơi nên các hành động trí tuệ sẽ được hình thành, phát triển Tưởng tượng của trẻ phát triển mạnh trong vui chơi đó là bước chuyển từ tưởng tượng tái tạo sang tưởng tượng sáng tạo Trong các trò chơi mà trẻ tham gia thì trò chơi học tập có tác động mạnh mẽ nhất tới sự phát triển trí tuệ của trẻ Điều này được A P Uxôva khẳng định trò chơi học tập được sử dụng thành một hệ thống sẽ phát triển một cách toàn diện quá trình nhận thức, các thao tác trí tuệ và các hành động trí tuệ từ đó hình thành một loạt các phẩm chất trí tuệ như sự nhanh trí, linh hoạt, óc quan sát
5.5 Giao tiếp trong nhóm bạn cùng tuổi
Đối với trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi giao tiếp có vai trò quan trọng giúp trẻ phát triển trí tuệ Nhờ có giao tiếp trong nhóm bạn cùng tuổi trẻ sẽ nhận thức được mình và người khác, biết đánh giá bản thân, đánh giá về người khác Không những thế, trẻ còn biết dựa vào người khác để nhận ra mình, nhờ đó hình thành ý thức bản ngã Chính sự hoà nhập vào nhóm bạn, trẻ sẽ biết hoạt động cùng với mọi người xung quanh đặc biệt cùng với các thành viên trong “xã hội trẻ em” để bộc lộ khả năng tiềm ẩn của bản thân, phát huy các phẩm chất trí tuệ của cá nhân Chơi trong nhóm bạn, trẻ học ở nhau rất nhiều điều, kinh nghiệm sống của trẻ được nhân lên nhanh chóng
Trong giao tiếp với nhóm bạn, vị thế của trẻ được xác lập Vị thế của trẻ trong nhóm bạn có ảnh hưởng nhất định đến khả năng nhận thức, khả năng hoạt động cũng như tính tích cực, chủ động, độc lập và sáng tạo Mối liên hệ giữa vị thế của trẻ với kết quả hoạt động nhận thức thường diễn ra theo chu trình thành tích - vị thế - thành tích Như vậy giữa vị thế của trẻ trong nhóm bạn thường có mối liên hệ thuận ít nhiều với kết quả hoạt động nhận thức, trí tuệ Ngay cả tính chủ động giao tiếp trong nhóm bạn của trẻ mẫu giáo cũng có ảnh hưởng nhất
Trang 31định đối với sự phát triển trí tuệ Nhóm trẻ có trí tuệ thấp thường bị động và gặp nhiều khó khăn trong quá trình giao tiếp của mình
Chương II: THỰC TRẠNG MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ CỦA TRẺ
MẪU GIÁO
I Cách tiến hành nghiên cứu
1 Tiến hành khảo sát thực trạng mức độ phát triển trí tuệ của trẻ lớp mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi ở 3 trường địa bàn thành phố Vinh (trường mầm non Bình Minh, trường mầm non Quang Trung II và trường mầm non Trường Thi)
- Đo nghiệm, phân loại mức độ phát triển trí tuệ của trẻ , tìm hiểu một vài biểu hiện của trí tuệ
- Phân tích mức độ trí tuệ của trẻ trên các phương diện so sánh
2 Xây dựng chân dung tâm lý điển hình thông qua hồ sơ tâm lý của trẻ
3 Tìm hiểu một số nguyên nguyên nhân của thực trạng trên
II Các phương pháp nghiên cứu
Để thu được số liệu khảo sát thực trạng nhằm đánh giá được mức độ phát triển trí tụê của trẻ 5 - 6 tuổi và môt số nguyên nhân của thực trạng đó chúng tôi
sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu trong đó phương pháp trắc nghiệm được xem là phương pháp chủ đạo, còn các phương pháp khác là phương pháp bổ trợ
1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc và hệ thống hoá các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, liên quan tới trí tuệ và sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo để làm cơ sở lý luận giải quyết nhiệm vụ thực tiễn của đề tài
+ Test Raven màu
- Nội dung: Test này là một trắc nghiệm phi ngôn ngữ được dùng để đo các năng lực tu duy trên bình diện rộng nhất bằng cách điền vào chổ trống một
Trang 32khuôn hình phù hợp Toàn bộ trắc nghiệm gồm 36 bài tập, chia thành 3 loạt A,
AB, B Mỗi loạt có 12 bài tập được xếp theo thứ tự từ 1 đến 12 và sắp xếp theo
độ khó tăng dần … Mỗi bài bao gồm 1 khung hình và 6 hình con Trẻ tìm ở những hình phía dưới để lắp vào khung hình sao cho phù hợp nhất
- Cách thực hiện: Để thu được số liệu nghiên cứu chính xác, chúng tôi tiến hành với từng cá nhân trẻ: Mỗi phòng làm test bố trí 1 bàn Mỗi bàn có 2 ghế, một ghế để trẻ ngồi và một ghế để trắc nghiệm viên ngồi bên cạnh phía bên tay trái của trẻ Mỗi trẻ được cầm 1 tờ phiếu có in sẵn 1 số mục tìm hiểu về cá nhân trẻ Phần thông tin về trẻ do cô giáo phụ trách lớp ghi hoặc trắc nghiêm ghi trước lúc là trắc nghiệm viên hướng dẫn kỹ cho trẻ làm bài tập đầu tiên là A1 của
bộ A để trẻ biết cách làm lần lượt các bài sau:
Trắc nghiệm viên mở trang A1 và nói: Cháu hãy nhìn kỹ hình này (chỉ vào hình phía trên) hình vẽ này bị cắt đi mất 1 miếng, cháu tìm xem trong 6 miếng sau lắp vào hình vẽ cho đúng? Nếu lắp miếng 1 vào vừa nhưng không đúng với hình vẽ Miếng số 6 cũng vừa nhưng chỗ này lại bị sai (chỉ vào phần để trăng trên miếng đó), chỉ có một miếng hoàn toàn đúng? Nếu trẻ chỉ sai trắc nghiệm viên tiếp tục giải thích cho đến khi trẻ hiểu được thực chất của bài tập trẻ cần giải
- Trắc nghiệm viên lật sang bài A2 và nói “nào, con chỉ xem miếng nào đã cắt từ hình trên này ra?” Nếu trẻ không trả lời được trắc nghiệm viên lại dùng bài A1 để giải thích, sau đó lại cho làm bài A2 Nếu làm tốt cho qua bài A3 và cứ tuần tự như vậy
- Đến bài A4 khi trẻ chưa kịp chỉ vào miếng nào thì trắc nghiệm viên có thể bảo “con hãy nhìn kỹ hình vẽ (trắc nghiệm viên đưa ngón tay lên hình) chỉ
có một miếng là đúng thôi Con phải nhìn cho kỹ từng miếng (lần lượt chỉ 6 miếng rời) con hãy chỉ xem miếng nào lắp đúng vào đây” (chỉ khoảng trống) Khi trẻ đã chỉ vào miếng rời, dù đúng hay không trắc nghiệm viên nói “miếng ấy
có lắp đúng vào đây không (chỉ khoảng trống) Nếu trẻ trả lời có thì trắc nghiệm viên chấp nhận (dù đúng hay sai) Nếu trẻ thay đổi thì trắc nghiệm nói: “vậy thì miếng nào mới đúng” Trẻ lại tìm, chọn dù đúng hay sai trắc nghiệm viên cũng
sẽ nói: “miếng này lắp đúng à” nếu trẻ nối đúng thì chấp nhận Nếu trẻ vẫn còn
do dự, trắc nghiệm viên nói: “thế thì miếng nào mới đung” và ghi số của miếng
mà trẻ đã quyết định chọn sau cùng
- Trắc nghiệm viên giả thích tiếp đến bài 5 theo như trên Nếu trẻ làm được các bài này một cách dễ dàng, trắc nghiệm viên lật qua bài A và nói: “con
Trang 33đã biết cách làm rồi đấy Con lấy tay chỉ vào miếng cần chọn, để lắp bổ sung vào hình vẽ lớn Bây giờ con tiếp tục làm, cứ bình tĩnh, không vội vàng, nhưng cần nhớ mỗi bài chỉ có 1 miếng ghép đúng Con phải chọn kỹ rồi mới cjo cô xem là miếng nào nhé”
- Trên phiếu đáp án chúng tôi ghi số của miếng đã chọn đối diện với số của bài và chú ý quan sát xem trẻ có lật đúng từng tờ một không Ghi tổng cộng
số phút trẻ làm mỗi bộ A, AB và B
- Khi trẻ làm đến những bài đầu của bộ AB hay B, trắc nghiệm viên lấy tay lần lượt chỉ vào hình vẽ phía trên và khoảng trống rồi nói: “cháu thấy các hình này chứ? Hình này, hình này…và chỗ này, lắp hình nào vào đâycho đúng” chấu chỉ xem hình nào lắp vào đây thì đúng, chú ý nhé! Cháu hãy nhìn lần lượt từng miếng, chỉ có 1 miếng là hoàn toàn đúng, miếng nào vậy?
- Khi trẻ làm các bài từ 1 đến 5 trong tập AB, nếu trẻ chỉ vào một miếng
dù đúng hay sai, trắc nghiệm viên sẽ nói: “miếng này lắp vào đúng à?” (chỉ vào khoảng trống trên hình vẽ lớn) Tương tự như trên nếu trẻ nói “phải” trắc nghiệm viên sẽ chấp nhận Nếu trẻ thay đổi ý kiến trắc nghiệm viên hỏi lại và chấp nhận miếng chọn sau cùng Từ bài 6 trở đi, sẽ không hỏi đúng sai nữa và trắc nghiệm viên chỉ nói: “cháu nhìn hình vẽ cho kỹ (chỉ các hình vào khoảng trông) Nhìn kỹ đấy chỉ có 1 miếng là đúng thôi (chỉ lần lượt các miếng) Đó là miếng nào?”
Tập B hướng dẫn tương tư như bộ AB Chúng tôi làm cho trẻ chú ý đến hình dạng chỗ cần bổ sung Nói cho trẻ rõ trong các miếng ở phần dưới chỉ có 1 miếng là lắp đúng, phải nhìn kỹ từng miếng, chọn cho thật chắc chắn đúng rồi pmới chỉ cho trắc nghiệm viên xem
- Thứ tự các bài trong thang đo này đã bố trí để tạo cho trẻ quen dần với cách làm, do đó chúng tôi cho trẻ làm bài theo thứ tự, làm liên tục từ đầu bộ A đến cuối bộ B Chung tôi không mách nước cách làm và cũng không nói là trẻ
đã chọn đúng hay sai Chúng tôi không hướng dẫn quá nhiều vì dễ gây nhàm chán nếu đã thấy trẻ hiểu phải làm gì và tỏ ra biết chú ý thì chúng tôi nói ngắn gọn
Trẻ làm xong thu toàn bộ phiếu lại để xử lý và đánh giá kết quả
+ Xử lý và đánh giá: Bài test được chấm điểm theo khoá điểm của test Raven và được đánh giá theo thang điểm chuẩn Mỗi bài tập đúng một điẩm Điểm thô tối đa của bài test là 36 điểm
3 Phương pháp quan sát:
Trang 34Được xem như là một phương pháp bổ trợ cho việc nghiên cứu đề tài một cách khách quan hơn Qua quan sát khi trẻ làm test, khi tham gia các hoạt động chú ý các biểu hiện có liên quan tới khả năng nhận thức để thu thập thêm thông tin về sự phát triển trí tuệ của trẻ và những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển đó
- Nội dung quan sát: Quan sát trẻ 5 - 6 tuổi khi làm test, trong hoạt động vui chơi, “tiết học” các biểu hiện về hành động tri giác, hành động tư duy, sự vận dụng các thao tác tư duy để giải quyết bài tập, nhiệm vụ đặt ra Quan sát tính độc lập, thái độ của trẻ khi thực hiện bài tập, nhiệm vụ
+ Quan sát cô giáo mầm non về cách thức tổ chức các hoạt động cho trẻ, thủ thuật kích thích trẻ khám phá, hoạt động Quan sát thái độ, cách ứng xử của
cô trước nhu cầu tìm tòi, khám phá của trẻ, quan hệ của cô với trẻ trong khi chơi
- Yêu cầu thực hiện:
+ Quan sát trẻ khi thực hiện các bài tập làm test
+ Quan sát một số buổi hoạt động vui chơi ở lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi và một số tiết học ở 2 môn tìm hiểu môi trường xung quanh, và hình thành các biểu tượng toán có sổ ghi chép
4 Phương pháp trò chuyện và phỏng vấn sâu
+ Mục đích: Phương pháp này nhằm biết rõ thêm về quá trình tiến hành giải bài tập khi làm test, và cách thức, thủ thuật giải, sự vận dụng các thao tác trí tuệ của trẻ Đồng thời chúng tôi muốn hiểu sâu hơn về hoàn cảnh gia đình, tiểu
sử cá nhân của một số trẻ điển hình về sự phát triển trí tuệ
+ Đối tượng: Đàm thoại với trẻ, với cô, với phụ huynh để hiểu kỹ hơn về
sự phát triển trí tuệ của trẻ
+ Nội dung: Tiến hành trao đổi, trò chuyện với giáo viên, với cha mẹ trẻ
để nắm thêm tình hình về khả năng nhận thức hiểu biết của trẻ, về điều kiện gia đình, nhà trường đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ
+ Yêu cầu thực hiện: Tập trung chủ yếu tìm hiểu những trẻ có các biểu hiện đặc biệt khi làm test như làm rất nhanh, rất chậm, đúng nhiều hay ít
5 Phương pháp điều tra viết (Ankét)
Mục đích: Nhằm tìm hiểu sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường về việc phát triển trí tuệ của trẻ, thực trạng đầu tư của giáo viên và gia đình (cha, mẹ) đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ Qua đó hiểu được một số nguyên nhân
về mức độ phát triển trí tuệ cảu trẻ 5 - 6 tuổi đã được nghiên cứu Thu nhập
Trang 35thêm thông tin của trẻ để phác hoạ chân dung tâm lý các mức độ phát triển trí tuệ của trẻ 5 - 6 tuổi
+ Nội dung: Tìm hiểu ý kiến của ban giám hiệu, giáo viên và bố mẹ gồm
3 mẫu với các nội dung cụ thể như sau:
* Mẫu 1: Dành cho hiệu trưởng, hiệu phó chuyên môn gồm 6 câu hỏi về + Tình hình chung của nhà trường (câu 1, 2 và 3), đánh giá về tầm quan trọng của giáo dục trí tuệ (câu 4), thực trạng sự chỉ đạo của nhà trường đối với vệc giáo dục trí tuệ cho trẻ 5 - 6 tuổi và những biện pháp đã dùng đẻ phát triển trí tuệ cho trẻ (câu 5, 6)
* Mẫu 2: Dành cho giáo viên mầm non, chúng tôi thiết kế 13 câu hỏi cả đóng và mở về các nội dung: Sự quan tâm hiểu biết của giáo viên về biểu hiện, cách thức, những biện pháp đã dùng để phát triển trí tuệ cho trẻ (câu 1, 4, 6, 7 và 13); Tầm quan trọng, cách thức tổ chức các hoạt động: Vui chơi, học tập… (câu
2, 3, 5, 8) nhận thức của giáo viên về các góc chơi, đặc biệt là góc thiên nhiên với sự phát triển trí tuệ của trẻ (câu 9, 10, 11, 12)
* Mẫu 3: Dành cho bố mẹ trẻ, gồm 15 câu hỏi về : tầm quan trọng, sự quan tâm, đầu tư của bố mẹ dành cho trẻ trong chăm sóc, giáo dục đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ (câu 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8); nhận thức, đánh giá của gia đình về sự phát triển trí tuệ của trẻ (câu 10, 11, 12, 13, 14); những kiến nghị của gia đình về công tác phát triển trí tuệ cho trẻ (câu 15)
+ Yêu cầu thực hiện: Gặp trực tiếp ban giám hiệu để liên hệ tiến hành an két 10 cán bộ quản lý (trong đó có bổ sung 5 cán bộ quản lý trường khác ngoài mẫu) và 15 giáo viên dạy trẻ 5 - 6 tuổi (ngoài giáo viên thuộc nhóm trẻ nghiên cứu còn bổ sung một số giáo viên dạy trẻ 5 - 6 tuổi khác)
- Tiến hành an két 72 bố mẹ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi thuộc mẫu nghiên cứu Trước khi phát phiếu an két, dành một ít thời gian để trao đổi với người thực hiện về mục đích, cách thức trả lời, hướng sử dụng kết quả trả lời nhằm tạo không khí gần gũi, thoải mái nhưng nghiêm túc để thu được số liệu trung thực
Có hạn định thời gian làm và nộp rõ ràng, nhắc nhở đối tượng kiểm tra lại phiếu trước khi nộp để tránh bỏ sót câu trả lời
6 Phương pháp mô tả chân dung:
Mục đích: Phương pháp này nhằm xây dựng chân dung chân lý của những trường hợp cụ thể, điển hình về mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 - 6
Trang 36tuổi nhằm giúp chúng ta thấy được bức tranh toàn cảnh, sinh động về vấn đề này
Nội dung và cách tiến hành: Nghiên cứu tình trạng mức độ phát triển trí tuệ của một số trẻ 5 - 6 tuổi còn thấp, và một số trẻ đạt mức trí tuệ cao, tìm và phát hiện nguyên nhân của nó Mô tả lại chân dung này một cách đầy đủ và rõ nét
7 Phương pháp xử lý số liệu
+ Xử lý kết quả trắc nghiệm trí tuệ: Đầu tiên chúng tôi tiến hành xử lý thô như sau:
- Chấm điểm từng bài tập theo khoá điểm của test Raven
- Cộng điểm tất cả các cột A, AB, B và ghi tổng số điểm mà trẻ đạt được vào cộng tổng
- Đối chiếu với bảng chuẩn kỳ vọng của từng bộ A, AB, B và tính hiệu số giữa điểm thực và điểm kỳ vọng Nếu các hiệu số này dao động trong khoảng I2
và tổng số giá trị tuyệt đối của các hiệu số ở tất cả các bộ (A - B) ≤ 6 thì cho phép sử dụng kết quả đó, còn nếu không thoả mãn một trong hai điều kiện trên thì kết quả bị loại bỏ
Sau khi xử lý thô và loại trừ những trường hợp không hợp lệ chúng tôi tiến hành tổng hợp đánh giá và phân loại mức độ trí tuệ của trẻ theo thang điểm bách phân và cách tính của D Weschler
Công thức tính chỉ số trí tuệ:
100 15
IQ
X: là điểm trắc nghiệm cá nhân
X : là điểm trung bình của nhóm nghiệm thể được tính bằng
N: là số người tham gia trắc nghiệm
Trang 37- Công thức so sánh hai giá trị trung bình theo tiêu chuẩn Student: Hệ số t được xác định theo công thức sau:
2
2 2 1
2 1
2 1
n
S n S
X X t
- X1, X2: là điểm trung bình của 2 nhóm cần so sánh
- S1, S2 là độ lệch chuẩn của mỗi nhóm
- n1, n2 là tổng số trẻ của mỗi nhóm
- Nếu t > tα thì ta có thể kết luận 2 số trung bình của tập mẫu là khác nhau
có ý nghĩa thống kê chứ không phải ngẫu nhiên với độ tin cậy 95%
Nếu t < tα thì ta kết luận hai số trung bình không khác nhau về ý nghĩa thống kê
III THỰC TRẠNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 VÀI NÉT VỀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
- Kết quả nghiên cứu trên 70 trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, giáo viên mầm non, cán
bộ quản lý ở trường mầm non, phụ huynh của trẻ được thực hiện ở phường Quang Trung và phương Trường Thi tại 3 trường mầm non
- Các trường mầm non được nghiên cứu là:
- Trường mầm non bán công Quang Trung II - phường Quang Trung
- Trường mầm non bán công Trường Thi - Phường Trường Thi
- Trường mầm non bán công Bình Minh - Phường Quang Trung
Nhìn chung các trường nghiên cứu trên đều đạt danh hiệu trường tiên tiến từ cấp huyện đến cấp tỉnh, có cả trường thường và trường chuẩn
- Trường bán công Quang Trung II là trường điểm của thành phố và Tỉnh, đã đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1 đóng trên địa bàn phường Quang Trung Năm học 2007 – 2008 toàn trường có gần 400 cháu, trong đó cóp 125 cháu mẫu giáo
5 – 6 tuổi ở 3 nhóm lớp (5A, 5B, 5C) Cha mẹ các cháu phần lớn làm nghề tiểu thương (buôn bán nhỏ), công nhân viên chức và một số it cán bộ, giáo viên
- Trường mầm non Trường Thi là trường bình thường, đóng trên địa bàn phường Trường Thi, năm học 2007 – 2008 toàn trường có 322 cháu, trong đó 84 cháu mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở 2 nhóm lớp (5A, 5B) Cha mẹ các cháu làm nhiều
Trang 38nghề khác nhau nhưng chủ yếu là buôn bán nhỏ, công nhân, một số ít cán bộ, giáo viên
- Trường mầm non bán công Bình Minh cũng là trường điểm của thành phố
và của tỉnh, đã đạt chuẩn quốc gia, trường đóng trên địa bàn phường Quang Trung Năm học 2007 – 2008 toàn trường có 450 cháu, trong đó có 124 cháu mẫu giáo 5 – 6 tuổi ở 3 nhóm (5A, 5B, 5C) Cha mẹ các cháu phần lớn là buôn bán nhỏ, công nhân viên chức và một số ít cán bộ, giáo viên
+ Khách thể trực tiếp mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu như sau:
- Đội ngũ giáo viên của các trường mầm non này đều đã qua đào tạo và đạt trình độ chuẩn trở lên, trong đó có một lượng không nhỏ trên chuẩn (trình độ cao đẳng, đại học chiếm khoảng trên 35%)
Tổng số trẻ Giới tính
Giáo viên phụ trách Nam Nữ
1 Đặng Thị Minh Nguyệt 2.Phạm Thị Huệ
Tổng 4 lớp 72 34 38 8 giáo viên
Trang 39- Các cháu thuộc mẫu nghiên cứu nhìn chung đều có biểu hiện bình thường
về mặt tâm lý Đa số trẻ đều học mẫu giáo từ 2 – 3 năm trở lên, mỗi cháu có hoàn cảnh gia đình khác nhau, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khác nhau Thực tế đó đă ảnh hưởng tới sự phát triển trí tuệ của các cháu như thế nào? Điều này sẽ được làm rõ ở phần kết quả nghiên cứu
3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
3.2.1 Thực trạng mức độ phát triển của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi
3.2.1.1 Đánh giá chung về mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi qua test Raven màu
Sau khi tiến hành trắc nghiệm 72 trẻ 5 – 6 tuổi bằng test Raven, chúng tôi đã xử
lý quy điểm thô sang điểm trí tuệ (IQ) bằng công thức D Wechsler Dựa trên điểm số IQ tìm được để phân loại mức độ trí tuệ của trẻ 5 – 6 tuổi theo 7 mức chuẩn
Bảng xếp loại trí tuệ theo điểm chuẩn