1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu cơ sở hình thành, nội dung và thực chất của chính sách quân điền trong chế độ ruộng đất phong kiến trung quốc

72 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 412,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên các tài liệu mới chỉ đề cập đến tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp qua các triều đại còn chính sách về ruộng đất trong nông nghiệp còn ch-a đề cập một cách sâu rộng về v

Trang 1

tr-ờng đại học Vinh khoa Lịch sử

-*** -

Trần thị ph-ơng

Khoá Luận tốt nghiệp đại học

Tìm hiểu cơ sở hình thành, nội dung và thực chất của chính sách quân điền trong chế độ

ruộng đất phong kiến trung quốc

Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

Vinh, 2007

Trang 2

Xin ch©n thµnh c¶m ¬n !

Ng-êi thùc hiÖn

Sinh viªn: TrÇn ThÞ Ph-¬ng

Trang 3

Mục lục

A Phần mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Các b-ớc tiến hành 4

5 Bố cục đề tài 5

B Phần nội dung 6

Ch-ơng 1 Tổng quan về chế độ ruộng đất phong kiến Trung Quốc 6

1.1 Sơ l-ợc về thể chế chính trị phong kiến Trung Quốc (từ triều Tần

đến triều Đ-ờng) 6

1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp phong kiến Trung Quốc 13

1.3.Chế độ ruộng đất phong kiến Trung Quốc 23

1.3.1 Ruộng đất nhà n-ớc 23

1.3.2 Ruộng đất t- nhân 32

Ch-ơng 2 Chính sách quân điền d-ới triều Đ-ờng 39

2.1 Cơ sở hình thành chế độ quân điền 39

2.2 Nội dung chính sách quân điền d-ới triều Đ-ờng 46

2.3 Sự phá sản của chính sách quân điền 53

2.4 ý nghĩa của chế độ quân điền đối với xã hội phong kiến Trung Quốc 58

c Kết luận 64

d Tài liệu tham khảo

Trang 4

mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn, một trong những trung tâm văn minh nhân loại với bề dày lịch sử 5000 năm của mình, đất n-ớc này là cả một kho tàng văn hoá văn minh hấp dẫn cho nhiều nhà nghiên cứu Bối cảnh địa lí, lịch sử mấy nghìn năm của Việt Nam có nhiều nét t-ơng đồng với lịch sử Trung Quốc Từ giới sử học nói riêng, ng-ời Việt Nam nói chung rất quan tâm nghiên cứu tìm hiểu lịch sử Trung Quốc, không chỉ để hiểu biết lịch sử láng giềng mà còn giúp đỡ việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam

Trong suốt quá trình nghiên cứu lịch sử Trung Quốc các nhà sử học Việt Nam đã cho ra đời một số l-ợng lớn sách tham khảo, sách nghiên cứu về lịch sử đất n-ớc này Qua tìm hiểu các tài liệu viết về Trung Quốc, chúng tôi thấy các tài liệu đó đã đề cập t-ơng đối đầy đủ về tiến trình phát triển lịch sử của Trung Quốc từ cổ chí kim trên mọi ph-ơng diện, đặc biệt là lịch sử Trung Quốc cổ trung đại với nhiều biến thái phức tạp từ khi con ng-ời xuất hiện ở

đây cho đến hết thời phong kiến Nh-ng cũng từ tìm hiểu tài liệu tham khảo chúng tôi thấy rằng: mặc dù rất nhiều tài liệu viết về Trung Quốc, nh-ng phần lớn các tác giả th-ờng đi sâu tìm hiểu về các mặt chính trị- xã hội của đất n-ớc này Còn về lĩnh vực kinh tế, nền tảng của sự phát triển ổn định xã hội lại mới chỉ đề cập một cách chung chung

Chế độ chính trị - xã hội và những biến cố của nó th-ờng làm cho lịch sử sôi động và tạo nên b-ớc ngoặt của một đất n-ớc Song kinh tế cũng là một lĩnh vực cực kì quan trọng tạo nên biến động của lịch sử nh-ng trên thực tế đề tài này ít

đ-ợc quan tâm trong quá trình nghiên cứu Do đó mặt tích cực, hạn chế và những tác động của nó đối với sự thịnh suy của xã hội là một lĩnh vực cần đ-ợc quan tâm nghiên cứu thấu đáo

Trong nền kinh tế dù thời kì cổ trung đại hay hiện đại nó đều tạo bởi ba ngành cơ bản đó là công - nông - th-ơng nghiệp Do tính đặc thù của xã hội

Trang 5

Trung Quốc nói riêng, ph-ơng Đông nói chung th-ờng lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo Chính vì lẽ đó trong một số công trình nghiên cứu khoa học ngành kinh tế này cũng đ-ợc để cập Tuy nhiên các tài liệu mới chỉ đề cập

đến tình hình phát triển sản xuất nông nghiệp qua các triều đại còn chính sách

về ruộng đất trong nông nghiệp còn ch-a đề cập một cách sâu rộng về vai trò của nó trong phát triển sản xuất nông nghiệp cũng nh- tác động của nó đối với xã hội phong kiến nói chung

Vì vậy, dựa vào nguồn t- liệu thu thập, s-u tầm đ-ợc, cộng thêm sự góp ý của thầy cô giáo, bạn bè, tôi muốn đi sâu nghiên cứu một lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế nông nghiệp Trung Quốc thời kỳ cổ trung đại Do đó tôi lựa chọn vấn đề chế độ ruộng đất phong kiến Trung Quốc làm đề tài nghiên cứu

Qua đề tài này tôi không tham vọng tìm ra đ-ợc cái gì mới mẻ mang tính phát hiện về một khía cạnh nào đó của tiến trình phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung và chế độ ruộng đất phong kiến nói riêng, mà chỉ đặt nhiệm

vụ là trên cơ sở tài liệu s-u tầm đ-ợc tổng hợp lại thành một chủ đề để hiểu sâu hơn về chế độ ruộng đất phong kiến Trung Quốc để củng cố kiến thức, b-ớc đầu làm quen nghiên cứu khoa học cho bản thân tôi

Với những lí do nêu trên tôi chọn đề tài "Tìm hiểu cơ sở hình thành, nội dung và thực chất của chính sách quân điền trong chế độ ruộng đất phong kiến Trung Quốc" làm khoá luận tốt nghiệp

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nông nghiệp Trung Quốc phong kiến không phải là một đề tài mới mẻ Tồn tại và phát triển từ xa x-a, khi con ng-ời mới biết lao động, với việc tạo ra công cụ thô sơ để cày xới đất trỉa hạt là những nền tảng đầu tiên cho nền sản xuất nông nghiệp sau này Xã hội phong kiến ngày càng phát triển thì những

đóng góp của ngành nông nghiệp cho xã hội ngày càng tăng Trong đó, chính sách ruộng đất là một trong những chính sách quan trọng góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, thì việc nghiên cứu nó ngày một nhiều hơn Nguyễn Gia Phu, một nhà sử học Việt Nam chuyên nghiên cứu về Trung

Trang 6

Quốc, qua nhiều tác phẩm của mình ông cũng đã đề cập đến lĩnh vực này

Điển hình là cuốn "Lịch sử Trung Quốc" của ông và Nguyễn Huy Quý - Nhà xuất bản giáo dục, tháng 5 năm 2001 Là một công trình lớn viết về lịch sử Trung Quốc Trong tài liệu này xã hội Trung Quốc từ cổ chí kim đ-ợc phản

ánh khá cụ thể Kinh tế nông - công - th-ơng nghiệp cũng đ-ợc tác giả khá quan tâm Nh-ng ở khía cạnh nào đó, ở tài liệu này nông nghiệp Trung Quốc nói chung và chính sách ruộng đất phong kiến nói riêng cũng chỉ mới khắc hoạ những nét cơ bản nhất Một nghành kinh tế lâu đời, là gốc rễ của sự phát triển ổn định xã hội, thúc đẩy các ngành kinh tế khác tiến bộ, làm cho nền văn hoá Trung Quốc phát triển rực rỡ và đa dạng Vai trò của nó to lớn nh- thế mà trong suốt thời kì phong kiến qua rất nhiều thời kì thăng trầm cùng lịch sử nh-ng nó cũng chỉ đ-ợc tóm gọn trong khoảng bốn trang viết quá sơ l-ợc

Trong cuốn "Lịch sừ thễ giới trung đ³i” cða t²c gi° Đặng Đữc An - Phạm Hồng Việt, Nhà Xuất bản giáo dục 1978 đã có đề cập đến tình hình sản xuất nông nghiệp và chế độ ruộng đất qua các triều đại phong kiến Trung Quốc Tuy nhiên cũng nêu mới chỉ sơ l-ợc, ch-a đi sâu vào chế độ ruộng đất phong kiến đặc biệt là chế độ quân điền - một trong những chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp d-ới xã hội phong kiến Trung Quốc

Trong cuốn “Tụ điền lịch sừ chễ độ chính trị Trung Quốc” do Chu Ph²t Tăng chủ biên đã có một phần riêng nói về chế độ ruộng đất phong kiến Trung Quốc từ thời Tiên Tần đến thời Minh- Thanh Tuy nhiên ch-a làm nổi bật lên

đ-ợc những vấn đề cơ bản của chế độ ruộng đất đối với sự phát triển của xã hội Trung Quốc phong kiến

Ngo¯i ra trong t²c phẩm “Bước thịnh suy cða c²c triẹu đ³i phong kiễn Trung Quốc” đ± có một chương trệnh b¯y chễ độ bệnh quân ruộng đất (tữc chễ

độ quân điền) Trong ch-ơng này đã trình bày khá rõ về nội dung của chính sách quân điền d-ới triều Đ-ờng và ý nghĩa của nó đối với sự phát triển của xã hội

Để nâng cao sự hiểu biết về những giá trị của kinh tế nông nghiệp nói chung và đặc biệt là chính sách quân điền đối với sự phát triển của các triều

Trang 7

đại phong kiến Trung Quốc, cũng nh- tìm ra mặt còn hạn chế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích cho thực tại Bản thân chọn đề tài này không có tham vọng nêu lên một cách đầy đủ trọn vẹn hay khám phá - phát hiện ra những nội dung gì mới mẻ của kinh tế nông nghiệp và chính sách quân điền phong kiến Trung Quốc, mà chỉ tìm hiểu nó qua những tài liệu s-u tầm đ-ợc từ đó tổng hợp lại thành một văn bản thống nhất trong suốt thời kì phong kiến Trung Quốc đối với ngành kinh tế này và đặc biệt là chính sách quân điền d-ới thời nhà Đ-ờng Qua đây để tìm hiểu sâu hơn về một vấn đề, từ đó rút ra đ-ợc những bài học bổ ích giúp cho việc giảng dạy lịch sử Trung Quốc trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn

Do năng lực nghiên cứu còn hạn chế, tiếp cận tài liệu còn ít, nhất là những tài liệu n-ớc ngoài cho nên chắc chắn khó tránh khỏi những sai sót, khuyết điểm Kính mong đ-ợc sự chỉ bảo của các thầy cô và góp ý của các

độc giả

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trong xã hội phong kiến, sản xuất nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt là chế độ ruộng đất nó quyết định sự phát triển thịnh hay suy, mạnh hay yếu của một v-ơng triều phong kiến Với đề tài này, tôi đi sâu vào nghiên cứu tình hình phát triển của chế độ ruộng đất nhất là chính sách quân

điền, cơ sở hình thành, nội dung và thực chất của chính sách quân điền trong chế độ ruộng đất của các triều đại phong kiến Trung Quốc

B-ớc 3: Phân tích hệ thống kiến thức về nông nghiệp Trung Quốc và

đặc biệt là về chế độ ruộng đất thông qua các triều đại phong kiến Trung Quốc Bên cạnh đó thấy đ-ợc sự tác động của nó đối với sự phát triển sản xuất

Trang 8

nông nghiệp nói riêng và các ngành kinh tế nói chung Qua đó rút ra những kết luận về những đóng góp của chính sách quân điền đối với sản xuất nông nghiệp và xã hội Trung Quốc phong kiến

5 Bố cục đề tài

A Mở đầu

B Nội dung: gồm hai ch-ơng

Ch-ơng 1: Tổng quan về chế độ ruộng đất phong kiến Trung Quốc

Ch-ơng 2: Chính sách quân điền d-ới triều Đ-ờng

C Kết luận

Trang 9

nội dung

ch-ơng 1

tổng quan chế độ ruộng đất phong kiến trung quốc 1.1 Sơ l-ợc về thể chế chính trị phong kiến Trung Quốc (từ triều Tần đến triều Đ-ờng)

Năm 221 tr.CN, Tần Doanh Chính thống nhất Trung Quốc, lên ngôi Hoàng đế hiệu là Tần Thuỷ Hoàng lập ra nhà Tần Sau khi lên ngôi Tần Thuỷ Hoàng đã ban hành nhiều chính sách mới về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá t- t-ởng nhằm xây dựng chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế trung -ơng tập quyền Những chính sách này đã đặt cơ sở cho sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế trung -ơng tập quyền trong suốt lịch sử chế độ phong kiến Trung Quốc

Về kinh tế, Hoàng đế nắm quyền sở hữu ruộng đất tối cao Tất cả mọi ng-ời sử dụng ruộng đất của nhà n-ớc đều phải nộp tô thuế và làm nghĩa vụ lao dịch cho nhà n-ớc, trừ những ng-ời thuộc đẳng cấp có đặc quyền nh- quý tộc, quan lại và những ng-ời làm nghề tôn giáo thì đ-ợc miễn thuế và lực dịch Tuy nhiên nhà n-ớc thừa nhận quyền t- hữu ruộng đất của t- nhân bằng cách chính thức hoá việc mua bán ruộng đất và không thu thuế ruộng đất t- Nhà n-ớc đứng ra quản lí thống nhất các công trình thuỷ lợi, sửa sang đê đập sông ngòi, xây dựng đ-ờng sá … Ngoài ra nhà Tần còn xoá bỏ các yếu tố kinh tế

địa ph-ơng cát cứ đời Chu và thực hành một chế độ kinh tế thống nhất nh- ấn

định một loại cân đo l-ờng, ban hành một loại tiền tệ, ban bố một chế độ thuế khoá chung trong cả n-ớc …

Về chính trị, quyền lực của Hoàng đế là cao nhất, tuyệt đối và toàn diện Hoàng đế điều khiển mọi hoạt động kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá t- t-ởng, chi phối đời sống của mọi tầng lớp nhân dân Bộ máy quan liêu giúp việc cho Hoàng đế đ-ợc tổ chức chặt chẽ từ triều đình trung -ơng xuống đến các quận huyện ở địa ph-ơng Triều đình trung -ơng có một bộ máy quan lại

Trang 10

văn võ, đứng đầu là Thừa t-ớng và Thái uý Toàn quốc chia làm 36 quận, do quận thú cai trị Mỗi quận lại chia ra mấy huyện, do huyện lệnh hoặc huyện tr-ởng cai trị Quan lại phải tuyệt đối chấp hành những mệnh lệnh của Hoàng

đế, dựa vào pháp luật chủa nhà n-ớc và những chỉ thị khác của triều đình trung -ơng mà cai trị nhân dân D-ới quyền của Hoàng đế còn có một lực l-ợng quân đội to lớn nhằm duy trì trật tự trong n-ớc, đàn áp những cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân, tiễu trừ sự phản loạn của bọn quý tộc phong kiến cát cứ và tiến hành những cuộc chiến tranh xâm l-ợc với bên ngoài

Về xã hội, nhà Tần quản lí chặt chẽ nhân dân trong toàn quốc, gọi nhân dân l¯ “đầu đen”, biên chễ nhân dân theo hộ, ghi trên thÍ tre gọi l¯ “hộ tịch” Dựa theo sổ hộ tịch đó, nhà n-ớc thu tô ruộng (bằng thóc lúa), thuế nhân khẩu (bằng tiền), trung thu và s-u dịch

Về văn hoá- giáo dục, nhà Tần đã cải tiến chữ viết cho gọn gàng hơn, hệnh th¯nh chử tượng hệnh mới gọi l¯ “tiều triến” v¯ “lế thư” Nh¯ Tần đẹ cao học thuyễt cða “ph²p gia”, coi đó l¯ công cú thống trị tinh thần chính thống, thẳng tay trấn áp những t- t-ởng học thuật khác nh- đã đốt hết sách vở của các phái “b²ch gia chư từ” (chì trụ c²c lo³i s²ch sừ, thuốc, nông nghiếp v¯ bói toán), cấm mọi ng-ời bàn luận về Kinh Thi, Kinh Th-, khen ngợi đời x-a, chê bai ngày nay và đã chôn sống hơn 400 học trò phái Nho gia do không chấp hành chủ tr-ơng học thuật của nhà Tần Nhà Tần còn thu hẹp giáo dục trong tầng lớp quan liêu, cấm mở tr-ờng học ở nhà riêng

Về mặt quan hệ với bên ngoài, để bảo vệ biên c-ơng phía Bắc, nhà Tần

đã sửa sang và nối liền các bức tr-ờng thành của các n-ớc Tần, Triệu, Nguỵ, Yên, Tẹ thời Chiễn quốc th¯nh bữc “v³n lý trường th¯nh” nổi tiễng trong lịch

sử cổ đại Trung Quốc, dài trên 5000 dặm (khoảng 3000 km) Ng-ời Hung Nô sống cuộc đời du mục trên cao nguyên Mông Cổ, là mối đe doạ th-ờng xuyên

đối với vùng biên giới phía Bắc Trung Quốc Trong thời Chiến quốc, ng-ời Hung Nô đã nhiều lần kéo quân vào c-ớp phá, bắt ng-ời c-ớp của của nhân dân Trung Quốc, xâm chiếm vùng Hà Sáo là vùng đồng cỏ tốt t-ơi, thế lực ngày càng lớn mạnh Sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thuỷ Hoàng lập tức

Trang 11

phái t-ớng Mông Điềm đem 30 vạn quân đánh Hung Nô (năm 215-214 tr.CN), đuổi ng-ời Hung Nô sang bên kia sang Hoàng Hà và giành lại vùng

Hà Sáo Sau đó Tần Thuỷ Hoàng lại phát động cuộc chiến tranh xâm l-ợc các tộc Việt, họ đã đánh chiếm đ-ợc một số đất đai các tộc Việt ở phía Nam Tr-ờng Giang Nh-ng khi quân Tần kéo kéo sâu vào vùng rừng núi Nam Trung Quốc và Bắc Bộ Việt Nam, họ đã bị các tộc Việt đánh bại Nhà Tần chỉ chiếm đ-ợc miền l-u vực Châu Giang, chuyển những ng-ời nghèo và tù tội xuống khai khẩn ruộng đất và nhằm đồng hoá dần dần những ng-ời bản xứ với ng-ời Trung nguyên

Những chính sách trên của nhà Tần đã xây dựng đ-ợc chính quyền quân chủ chuyên chế trung -ơng tập quyền, củng cố đ-ợc quốc gia thống nhất, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử Nh-ng nhà Tần có mặt hạn chế cơ bản là thẳng tay đàn áp bóc lột và khủng bố nhân dân để nhân dân phục tùng chính quyền của mình và để tiến hành xây dựng những công trình kiến trúc to lớn Do đó, d-ới triều Tần nhiều cuộc khởi nghĩa mà chủ yếu là khởi nghĩa nông dân đã bùng nổ tiêu diệt nhà Tần lập ra nhà Tây Hán

Sau khi nhà Tây Hán thành lập, Hán Cao Tổ đã thi hành nhiều chính sách để ổn định đất n-ớc và củng cố ngai vàng của mình Đối với nhân dân, Cao Tổ chú ý tr-ớc hết đến việc khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp

Để tăng c-ờng lao động cho xã hội, Cao Tổ thực hành các chính sách nh- phục viên binh lính, khuyến khích những ng-ời l-u tán trở về quê cũ làm ăn, trả lại tự do cho những ng-ời nghèo đói phải bán thân làm nô tì

Đến thời Hán Vũ Đế (140-87 tr.CN), triều Tây Hán b-ớc vào thời kỳ hùng mạnh nhất Vấn đề Hán Vũ Đế quan tâm đầu tiên là dùng học thuyết gì

để làm cơ sở cho đ-ờng lối trị n-ớc Đầu đời Hán, rút kinh nghiệm thất bại của triều Tần, t- t-ởng phái Đạo gia đ-ợc tôn sùng nh-ng học thuyết này không đáp ứng đ-ợc yêu cầu tăng c-ờng chế độ tập quyền trung -ơng, đề cao

địa vị và uy quyền của Hoàng đế nên Hán Vũ Đế đã tán thành ý kiến của

Đổng Trọng Thư đ± ra lếnh “b±i truất b²ch gia, độc tôn Nho thuật” (bà các

Trang 12

phái khác, chỉ đề cao phái Nho) Từ đó Nho gia đã trở thành hệ t- t-ởng chính thống của xã hội phong kiến Trung Quốc

Vấn đề thứ hai mà Hán Vũ Đế quan tâm là thế lực của các v-ơng quốc

Do chính sách phân phong đầu đời Tây Hán, đến giữa thế kỉ II tr.CN thế lực của các v-ơng quốc đang còn rất mạnh Lúc bấy giờ cả n-ớc chia thành 54 quận nh-ng chính quyền trung -ơng thực tế chỉ quản lí đ-ợc 15 quận, còn 39 quận là do các v-ơng cùng họ khống chế Để hạn chế thế lực của các v-ơng quốc, tăng c-ờng chế độ tập quyền trung -ơng, năm 127 tr.CN áp dụng đề nghị cða Chư Phú Uyền, H²n Vủ Đễ ban h¯nh “mở rộng ân huế” cða Ho¯ng

đế đối với các v-ơng quốc Theo lệnh này không những con tr-ởng của các v-ơng đ-ợc kế thừa đất đai và t-ớc phong mà con thứ cũng đ-ợc chia một phần đất của v-ơng quốc và đ-ợc phong t-ớc Hầu Thực chất của cái mệnh lệnh đ-ợc trang sức bằng những từ ngữ tốt đẹp ấy là nhằm làm cho các v-ơng quốc bị chia nhỏ, do đó thế lực sẽ bị suy yếu Đồng thời để chính phủ trung -ơng có thể khống chế đ-ợc một phần đất đai của v-ơng quốc vì lãnh địa của hầu t-ớc thuộc quyền quản lí của Hoàng đế

Ngoài ra Hán Vũ Đế còn tăng c-ờng quản lí các địa ph-ơng Lúc bấy giờ đơn vị hành chính địa ph-ơng d-ới trung -ơng là do Quận thú đứng đầu Năm 106 tr.CN, Hán Vũ Đế chia cả nước th¯nh 13 khu gi²m s²t gọi l¯ “châu”

đặt chức thứ sử có nhiệm vụ giám sát các quận thú, qua đó trung -ơng có thể giám sát công việc của các quận chặt chẽ hơn tr-ớc

Về kinh tế, Hán Vũ Đế thi hành nhiều chính sách nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp nh- xây dựng các công trình thuỷ lợi, dời dân đến vùng Tây Bắc để lập đồn điền … nh-ng đồng thời lại hạn chế thế lực của tầng lớp công th-ơng giàu có Nghe theo đề nghị của Tang Hoằng D-ơng, Hán Vũ Đế ban lệnh các việc luyện sắt, làm muối, đúc tiền đều thuộc nhà n-ớc, t- nhân không

đ-ợc kinh doanh Do những chính sách nói trên, d-ới thời Hán Vũ Đế tình hình chính trị ổn định, kinh tế phát triển, nhà Hán đạt đến thời kỳ vững mạnh nhất trong lịch sử triều đại mình

Trang 13

Thời kỳ Tuỳ - Đ-ờng là điểm cao trong quá trình phát triển xã hội phong kiến Trung Quốc Cũng giống nh- thời Tần - Hán, thời Tuỳ - Đ-ờng cũng là đế quốc thống nhất trung -ơng tập quyền đ-ợc xây dựng sau một thời gian dài chia cắt cát cứ Các v-ơng triều Tuỳ - Đ-ờng đã có rất nhiều cố gắng trong việc trong việc xây dựng lại cũng nh- bảo vệ sự thống nhất, cải cách chế

độ phong kiến, phát triển kinh tế - văn hoá, mở rộng việc mở cửa đối với bên ngoài

Về kinh tế, trong thời kỳ đã cố gắng t-ơng đối nhiều trong việc xây dựng chế độ ruộng đất, hộ tịch, xâu thuế, có mục đích chủ yếu là thúc đẩy sự khôi phục và phát triển nền kinh tế của xã hội phong kiến, bảo đảm cho việc thu nhập của quốc gia phong kiến

Lệnh chia đều ruộng đất đ-ợc ban bố vào thời kỳ đầu của v-ơng triều nhà Tuỳ, có nội dung chủ yếu giống nh- chế độ ruộng đất d-ới v-ơng triều Bắc Nguỵ, Bắc Tề, Bắc Châu nh-ng mức độ và phạm vi thực hành chế độ chia

đều ruộng đất trong giai đoạn đầu đời nhà Tuỳ nh- thế nào mãi cho tới nay vẫn là một vấn đề tranh luận trong giới sử học Những cuộc chiến loạn xảy ra vào cuối đời nhà Tuỳ đầu đời nhà Đ-ờng, đã làm cho dân số bị tụt giảm mạnh, một số lớn ruộng đất bị bỏ hoang Do vậy, vào đầu đời nhà Đ-ờng cũng từng ban hành lệnh chia đều ruộng đất, quy định tất cả ruộng đất canh tác của nhân dân đều do chính phủ phân phối theo cấp bậc Dựa theo bộ sổ của đời nhà

Đ-ờng khai quật tại Đôn Hoàng cho thấy giai đoạn đầu của đời nhà Đ-ờng chế độ chia đều ruộng đất đúng là đã đ-ợc quán triệt Nh-ng đến giai đoạn giữa và giai đoạn sau của v-ơng triều nhà Đ-ờng, do sự quản lý về mặt hành chính lỏng lẻo, nên bộ sổ không còn đúng với sự thật, tình trạng thôn tính ruộng đất trở thành khá phổ biến, chế độ chia đều ruộng đất chỉ còn trên danh nghĩa chữ không còn tồn t³i trên thức tễ Kề tụ cuộc “nổi lo³n cða họ An v¯

họ Sừ” thệ chễ độ chia đều ruộng đất không còn nữa

Kết hợp chặt chẽ với chế độ chia đều ruộng đất là lịch trình thay đổi và phát triển của chế độ hộ tịch Đầu đời nhà Tuỳ, để chấn chỉnh lại tình hình hỗn loạn về mặt quản lý hộ tịch trong những đời tr-ớc, đồng thời để tiện cho

Trang 14

việc tiến hành chế độ chia đều ruộng đất, v-ơng triều này đã từng xuống lệnh cho các quan lại ở các châu huyện trên toàn quốc kiểm tra lại tình hình bỏ sót hoặc che giấu hộ khẩu Đồng thời dựa vào việc đăng ký trong hộ tịch để kiểm tra lại từng con ng-ời một, xem phải chăng họ đã khai gian tuổi tác, còn trẻ

mà khai già, đã tr-ởng thành lại khai tuổi trẻ con Chính phủ trung -ơng quy

định tiêu chuẩn đẳng cấp trong hộ khẩu để dựa vào đó thu tô và thu hiện vật Tất cả châu huyện vào tháng giêng hàng năm thì bình xét một lần, đồng thời nhân khẩu trên toàn quốc đ-ợc chia thành nông thôn và thành thị khác nhau

để xếp vào tổ chức Đảng, Lý, Bảo Ng-ời phụ trách các tổ chức trên phải chịu trách nhiệm liên đới đối với việc khai gian hộ khẩu, không nộp tô và hiện vật

Đến triều đại nhà Đ-ờng thì có sự quy định rõ ràng hàng năm lập sổ thống kê một lần và cứ mỗi năm ba lần thì chấn chỉnh lại hộ tịch một lần Đồng thời dựa vào tài sản và số đinh trong các hộ trên toàn quốc để chia thành ba đẳng cấp (sau chia thành chín đẳng cấp), cứ mỗi ba năm thì bình xét một lần, để dựa vào đó mà thu thuế Việc quản lý hộ khẩu th-ờng ngày cũng do các tổ chức cơ sở nh- Lý, Bảo chịu trách nhiệm Từ giai đoạn giữa trở về sau của v-ơng triều nhà Đ-ờng cứ ba năm thì lập lại hộ tịch một lần và cũng cứ ba năm thì quy định lại đẳng cấp trong hộ tịch một lần nh-ng dần dần đã trở thành không thiết thực Do vậy tác dụng của tổ chức cơ sở nh- Lý, Bảo về mặt quản lý hộ khẩu cũng không thể phát huy một cách bình th-ờng

Chế độ xâu thuế đ-ợc xây dựng trên nền tảng của chế độ ruộng đất và

hộ tịch tình hình diễn biến càng nhiều hơn Chế độ xâu thuế đầu đời nhà Tuỳ

có mặt đã kế thừa v-ơng triều Bắc Châu cũng có mặt thay đổi giảm nhẹ hơn Nội dung cơ bản của chế độ s-u thuế này là dựa vào tình trạng đ-ợc cấp ruộng

đất cũng nh- tình trạng tuổi tác và sức khoẻ của nhân khẩu để thu tô (tức địa tô phải nộp bằng bắp), điều (tức một loại phụ thu phải nộp bằng lụa, vải hoặc sợi gai), dịch ( tức đi làm xâu, ng-ời có thể nộp thêm một số l-ợng nhất định lụa, vải, sợi gai thì đ-ợc miễn) Trong thời kỳ Tuỳ Văn Đế trị vì, gánh nặng s-u thuế trong nhân dân t-ơng đối nhẹ Đến thời Tuỳ D-ơng Đế mặc dù cũng

có chiếu lệnh giảm nhẹ s-u thuế nh- xoá bỏ ngay các loại s-u thuế cho phụ

Trang 15

nữ, nô tì và tá điền, thay đổi tuổi thành đinh cho nam giới từ 21 lên 22 tuổi Nh-ng không bao lâu sau thì triều đình lại thu thuế bất chấp luật lệ, cũng nh- bắt binh dịch không cần phân biệt tuổi tác, cho nên chế độ về s-u thuế đ-ợc quy định tr-ớc kia đã trở thành lời nói suông Chế độ s-u thuế trong giai đoạn

đầu của nhà Đ-ờng chủ yếu là chế độ Tô (tức địa tô), Dung (làm xâu), Điều (tức một loại thuế phụ thu phải nộp bằng lụa, vải, sợi gai) Ngoài Tô, Dung,

Điều triều đình còn thu thêm thuế Hộ và Tạp Dịch Thông th-ờng nhà n-ớc dựa vào đẳng cấp cao thấp của mỗi hộ cũng nh- số đinh trong hộ nhiều hay ít

để định mức thuế Đến giai đoạn giữa và giai đoạn sau của nhà Đ-ờng do chế

độ chia đều ruộng đất và chế độ hộ tịch đều bị phá hoại nên không thể nào thi hành đ-ợc chế độ Tô, Dung, Điều Sự thu nhập về thuế khoá của v-ơng triều nhà Đ-ờng lúc bấy giờ chủ yếu dựa vào việc thu thuế hộ và thuế đất là chính

Để thích ứng với tình trạng đó, vào niên hiệu Kiến Trung đời vua Đức Tông (năm 780), Tề tướng Dương Viêm đ± định ra “lưỡng thuễ ph²p” Tinh thần cơ b°n cða “lưỡng thuễ ph²p” l¯ dứa v¯o t¯i s°n nhiẹu hay ít cða một hộ đề l¯m tiêu chuẩn thu thuế, mở rộng diện thu thuế ít nhiều thay đổi tình trạng tập trung gánh nặng s-u thuế lên vai tầng lớp nông dân nghèo khổ Nh-ng về sau trong quá trình thực hành, do tiêu chuẩn chiết tính giữa đồng tiền và hiện vật th-ờng thay đổi không ổn định khiến cho các quan viên rất lúng túng, nhân dân nói chung dần dần phải gánh chịu một khoản s-u thuế nặng nề Hơn nữa, d-ới chế độ s-u thuế đó, việc thu gom ruộng đât cũng không còn bị hạn chế cho nên sau khi thực hành không quá ba m-ơi năm, thì có tới một phần ba ruộng đất của bá tánh bị các quan liêu địa chủ thu gom, đâu đâu cũng có thể nhện thấy c°nh tượng “người gi¯u sang thệ ruộng đất h¯ng chúc v³n mẫu, còn ng-ời nghèo thì không có m°nh đất cắm dùi” Một số lượng lớn nhửng người sống lang thang xuất hiện khắp nơi, trở thành một lực l-ợng cơ bản làm lung lay sự thống trị của v-ơng triều nhà Đ-ờng

Về mặt chính trị, quan chế, pháp chế khoa cử trong thời kỳ này một phần lớn đều đ-ợc cải tiến nhằm tăng c-ờng và củng cố sự thống trị phong

Trang 16

kiến và chế độ trung -ơng tập quyền, nâng cao hiệu quả và chất l-ợng vận hành về mặt chính trị

Để củng cố chế độ quân chủ chuyên chế trung -ơng tập quyền, nhà

Đường đ± c°i c²ch chễ độ “sĩ tộc” thời Nam Bắc triều mà theo phẩm trật cao thấp của quan lại: thứ nhất là hoàng tộc, thứ nhì là ngoại thích; tiếp đó đến các

“thị tộc” kh²c chia l¯m chín bậc Chễ độ sĩ tộc đễn đời Đường như thễ đ± bắt

đầu bị suy yếu, sang đến đời Tống thì bị xoá bỏ hẳn Chế độ khoa cử bắt đầu

đ-ợc thực hiện từ đời Tuỳ Nhà Đ-ờng muốn lôi kéo địa chủ bình dân tham gia vào chính quyền, cho nên đã mở rộng chế độ khoa cử Nhà Đ-ờng còn mở mang thêm các tr-ờng học ở kinh đô và ở các châu huyện nhằm giúp học trò tham gia vào các khoa cử, đồng thời cũng để trói buộc t- t-ởng học trò theo khuôn mẫu của giai cấp phong kiến thống trị

Quân đội ở thời Sơ Đ-ờng đ-ợc tổ chức theo chế độ Phủ binh Đó là chế

độ t-ợng binh nông dân dựa trên cơ sở chế độ quân điền Đàn ông từ 20 đến

60 tuổi đều phải gia nhập Phủ binh, ngày th-ờng thì ở nhà làm ruộng và luyện tập quân sự (do đô uý huấn luyện vào những ngày không bận việc nông), hàng năm thay phiên nhau lên kinh đô làm túc vệ (mỗi năm tập trung khoảng hai tháng trở lại) hoặc đồn thú ở biên c-ơng (thời hạn lâu nhất là 6 năm) Khí giới, trang bị, l-ơng thực binh sĩ đều phải tự túc Khi có chiến tranh thì Phủ binh

đ-ợc trang bị lại theo t-ớng soái ra trận Chiến tranh chấm dứt t-ớng về triều, binh về đạo Nhờ chế độ phủ binh, nhà Đ-ờng có một lực l-ợng quân sự to lớn

1.2 Tình hình sản xuất nông nghiệp phong kiến Trung Quốc

Từ khi b-ớc sang xã hội có nhà n-ớc cho đến thời Chiến Quốc, nền nông nghiệp của Trung Quốc ngày một phát triển, thể hiện ở các mặt: công cụ sản xuất, vấn đề thuỷ lợi, năng suất lao động

Về công cụ sản xuất, thời Hạ ng-ời Trung Quốc chỉ mới biết đến đồng

cỏ nên nông cụ chủ yếu nh- nông cụ xới đất, cuốc, liềm, dao ….vẫn làm bằng

gỗ, đá, x-ơng, vỏ trai… Thời Th-ơng và Tây Chu, đồ đồng thau ngày càng

Trang 17

phát triển Ngày nay đã phát hiện đ-ợc một số nông cụ bằng đồn thau thời Th-ơng nh- xẻng, búa ở những trung tâm c- trú của c- dân lúc bấy giờ

Đến thời Xuân Thu, bên cạnh đồ đồng thau vẫn đ-ợc sử dụng phổ biến,

đồ sắt đã bắt đầu xuất hiện Tài liệu sớm nhất đề cập đến sắt là bài Tứ thiết, phần Tân phong trong Kinh Thi Bài ấy có câu: “bốn con ngựa m¯u sắt rất

béo“ Bài thơ này đ-ợc sáng tác vào khoảng cuối thời Tây Chu Tuy vậy,

ngoài câu thơ ấy ra, hiện nay ch-a tìm đ-ợc một tài liệu khác chứng minh từ cuối thời Tây Chu đã có sắt Chỉ đến thời Xuân Thu thì mới có tài liệu để đảm bảo chắc chắn rằng đồ sắt đã đ-ợc sử dụng

ở n-ớc Tề, vào nửa đầu thế kỷ VII tr.CN, Quản Trọng đã đề nghị với

Tề Hoàn Công: “kim loại đẹp để đúc gươm giáo dùng để chém chó ngựa, kim

loại xấu dùng để đúc cuốc dao dùng để xới đất“ Có lẻ “kim lo³i đép” ở đây

l¯ đồng thau, còn “kim lo³i xấu” l¯ sắt

đoán định của các nhà khảo cổ học Trung Quốc, những đồ sắt này thuộc giai

đoạn cuối của thời Xuân Thu

Đến thời Chiến Quốc, công cụ bằng sắt đã đ-ợc sử dụng rộng rãi trong các ngành sản xuất Năm 1950, ở tỉnh Hà Nam đã phát hiện đ-ợc một ngôi mộ thời Chiến Quốc trong đó có hơn 90 công cụ sản xuất gồm cày, các loại cuốc, xẻng, liềm, dao, búa đục, nạo … và hơn 70 binh khí bằng sắt

Bên cạnh sự tiến bộ về công cụ sản xuất, thời Xuân Thu ng-ời Trung

Quốc bắt đầu sử dụng súc vật làm sức kéo Thiên Tấn ngữ trong sách Quốc ngữ chép rằng: “Những súc vật l¯m vật hiến tế ở đền miếu có thể dùng trong

việc đồng áng“ Ngoài ra, thời Xuân Thu có nhiều ng-ời đặt tên để chữ

Trang 18

“Canh” (c¯y) v¯ chử “Ngưu” (trâu, bò) gần nhau, ví dú học trò cða Khổng Từ

là Nhiễm Bá Ng-u chính là tên Canh, T- Mã Canh hiệu là Tử Ng-u; n-ớc Tấn

có một lực sĩ tên Ng-u Tử Canh Việc đặt chữ Ng-u đi liền với chữ Canh phản

ánh rằng trong thực tế xã hội, dùng trâu bò để cày ruộng đã là một việc th-ờng thấy

Về thuỷ lợi, từ tr-ớc khi thành lập nhà n-ớc, c- dân Trung Quốc đã chú

ý đến việc khắc phục nạn lụt Truyền thuyết về việc trị thuỷ của ông Vũ phản

ánh rằng lúc bấy giờ ng-ời Trung Quốc đã có những kinh nghiệm nhất định trong việc tiêu n-ớc lũ và dẫn n-ớc vào ruộng Trong chữ giáp cốt (loại chữ viết xuất hiện từ đời Thương) chử “điẹn” (ruộng) được vẻ th¯nh một hệnh vuông bên trong có những đ-ờng ngang dọc Những đ-ờng ngang dọc ấy chính là những bờ vùng, bờ thửa kết hợp với hệ thống m-ơng máng để dẫn và tháo n-ớc

Cuối thời Xuân Thu, các công trình thuỷ lợi lớn đ-ợc xây dựng tại nhiều n-ớc ở n-ớc Ngô, thời Phù Sai (thế kỷ V tr CN) đã đào một hệ thống kênh nối sông Tr-ờng Giang với sông Hoài và nối sông Hoài với một số con sông ở gần l-u vực sông Hoàng Hà Đó là hệ thống kênh đào đầu tiên ở Trung Quốc Sang thời Chiến Quốc, n-ớc Tần có kênh Trịnh Quốc, các n-ớc Tề, Sở

có kênh Hồng, kênh Hàn … Các công trình thuỷ lợi ấy không những đã t-ới cho ruộng đồng xanh tốt, hạn chế nạ lụt mà còn có vai trò quan trọng trong giao thông vận tải từ Hoàng Hà đến Tr-ờng Giang

Về năng suất sản xuất, thời Hạ, Th-ơng tuy công cụ sản xuất chủ yếu bằng đá, gỗ … nh-ng nhờ đất đai ở l-u vực sông Hoàng Hà xốp và màu mỡ nên năng suất của sản xuất nông nghiệp đã dần phát triển Các loại cây trồng ngày càng nhiều Trong chữ giáp cốt đã thấy ghi các loại cây nh- lúa, kê, lúa mì, dâu, đay…

Ngay từ đời Th-ơng, số l-ợng l-ơng thực trong xã hội đã khá nhiều, do

đó ng-ời đời Th-ơng đã dùng nhiều l-ơng thực để nấu r-ợu Tệ nạn uống r-ợu rất phổ biễn, thậm chí vua Trú đ± “lấy rượu l¯m hồ” Ngo¯i ra giai cấp thống trị còn thu đ-ợc nhiều l-ơng thực để chất đầy các kho lẫm Vua Trụ thu thóc

Trang 19

của dân để chứa vào kho Cự Kiều là một ví dụ Đến thời Tây Chu, tình hình ấy cũng đ-ợc thơ ca phản ánh nh- sau:

Thóc của cháu vua Cao nh- nóc nhà Kho của cháu vua Nh- gò nh- núi

Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, nhờ những tiến bộ về công cụ sản xuất và

kĩ thuật sản xuất, nhất là việc dùng cày có l-ỡi bằng kim loại do súc vật kéo;

đồng thời do sự phát triển của hệ thống t-ới n-ớc, nông dân Trung Quốc càng

có điều kiện khai phá thêm đất hoang và thực hiện việc thâm canh tăng năng suất, do đó sản l-ợng nông nghiệp tăng hơn tr-ớc nhiều Theo sự tính toán của

Lý Khôi, nhà cải cách ở n-ớc Nguỵ đầu thời Chiến Quốc, thì mỗi mẫu ruộng trung bình mỗi năm thu hoạch đ-ợc 1 thạch 5 đấu, năm đ-ợc mùa có thể thu gấp 4 lần tức 6 thạch

Thời phong kiến nông nghiệp là nghành kinh tế quan trọng nhất ở Trung Quốc, nền kinh tế nói chung mà tr-ớc hết là nông nghiệp chịu ảnh h-ởng rất lớn của tình hình chính trị

D-ới thời Tần, nông dân liên tiếp phải bỏ sản xuất để đi lao dịch, tiếp

đó ở Trung Quốc lại trải qua mấy năm nội chiến, nên nông nghiệp bị suy sụp nghiêm trọng

Khi nhà Tây Hán mới thành lập, ruộng đất phần lớn bị bỏ hoang, dân c- th-a thớt, khắp cả n-ớc đều đói khổ, thậm chí còn có hiện t-ợng ng-ời ăn thịt ng-ời, đến vua cũng không có đủ bốn con ngựa cùng màu để kéo một cỗ xe, các quan lớn có ng-ời phải ngồi xe bò

Xuất phát từ mục đích muốn khôi phục và phát triển sản xuất, làm dịu mâu thuẫn giai cấp để chính quyền mình đ-ợc vững bền, các vua đầu thời Tây Hán đã thi hành một số chính sách nhằm nới rộng sức dân giải phóng những ng-ời bán thân làm nô lệ trong thời kì chiến tranh, kêu gọi những ng-ời ra đi trở về làng cũ, trả lại ruộng đất cho những ng-ời lánh nạn, phục viên binh lính

và khuyến khích họ trở về quê h-ơng sản xuất để tăng thêm nguồn lao động

Trang 20

nông nghiệp trong xã hội, ai ở lại Quan Trung (chỉ vùng quanh Tr-ờng An) thì

đ-ợc miễn s-u dịch m-ời hai năm, ai về quê thì đ-ợc miễn s-u dịch sáu năm

Số ruộng đất hoang và vô chủ còn lại biến thành ruộng công thuộc quyền nhà n-ớc, giao cho nông quan quản lí Bài học về các cuộc khởi nghĩa nông dân cuối Tần đã buộc nhà Tây Hán phải thủ tiêu những pháp luật khắt khe của nhà Tần, xoá bỏ những nhục hình, các tội phạm cũng đ-ợc giảm bớt nhiều Các vua đầu thời Hán đã đình chỉ trong một thời gian dài việc xây dựng những công trình lớn, tốn kém, s-u dịch của nhân dân đ-ợc giảm nhẹ Mức tô thuế của nhân dân nộp cho nhà n-ớc cũng hạ xuống (tô ruộng lúc đầu bằng 1/15 thu hoạch, sau giảm xuống 1/30)…

Trong khi đó kĩ thuật sản xuất không ngừng đ-ợc cải tiến: nông cụ bằng sắt đ-ợc sử dụng rộng rãi, việc sử dụng trâu bò để kéo cày phổ biến hơn Nông dân đã tích luỹ đ-ợc nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nh- chú trọng dẫy cỏ

kĩ hơn, vun đất khi cấy lúa mới nhú, gieo hạt thẳng hàng…

Đời Hán Vũ Đế, đô uý thu thóc là Triệu Quá đã phát minh ra phép "đại

điền", tức là lối cày luân phiên thay đổi, mỗi năm chia ruộng đất làm ba phần

và luân phiên cày cấy; ông lại chế tạo ra cày đôi dùng hai trâu kéo, ba ng-ời

đẩy mang ra dạy dân ở vùng chung quanh kinh đô Công cuộc thuỷ lợi cũng

đ-ợc xúc tiến mạnh Thời kì đầu nhà Hán, Hoàng Hà hai lần bị vỡ đê, sau đó vùng hạ l-u sông bị uy hiếp liên tiếp Năm 109 tr.CN, Vũ Đế bắt mấy vạn ng-ời đi đắp chỗ đê vỡ, Hoàng đế cũng thân chinh đến tận nơi xem xét và hạ lệnh cho các quan tuỳ tùng vác gỗ lấp chỗ vỡ Nhờ lần tu bổ này mà 80 năm sau vùng hạ l-u sông Hoàng Hà không bị nạn lụt nữa Kết quả là năng suất và tổng sản l-ợng nông nghiệp đều tăng lên rất nhiều

Ca ngợi tình hình đó, thiên "Thức chí ho²" cða s²ch “H²n thư” đ± chẽp một cách khuếch đại rằng: "Đến đầu thời Vũ Đế, trong khoảng 70 năm, n-ớc nhà vô sự, nếu không gặp lụt lội hạn hán thì nhân dân ng-ời no nhà đủ Lẫm vựa ở các đô thị cho đến những nơi hẻo lánh đầy ắp, kho tàng của nhà n-ớc thì thừa của cải Tiền ở kinh đô tích luỹ hàng trăm vạn dây xâu tiền mục mà không xếp lại đ-ợc Thóc kho để hết năm này qua năm khác đầy tràn ra bên

Trang 21

ngoài, mục không ăn đ-ợc Nhân dân khắp mọi đ-ờng, mọi ngõ đều có ngựa, trên đồng có từng đàn Những ng-ời c-ỡi ngựa cái bị khinh th-ờng, không

đốt phá phủ đ-ờng, c-ớp kho thóc chia cho ng-ời nghèo Mặc dù những cuộc khởi nghĩa này bị dập tắt, nh-ng nền thống trị của nhà Hán bị lung lay Một số quý tộc thức thời nhận thấy muốn làm dịu bớt nguy cơ xã hội phải tiến hành cải cách nhằm hạn chế ruộng đất và nô tỳ của quý tộc địa chủ, th-ơng nhân giàu có thì mới giải quyết đ-ợc mâu thuẫn xã hội Trong những ng-ời tiến hành cải cách ở thời kì này, V-ơng Mãng là ng-ời cải cách triệt để và toàn diện nhất V-ơng Mãng là một quý tộc ngoại thích của nhà Hán, lợi dụng lúc nhà Hán suy yếu đã phế truất vua Hán còn nhỏ tuổi, c-ớp ngôi hoàng đế đổi quốc hiệu là Tân (8-23) Để củng cố địa vị của mình, V-ơng Mãng đã tiến hàmh cải cách nhằm cứu vãn nguy cơ xã hội lúc bấy giờ V-ơng Mãng ban hành sắc lệnh quy định: tất cả ruộng đất đều gọi là "V-ơng điền"(ruộng vua), nô tỳ của t- nhân gọi là t- thuộc Nhà n-ớc cấm không đ-ợc mua bán ruộng

đât và nô tỳ Gia đình có d-ới tám ng-ời đàn ông không đ-ợc chiếm hữu trên

900 mẫu ruộng, số ruộng thừa thì phải chia cho bà con trong họ và láng giềng Những ng-ời không có ruộng đất đ-ợc lĩnh ruộng của nhà n-ớc theo tiêu chuẩn "một vợ một chồng, ruộng 100 mẫu" Chủ tr-ơng hạn điền của V-ơng Mãng không thực hiện đ-ợc vì bọn địa chủ quan liêu phản đối kịch liệt Chỉ

Trang 22

vài năm sau, V-ơng Mãng đã phải bãi bỏ sắc lệnh này, tình trạng kiêm tinh ruộng đất lại tiếp tục phát triển

Đầu đời Đông Hán, L-u Tú cũng thi hành những chính sách t-ơng tự nh- đầu đời Tây Hán: giải phóng nô lệ, hạn chế việc chiếm đoạt ruộng đất, phát triển mạng l-ới thuỷ lợi…Ngoài ra, nhiều hoàng đế còn ban bố chiếu chỉ phân phát ruộng đất công chia cho dân nghèo; những năm đói kém mất mùa thì ra lệnh giảm tô, miễn thuế Những ph-ơng sách đó tuy không giải quyết

đ-ợc triệt để vấn đề ruộng đất và đời sống cho nông dân, nh-ng cũng xoa dịu

đ-ợc một phần nào mâu thuẫn giai cấp, do đó đã tạo điều kiện cho nền kinh tế nông nghiệp ở đầu đời Đông Hán phát triển hơn tr-ớc một b-ớc

Kĩ thuật nông nghiệp thời Đông Hán có nhiều tiến bộ hơn thời Tây Hán Nông dân đã biết phân biệt chất đất, làm phân bón, sử dụng trâu bò kéo cày bừa Công tác thuỷ lợi đ-ợc tiến hành ở các vùng đất thấp và đất cao Công trình thuỷ lợi lớn nhất là đào Tán Cừ thông với Hoàng Hà và đắp một con đê dài hơn 1000 dặm (khoảng 500km), biến vùng đất lớn bị ngập lụt ở phía Bắc Đào Khâu thành ruộng cày cấy; đào Kính Hồ ở Cối Khê (Thiệu H-ng, Triết Giang) dài 300 dặm (khoảng 150km) t-ới cho hơn 9000 khoảnh ruộng (trên 500 ha) Vào cuối đời Đông Hán, xe đạp n-ớc bắt đầu đ-ợc phát minh và đến thời Tam Quốc thì đ-ợc đ-ợc hoàn thiện thành cái xe đạp n-ớc ngày nay Ph-ơng pháp lợi dụng sức n-ớc để kéo cối xay bột cũng ra đời

Từ cuối thời Đông Hán, trải qua thời Tam Quốc đến thời Nam Bắc triều chiến tranh xảy ra liên miên, việc sản xuất lại bị phá hoại Đầu thế kỷ V, Bắc Ngụy đã thống nhất đ-ợc toàn bộ miền Bắc Trung Quốc, bắt đầu thi hành

đ-ợc một số cải cách kinh tế - xã hội, quan trọng nhất là ban hành "chế độ quân điền" Năm 485, vua Bắc Nguỵ là Hiếu Văn Đế đã mang số ruộng đất

mà nhà n-ớc quản lí phân cấp đều cho nông dân gọi là "chế độ quân điền" Nông dân đ-ợc chia ruộng đất đ-ợc chia làm hai loại: ruộng trồng lúa gọi là

"lộ điền" khi già và chết phải trả lại cho nhà n-ớc, ruộng trồng dâu và gai gọi

là "tang điền" cấp vĩnh viễn Đàn ông đ-ợc cấp 40 mẫu trồng lúa và 20 mẫu trồng dâu, đàn bà đ-ợc cấp 20 mẫu trồng lúa và 5 mẫu trồng dâu Việc thực

Trang 23

hành chế độ quân điền đã mang lại ruộng đất cho nông dân, giúp cho việc khôi phục và phát triển nông nghiệp, ổn định trật tự xã hội, tăng thêm quyền lực cho nhà n-ớc, cung cấp nhân lực và tô thuế cho nhà n-ớc

Sau một thời gian dài gần 400 năm phân tán và loạn lạc, Trung Quốc lại

đ-ợc thống nhất d-ới chính quyền Tuỳ, xã hội dần ổn định, kinh tế ngày càng phát triển Tuỳ Văn Đế tiếp tục thi hành chính sách chia ruộng đất cho nông dân có từ thời Bắc Nguỵ (chế độ quân điền), khuyến khích dân l-u vong về quê đăng kí hộ tịch để nhận ruộng, giảm bớt s-u dịch, giảm nhẹ hình phạt, trừng trị tham ô, lập kho chứa l-ơng… Nhân dân yên ổn làm ăn, đào đắp lại sông ngòi, sữa chữa đê đập, khai phá thêm ruộng hoang, nhờ đó ruộng đất canh tác thêm nhiều, kinh tế phát triển, dân số tăng nhanh Nhà n-ớc cũng tích

luỹ đ-ợc nhiều của cải, l-ơng thực, "các kho lẫm của nhà n-ớc ở trung -ơng

và địa ph-ơng đầy ắp thóc có thể dùng trong 50 năm" Nh-ng sự xa hoa vô độ

của Tuỳ D-ỡng Đế và tiếp đó là những cuộc nội chiến kéo dài hơn chục năm trời đã làm cho nền kinh tế mà chủ yếu là nông nghiệp bị tàn phá nặng nề

Rút bài học kinh nghiệm của triều Tuỳ, các vua đầu đời Đ-ờng đã thi hành một số chính sách nh-ợng bộ đối với nông dân Sau cuộc chiến tranh nông dân lớn cuối đời Tuỳ, nhân dân li tán, ruộng đất bị bỏ hoang Chính phủ

Đ-ờng đã lấy ruộng đất công và ruộng đất hoang vô chủ cấp đều cho nông dân gọi l¯ “chễ độ quân điẹn”: đ¯n ông được cấp 100 mẫu; người gi¯ c°, bị tật v¯ tàn phế cấp 40 mẫu; đàn bà goá cấp 30 mẫu Trong số ruộng đất cấp này thì dành 20 mẫu làm ruộng vĩnh nghiệp (nông dân đ-ợc thừa kế, chuyển nh-ợng, mua bán), còn lại là ruộng khẩu phần (sau khi chết phải trả lại cho nhà n-ớc)

Để khuyến khích khai hoang ruộng đất, chính phủ Đ-ờng còn quy định, nếu chuyển từ thôn ít ruộng sang thôn nhiều ruộng thì đ-ợc bán ruộng vĩnh nghiệp

đ-ợc cấp ở thôn ít ruộng và đ-ợc cấp ruộng đất mới ở thôn nhiều ruộng Trên cơ sở chế độ quân điền, nông dân phải chịu nghĩa vụ thuế khoá và lao dịch gọi

là chế độ Tô, Dung, Điều

Thời sơ Đ-ờng, nông dân có ruộng cày, chính phủ thu thuế theo quy

định lại còn chú ý không bắt phu trong ngày mùa, miễn giảm tô thuế trong

Trang 24

những năm mất mùa, đói kém… Cho nên đời sống của nông dân có phần dễ chịu hơn, xã hội đã sớm đ-ợc ổn định Dân số tăng nhanh, ruộng đất đ-ợc khai khẩn thêm nhiều, công tác thuỷ lợi đ-ợc chăm sóc, sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh chóng Đặc biệt đến năm trị vì thứ t- của Đ-ờng Thái Tông

(năm 630), Trung Quốc đ-ợc mùa lớn "gạo mỗi đấu bốn năm tiền, cổng ngoài

mấy tháng không đóng, ngựa bò đầy đồng, khách đi đ-ờng mấy ngàn dặm không mang theo l-ơng thực"

Sang đầu thế kỉ VIII, d-ới thời Đ-ờng Huyền Tông, nền kinh tế Trung Quốc phát triển một cách toàn diện Trong nông nghiệp công cụ sản xuất ngày càng đ-ợc cải tiến mạng l-ới thuỷ lợi ngày càng đ-ợc mở rộng, diện tích canh tác tăng thêm nhiều, chẳng những ruộng hoang không còn nữa mà đất đồi cũng đ-ợc khai phá Do vậy đất n-ớc một lần nữa lại xuất hiện cảnh thái bình, thịnh v-ợng

Nh-ng từ giữa thế kỉ VIII về sau, xã hội Trung Quốc có nhiều biến cố, hết loạn An - Sử lại đến chiến tranh nông dân, tiếp đó là hơn nửa thế kỷ chia cắt và nội chiến nên nông nghiệp bị phá hoại nghiêm trọng, mãi đến thời Tống mới đ-ợc khôi phục Chính phủ Bắc Tống đã thực hành một số biện pháp khuyến khích phát triển sản xuất nh- bỏ phần lớn các thứ thuế má nặng nề của Năm đời và M-ời n-ớc; nông dân vỡ hoang đ-ợc miễn thuế 3 năm, nơi nào thiếu súc vật kéo thì phổ biến việc dùng cày đạp bằng sức ng-ời, chính phủ

đứng ra sửa chữa và xây dựng thêm nhiều công trình thuỷ lợi ở Hoàng Hà, Biện Giang và Giang Nam…

Đến thế kỷ XII, miền Bắc Trung Quốc bị ng-ời Nữ Chân thống trị Phần vì trình độ phát triển xã hội của họ t-ơng đối thấp, phần vì ng-ời Hán bỏ chạy xuống phía Nam rất nhiều, nên nền nông nghiệp ở miền Bắc lại bị đình

đốn Ng-ời Nữ Chân chiếm rất nhiều ruộng đất của nông dân làm ruộng công, lập đồn điền, làm bãi chăn nuôi, bãi săn bắt… Bản thân ng-ời Nữ Chân không lao động, chúng bắt ng-ời Hán cày ruộng cho chúng hoặc thuê ruộng của chúng và nộp thuế tr-ớc hai, ba năm Chính phủ Kim đánh thuế rất nặng Ngoài thuế ruộng, lại còn có thuế tài sản và rất nhiều thứ thuế phụ thu khác…

Trang 25

Trái lại, nửa miền Nam d-ới chính quyền Nam Tống, kinh tế đ-ợc phát triển nhanh chóng Nhân dân đã khai khẩn ruộng hoang, cải tạo ruộng thấp, xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi, cải tiến nông cụ và ph-ơng pháp canh tác, nhờ

đó thu hoạch tăng lên nhiều Sản l-ợng mỗi năm cao nhất có đến năm, sáu

thạch thóc Thời đó có câu ngạn ngữ: "Tô (Giang Tô), Hồ (Hồ Nam), lúa chín,

thiên hạ ấm no“ Bông tr-ớc kia trồng nhiều ở vùng L-ỡng Quảng, Phúc

Kiến, giữa đời Nam Tống đã phổ biến rộng khắp Giang Nam, do đó bên cạnh nghề dệt lụa có thêm nghề dệt vải bông

Trong thời gian chinh phục của ng-ời Mông Cổ nền kinh tế Trung Quốc lại bị tàn phá nặng nề Do chính sách giết sạch để lấy đất làm bãi cỏ chăn nuôi, những ng-ời sống sót đa số bị bắt làm nô lệ, sức lao động nông nghiệp

bị giảm sút một cách nghiêm trọng, nhất là ở miền Bắc Nh-ng sau khi triều Nguyên thành lập, Hốt Tất Liệt đã thay đổi chính sách thống trị, do đó nông nghiệp cũng có một số thành tựu nào đó mà nổi bật là việc trồng bông càng phổ biến hơn tr-ớc

Đến cuối đời Nguyên, nông nghiệp lại bị suy sụp do đê điều bị hỏng không sửa chữa đ-ợc, thiên tai xảy ra liên tiếp và nhất là do cuộc chiến tranh lan rộng ra cả n-ớc, kéo dài suốt m-ời bảy năm

Sau khi nhà Minh thành lập, qua thời gian khôi phục đến đầu thế kỷ

XV, nông nghiệp có nhiều tiến bộ mới về kĩ thuật sản xuất, trong đó đáng chú

ý nhất là kỹ thuật gieo mạ Diện tích trồng trọt cũng v-ợt xa thời tr-ớc do đó sản l-ợng l-ơng thực tăng lên rất nhiều Sử sách TrungQuốc lại một lần nữa ghi "kho lẫm nhà n-ớc chứa đầy thóc lúa để hết năm này qua năm khác, đến nỗi mục không thể ăn đ-ợc" [14, 178] Việc trồng bông phát triển khắp cả n-ớc, do đó đến thời kì này bông đ-ợc đặt ngang hàng với dâu và đay, là những thổ sản cổ truyền của Trung Quốc Sang đầu thế kỷ XVI, ở Trung Quốc lại có thêm loại cây trồng mới, đó là thuốc lá đ-a từ Philippin vào

Trong nửa đầu thế kỷ XVII đã diễn ra cuộc chiến tranh nông dân cuối Minh kéo dài m-ời mấy năm, đồng thời Trung Quốc lại th-ờng xuyên bị quân Mãn Thanh xâm nhập, giày xéo, c-ớp bóc Sau khi triều Thanh thành lập,

Trang 26

cuộc chiến tranh chinh phục vẫn tiếp diễn vì vậy cả xã hội Trung Quốc lại bị xơ xác tiêu điều Phần lớn ruộng đất bị bỏ hoang, dân c- th-a thớt, có nơi dân

đi l-u tán mất sáu bảy phần m-ời, thậm chí có thị trấn cuối đời Minh có hơn một nghìn nhà, đầu đời Thanh chỉ còn lại vài chục nhà Tr-ớc tình hình ấy để hoà hoãn mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp, các vua đầu đời Thanh cũng tỏ ý muốn "dốc sức m-u l-ợc thịnh trị" nên đã thi hành một số chính sách nh- khuyến khích khai khẩn đất hoang, chăm lo đến việc chống lụt, ổn

định thuế khoá, tiết kiệm chi tiêu… Đến thời Càn Long, nông nghiệp đ-ợc khôi phục ngang hàng với thời phát triển nhất của triều Minh

Nh- vậy, nhìn chung nền nông nghiệp Trung Quốc càng về sau càng có những thành tựu mới Nh-ng trong quá trình đó, cùng với sự thịnh suy có tính chất chu kỳ về chính trị, nông nghiệp cũng nh- các ngành kinh tế khác đã phát triển hoặc suy thoái một cách t-ơng ứng Tình hình ấy đúng nh- nhận định

sau đây của Mác: "… ở các n-ớc châu á, nông nghiệp bị suy sụp d-ới sự cai

trị của chính phủ này nh-ng lại đ-ợc khôi phục d-ới sự cai trị của chính phủ khác ở đây thu hoạch cũng là tuỳ ở chính phủ tốt hay xấu, giống nh- ở châu

Âu mức thu hoạch là tuỳ ở thời tiết tốt hay xấu''

1.3 Chế độ ruộng đất phong kiến Trung Quốc

Thời cổ đại, cũng nh- ở các n-ớc ph-ơng Đông khác, ruộng đất ở Trung Quốc thuộc quyền sở hữu của nhà n-ớc Đến thời Xuân Thu - Chiến Quốc, chế độ thái ấp và tỉnh điền dần dần tan rã, ruộng đất t- hữu bắt đầu ra

đời và không ngừng phát triển Do vậy từ thời Tần đến thời Thanh, ở Trung Quốc hai hình thái sở hữu ruộng đất cùng tồn tại, đó là ruộng đất của nhà n-ớc

và ruộng đất của t- nhân

1.3.1 Ruộng đất của nhà n-ớc

Bộ phận ruộng đất thuộc phần quản lí trực tiếp của nhà n-ớc th-ờng

đ-ợc gọi bằng cái tên nh- công điền, v-ơng điền, quan điền Nguồn gốc của

loại ruộng đất vốn do nhà n-ớc quản lí còn có những ruộng đất vắng chủ sau

Trang 27

thời kỳ chiến tranh loạn lạc Do vậy, thông th-ờng trong thời kì đầu, các triều

đại phong kiến Trung Quốc nắm đ-ợc rất nhiều ruộng đất

Thời Hạ, do thiếu t- liệu lịch sử nên tình hình ruộng đất không đ-ợc biết cụ thể

Thời Th-ơng, trong giai đoạn đầu nông nghiệp còn mang tính chất du canh du c-, kinh đô dời nhiều lần, địa điểm c- trú của vua quan ch-a cố định, nên quyền chiếm hữu ruộng đất ch-a đ-ợc quy định chặt chẽ Về sau cùng với việc xác định rõ tôn ti trật tự dòng họ nhà vua, vua Th-ơng đã thi hành chính s²ch phân phong ruộng đất cho b¯ con thân thích cða mệnh Thiên “Ân b°n kỳ” trong Sừ ký cða Tư M± Thiên viễt: “Con ch²u đời Thương được phân phong, lấy n-ớc làm họ, có họ Ân, họ Lai, họ Tống, họ Không Đồng, họ Trĩ,

họ Bắc Ân, họ Múc Di” Nhửng người được phong đất còn được phong c²c t-ớc Hầu, Bá, Tử Họ có nghĩa vụ phục tùng mệnh lệnh của vua, phải vâng mệnh vua đi chiến đấu, phải đem lễ vật về cúng ở nhà Thái miếu

Đến thời Tây Chu, chế độ ruộng đất hoàn chỉnh hơn Sau khi chinh phục đ-ợc n-ớc Th-ơng và các bộ tộc khác, tất cả đất đai trong n-ớc đều thuộc quyền sở hữu của vua Chu

"Phổ thiên chi hạ, mạc phi v-ơng thổ Suất thổ chi tân, mạc phi v-ơng thần"

(ở d-ới gầm trời, đâu cũng đất vua Khắp trên mặt đất, ai cũng dân vua) Với t- cách là kẻ sở hữu cao nhất về ruộng đất, vua Chu giữ lại một phần xung quanh kinh đô để làm lãnh địa trực tiếp của mình goi là "V-ơng kỳ" Những vùng đất xung quanh V-ơng kỳ, vua Chu phân phong cho con em, những ng-ời thân thích và các công thần Khi phong đất còn phong kèm một t-ớc hiệu quý tộc Tuỳ theo quan hệ bà con thân hay sơ, công lao lớn hay nhỏ

mà đ-ợc phong đất rộng hay hẹp, gần hay xa và t-ớc vị cao hay thấp

Trang 28

Những ng-ời đ-ợc phong đất đai và t-ớc vị trở thành vua ch- hầu của thiên tử nhà Chu Vua ch- hầu tuy không có quyền sở hữu ruộng đất nh-ng

đ-ợc truyền lãnh địa (n-ớc) của mình cho con cháu

Đối với thiên tử nhà Chu, vua ch- hầu có nghĩa vụ phải đến chầu, phải nộp cống, phải đ-a quân đội đến giúp mỗi khi có chiến sự xảy ra Nếu không thi hành đầy đủ những nghĩa vụ đó thì tuỳ theo mức độ mà bị giáng chức t-ớc,

bị thu hồi đất phong hoặc bị đem quân đến tiêu diệt

Ruộng đất trong V-ơng kỳ và trong các n-ớc ch- hầu lại đem phân phong cho các quan lại của triều đình nhà Chu và trong bộ máy hành chính của các n-ớc ch- hầu gọi là khanh, đại phu để làm thái ấp Khanh, đại phu lại chia thái ấp của mình cho những ng-ời giúp việc gọi là sĩ Sĩ là tầng lớp cuối cùng trong giai cấp thống trị Họ đ-ợc h-ởng số thuế của phần ruộng đất đ-ợc chia cho, nh-ng đến khi thôi việc phần ruộng đất ấy phải trả lại

Quần chúng giữ vai trò chủ yếu trong việc sản xuất nông nghiệp là nông dân công xã Trong các làng xã, việc phân chia ruộng đất cho các hộ nông dân

do các chức dịch ở nông thôn phụ trách, lúc đầu cứ mỗi năm chia lại một lần,

về sau cứ ba năm mới chia lại một lần

Việc phân phong ruộng đất cho khanh, đại phu, sĩ cũng nh- việc chia

ruộng đất trong các thôn xã đều áp dụng chế độ "tỉnh điền" Chế độ ruộng đất

này đã có mầm mống từ đời Th-ơng, đến thời Tây Chu, do sự phát triển của mạng l-ới thuỷ lợi và sự tiến bộ trong việc đo đạc ruộng đất nên càng đ-ợc hoàn chỉnh Tác phẩm đầu tiên nói đến chế độ "tỉnh điền" là sách Mạnh Tử, trong thiên "Đằng Văn Công - th-ợng" có viết: "Một trăm dặm vuông là một tỉnh, một tỉnh có 900 mẫu, ô chính giữa là ruộng công, 8 nhà đều có ruộng riêng 100 mẫu, cùng canh tác ruộng công Việc công xong mới dám làm việc riêng" [18, 336] Trong khiên "Thực hoá chí" sách "Hán th-" viết hơi khác một chút: "Tỉnh vuông mỗi cạnh một dặm chia làm chín suất Tám nhà chung nhau một tỉnh mỗi nhà nhận 100 mẫu ruộng riêng và 10 mẫu ruộng công, nh- vậy là 880 mẫu, còn thừa 10 mẫu đề l¯m nh¯ ở” [14, 46] Theo chễ độ “ tình

điẹn”, mỗi hộ nông dân được chia một phần ruộng 100 mẫu ( b´ng kho°ng 2

Trang 29

ha) gọi là một điền Nếu đất xấu thì đ-ợc nhận gấp hai hoặc ba lần Nh- vậy

điền là đơn vị để chia ruộng đất cho nông dân, đồng thời cũng là đơn vị để phong th-ởng ruộng đất cho quan lại Các quan lại quý tộc tuỳ theo t-ớc vị cao thấp mà đ-ợc ban hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn hộ nông dân cày cấy trên phần ruộng đất ấy

Chễ độ “tình điẹn” tồn t³i rất lâu d¯i ở Trung Quốc cổ đ³i Đễn thời Chiến quốc, khi ruộng t- xuất hiện thì chế độ này mới dần dần tan rã

Năm 645 tr.CN, nước Tấn đặt ra “viên điẹn”, b±y bà chễ độ phân phối

đất đai định kỳ, mở rộng sự hạn chế phân phối đất đai Để mua chuộc lòng dân Tấn Huệ Công đặt ra v-ơng điền làm cớ, đem đất đai ban phát cho quân thần, trên cơ sở đó t³o ra “châu binh” tụ đó binh lức tăng lên m³nh mẻ Theo c²ch nói ở thiên “Thức ho² chí” s²ch “H²n thư” thệ “trong lũc phân phối đất

đai, nếu là ruộng th-ợng điền không h-u canh hàng năm thì đ-ợc chia 100 mẫu; nếu ruộng trung điền h-u canh một năm thì đ-ợc chia 200 mẵu; nếu ruộng h³ điẹn cần được hưu canh hai năm thệ sẻ được chia 300 mẵu” [18, 338] Cách làm này của Tấn Huệ Công đã làm biến đổi chế độ phân phối đất

đai theo định kỳ vốn có, trong một chừng mực nhất định làm chuyển hoá đất

đai quốc hữu sang phía đất đai t- hữu Sau này thi Th-ơng Ưởng cải cách ph²p chễ, củng tụng đặt ra “viên điẹn” nhưng có chỗ kh²c với viên điẹn cða Tấn Huệ Công là theo nhu cầu nhất định, phân phát đất đai một lần

Năm 221 tr.CN, Tần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ, sau khi lập nên nhà n-ớc thống nhất đầu tiên áp dụng chế độ phong kiến chuyên chế tập quyền trung -ơng trong lịch sử Trung Quốc, nhà Tần vẫn noi theo chế độ ruộng đất thời Chiến Quốc Nhà n-ớc thi hành chế độ giao ruộng theo quy

định đem đất đai quốc hữu phân phối cho nông dân sử dụng Theo lời chú giải cða Trịnh Huyẹn ở múc “Đ³i Tư đồ” trong phần “Địa quan” s²ch “Chu Lể” thệ

“viếc canh t²c mỗi năm nễu l¯ ruộng đất phệ nhiêu thệ mỗi nh¯ được cấp 100 mẫu; ruộng đất hơi kém, cách một năm h-u canh một lần thì mỗi nhà đ-ợc cấp 200 mẫu; ruộng h-u canh hai năm mới canh tác một lần thì mỗi nhà đ-ợc cấp 300 mẫu [18, 341] Phần “Thức ho² chí” s²ch “H²n thư” còn chẽp r´ng,

Trang 30

ng-ời dân lúc 20 tuổi thì đ-ợc nhà n-ớc cấp ruộng, đến 60 tuổi phải trả lại ruộng đất cho nhà n-ớc

Sau cuộc chiến tranh tàn khốc cuối Tần, nhân khẩu ở đầu đời Hán đã bị giảm nhiều, ruộng đất bỏ hoang cũng lắm Hán Cao Tổ khi mới lên ngôi đã ban bố sắc lệnh kêu gọi nhân dân trở về làng cũ làm ăn, trả lại ruộng đất cho những ng-ời lánh nạn Số ruộng hoang và vô chủ còn lại biến thành ruộng công thuộc quyền nhà n-ớc, giao cho nông quan quản lý

Thời Tam Quốc, L-ỡng Tấn, Nam Bắc Triều chế độ ruộng đất vẫn giữ theo thời Tần - Hán Nhà n-ớc phong kiến trực tiếp nắm giữ phần lớn đất đai phân chia ruộng đất cho nông dân và lập ra các đồn điền quân đội đ-a nông dân đến khai khẩn Tr-ớc khi Tào Tháo thống nhất miền Bắc, trong thời gian

ba m-ơi năm các thế lực phong kiến cát cứ đánh nhau loạn xạ làm cho vùng

đất Trung Nguyên phồn hoa đô hội trở th¯nh hoang phễ tiẹu điẹu “trăm dặm không thấy bóng người” Trong tình hình đó, nhà n-ớc thi hành chế độ đồn

điền, mộ dân khẩn đất đai lập đồn điền, dân trong các đồn điền chuyên canh tác ruộng đất và thực hiện nộp tô thuế cho nhà n-ớc Dân đồn điền trên danh nghĩa là do chiêu mộ và thiên di đến, nh-ng cũng có tính c-ỡng chế nhất định,

bị ràng buộc nghiêm khắc với đất đai, không đ-ợc tự ý rời khỏi nơi ở, nên trong “Truyến Viên Ho²n” phần “Nguỵ thư” s²ch “Tam Quốc chí” có ghi:

“mới đầu mộ dân khai khẩn đồn điền, dân không chịu, có rất nhiều ng-ời bỏ trốn” [18, 354]

Sau khi v-ơng triều Tây Tấn thống nhân Trung Quốc, để thu đ-ợc nhiều thuế hơn và bảo vệ lợi ích tầng lớp sĩ tộc địa chủ, vào năm Thái Khang thứ nhất (năm 280) triều đình ban bố chế độ chiếm ruộng, quy định: “đ¯n ông

đ-ợc chiếm hữu 70 mẫu, đàn bà đ-ợc chiếm 30 mẫu, trong khi đó quan lại nhất phẩm đ-ợc chiếm hữu 50 khoảnh (tức 5000 mẫu), nhị phẩm 45 khoảnh, tam phẩm 40 khoảnh… Cho đến cửu phẩm 10 khoảnh (tức 100 mẫu) Quan lại còn đ-ợc chiếm hữu tá điền, khách hầu hạ ăn mặc (nô bộc), tuỳ theo đẳng cấp [1,114] Thực tế đây chỉ là quy định về đất công, còn đất t- hữu của địa chủ quý tộc thì số l-ợng rất lớn: “bấy giờ số lượng địa chð có đất đai vượt qu²

Trang 31

100 khoảnh, 200 khoảnh cũng không ít Đại quý tộc V-ơng Triền, chỉ đất lăng

mộ chu vi cũng đã tới 40 dặm” [18, 359] Cho nên thời đó người ta thường nói r´ng: “ruộng vườn nh¯ cừa cða người ta không có h³n định”

Sau khi Tây tấn bị tiêu diệt, vùng đất rộng lớn khu vực Hồng Hà trở thành nơi tranh giành cai trị của Hán tộc và các bộ tộc từ bên ngoài đến, lần l-ợt lập chính quyền trên đất Trung nguyên Năm 316 Tây Tấn diệt vong, Bắc Nguỵ thống nhất ph-ơng bắc, sử gọi hơn 130 năm n¯y l¯ “ngủ Hồ thập lúc quốc” (16 n-ớc của 5 tộc Hồ) Trong cuộc hỗn chiến tranh giành chính quyền

và đất đai của các bộ tộc, giai cấp quý tộc, địa chủ ph-ơng bắc dẫn bộ khúc, tá

điền chạy xuống Giang Nam, rất nhiều dân chúng Trung Nguyên di c- xuống phía nam Chiến tranh liên miêm làm cho dân số miền bắc giảm nhanh, đất

đai hoang vu ở Trung nguyên, những thế tộc, c-ờng hào, tộc họ có vũ trang,

bộ hạ, h-ơng hào lý tr-ởng còn lại xây thành đắp luỹ thừa cơ c-ớp đoạt ruộng

đất, ao đầm, sông núi, che chở cho nông hộ, dân th-ờng tụ tập chiếm lấy một vùng, có những thế gia đại tộc có một số hộ trong tay lên đến hàng vạn nhà

Nhà Bắc Nguỵ lúc ấy mới thành lập, vì muốn có đ-ợc sự ủng hộ của thế gia đại tộc, nên đã thừa nhận quyền lợi của chúng đối với việc bóc lột, nô dịch

và thống trị những hộ h-ởng ấm, đem đến sự phá sản của tầng lớp nông dân nghèo, nên nông dân nghèo dùng biện pháp n-ơng tựa vào địa chủ để làm hộ h-ởng ấm mà trốn thuế, cũng có những ng-ời bán thân làm nô lệ hoặc l-u lạc tha h-ơng Để lợi dụng một cách hiệu quả việc khống chế phần lớn đất đai hoang vu, khống chế việc lấn chiếm quá mức của tầng lớp đại địa chủ, sắp xếp lại đất đai và tổ chức lại sản xuất Năm Thiên H-ng thứ nhất (năm 398) Nguỵ Thái tổ ban chiếu cấp phát trâu cày, binh khí và giao ruộng đất theo đầu người Theo thiên “Cao tổ kỳ” cða “Nguỵ thư” có ghi số ruộng đất được cấp ph²t “ mỗi đ¯n ông được cấp 40 mẫu, trai vị th¯nh niên 20 mẫu”, l¯m cho sữc ng-ời đầy đủ, đất đai tạo ra nhiều của cải vật chất

Sau khi cấp ruộng đất, đất đai vẫn thuộc quyền quản lý của nhà n-ớc Chễ độ “giao ruộng theo đầu người” thi h¯nh đễn nhửng năm đầu thời Hiễu Văn Đế kéo dài hơn 70 năm Do nông hộ đ-ợc chia ruộng đất bị tập trung

Trang 32

giống nh- biên chế quân sự, nếu việc chăm sóc cây trồng không tốt, làm cho

cỏ hoang mọc đầy… thì bị xử phạt, cho nên làm cho nông dân nảy sinh tiêu cực, tự ý bỏ đi, thành thử hiệu quả không tốt Nh-ng từ trong luật giao ruộng theo đầu ng-ời cũng có thể tìm đ-ợc nguồn gốc sâu xa của việc thi hành chế

“nhửng nơi đất hép nễu b´ng lòng có thề dời đễn đất hoang” (thụa nhận sứ xâm chiếm ruộng đất của địa chủ đối với nông dân) Bọn địa chủ lớn còn đ-ợc cấp thêm ruộng đất d-ới hình thức nhận ruộng cho nô tỳ và trâu bò (nô tỳ

đ-ợc nhận ruộng nh- nông dân; mỗi con bò đ-ợc nhận 30 mẫu, hạn tối đa là 4 con) Sau khi nhận ruộng của nhà n-ớc nông dân phải nộp thuế tô điều cho nhà n-ớc (ruộng nộp tô, hộ nộp điều): một đôi vợ chồng phải nộp tô 2 thạch lúa, điều 1 tấm vải và phải đi làm lực dịch nh- đi xây dựng cung điện, thành quách hoặc nạo vét sông ngòi… nô tỳ nhận ruộng chỉ phải nộp tô thuế bằng 1/5 nông dân, không phải làm lực dịch, trâu bò nhận ruộng chỉ nộp bằng 1/20 tô thuế của nông dân

Để tranh giành sức lao động với địa chủ các tộc Hán và Hồ, cùng lúc với việc ban bố chế độ quân điền, Hiếu Văn đế đã bãi bỏ chế độ Tông Chủ

Đốc Hộ, đẩy mạnh việc thi hành chế độ Tam tr-ởng Chế độ Tam tr-ởng là năm nhà lập một Lân, năm Lân lập thành một Lý, năm Lý lập thành một

Đảng Lân có lân tr-ởng, Lý có Lý tr-ởng, Đảng có Đảng tr-ởng, gọi chung là Tam tr-ởng Tam tr-ởng có quyền miễn trừ binh dịch, s-u dịch từ một đến ba

Trang 33

ng-ời; có trách nhiệm kiểm tra hộ khẩu, quản lý nhân dân, đốc thúc việc sản xuất nông nghiệp để đảm bảo việc thu thuế cho nhà n-ớc phong kiến

Sau khi lên ngôi, để củng cố sự thống nhất đất n-ớc, Tuỳ Văn Đế đã phải tiếp tục cải cách nền kinh tế của triều tr-ớc, phát triển sản xuất xã hội Chễ độ quân điẹn thời Bắc Chu có quy định: “con trai 18 tuổi thành đinh, đ-ợc cấp ruộng đất trồng trọt lâu dài 20 mẫu, lộ điền 80 mẫu, phụ nữ đ-ợc cấp lộ

điền 40 mẫu Nông hộ đ-ợc cấp ruộng đất phải nộp tô điều và phục vụ s-u dịch” [18, 364] Tuự Văn đễ sừa đổi l³i: “nam 21 thệ tuổi th¯nh đinh, cấp ruộng đất vẫn từ 18 tuổi Nam từ 18 tuổi đến 20 tuổi, sau khi đ-ợc cấp ruộng

đất sẻ được miển trụ giao nộp tô điẹu, phúc vú lao dịch” Tuự Văn đễ b°o hộ lợi ích của giai cấp quan liêu địa chủ, từ Thân v-ơng đến Đô đốc đều đ-ợc cấp ruộng trồng trọt lâu dài, nhiều thì 1000 mẫu, ít thì 300 mẫu Quan liêu chiếu theo cấp bậc cũng đ-ợc cấp từ 100 đến 500 mẫu ruộng chức phận để làm bổng lộc thu nhập của quan viên

Những cuộc khởi nghĩa nông dân cuối Tuỳ đã làm cho nhà Tuỳ giàu mạnh đã mất ngôi nhanh chóng Sự thực đó đã đem lại bài học sâu sắc cho nhà

Đ-ờng Năm 627, Lý Thế Dân lên nối ngôi cha, ông đã nhận thức đ-ợc rằng

“thuyẹn ví như vua, nước ví như dân, nước có thề chở thuyẹn củng có thề lật thuyẹn” Ông còn nói: “Tai ho³ cða vua không ph°i tụ bên ngo¯i đễn m¯ th-ờng tự mình mà ra Nếu muốn phô tr-ơng thì phải chi tiêu rộng, chi tiêu rộng thì phải thu thuế nặng, thu thuế nặng thì dân sầu oán, dân sầu oán thì nước nguy, nước nguy thệ vua chễt” [14, 117] Vệ thễ muốn cðng cố nẹn thống trị của mình, các vua đầu đời Đ-ờng chủ tr-ơng không nên áp bức và bóc lột thái quá mà phải nh-ợng bộ nông dân một phần nào Sử Trung Quốc gọi đó là

“chính sách nhượng bộ nông dân cða nh¯ Đường buổi đầu“ Trong những

chính sách nh-ợng bộ nông dân của các vua đầu đời Đ-ờng thì quan trọng nhất là việc chia ruộng đất, giảm tô thuế, bớt s-u dịch cho nông dân

Nh¯ Đường ban h¯nh “chễ độ quân điẹn”, lấy nhửng phần ruộng đất rộng lớn bị bỏ hoang trong thời kỳ chiến tranh để chia cho dân cày Quy định

ở những nơi làng rộng, nam từ 18 tuổi trở lên đ-ợc cấp 100 mẫu trong đó 20

Trang 34

mẫu ruộng trồng dâu gọi l¯ ruộng “vĩnh nghiếp”, 80 mẫu trồng lũa gọi l¯ ruộng “khẩu phần” ở những nơi làng hẹp, nam trên 18 tuổi chỉ đ-ợc chia 40 mẫu ruộng khẩu phần, quả phụ đ-ợc cấp 30 mẫu, ng-ời tàn tật, ng-ời già đ-ợc cấp 40 mẫu Nếu là chủ hộ thì đ-ợc cấp nửa suất của tráng đinh 20 mẫu ruộng vĩnh nghiệp, 30 mẫu ruộng khẩu phần

Hoà th-ợng, đạo sĩ đ-ợc cấp 30 mẫu ruộng khẩu phần, nữ đạo sĩ đ-ợc cấp 20 mẫu Ng-ời theo ngành nghề công th-ơng th-ơng nghiệp thì đ-ợc cấp theo tiêu chuẩn số l-ợng phân nửa riêng đất của đinh nam, nếu nh- ở những làng đất chật ng-ời đông thì không cấp tuộng

Thời Đ-ờng, quý tộc, quan lại tuỳ theo địa vị, công lao, chức t-ớc mà

đ-ợc ban cấp ruộng vĩnh nghiệp, ruộng th-ởng công và ruộng chức vụ

Ruộng khẩu phần 60 tuổi phải trả lại cho nhà n-ớc, còn ruộng vĩnh nghiệp đ-ợc truyền cho con cháu Ruộng chức vụ của quan lại khi thôi chức phải giao lại cho ng-ời kế nhiệm, trừ ruộng đất ban th-ởng cho quan lại và quý tộc đ-ợc tự do mua bán, còn nói chung ruộng cấp cho nông dân là không

đ-ợc chuyển nh-ợng Tuy vậy trong một số tr-ờng hợp đặc biệt nh- nông dân thiếu hoặc thừa ruộng trồng dâu hoặc gia đình có việc tang ma mà quá nghèo

có thể mua bán ruộng trồng dâu Những nông dân mà dời chỗ ở từ nơi ít ruộng

đến nơi nhiều ruộng thì đ-ợc bán cả ruộng khẩu phần Trên cơ sở cấp ruộng

đất theo tiêu chuẩn nh- nhau nhà n-ớc bắt nông dân phải chịu nghĩa vụ ngang nhau về thuế khoá và lao dịch Thời Đ-ờng, nghĩa vụ đó đ-ợc quy định thành chễ độ “tô, dung, điẹu” Mỗi tr²ng đinh ph°i nộp “tô” 2 th³ch thóc, “điẹu” 20 thước lúa v¯ 3 l³ng tơ, “dung” 60 thước lúa đề thay cho 20 ng¯y lao dịch ở những nơi đất không trồng đ-ợc dâu thì có thể dùng bông vải để thay thế

Nh- vậy mục đích của chế độ quân điền là nhằm đảm bảo cho nông dân

có ruộng đất cày cấy, do đó sẽ đảm bảo nguồn thuế khoá cho nhà n-ớc

Sau khi thi h¯nh “chễ độ quân điẹn”, nhửng nông dân không có hoặc ít ruộng đất, những ng-ời đi l-u tán trở về quê h-ơng đều đ-ợc cấp ruộng đất

Họ đã trở thành nông dân cày cấy ruộng đất công, thoát khỏi sự lệ thuộc vào

Trang 35

địa chủ Hơn nữa, do việc giao ruộng đất cho nông dân, toàn bộ ruộng đất bị

bỏ hoang vì chiến tranh đã đ-ợc canh tác trở lại nên nông nghiệp lại đ-ợc phát triển Vì vậy thu nhập của nhà n-ớc đ-ợc tăng lên, đời sống của nông dân

vụ loạn An-Sử (năm 755-763) củng gây sứ x²o trộn lớn vẹ nhân khẩu nên “chễ

độ quân điẹn” bị ph² ho³i dần dần Trong tệnh hệnh ấy nh¯ nước không thề

tiếp tục thi hành chế độ “tô, dung, điều“ đ-ợc nữa, vì đó là chế độ thuế khoá

thu thuế nhân khẩu trên cơ sở ruộng đất đ-ợc phân chia bằng nhau Năm 780,

nhà Đ-ờng đặt ra một chính sách thuế khoá mới, gọi là “lưỡng thuế pháp“

(phép thuế hai kỳ) Chính sách thuế mới này quy định, nhà n-ớc chỉ căn cứ theo số ruộng đất và tài sản thực tế để đánh thuế, thuế đ-ợc thu làm hai lần vào hai vụ thu hoạch (tháng 6 và tháng 11 hàng năm)

Bà chễ độ “tô, dung, điẹu”, chì căn cữ v¯o t¯i s°n thức có đề dấnh thuễ, chứng tỏ đến đây nhà Đ-ờng phải công khai thừa nhận sự phá hoại hoàn toàn cða “chễ độ quân điẹn” Tụ đó cho đễn cuối chễ độ phong kiễn, bộ phận ruộng

đất của nhà n-ớc vẫn tiếp tục tồn tại nh-ng ngày càng bị thu hẹp Với số ruộng đất do nhà n-ớc trực tiếp quản lý, các triều đại từ Tống trở về sau chỉ

đem ban cấp cho quan lại, một bộ phận lập thành đồn điền, điền trang đ-ợc

gọi là “ho¯nh trang“, “quan trang“, “tỉnh trang“….chứ không có chính

sách gì mới

1.3.2 Ruộng đất t- nhân

Trong giai đoạn tr-ớc, toàn bộ ruộng đất ở Trung Quốc đều thuộc quyền sở hữu của nhà n-ớc nh-ng sang thời Xuân Thu, tình hình đó đã thay

Trang 36

đổi, chế độ ruộng đất của nhà n-ớc đã dần dần tan rã, ruộng t- xuất hiện ngày càng nhiều

Thời Tây Chu, ruộng đất đ-ợc phân phong theo thứ tự: thiên tử phong cho ch- hầu, ch- hầu phong cho khanh; khanh, đại phu chia cho sĩ Vua các n-ớc ch- hầu tuy đ-ợc truyền lãnh địa cho con cháu nh-ng không có quyền sở hữu Còn thái ấp của khanh, đại phu vốn là bổng lộc vua ban cho d-ới hình thức ruộng đất Đối với khanh, đại phu khác họ với nhà vua thì khi thôi chức, thái ấp phải trả lại Nh-ng đến thời Xuân Thu, nguyên tắc ấy không đ-ợc chấp hành nghiêm chỉnh nữa

Khi mới thi hành chính sách phân phong, sự ràng buộc của nhà Chu đối với các vua ch- hầu một mặt dựa vào quan hệ họ hàng, mặt khác dựa vào quan

hệ tôn chủ với bồi thần Đến thời Xuân Thu, quan hệ họ hàng đó đã trở nên xa vời và quan trọng hơn Thiên tử nhà Chu với t- cách là tôn chủ không còn đủ thế lực để bắt những ng-ời đ-ợc kế thừa đất phong phải thực hiện nghĩa vụ của họ

Trong khi đó, các n-ớc ch- hầu lớn th-ờng thôn tính các n-ớc nhỏ hoặc xâm chiếm đất đai của các n-ớc khác Ví dụ: n-ớc Lỗ đã thôn tính 9 n-ớc nhỏ

và 15 ấp của n-ớc khác, n-ớc Tề đã thôn tính 10 n-ớc nhỏ và 2 ấp, n-ớc Tần

đã thôn tính 20 n-ớc nhỏ … Trên thực tế, các n-ớc ch- hầu đều coi lãnh địa

đ-ợc phong tr-ớc kia là thuộc quyền sở hữu của họ

Trong các n-ớc ch- hầu, tình hình cũng diễn ra t-ơng tự nh- vậy Thời Xuân Thu, ngoài thái ấp làm bổng lộc ra các khanh, đại phu còn đ-ợc vua ch- hầu ban th-ởng ruộng đất vì có công lao đặc biệt của họ Ngoài ra các khanh,

đại phu còn tranh giành đất đai của nhau Ví dụ, ở n-ớc Tấn có 6 họ quan lại lớn là Triệu, Nguỵ, Hàn, Trí, Phạm, Trung Hành Cuối thời Xuân Thu, bốn họ Triệu, Nguỵ, Hàn, Trí đã chia nhau thái ấp của hai họ Phạm và Trung Hành;

về sau ba họ Triệu, Nguỵ, Hàn lại chia nhau thái ấp của họ Trí Khi thế lực của vua ch- hầu yếu, các khanh, đại phu còn xâm chiếm đất đai của vua Những nguồn ruộng đất ấy của khanh, đại phu đều hoà đồng làm một và biến dần thành ruộng t- Đồng thời với hiện t-ợng chế độ ruộng đất phân phong bị

Ngày đăng: 02/12/2021, 23:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w