1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đóng góp của các dòng họ khoa bảng ở nghi lộc nghệ an đối với lịch sử dân tộc (từ đầu thế kỷ xix đến năm 1919)

78 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đóng Góp Của Các Dòng Họ Khoa Bảng Ở Nghi Lộc - Nghệ An Đối Với Lịch Sử Dân Tộc (Từ Đầu Thế Kỷ XIX Đến Năm 1919)
Tác giả Nguyễn Thị Như Hoa
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Hồng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch Sử Việt Nam
Thể loại Khoá Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ tính riêng ở khoa Lịch sử tr-ờng Đại học Vinh từ năm 2002 tới nay đã có một số đề tài luận văn, luận án đã chọn mảng đề tài này để nghiên cứu nh-: - Về các luận văn tốt nghiệp Đại họ

Trang 1

Tr-ờng đại học vinh Khoa lịch sử

Lớp: 45B2 - Sử

Vinh, 2008

*****

Trang 2

Lời cảm ơn

Trong quá trình thực hiện khoá luận này, tôi đã nhận đ-ợc sự quan tâm giúp đỡ

từ các đơn vị, cá nhân: Đảng uỷ huyện Nghi Lộc, các dòng họ, Th- viện Tr-ờng Đại học Vinh, Th- viện Tỉnh Nghệ An cùng các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử Tr-ờng

Trang 3

Ch-¬ng 1:Kh¸i qu¸t vÒ truyÒn thèng v¨n ho¸ - gi¸o dôc

1.1 §«i nÐt vÒ ®iÒu kiÖn tù nhiªn - x· héi ë huyÖn Nghi Léc 7

1.2 Gi¸o dôc khoa cö nho häc ë Nghi Léc tr-íc thêi NguyÔn 17

Ch-¬ng 2: C¸c dßng hä khoa b¶ng ë Nghi Léc tõ ®Çu thÕ

2.1 Kh¸i qu¸t vÒ t×nh h×nh khoa b¶ng ë Nghi Léc tõ 1802 - 1919 28

2.2 Mét sè dßng hä khoa b¶ng tiªu biÓu ë Nghi Léc 42

Trang 4

đề tài này để nghiên cứu Chỉ tính riêng ở khoa Lịch sử tr-ờng Đại học Vinh từ năm

2002 tới nay đã có một số đề tài luận văn, luận án đã chọn mảng đề tài này để nghiên cứu nh-:

- Về các luận văn tốt nghiệp Đại học: Lịch sử văn hoá dòng họ Nguyễn Tiên

Điền ở Nghi Xuân - Hà Tĩnh cuối thế kỷ XVI đến nay - (Hồ Trà Giang ); Tìm hiều về dòng họ Ngô ở Lý Trai - Diễn Châu - Nghệ An và thân thế sự nghiệp của danh nhân văn hoá Ngô Trí Hoà - (Võ Thị Thanh Bình); Tìm hiểu về lịch sử văn hoá dòng họ ở Quỳnh Đôi - Quỳnh L-u - Nghệ An - (Hồ Quang Đồng)

- Luận án Thạc sỹ có các đề tài sau:Các dòng họ khoa bảng ở Tống Võ Liệt -

Thanh Ch-ơng - Nghệ An (1807 - 1919) - (Nguyễn Triều Tiên) Dòng họ Cao ở Bạch Ngọc - Đô L-ơng - Nghệ An - (Nguyễn Ngọc Khánh); Lịch sử - Văn hoá dòng họ Trần H-ng ở Thanh Ch-ơng từ thế kỷ XVI đến nay – (Trần Thị Hải Yến)

Qua các công trình nghiên cứu đó cho chúng ta thấy rằng: Nghiên cứu về các dòng họ đã, đang và sẽ luôn là vấn đề đ-ợc nhiều ng-ời quan tâm, nghiên cứu bởi những giá trị văn hoá truyền thống dòng họ là nền tảng cho việc gìn giữ và phát huy

những văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam.Chọn đề tài “ Đóng góp của các

dòng họ khoa bảng ở Nghi Lộc- Nghệ An đối với lịch sử dân tộc (Từ đầu thế kỷ

có ý nghĩa về mặt khoa học

1.2 Về mặt lý luận

Đề tài: "Đóng góp của các dòng họ khoa bảng ở Nghi Lộc - Nghệ An đối với

lịch sử dân tộc (từ đầu thế ky XIX đến năm 1919)" này chỉ tập trung đi sâu vào

nghiên cứu các dòng họ khoa bảng ở phạm vi một huyện chứ không phải nghiên cứu

Trang 5

toàn bộ lịch sử hình thành, những đóng góp của các dòng họ đối với lịch sử dân tộc nh- các đề tài tr-ớc đã thực hiện Do đó, đề tài góp phần thiết thực vào việc nghiên cứu về giáo dục khoa bảng của các dòng họ danh tiếng ở huyện Nghi Lộc nói riêng

Đề tài còn nhằm giải quyết, lý giải một vấn đề mà lâu nay các nhà nghiên cứu lịch sử địa ph-ơng ch-a tập trung giải quyết để thấy đây là: Nghệ An là đất học, là một vùng quê giàu truyền thống khoa bảng Nh-ng có phải bất cứ dòng họ nào, vùng quê nào truyền thống học hành khoa bảng cũng đều nổi tiếng hay không? Tại sao chỉ

có một số ít dòng họ trong một tỉnh, một huyện là duy trì và phát triển đ-ợc truyền thống giáo dục khoa bảng? Nghi Lộc là một vùng quê nghèo đói, thiên tai khắc nghiệt, nhân dân ở đây hiếu học, truyền thống khoa bảng ở Nghi Lộc chủ yếu tập trung ở một số dòng họ nh-: Họ Nguyễn Đức (Nghi Trung), họ Nguyễn Thức (Nghi Tr-ờng), họ Đinh Văn (Nghi Long), họ Nguyễn (Phúc Thọ)…

Một vấn đề đặt ra là: Tại sao trong số hàng trăm dòng họ lớn nhỏ định c- ở vùng đất Nghi Lộc mà chỉ có một số dòng họ nổi tiếng về truyền thống khoa bảng Thông qua việc nghiên cứu về các dòng họ khoa bảng nổi tiếng ở Nghi Lộc từ đầu thế

kỷ XIX đến năm 1919, đề tài muốn góp phần giải quyết vấn đề vừa nêu trên

Đề tài còn là tấm lòng mà tác giả đối với quê h-ơng Nghi Lộc nói chung và các

bậc tiền bối đã dồn toàn bộ tài năng, sức lực cho sự nghiệp đèn sách "Cửa khổng sân

trình" đỗ đạt thành danh và không ít ng-ời trong số họ đã làm rạng danh cho quê

h-ơng Hơn nữa thông qua việc nghiên cứu đề tài tôi muốn góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu các giá trịvăn hoá cao đẹp của cha anh, tự hào về truyền thống văn hoá khoa bảng của quê h-ơng Từ truyền thống đó sẽ là động lực cho tôi, cho tất cả thế hệ trẻ trên quê h-ơng tôi không ngừng phấn đấu, ra sức học tập góp phần sức mình cho công cuộc đổi mới quê h-ơng

2 Lịch sử vấn đề

Khoa cử Nghi Lộc là một mảng đề tài nghiên cứu lịch sử địa ph-ơng, từ tr-ớc tới nay đã có khá nhiều tài liệu đề cập tới

Tuy nhiên, đối với đề tài: Các dòng họ khoa bảng ở Nghi Lộc thời Nguyễn cho

đến nay vẫn ch-a có một công trình nghiên cứu nào thật hoàn chỉnh, chỉ có những tài liệu nghiên cứu ở phạm vi rộng hơn, mang tính bao quát về tình hình khoa bảng của

Nghi Lộc nh- đề tài: "Chế độ giáo dục khoa cử nho học ở Nghi Lộc thời Nguyễn

Trang 6

(1802 - 1919)" của Vũ Thị Thuỳ Giang Trong đó đã đề cập đến chế độ giáo dục khoa

cử thời Nguyễn về các vấn đề nh- hệ thống tr-ờng học, về những ng-ời đậu đạt của Nghi Lộc và trong đó đề tài cũng đã điểm qua các dòng họ tiêu biểu của Nghi Lộc nổi tiếng về khoa bảng, có nhiều ng-ời đậu đạt Tuy nhiên, đề tài vẫn ch-a đi sâu vào

nghiên cứu các dòng họ khoa bảng Hay qua các tài liệu nh- "Nghệ An ký" của Bùi D-ơng Lịch, Nguyễn Thị Thảo dịch, Nxb KHXH, Hà Nội,1993, "Lịch sử đảng bộ

Đảng cộng sản Việt Nam huyện Nghi Lộc" của Nguyễn Đình Triển, Nxb Nghệ An,

1991… đều nói đến những đặc điểm lịch sử, địa lý và chế độ giáo dục khoa cử nho

học ở Nghệ An Trong các cuốn nh-: "Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn" của

Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Ph-ợng, Nxb VHTT, H.1995, đã nêu lên đầy đủ những ng-ời đậu Cử nhân, Tiến sỹ, Phó bảng Việt Nam d-ới triều Nguyễn, trong đó

có Nghệ An, Nghi Lộc Hay trong cuốn "Khoa bảng Việt Nam" 1075 - 1919,

Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb Văn học Hà Nội, 1993 cũng đã nêu lên đầy đủ các nhà khoa bảng Việt Nam, trong đó có Nghệ An suốt chiều dài lịch sử (1075 - 1919)

Đặc biệt trong cuốn "Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919)", Nxb VHTT Nghệ

An, 2000 Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu gốc cũng nh- các tài liệu liên quan đến chế

độ khoa cử nh-: "H-ơng -ớc Nghệ An" Ninh Viết Giao chủ biên, Nghệ An, 1998; Gia

phả các đòng họ, "Quốc triều h-ơng khoa lục" Cao Xuân Dục, Nguyễn Thuý Nga dịch, Nxb Hồ Chí Minh, 1993 đã khái quát cũng nh- phác hoạ một cách đầy đủ về khoa bảng của Nghệ An nói chung, Nghi Lộc nói riêng từ 1075 - 1919 trong tác phẩm này tác giả ngoài việc liệt kê các nhà khoa bảng, thì tác giải đã giới thiệu về các dòng

họ nổi tiếng về khoa bảng khá chi tiết, cụ thể ở từng huyện ở Nghệ An

Ngoài ra qua một số tài liệu của các kỷ yếu hội thảo khoa học "Văn hoá các

dòng họ ở Nghệ An" của Thái Kim Đỉnh, Nxb Nghệ An, 1994; "Danh nhân Nghệ Tĩnh" (tập 1, Ban nghiên cứu lịch sử Đảng, 1980…) đều đã phác hoạ vị trí của xứ nghệ

x-a luôn có truyền thống hiếu học và bên cạnh đó còn đề cập đến những truyền thống văn hoá ở các dòng họ nh- truyền thống yêu n-ớc, truyền thống văn thơ của nhân dân Nghệ An nói chung và nhân dân Nghi Lộc nói riêng Những truyền thống văn hoá đó

đ-ợc ngàn đời sau l-u giữ và là niềm tự hào của quê h-ơng Nghi Lộc

Tuy các tài liệu đã đề cập đến chế độ khoa bảng Nghệ An, trong đó có Nghi Lộc trong bối cảnh chung của chế độ khoa bảng Việt Nam Nh-ng ch-a có công trình

Trang 7

nào đi sâu vào nghiên cứu về đóng góp cuả các dòng họ khoa bảng ở huyện Nghi Lộc trong phạm vi thời gian đề tài xác định Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu mà chúng tôi nêu trên là tài liệu nghiên cứu, đối chiếu, so sánh trong quá trình chúng tôi thực hiện đề tài này Với đề tài này tôi mong muốn góp một phần sức mình vào việc l-u giữ và phát huy truyền thống quê h-ơng

3 Nhiệm vụ và giới hạn đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu về những đóng góp tiêu biểu của các dòng họ khoa bảng ở Nghi Lộc (Nghệ An) đối với lịch sử dân tộc trong khoảng thời gian từ đầu thế

kỷ XIX đến tr-ớc khi Đảng cộng sản Việt Nam thành lập - những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

Tuy nhiên, để thực hiện đề tài, chúng tôi có đề cập đôi nét khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội, truyền thống văn hoá, khoa bảng ở Nghi Lộc tr-ớc thế kỷ XIX nhằm làm rõ thêm những nội dung chính của đề tài

4 Ph-ơng pháp nghiên cứu

Nhằm giải quyết những nội dung đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng ph-ơng pháp lịch sử sử học Macxit, ph-ơng pháp lôgic, ph-ơng pháp liên ngành, thống kê, so sánh…

Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành điền dã trên địa bàn huyện Nghi Lộc để s-u tầm các loại gia phả, lời kể, t- liệu truyền miệng… để bổ sung cho nguồn tài liệu chính sử

Hệ thống hoá một số tài liêụ có liên quan đến đề tài để tiện nghiên cứu và đối chiếu khi biên soạn lịch sử địa ph-ơng Nghi Lộc.Có thể sự dụng luận văn để biên soạn bài giảng lịch sử địa ph-ơng cho đối t-ợng học sinh trung học

Trang 8

Kết quả nghiên cứu của luận văn còn góp phần giáo dục truyền thống yêu quê h-ơng ,trân trọng những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần mà cha ông đã để lại trên

Trang 9

B Nội dung Ch-ơng 1

Khái quát về truyền thống văn hoá - giáo dục khoa bảng ở

huyện Nghi Lộc tr-ớc thế kỷ XIX

1.1 Đôi nét về điều kiện tự nhiên - xã hội ở huyện Nghi Lộc

Nghi Lộc là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, nằm sát phía Bắc thành phố Vinh trên toạ độ từ 18040' đến 18055 vĩ độ Bắc, từ 105028' đến 105045' kinh đông, phía Bắc giáp hai huyện Yên Thành và Diễn Châu; phía Nam giáp thành phố Vinh và hai huyện H-ng Nguyên, Nam Đàn; phía Đông giáp biển Đông và huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), phía Tây giáp huyện Đô L-ơng Diện tích rộng gần 420km2

Trải qua nghìn năm cai trị của các tập đoàn phong kiến Trung Quốc và các triều đại phong kiến Việt Nam, cũng nh- các địa ph-ơng trong cả n-ớc, địa giới và tên gọi quận, huyện ở vùng đất Nghi Lộc đã nhiều lần thay đổi Đời nhà Ngô gồm cả Nghi Xuân gọi là huyện D-ơng Toại, nhà Đ-ờng gọi là Phố D-ơng Đời Trần tách phần Hà Tĩnh đặt làm huyện Nha Nghi, phần còn lại đặt làm huyện Tân Phúc, thời thuộc Minh đổi thành Tân Phúc Đến năm minh mệnh thứ 7 (1827) đổi thuộc phủ Anh Sơn bao gồm cả tổng Yên Tr-ờng (Vinh - Bến Thuỷ) Năm Thành Thái thứ 1 (1889) vua Thành Thái mới đổi tên thành huyện Nghi Lộc Và đến 10 năm sau (1899)

địa giới giữa phủ H-ng Nguyên và huyện Nghi Lộc đ-ợc điều chỉnh Tổng Yên Tr-ờng phía Bắc Vinh - Bến Thuỷ tr-ớc thuộc phủ H-ng Nguyên, nay cắt sang huyện Nghi Lộc Tách các làng xã phía Đông Bắc sông Cấm thành lập ra tổng La Vân

Nh- vậy, Nghi Lộc d-ới triều nhà Nguyễn đ-ợc chia thành 5 tổng bao gồm: Tổng La Vân có 5 đơn vị gồm: La Vân, La Nham (Nghi Yên), Hải Thanh (Nghi Tiến), Đông Ngàn, Trung Kiên (Nghi Thiết)

Tổng Th-ơng Xá có 26 đơn vị: Tri Thuỷ, Lộc Mỹ, Đức Vọng, Xuân áng (Nghi Quang), Th-ợng Xá (Nghi Hợp), Mỹ Xá, Văn Xá (Nghi Xá), Vạn Lộc, Tân Lộc (Nghi Tân), Yên L-ơng, Mai Bản, Mai Lĩnh, Yên Trạch (Nghi Thuỷ), Thu Lũng (Nghi Thu), Khánh Rễ, Long Trảo (Nghi Khánh), Xuân Đình, Lập Thạch, Bảo Trì

Trang 10

(Nghi Thạch), Văn Trung, Đông Quan, Kim ổ, Thiên Lộc (Nghi H-ơng), Xuân Tình (Nghi Thịnh), Đông Chữ, Kỳ Trân (Nghi Tr-ờng)

Tổng Đăng Xá có 15 đơn vị: Phú ích, Ph-ợng C-ơng, Yên Lạc, Văn Trạch, Mỹ Chiêm (Nghi Phong), Song Lộc (Nghi Hải), Nghi Hoà, Tân Hợp, Nam Sơn, Chính Vỹ (Nghi Xuân), Cổ Đan, Cổ Bái, Lộc Thọ, Phú Lợi (Phúc Thọ), Hải Côn, Phú Hoà (Nghi Thái)

Tổng Kim Liên có 17 đơn vị: Ân Hậu (Nghi Ân), Đức Hậu (Nghi Đức), Yên

Đại (Nghi Phú), Phan Thôn, Xuân Liễu (Nghi Kim), Kim Chi (Nghi Liên), Kim Cẩm,

Kỳ Phúc (Nghi Trung), Cao Xá (Nghi Vạn), Xã Đoài, Yên Giáo, Yên Lạc (Nghi Diên), Kim Khê th-ợng (Nghi Long), Kim Khê trung (Nghi Thuận), Vọng Nhị, Ngọc Liễn, Trung Hậu (Nghi Hoa)

Tổng Vân Trình có 16 đơn vị: Tam Đa, Yên Lạng (Nghi H-ng), Ph-ơng Tích,

Mỹ Yên, Hà Thanh, Tuỵ Anh (Nghi Ph-ơng), Xuân Mỹ, Vân Trình (Nghi Đồng), Mỹ Hoà, Phú Trạch, Tràng Đề (Nghi Mỹ), Mậu Lâm, Mỹ Lâm (Nghi Lâm), Cổ Văn, Cổ Lạm, Đồng Quĩ (Nghi Văn)

Để thuận lợi cho việc quản lý và phát triển kinh tế - xã hội, đến tháng 8/1994 chính phủ quyết định thành lập thị xã Cửa Lò, gồm phần đất các xã: Nghi Tân, Nghi Thuỷ, Nghi H-ơng, Nghi Hải, Nghi Hoà và hai đảo là đảo Ng- và đảo Mắt thuộc huyện Nghi Lộc Đến nay, huyện Nghi Lộc (trừ thị xã Cửa Lò) gồm có 33 xã và một thị trấn, đó là: Nghi Ân, Nghi Công, Nghi Diên, Nghi Đồng, Nghi Đức, Nghi Hoa, Nghi Hợp, Nghi H-ng, Nghi Khánh, Nghi Kiều, Nghi Kim, Nghi Liên, Nghi Long, Nghi Mỹ, Nghi Phong, Nghi Quang, Nghi Thạch, Nghi Thái, Nghi Thiết, Nghi Thịnh, Nghi Thu, Nghi Thuận, Nghi Tiến, Nghi Trung, Nghi Tr-ờng, Nghi Vạn, Nghi Văn, Nghi Xá, Nghi Xuân, Nghi Ph-ơng, Phúc Thọ và thị trấn Quán Hành

Trên cơ sở khảo sát địa chất của tỉnh Nghệ An cũ, các nhà nghiên c-ú lịch sử

và địa lý đã đoán định cách đây ít nhất khoảng 1 vạn năm, bờ biển còn nằm sâu trong lục địa huyện Nghi Lộc ngày nay Thời ấy, sông Cấm là dòng sông lớn nhất của huyện Phát Nguyên từ chân các dãy núi Đại Huệ ở phía Tây Nam và dãy núi Đại Vạc

ở phía Tây Bắc theo độ nghiêng từ 60  00 đổ xuống đến đầu núi Voi (Đò Cấm - Nghi Quang) tách thành hai nhánh chảy quanh núi Voi và Lữ Sơn (nay là đồi 200), rồi nhập lại ở Cửa Xá thông ra biển đông Sau khi biển lùi, nhánh sông phía Nam bị bồi

Trang 11

lấp, chỉ còn lại nhánh sông phía Bắc nh- ngày nay Sông Cấm cũng là ranh giới tự nhiên giữa hai vùng có đặc điểm riêng của huyện

Vùng phía Bắc và phía Tây, Tây Nam từ tả ngạn sông Cấm trở lên núi đồi nối tiếp nhau dàn dày suốt dọc địa giới chung với các huyện Nam Đàn, Đô L-ơng, Yên Thành, Diễn Châu, lấn sâu vào nội địa, lan rộng ra dọc bờ biển phía Bắc Cửa Lò Lớn nhất là dãy núi Đại Vạc bắt đầu từ các làng Cổ Văn, Cổ Lạm (Nghi Văn) địa đầu phía Tây Bắc huyện ven theo địa giới chung hai huyện Yên Thành, Diễn Châu, chảy thắng xuống sông Cấm đối đầu với núi voi ở phía Hữu Ngạn, tạo thành cửa vào ra của các tuyến đ-ờng giao thông Bắc - Nam của đất n-ớc Trên dãy núi Đại Vạc có động Thần

Vũ (Nghi H-ng) cao tới 200 - 500m so với mặt n-ớc biển Núi đồi ở đây có độ dốc lớn và bị xói mòn nặng Diện tích bán sơn địa chiếm tỷ lệ lớn, bị phủ dày sỏi đá, nghèo mùn và chất hữu cơ nên nhìn chung vùng đất này không thuận lợi cho việc sản xuất của nhân dân

Vùng phía Đông và Đông Nam từ hữu ngạn sông Cấm trở xuống, tuy không có nhiều núi đồi, song địa hình cũng hết sức phức tạp Sau các đợt biển lùi cứ cách nhau khoảng trên d-ới 1km lại nổi lên một cồn cát cao, kéo dài song song theo bờ biển Trên các dãy cồn cát ấy, không có cỏ cây, về mùa hè cát nóng nh- rang Xen kẻ giữa các dãy cồn cát là các lòng chảo và bàu đầm Thổ nh-ỡng ở các lòng chảo có hiện t-ợng tích tụ sắt và nhôm, rất nghèo chất mùn, chất hữu cơ và hàm l-ợng trao đổi rất thấp Tỷ lệ đất canh tác trong vùng vừa ít, vừa manh mún và năng suất cây trồng

đều rất thấp Vùng đồng bằng màu mỡ của huyện phần lớn nằm dọc ven hai bờ sông Cấm, nhất là phía hữu ngạn Thổ nh-ỡng ở đây, cát pha sét, hàm l-ợng mùn và NPK tổng hợp cao, thích nghi với nhiều loại cây trồng nhất là cây lúa

Nghi Lộc có bờ biển dài 25km, chiếm 1/4 bờ biển của tỉnh Nghệ Tĩnh, có 2 cửa sông lớn là Cửa Lò và Cửa Hội Hai cửa sông này có vị trí chiến l-ợc về quân sự và kinh tế của quốc gia và quốc tế Đặc biệt là trong những thế kỷ từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XIV, Cửa Hội là một trong những c-ả lạch có nhiều thuyền của ng-ời trong n-ớc và ngoài n-ớc đến làm ăn Các v-ơng triều quốc gia Đại Việt đều quan tâm xây dựng, củng cố vững chắc đồn phòng ở hai cửa sông này để bảo vệ đất n-ớc

Trang 12

Về mặt khí hậu, huyện Nghi Lộc nằm trong vùng tiểu khí hậu Vinh- nơi có nhiệt độ mặt đất diễn biến t-ơng tự và trùng hợp với thời gian nhiệt độ của không khí Vì vậy, mỗi năm có 2 mùa Mùa nóng và mùa lạnh

Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10 Đầu mùa nóng cũng là lúc gió mùa Tây Nam (gió Lào) từ vịnh Bănggan v-ợt Tr-ờng Sơn tràn sang với vận tốc mạnh, nhiệt độ cao, có lúc lên tới 40 - 420C Tổng tích nhiệt trong mùa này ở Nghi Lộc bình quân hàng năm là 5.0930C Những tháng có gió mùa Tây Nam ở Nghi Lộc không có m-a

hoặc có m-a không đáng kể gây ra nạn "hạn không khí" nặng Tuy đã đ-ợc hạn chế một phần của không khí biển song "hạn không khí" kết hợp với sự khô cằn của thổ

nh-ỡng làm cho các loài thực vật chậm phát triển, sinh hoạt của con ng-ời cũng hết sức căng thẳng Tai hại nhất là khi nhiệt độ đạt tới đỉnh điểm cũng là dịp các loại hoa màu đang thời kỳ sinh tr-ởng, n-ớc sông Cấm vào thời điểm khô kiệt, thuỷ triều có

điều kiện tiến sâu vào làm mất tác dụng thuỷ lợi của sông suối Tiếp sau gío mùa Tây

Nam và "hạn không khí" là mùa bão lụt kéo dài từ tháng 8 đến tháng 10, có năm tới

tháng 11 Trên 70% l-ợng m-a trong năm ở Nghi Lộc tập trung vào mùa này, số còn lại tập trung vào lũ tiểu mãn (tháng 4, 5) Mỗi lần có lụt, do n-ớc từ các dãy núi đồi phía Bắc, phía Tây và phía Tây Nam đổ xuống nhanh, vận tốc sông Cấm chậm, lại bị thuỷ triều cản nên gây ra úng kéo dài ở các cánh đồng dọc ven sông Cấm

Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình mùa này ở Nghi Lộc không xuống quá 140C Tháng giêng, tháng hai lạnh nhất, nhiệt độ thấp t-ơng đối cũng chỉ đạt tới 60C L-ợng m-a trung bình rất thấp, bình quân chỉ 100mm/tháng Mùa này cũng là mùa gió Đông Bắc, không khí biển tràn vào bị các dãy núi đồi cản lại làm cho chất khô hanh giảm xuống, độ ẩm lên cao, tạo điều kiện cho côn trùng phát sinh, phát triển

Qua đặc điểm về địa hình cũng nh- về khí hậu, thời tiết ở nơi đây quả là một khó khăn đối với c- dân Nghi Lộc, với cuộc sống phụ thuộc vào trồng trọt là chủ yếu

Cũng nh- các huyện đồng bằng ven biển khác của tỉnh, từ thuở các vua Hùng dựng n-ớc, trên lục địa huyện Nghi Lộc ngày nay đã có c- dân ng-ời Việt cổ sinh sống Thủa ấy, nơi đây là lãnh thổ của bộ Việt Th-ờng của n-ớc Văn Lang, sau là n-ớc Âu Lạc

Trang 13

Dân c- huyện Nghi Lộc đ-ợc hình thành sớm, từ dọc ven sông Cấm và đ-ờng Thiên Lý (tên tr-ớc khi có đ-ờng quốc lộ 1), rồi lan dần ra các vùng trong huyện, tr-ớc hết là vùng phía Đông và Đông Nam theo sự lùi dần của biển Theo tộc phả của các dòng họ lớn, lâu đời trên lãnh thổ huyện Nghi Lộc thì thuỷ tổ phần lớn từ phía Bắc vào, một số từ phía Nam ra Các cụm dân c- đ-ợc hình thành muộn từ thế kỷ XIV về sau, đều bắt đầu từ trang trải khai khẩn đất hoang và thu gom ng-ời từ nhiều nơi đến

Để ổn định nơi c- trú, để làm ăn, sinh sống c- dân Nghi Lộc đã ra sức lấn biển, khai hoang, lập ấp phát triển các ngành nghề

ở vùng biển, sau khi biển lùi nhánh sông Cấm phía Nam bồi lấp, ông Nguyễn Hội quê ở làng C-ơng Gián, huyện Nghi Xuân chiêu dân lập ra hai đồng muối Th-ợng Xá (Nghi Xá, Nghi Hợp) và Yên L-ơng (Nghi Thuỷ) Tiếp đó, Nguyễn Xứ con thứ của ông là một danh t-ớng của nhà Lê lấy tù binh quân Minh (Trung Quốc)

và quân Chămpa, Chiêm Thành (các quốc gia phía Nam) khai phá đất hoang dọc bờ biển từ Cửa Lò đến Cửa Hội làm cho dân c- và ruộng đất canh tác ở vùng này ngày càng mở rộng Riêng vùng Bàu ổ làng Văn Trung (Nghi H-ơng) và Đồng Sở làng Phú ích (Nghi Phong), ông lập thành hai làng mới và cử các thủ lĩnh tù binh ng-ời Chămpa làm thủ chí kỳ hào Con đầu Nguyễn Xí là quận công Nguyễn S- Hồi khi

đ-ợc vua Lê Nhân Tông phong chức "Thái Bảo Tổng Đô Đốc Hải Binh th-ợng t-ớng

quân thập nhị hải môn" (tức quan Thái Bảo, th-ợng t-ớng tổng đô đốc hải quân chấn

thủ 12 cửa biển) đã lấy Cửa Xá làm trung tâm của tuyến phòng thủ Cùng với xây dựng căn cứ Xá Tấn, sau đổi thành Lò Tấn (tức Cửa Lò ngày nay), ông dùng thuyền hải quân chở đá xây kè dọc bờ biển phía Nam c-ả sông Cấm để bảo vệ căn cứ và chiêu dân các nơi đến phát triển nghề đánh cá và làm ruộng Năm 1493, ông lập ra xã Hải Giang bao gồm Vạn Lộc và Tân Lộc (Nghi Tân) sau này Cùng với thành lập xã Hải Giang ở Cửa Lò, cụm dân c- "ba trang, bảy trại" dọc bờ phía Bắc cửa Sông Lam

từ Cửa Hội trở lên (bao gồm các làng thuộc xã Nghi Hải, Nghi Hoà, Nghi Xuân, Phúc Thọ và Nghi Thái cũng đ-ợc hình thành và phát triển đông đúc Ngoài ra còn có các làng Kiều Mộc (Nghi Thái) là một trong ba làng do bà V-ơng mẫu Phạm Thị Dung làng Ngô Xá (Nghi Đức) là mẹ vú của vua Trần Nhân Tông lập ra để khai khẩn điền trang đ-ợc triều đình ban cho lúc trở về sinh sống ở quê nhà

Trang 14

Đi đôi với phát triển dân c- và ruộng đất canh tác ven biển, các trang trại khai khẩn đất hoang ở đồng bằng và bán sơn địa cũng đ-ợc thành lập ngày càng nhiều nh- làng Nhất Tộc, Xuân Mỹ (Nghi Đồng), xã Quá Khê (Nghi H-ng), ấp Kim Ngọc (Nghi Long)…

Trải qua một quá trình khai hoang, lập ấp, c- dân ngày càng đông đúc Và do

điều kiện tự nhiên của huyện nên c- dân ở đây làm nghề ruộng, đánh cá và làm muối

là chủ yếu Nh-ng ngoài ra nhân dân ở các làng, xã trong huyện còn phải làm nhiều nghề khác nữa mới duy trì đ-ợc cuộc sống ở một số làng ở các xã có nghề truyền thống nh-: Nghề làm đá ở La Nham (Nghi Yên), Trung Kiên (Nghi Thiết), nghề đóng thuyền ở Cổ Đam, Cổ Bái (Phúc Thọ), mây tre đan, dệt chiếu ở Ph-ợng C-ơng, Mỹ Chiêm (Nghi Phong)…

Các nghề trên đây đã góp phần quan trọng, tạo việc làm, nâng cao mức sống cho nhân dân nhất là ở các xã ở vùng phía Đông và Đông Nam, nơi thiếu ruộng đất canh tác, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn

Nghi Lộc là một vị trí chiến l-ợc rất quan trọng Là nơi có bờ biển dài với hai lạch lớn thông ra biển đông và các tuyến giao thông huyết mạch của quốc gia xuyên qua nên từ xa x-a vùng đất này đã trở thành một trong những tuyến phòng thủ chiến l-ợc của đất n-ớc Hầu nh- không có cuộc chiến tranh nào từ phía Bắc vào, phía Nam

ra mà không qua vùng đất này Luôn phải chứng kiến và ghánh chịu những hậu quả của chiến tranh, nhân dân ở đây đã tôi luyện đ-ợc ý chí kiên c-ờng, sẵn sàng chiến

đấu, hy sinh để bảo vệ quê h-ơng, đất n-ớc Những ng-ời con -u tú trong huyện đã nối gót nhau làm rạng danh cho đất n-ớc và tô thắm thêm truyền thống yêu n-ớc cuả quê h-ơng

Không phải ngẫu nhiên mà năm 1418 khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa chống ách cai trị của quân xâm l-ợc nhà Minh (Trung Quốc) lại chọn Nghệ An làm h-ớng tiến công chiến l-ợc của cuộc khởi nghĩa Mà nh- lời nhận xét của Nguyễn Chích - một

viên t-ớng giỏi của nghĩa quân Lam Sơn: "Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất rộng, ng-ời

đông, tôi đã từng qua lại nên rất thuộc đất ấy: Nay tr-ớc hết thu lấy Trà Long, chiếm giữ cho đ-ợc Nghệ An để Làm đất dừng chân, rồi dựa vào sức ng-ời và của cải đất ấy

mà quay ra đánh Đông Đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ" [ 9 ;289-290 ]

Trang 15

Điều quan trọng là ở Nghệ An , nhân dân có truyền thống quật c-ờng, không chịu khuất phục tr-ớc ách đô hộ của quân xâm l-ợc Chính vì lẽ đó mà nhân dân nơi

đây hăng hái đi theo nghĩa quân rất đông trong số đó phải kể đến hai anh em Nguyễn Biện và Nguyễn Xí, con ông Nguyễn Hội ở làng Th-ợng Xá (Nghi Hợp) hai ông tham gia vào cuộc khởi nghĩa ngay từ buổi đầu và trở thành những nhân vật quan trọng của nghĩa quân, đã có rất nhiều đóng góp trong sự nghiệp chống quân xâm l-ợc nhà Minh của dân tộc Sau khi n-ớc nhà giành đ-ợc độc lập, Nguyễn Xí là một trong những công thần trụ cột của triều đình nhà Lê Nhân dân Nghi Lộc luôn tự hào và coi ông là tấm g-ơng sáng cho mọi thế hệ noi theo

B-ớc sang thế kỷ XVI - XVII tình hình n-ớc ta lại rơi vào tình trạng khủng hoảng rối ren Liên tiếp xẩy ra những cuộc chiến tranh giữa các dòng họ, giữa các thế lực phong kiến Đó là cuộc chiến tranh Trịnh - Mạc (1545 - 1592) Cuộc chiến tranh không chỉ gây ra bao cảnh đau th-ơng chết chóc, đẩy hàng chục vạn trang trái vào cảnh chém giết lẫn nhau mà còn tàn phá mùa màng, gây nên hàng loạt trận đói năm1557, 1559, 1570, 1571, 1572, 1577… [ 9; 343 ] Cuộc chiến tranh Trịnh Mạc chấm dứt, tình trạng Nam triều - Bắc triều chấm dứt ch-a đ-ợc bao lâu thì xẩy ra sự phân chia Đàng trong - Đàng ngoài Một cuộc chiến tranh mới lại bùng nổ kéo dài suốt 45 năm (1627 - 1672) Sự bất ổn định về chính trị cùng với sự cai trị hà khắc của các chính quyền phong kiến đã đẩy nhân dân ta vào tình trạng cơ cực, bần hàn Đó chính là nguyên nhân dẫn đến hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông dân đã nổ ra Tiêu biểu nh- các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Doanh Ph-ơng (1740 - 1751), khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751), cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật (1738 - 1770)

Trong bối cảnh chung của đất n-ớc, nhân dân Nghệ An nói chung, Nghi Lộc

nói riêng cũng phải chịu cảnh binh đao, "nồi da nấu thịt" đó Họ sẵn sàng đi theo

ngọn cờ đại nghĩa, tiêu biểu cho tinh thần yêu n-ớc của nhân dân Nghi Lộc thời kỳ này là Nguyễn Hữu Chĩnh, ở làng Đông Hải, huyện Chân Phúc, nay là xã Phúc Thọ, Nghi Lộc, ông theo Nguyễn Huệ ra Bắc để diệt Trịnh

Phong trào nông dân Tây Sơn do Nguyễn Huệ lãnh đạo thu hút đ-ợc đông đảo nhân dân Nghệ An đi theo Đặc biệt trong lần tiến quân ra Bắc để đánh quân xâm l-ợc nhà Thanh, Quang Trung - Nguyễn Huệ đến Nghệ An đóng quân lại một thời gian để mổ thêm quân Chỉ trong vòng mất ngày, thanh niên trai tráng địa ph-ơng nô

Trang 16

nức kéo về, hăng hái tòng quân làm cho quân số tăng lên đến trên 10 vạn [ 9;423 ] Khi v-ơng triều Tây Sơn đ-ợc thiết lập, để tiện cho việc điều hành Quang Trung quyết định chọn đất thành lập kinh đô mới và chọn chân núi Dũng Quyết (gần Bến Thuỷ - Nghệ An) làm trung tâm với tên gọi Ph-ợng Hoàng Trung Đô Bởi Quang Trung nhìn thấy đ-ợc thế sông núi, cũng nh- truyền thống yêu n-ớc của con ng-ời nơi đây

D-ới v-ơng triều Tây Sơn nhân dân ta đ-ợc sống trong một khoảng thời gian khá yên ổn Tuy nhiên, năm 1792 Quang Trung mất ,nội bộ nhà Tây Sơn rạn nứt nghiêm trọng.Lợi dụng cơ hội đó Nguyễn ánh dựa vào sự giúp đỡ của Pháp đã lật đổ v-ơng triều Tây Sơn, lập nên nhà Nguyễn

Bất bình tr-ớc những hành động bán n-ớc của triều Nguyễn, không chấp nhận

sự thống trị của thực dân ph-ơng Tây, nhân dân Nghệ Tĩnh nói chung, nhân dân Nghi Lộc nói riêng đã đứng lên khởi nghĩa Tiêu biểu nh- cuộc khởi nghĩa của Đinh Văn Chất, Cao Huy Tuấn… Họ là những nho sỹ đ-ợc học hành đỗ đạt, tuy nhiên tr-ớc sự

an nguy của dân tộc họ sẵn sàng từ bỏ quyền lợi bản thân, đấu tranh cho quyền lợi cảu quê h-ơng, đất n-ớc Tuy các cuộc khởi nghĩa cuối cùng đều thất bại, nh-ng nó

đã thể hiện đ-ợc nguyện vọng, ý chí và truyền thống yêu n-ớc lâu đời của nhân dân Nghi Lộc

Phong trào Cần V-ơng nổ ra (1885 - 1896) đã thu hút đ-ợc đông đảo nhân dân h-ởng ứng Mặc dù diễn ra đ-ới danh nghĩa Cần V-ơng nh-ng thực tế đây là một phong trào đấu tranh yêu n-ớc chống Pháp xâm l-ợc của nhân dân ta Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra: Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1887 - 1892), khởi nghĩa Bãi Sậy (1883 - 1892), khởi nghĩa H-ơng Khê (1885 - 1895) Với lòng yêu n-ớc nồng nàn, sự phẫn uất giặc sục sôi, nhân dân Nghi Lộc đã h-ởng ứng sôi nổi chiếu cần V-ơng Phối hợp với nghĩa quân Hà Tĩnh, nghĩa quân Nghệ An cũng hoạt động rất mạnh trên một vùng rộng lớn bao gồm Diễn Châu, Yên Thành, Thanh Ch-ơng, Nghi Lộc … làm cho quân

địch gặp nhiều khó khăn Nổi bật lên những nhân vật có đóng góp rất nhiều cho phong trào Cần V-ơng trên quê h-ơng Nghi Lộc là Nguyễn Thức Tự

Tuy nhiên, phong trào Cần V-ơng cuối cùng thất bại do nhiều nguyên nhân khác nhau Phong trào Cần V-ơng kết thúc chấm dứt vai trò lịch sử của giai cấp phong kiến, kể từ đây phong trào giải phóng dân tộc đứng tr-ớc những sự lựa chọn

Trang 17

mới Trong những năm 20 của thế kỷ XX, phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai khuynh h-ớng chính trị khác nhau: Khuynh h-ớng theo lập tr-ờng vô sản và khuynh h-ớng theo lập tr-ờng dân tộc dân chủ

Trải qua một quá trình đấu tranh, đến ngày 3/2/1930 với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đ-ờng lối cách mạng Là b-ớc ngoặt vĩ đại trong lịch sử của giai cấp công nhân và của cách mạng Việt Nam

Từ đây, cách mạng Việt Nam thuộc quyền lãnh đạo tuyệt đối của giai cấp công nhân

mà đội tiên phong là Đảng cộng sản D-ới ánh sáng của Đảng soi rọi, nhân dân Nghi Lộc cũng hoà chung chí h-ớng, cùng nhân dân cả n-ớc tiến hành cách mạng lật đổ chế độ phong kiến, đánh đuổi bọn thực dân ph-ơng Tây xâm l-ợc

Trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, Nghi Lộc là một trong những huyện đi tiên phong, góp phần làm nên một "Xô Viết đỏ" anh hùng Nhân dân Nghi Lộc cùng với quần chúng nhân dân các địa ph-ơng khác trong tỉnh đã đồng sức với nhân dân cả n-ớc làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng tháng 8/1945, lật đổ chế độ phong kiến, phá tan tầng xiềng xích nô lệ của thực dân Pháp kéo dài hơn 80 năm Đ-a n-ớc Việt Nam từ thân phận nô lệ thành một n-ớc độc lập

Đặc biệt, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm l-ợc, Nghi Lộc là một trong những huyện có vị trí chiến l-ợc, nằm trên tuyến giao thông Bắc - Nam, chính vì thế mà huyện cũng trở thành mục tiêu đánh phá của kẻ

địch Nh-ng với tinh thần yêu n-ớc, ý chí quyết tâm nhân dân Nghi Lộc anh dũng

đấu tranh, góp sức mình đ-a đất n-ớc đi đến thắng lợi cuối cùng

Trong mọi hoàn cảnh, nhân dân Nghi Lộc luôn phát huy đ-ợc những truyền thống tốt đẹp của quê h-ơng mình Đó là tinh thần v-ợt khó, cần cù, nhẫn nại, v-ơn lên trong cuộc sống Và để thoát khỏi cảnh nghèo đói, khó khăn, các sỹ tử Nghi Lộc

đã nung nấu quyết tâm học hành chăm chỉ, mong đi thi sẽ đậu đạt, không những giúp bản thân thăng tiến trên con đ-ờng khoa cử mà còn mong giúp quê h-ơng thoát khỏi

đói nghèo Đó cũng chính là cơ sở để hình thành nên truyền thống hiếu học, tiến thân trên con đ-ờng khoa cử và nó đã trở thành truyền thống đẹp mà mọi thế hệ con cháu trên quê h-ơng Nghi Lộc ra sức giữ gìn, phát huy truyền thống đó

1.2 Giáo dục khoa cử nho học ở Nghi Lộc tr-ớc thời Nguyễn

Trang 18

Chế độ khoa cử ngày x-a là một trong những yếu tố trụ cột tạo dựng nên nền văn hoá, văn minh cho dân tộc Việt Nam, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hoá Trung Hoa Từ thế kỷ II tr-ớc công nguyên, ngôn ngữ và văn tự của ng-ời Hán đã đ-ợc đ-a vào truyền bá ở Giao Châu Mỗi một triều đại phong kiến ph-ơng

Bắc đ-ợc thiết lập nên đều thực thi chính sách "Bành tr-ớng" tự coi mình là n-ớc lớn,

luôn tìm cách để khuất phục, đồng hoá nhân dân ta, chúng muốn biến n-ớc ta thành một quận, huyện của chúng Tuy nhiên, trong nghìn năm Bắc thuộc ấy trên đất n-ớc

ta luôn tồn tại hai xu h-ớng Hán hoá và chống Hán hoá Nhân dân ta với truyền thống văn minh xóm làng, đ-ợc đúc kết từ ngàn đời đã làm thất bại âm m-u của các v-ơng triều ph-ơng Bắc, giữ vững những bản sắc văn hoá dân tộc Chính vì vậy mà trong hơn một nghìn năm Bắc thuộc, Nho giáo ch-a xác lập đ-ợc một vị trí nào đáng kể Trong khi đó, phật giáo đã sử dụng chữ Hán dịch kinh, in sách dần dần chiếm -u thế trong đời sống tinh thần của xã hội Đến thế kỷ X, với chiến thắng trên sông Bạch

Đằng năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, giành lại độc lập tự chủ cho quốc gia Đại Việt, lúc này vai trò của phật giáo lại càng đ-ợc đề cao d-ới thời Ngô -

Đinh - Tiền Lê và đến triều Lý thì chiếm đ-ợc một vị trí độc tôn nh- một quốc giáo

Tuy nhiên, khi đất n-ớc giành đ-ợc độc lập tự chủ thì các v-ơng triều phong kiến phải tiến hành xây dựng, củng cố bộ máy nhà n-ớc để phục vụ cho công việc trị vì của mình Vì vậy, một vấn đề lớn đặt ra là cần phải tổ chức thiết chế nhà n-ớc theo ph-ơng cách nào? Để giải quyết những vấn đề đó, những ng-ời lãnh đạo đất n-ớc lúc bấy giờ không thể không nhìn thấy những -u điểm, những gì mà nho giáo có thể đem lại Họ không thể không nhìn vào mô hình lớn là thể chế chính trị, xã hội của Trung Quốc Từ đó mà việc học tập chữ Hán không chỉ nh- một công cụ giao tiếp mà còn là

sự học tập để tiếp thu nho giáo một cách có hệ thống, bởi ý thức thể nho giáo là chỗ dựa tinh thần căn bản của mọi thiết chế chính trị của xã hội Trung Quốc, và nó đã trở thành một công cụ sắc bén cho giai cấp cai trị muôn dân của mình Các triều đại phong kiến Việt Nam đều chịu ảnh h-ởng và thực tế đều vận dụng hệ t- t-ởng nho giáo vào việc cai trị của mình Tuỳ thuộc vào từng triều đại mà có sự áp dụng ở mức

độ khác nhau Đặc biệt là đối với việc học hành thi cử ở mỗi triều đại

Triều Lý, sau khi định đô ở Thăng Long, yên bề xã tắc, nhà Lý chú trọng đến việc giáo d-ỡng dân chúng, đào tạo hiền tài cho đất n-ớc Bởi sau dời đô về Thăng

Trang 19

Long mọi việc sắp đặt, xây dựng đều phải làm lại từ đầu Đây là một v-ơng triều chiụ

ảnh h-ởng rất lớn của hệ t- t-ởng phật giáo và phật giáo trở thành quốc giáo của v-ơng triều này Chính vì thế mà việc dạy nho học và chữ Hán ch-a đ-ợc quy định chính thức, nh-ng triều đình nhà Lý không thể không nhìn thấy lợi ích của việc tiếp xúc với nền văn hoá Trung Hoa Những ng-ời trong hoàng tộc hoặc con cháu của các

đại thần đ-ợc học chữ Hán tại nhà, hoặc học xen trong khi học kinh điển phật giáo Năm 1070 d-ới thời vua Lý Thánh Tông đã cho xây dựng văn miếu ở phía Nam hoàng thành và cho Hoàng thái tử đến học ở đó, đó là mốc mở đầu cho sự phát triển nho học thời Lý, và nó mở ra con đ-ờng phát triển cho nền nho học n-ớc ta Để năm năm sau, năm ất Mão (1075) niên hiệu Thái Ninh thứ 4 đời vua Lý Nhân Tông, nhà

Lý đã cho mở khoa thi đầu tiên trong lịch sử nền học vấn Đại Việt Trong các khoa thi

đầu tiên, do muốn khẳng định sự độc lập với ph-ơng Bắc, nên khoa thi gọi là khoa Tam T-ờng hoặc là Minh Kinh bác học Số thí sinh trúng tuyển kỳ thi này là 10 ng-ời Ng-ời đỗ đầu khoa thi là Lê Văn Thịnh, ng-ời làng Đông Cửu, phủ Gia Định thuộc Bắc Ninh bây giờ Ông trở thành bậc khai khoa của các nhà khoa bảng n-ớc ta Trong kỳ thi này việc tổ chức thi cử và lựa chọn những ng-ời đỗ đạt thì giống các khoa thi lựa chọn Trạng nguyên sau này Chính vì vậy mà Lê Văn Thịnh luôn đ-ợc coi là vị Trạng nguyên đầu tiên của Đại Việt Với khoa thi này, khoa cử n-ớc ta bắt

đầu từ đây và danh x-ng học vị Thái học sinh (gồm 3 giáp) bắt đầu có từ điểm này (1075) Tiếp sau, sử còn ghi chép đ-ợc 5 khoa thi thuộc triều Lý: Năm Bính Dần (Quảng Hữu 2, đời Lý Nhân Tông) triều đình mở khoa thi chọn ng-ời văn học vào Hàn Lâm Viện để nghiên cứu kinh sách và giảng tập văn bài cho nhà vua nghe, năm

1152 (Đại Đình 2, đời Lý Anh Tông), năm 1165 (Chính Long Bảo ứng 4, Lý Anh Tông), năm ất Tỵ (1885) đời vua Lý Cao Tông, nhà vua lại mở khoa thi để chọn nhân

sỹ trong n-ớc, từ 19 tuổi trở lên, thông kinh th- Khoa này có 20 vị trúng tuyển, có 3 ng-ời đỗ đầu; năm 1193 (Thiên Tự Gia Thuỵ 8, Lý Cao Tông) Riêng ba khoa thi vào các năm 1152, 1165 và 1193 chỉ có tên khoa thi, không ghi đ-ợc tên ng-ời đậu Nhìn chung d-ới thời nhà Lý các khoa thi còn rất th-a khoảng 15 - 20 năm, nh-ng cũng có những khoảng cách quá xa nh- giữa các năm thi 1086 và năm 1152, không thấy ghi khoa nào, cũng có thể là do thiếu tài liệu mà sử sách phải bỏ sót

Trang 20

Trong suốt thời kỳ này cả vùng Hoan Diễn ch-a có ng-ời nào đỗ đạt thành danh, d-ờng nh- việc học hành khoa cử mới chỉ diễn ra ở quanh kinh thành Thăng Long, vùng biên ải phía Nam việc học hành còn là điều mới lạ

Sang thời Trần (1125 - 1400) phép thi có phần quy cũ hơn so với triều Lý Nhà Trần phỏng theo lối thi của nhà Minh bên Trung Hoa Đến thời Trần Thái Tông (1125

- 1258), đặt ra khoa thi thái học sinh và định lễ 7 năm tổ chức một khoa thi để chọn nhân tài.Ng-ời đậu nhất, nhì, ba đ-ợc xếp hạng Tam khôi (trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa) còn lại gọi là thái học sinh Đến thời vua Trần Duệ Tông, năm 1374 bỏ danh x-ng thái học sinh thay bằng từ tiến sỹ và đ-ợc chia làm ba giáp: Đệ nhất là tam khôi, đệ nhị giáp là hoàng giáp, đệ tam giáp và đồng cập đệ là cập đệ

Thời Lý, Trần còn mở khoa thi tam giáo, chọn nhân tài giỏi về Phật - Khổng - Lão Triều đình nhằm khuyến khích việc học tập của các sỹ tử các vùng xa kinh đô cho nên khoa thi thái học sinh năm Nguyên Phong 6 (1256) và khoa Bính Dần - Thiệu Long 9 đời Trần Thánh Tông còn quy định lấy đậu hai trạng nguyên: 1 trạng nguyên kinh (dành cho 4 trấn: Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải D-ơng, Sơn Tây) và 1 trạng nguyên trại (cho vùng Thanh Hoá - Nghệ An) qua chính sách này cho thấy triều Trần đã rất quan tâm đến việc trọng dụng nhân tài thông qua con đ-ờng thi cử

Do phải trải qua ba cuộc kháng chiến chống quân xâm l-ợc Mông - Nguyên cho nên việc học hành thi cử cũng bị ảnh h-ởng Sau cuộc kháng chiến, các công việc

đình đốn dần dần đ-ợc khôi phục, năm 1266 sau một thời gian gián đoạn thi thái học sinh lại đ-ợc tiếp tục Nh-ng việc học tập khoa cử bị xáo trộn nề nếp, cách khoảng 10 năm mới mở đ-ợc một khoa thi, định lễ 7 năm không còn giữ đ-ợc nh- tr-ớc Năm

1299 vua Trần Nhân Tông xuống chiếu cho học trò cả n-ớc phải học tập để đợi khoa thi Khoa thi thái học sinh lớn nhất kể từ đầu đời Trần đ-ợc mở vào năm Giáp Thìn niên hiệu H-ng Long 12 (1304) với sự tham dự của hàng nghìn thí sinh nho học trong cả n-ớc, số ng-ời đậu cả ba giáp là 44 ng-ời Chính sách trọng dụng ng-ời tài qua việc tổ chức thi cử đ-ợc thể hiện qua việc đích thân nhà vua ban phát đặc ân cho những ng-ời đậu đạt cao Đích thân nhà vua đặc ân cho đ-a ba vị tam khôi ra cửa Long Môn đi dạo chơi ngắm cảnh đ-ờng phố ph-ợng thành trong ba ngày Khoa thi này vua còn ban thêm tên gọi Hoàng Giáp để chỉ những ng-ời đậu hàng đệ nhị giáp

và danh hiệu Hoàng giáp cũng bắt đầu có từ khoa thi này

Trang 21

Đời vua Trần Thuận Tông năm Quang Thái 9 (1396) lần đầu tiên trong chế độ khoa cử triều Trần và cũng là trong lịch sử khoa cử có định lễ về việc thi cử nhân, cũng là lần đầu tiên có sự phân cấp giữa thi h-ơng và thi hội Vua đích thân hỏi ng-ời trúng tuyển một bài văn sách để định cao thấp Nh- vậy so với thời nhà Lý thì nhà Trần đã có những b-ớc phát triển cao hơn, các quy chế thi cử ở thời Trần đã khá đầy

đủ Trong 170 năm tồn tại của triều đại này số tri thức nho sỹ đỗ đạt bậc cao có thể lên đến hàng nghìn Do thời gian khá xa lâu, cùng với việc ghi chép không đ-ợc đầy

đủ, t- liệu h- hỏng và mất mát nên chúng ta không nắm rõ đ-ợc đầy đủ chính xác những ng-ời đỗ đạt qua các kỳ thi Vì vậy, theo nguồn sử liệu còn ghi chép lại chúng

ta chỉ đ-ợc biết còn 52 vị mà thôi

D-ới thời nhà Hồ (1400 - 1407), cùng với việc ban hành các chính sách cải cách mới trên nhiều lĩnh vực thì nhà Hồ cũng có những sửa đổi mới trong việc tổ chức thi cử Hồ Quý Ly đã sửa sang, quy định lại thể thức thi cử, bằng cách lấy thêm môn Toán Pháp, đo l-ờng cho thí sinh thi thêm tr-ờng nữa Những ng-ời đã đỗ ở kỳ thi H-ơng, sang năm sau phải vào bộ lễ thi lại, ai đỗ mới đ-ợc bổ ra làm quan Nhà Hồ cũng định ra ba kỳ thi là thi H-ơng, thi Hội, thi Đình

Trong thời n-ớc ta bị quân Minh cai trị (1414 - 1427) Lúc này việc học hành

rất hạn chế, học trò ở các phủ, châu, huyện mỗi năm cử từ 1-2 ng-ời gọi là "học trò

tuế, cống" cho vào học ở Quốc Tử Giám, rồi chờ ngày bổ đi làm quan chứ không đi

thi nữa nh- đời nhà Hồ trở về tr-ớc

Sau một thời gian dài việc học hành, thi cử bị gián đoạn do chiến tranh và sự cai trị của nhà Minh Khi vua Lê Thái Tổ (1428 - 1433) Bình Ngô giữ n-ớc đã xong, nhà vua lo sửa sang việc học tập và lập tr-ờng Quốc tử giám ở kinh đô và đặt thầy dạy học ở các châu, huyện Tuy n-ớc nhà mới thoát khỏi chiến tranh nh-ng vua Lê Thái

Tổ đã lo mở mang và phát triển nền giáo dục trong n-ớc rất nhiều Năm 1429 triều

đình mở khoa thi Minh kinh để cho các quan từ Tứ phẩm trở xuống, quân nhân cùng nhân sỹ ẩn dật thông kinh sử và thạo võ nghệ về kinh đô thi hội

D-ới triều nhà Lê việc học hành cực kỳ đ-ợc quan tâm Đời vua Lê Thái Tông (1434 - 1442) định lễ cứ 5 năm thi H-ơng một lần và 6 năm cho thi Hội, năm tr-ớc thi H-ơng ở các Đạo (tỉnh), năm sau thi Hội ở Kinh đô, ai đỗ thi Hội đ-ợc gọi là Tiến sỹ Năm 1462, Lê Thánh Tông (1460-1497) mới định ra phép thi H-ơng, ai đỗ đ-ợc ba

Trang 22

kỳ gọi là Sính đồ, ai đỗ đ-ợc 4 kỳ gọi là H-ơng cống Năm 1463 mới đặt ra lễ "Tam

giáp xuất thân": Ba ng-ời đỗ cao nhất (Tam Khôi) gọi là Đệ nhất giáp tiến sỹ cập đệ

Tiếp theo là đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân (Hoàng Giáp); tiếp đến là Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân Năm 1466 nhà Lê mới định lễ 3 năm tổ chức một khoa thi H-ơng vào các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu và thi Hội vào các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất

Theo phép thi đời này, kỳ thi thứ nhất là một bài kinh nghĩa, 4 bài tứ th- nghĩa, mỗi bài từ 300 chữ trở lên Kỳ đệ nhị thi các bài: Chế, chiếu, biểu Kỳ đệ tam làm thi, phú và kỳ Đệ tứ làm một bài văn sách từ 1000 chữ trở lên

Chế độ khoa cử triều Lê rất nghiêm, nhất là d-ới thời Hồng Đức (1460 - 1497) Năm 1462, vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) định lại lễ thi H-ơng nh- sau: Tr-ờng nhất thi năm đạo kinh nghĩa; tr-ờng nhì thi chế, chiếu, biểu theo lối tứ lục và cổ thể Tr-ờng ba thi dùng luật Đ-ờng thi, Phú Cổ thể và tao tuyển bài phải dài trên 300 chữ mới đ-ợc chấm, ch-a nói đậu hay hỏng, hoặc hay dở

Đến năm Nhâm Thìn (1472) đời Hồng Đức, phép thi Hội sửa đổi lại: Tr-ờng nhất ra mỗi kinh ba bài kinh nghĩa, học trò chọn lấy mỗi kinh một bài, riêng kinh xuân thu phải làm cả và hợp lại thành một bài làm; mỗi truyện 2 bài nghĩa, thí sinh chọn lấy một truyện, một bài mà làm Tr-ờng nhì thí sinh thi chế, chiếu, biểu mỗi thứ

ba bài Tr-ờng ba gồm thi phú, mỗi thứ một bài Tr-ờng thi t- thi một bài văn sách hỏi về ý nghĩa kinh sách và chính trị lịch triều

Từ năm 1484, bắt đầu định lễ khắc tên các tiến sỹ vào bia đá dựng ở văn miếu Quốc Tử Giám Đời Lê Thái Tông năm 1442 còn lấy đỗ phủ bảng (ngang với phó bảng triều Nguyễn) cung cấp mũ áo nh-ng có phần phân biệt với ng-ời đậu tiến sỹ

Đến đời nhà Mạc (1527 - 1592) triều đình cũng theo phép kén chọn nhân tài nh- các đời tr-ớc, bằng cách cứ ba năm mở một khoa thi nh- d-ới triều Lê Phép thi không có gì thay đổi, vì nhà Mạc phải mất nhiều thời giờ gây dựng cơ nghiệp và

đ-ơng đầu với chiến tranh

Đời Lê Trung H-ng (1533 - 1786) vẫn giữ phép thi triều Lê Năm Giáp Dần (1554) mới bắt đầu thi chế khoa cho đậu hạng tiến sỹ xuất thân và tiến sỹ đồng xuất thân Năm Giáp Thìn (1664) đời vua Lê Huyền Tông (1663 - 1671) Trịnh tạc mới

định lại lễ thi Hội cho có quy cũ hơn Năm Mậu Ngọ (1678) d-ới thời vua Lê Hiến Tông (1740 - 1786) lệ thi H-ơng đ-ợc ấn định lại gồm những điều mục rõ ràng Từ

Trang 23

đó, cứ thông lệ 3 năm mở một kỳ thi H-ơng tại các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải D-ơng, Thái Nguyên, H-ng Hoá, Tuyên Quang, Yên Quảng Theo sử chép việc thi H-ơng lúc bấy giờ không còn nghiêm nh- đời Hồng

Đức d-ới triều vua Lê Thánh Tông nữa

D-ới thời vua Lê Dụ Tông (1706 - 1729), niên hiệu Bảo Thái (1720 - 1729) triều đình vì thiếu tiền nên đặt ra lệ ai đi thi thì phải nộp tiền ninh kinh để lấy tiền làm tr-ờng học và chi phí cho quan tr-ờng chấm thi Đến năm Canh Ngọ (1750) đời vua

Lê Hiền Tông (1740 - 1786) quốc khố thiếu hụt vì phải lo chiến tranh, triều đình lại

đặt lệ thông kinh sử, hễ ai nộp 3 quan tiền thì đ-ợc đi thi mà không phải khảo hạch theo quy định nh- tr-ớc Thành ra những ng-ời giàu có, ít học cũng đ-ợc đi thi, tr-ờng thi thời này đã hết vẻ nghiêm minh và đã biến thành cảnh chợ búa

Triều Tây Sơn, vua Quang Trung xây dựng một chế độ thi cử mới, theo một nền học thuật tiến bộ Nho sinh, khoá sinh hay các sính đồ cuối đời Lê đều phải sát hạch lại, các sỹ tử phải dùng chữ nôm để làm bài thi Chỉ tiếc rằng triều đại này tồn tại trong thời gian khá ngắn (1778 - 1802) cho nên vẫn ch-a thể thực thi đ-ợc hết những chính sách tiến bộ của mình, trong đó có chính sách tiến bộ về việc học hành và thi

cử

Nh- vậy, từ khi nhà Lý tổ chức khoa thi đầu tiên cho đến khi Gia Long lên ngôi thiết lập nên nhà Nguyễn thì đất n-ớc ta trải qua nhiều biến cố, thăng trầm Nền giáo dục khoa cử cũng vì thế mà có lúc thịnh, lúc suy, lúc đ-ợc coi trọng, lúc ít đ-ợc quan tâm Nh-ng chế độ giáo dục khoa cử vẫn đ-ợc duy trì, vẫn là biện pháp chủ yếu để tuyển chọn ng-ời tài Chỉ riêng thi Hội, thi Đình chúng ta đã có:

Thời Lý có 6 khoa thi, lấy đậu 27 ng-ời, trong đó có 4 Trạng nguyên

Thời Trần có 14 khoa thi lấy 238 ng-ời, trong đó có 12 Trạng nguyên

Thời Hồ có hai khoa thi lấy 200 ng-ời, trong đó có 1 Trạng nguyên

Thời Lê Sơ có 28 khoa thi lấy 485 ng-ời, trong đó có 13 Trạng nguyên

Thời Mạc có 22 khoa thi lấy 485 ng-ời, trong đó lấy 6 Trạng nguyên

Thời Lê Trung H-ng có 73 khoa thi lấy đậu 793 ng-ời trong đó có 6 Trạng nguyên [2;7 ]

Vốn sinh ra và lớn lên trên mảnh đất có nhiều thiên tai khắc nghiệt, đất cằn sỏi

đá, mùa gió Lào vừa qua thì mùa m-a lụt đã tới Tuy nhiên, sự thiếu thốn về vật chất

Trang 24

không làm lung lay ý chí cuả các sỹ tử, d-ờng nh- ý thức về việc đèn sách đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi ng-ời dân nơi đây, ngay từ khi mới đ-ợc sinh ra, còn ú ẵm, nằm nôi, từ những lời ru ngọt ngào mà chất chứa bao nhiêu lời nhắn gửi:

"Con ơi mẹ dạy câu này, Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm

Làm ng-ời đói sạch rách thơm, Công danh là nợ n-ớc non phải đền"

Có lẽ vì thế mà ở thời nào cũng có con em Nghi Lộc tham gia vào các kỳ thi và

có ng-ời đậu đạt Tuy nhiên, trong bối cảnh chung của chế độ giáo dục - khoa cử nho học Đại Việt trong các khoa thi d-ới thời nhà Lý không thấy có ng-ời Nghi Lộc nào

đậu đạt Đây cũng là một điều dễ hiểu, bởi lúc này Nghệ An (trong đó có Nghi Lộc)

là vùng biên ải phía Nam xa kinh thành Thăng Long nên việc học hành, thi cử ch-a

đ-ợc coi trọng Mặt khác, trong 6 khoa thi của nhà Lý lấy tổng cộng chỉ đ-ợc 27 ng-ời đậu mà thôi

Đến thời Trần thì việc học hành, tổ chức thi cử có phần quy cũ hơn so với thời nhà Lý, các vua Trần đã có những chính sách mới nhằm quan tâm tới việc tuyển chọn nhân tài, khuyến khích các sỹ tử ở nơi xa kinh thành có điều kiện để dự thi Ngoài ra còn quy định lấy đậu hai trạng nguyên: Trạng nguyên kinh dành cho các sỹ tử quanh kinh thành và Trạng nguyên trại dành cho các sỹ tử ở vùng xa xôi nh- Thanh Hoá, Nghệ An Với những chính sách này đã góp phần khuyến khích con em của Nghệ An nói chung, Nghi Lộc nói riêng càng có thêm ý chí để theo nghiệp học hành

Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự khai khoa của các sỹ tử cho nền khoa bảng Nghi Lộc Với sự xuất hiện hai nhà khoa bảng đầu tiên của Nghi Lộc mà cho đến nay còn có nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định ai là ng-ời đầu tiên khai khoa cho khoa bảng Nghi Lộc Nh-ng dù là ai đi nữa thì họ cũng xứng đáng là các vị tiền bối của khoa cử Nghi Lộc Đó là:

Nguyễn Minh Tuấn: Đệ nhất giáp - đệ nhị giáp (Bảng nhãn) thời Trần

Và Nguyễn Tuấn, đậu thứ hai một khoa thi thái học sinh triều Trần, Đệ nhất giáp tiếp sỹ Đệ nhị danh (bảng nhãn), niên hiệu Bảo phù, triều Trần Thánh Tông (1237 - 1278)

Trang 25

Đến các thời Hồ - Lê - Mạc - Trịnh thì ở các kỳ thi đều có nhiều con em Nghi Lộc dự thi và đậu đạt cao nh- :

1) Phạm Huy (1461 - ?) làng Đông Hải, xã Nghi Hải, huyện Chân Lộc, 24 tuổi

đậu Đệ tam giáp Tiến sỹ, khoa Quý Sửu, Hồng Đức 24 (1493), đời Lê Thánh Tông

2) Nguyễn Minh Châu, ng-ời xã Kỳ Lan, huyện Chân Phúc, nay thuộc huyện Nghi Lộc Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân, khoa Tân Sửu, niên hiệu Quảng Hoà 1 (1541) đời Mạc Phúc Hải

3) Nguyễn Khuê, ng-ời xã Đăng Xá, huyện Chân Phúc, nay thuộc xã Nghi Thạch, huyện Nghi Lộc Đậu Đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân khoa Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống 1 (1787) đời Lê Mẫn Đế

4) Phạm Nguyễn Du, ng-ời xã Đăng Điền nay thuộc Nghi Xuân, Nghi Lộc

Đậu giải Nguyên thi H-ơng, 40 tuổi đậu Đệ nhị giáp tiến sỹ (Hội nguyên - Hoàng giáp) khoa Kỷ Hợi Cảnh H-ng 40 (1779) đời Lê Hiển Tông

5) Theo sách "Đông yên nhị huyện đăng khoa phổ" thì còn có thêm Lê Văn

Tr-ng, xã Phan Xá nay thuộc xã Nghi Kim, huyện Nghi Lộc Đậu tiến sỹ chế khoa binh Ngọ nguyên hoà năm thứ 14 (1546)

Đặc biệt là d-ới thời Lê Trung H-ng có rất nhiều sỹ tử Nghi Lộc dự thi và đậu

đạt, theo "Khoa bảng Nghệ An" của Đào Tam Tĩnh ở Nghi Lộc có 18 vị h-ơng cống

đậu các khoa thi d-ới triều Lê Trung H-ng Đó là:

1) Đinh Gia Thái, xã Kim Khê, đậu H-ơng cống khoa Kỷ Mão - Cảnh H-ng 2 (1759), làm quan đến Lang trung bộ hộ

2) Đinh Gia Tiệp, ng-ời làng Kim Khê, huyện Chân Lộc nay thuộc xã Nghi Long, Nghi Lộc Đậu H-ơng cống khoa Đinh Mão, đời Lê Cảnh H-ng 8 (1747)

3) Đinh Hồng Phiên, ng-ời xã Kim Khê, Chân Lộc nay là xã Nghi Long, Nghi Lộc Đậu H-ơng cống khoa Quý Mão (1783) đời Cảnh H-ng 44

4) Đinh Trọng Th-, ng-ời xã Kim Khê, Chân Lộc, nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc Đậu h-ơng cống khoa ất Hợi, Cảnh H-ng 36 (1775)

5) Nguyễn Bá Diên, ng-ời làng Cổ Đại Đậu H-ơng cống triều Lê

6) Nguyễn Huy Dực, ng-ời xã Cổ Bái Đậu H-ơng cống triều Lê

Trang 26

7) Nguyễn Hữu Chỉnh, ng-ời xã Đông Hải Đậu H-ơng cống triều Lê năm 16 tuổi, chuyển sang Hội thi trúng tam tr-ờng thi võ, làm quan đến chức Bình ch-ơng quân quốc trọng s-, Đại t- đồ, t-ớc bằng Quận công

8)Nguyễn Hữu Thân, ng-ời xã Đông Hải Đậu H-ơng Cống triều Lê

9) Nguyễn Thành Đức, ng-ời xã Nghi Tr-ờng, đậu H-ơng cống triều Lê

10) Nguyễn Thức Thiều, xã Thịnh Tr-ờng, đậu H-ơng cống triều Lê

11) Phùng Thời Tá, đậu H-ơng cống triều Lê

12) H-ơng Hải thiền s- Đậu H-ơng cống, làm quan tri phủ Thiệu Phong, bỏ quan đi tu phật và đ-ợc đắc đạo

13) Nguyễn Đào Thục, làng Vạn Lộc, đậu khoa Canh Tý - giám sinh Quốc Tử Giám

14) Nguyễn Huy Thăng, đậu h-ơng cống khoa Đinh Dậu - giám sinh Quốc Tử Giám

15) Nguyễn Trọng Hoa, ng-ời làng Vạn Lộc Đậu H-ơng cống khoa Đinh Dậu 16) Nguyễn Trọng Huệ, ng-ời làng Vạn Lộc Đậu H-ơng cống khoa Đinh Dậu 17) Nguyễn Trọng lân, ng-ời làng Vạn Lộc Đậu H-ơng cống khoa Đinh Dậu triều Lê

18) Phạm Bình, ng-ời làng Vạn Lộc Đậu H-ơng cống khoa ất Dậu

Một vùng quê không đ-ợc thiên nhiên -u đãi, c- dân nơi đây luôn vật lộn với biển, với thú dữ để tồn tại Họ đã biết khai phá đất hoang, lấn biến để dựng lên cộng

đồng làng xóm Để từ đây họ đã hình thành nên những truyền thống văn hoá có giá trị

- đó là truyền thống yêu n-ớc, chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ độc lập dân tộc Là một vùng quê giàu truyền thống giáo dục khoa bảng, góp phần đào tạo nên những ng-ời có tài, có đức để giúp dân giúp n-ớc

Những truyền thống văn hoá đó luôn đ-ợc phát huy trong mọi hoàn cảnh, nó tiếp tục đ-ợc kế thừa và phát huy trong mấy thế kỷ từ đầu XIX cho đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất, cho đến tận hôm nay

Trang 28

Ch-ơng 2 Các dòng họ khoa bảng ở Nghi Lộc

từ đầu thế kỷ XIX đến 1919

2.1 Khái quát về tình hình khoa bảng ở Nghi Lộc từ 1802 - 1919

Sau khi lật đổ đ-ợc v-ơng triều Tây Sơn, thống nhất xứ sở, các vua đầu triều Nguyễn đã hết sức quan tâm đến chỉnh đốn việc nội trị và chăm lo đến việc học hành thi cử Vị vua đầu tiên của triều Nguyễn là vua Gia Long (1802 - 1819) cho rằng việc trị n-ớc phải có quan văn, quan võ Vì lẽ đó nhà Nguyễn đã cho lập văn miếu để thờ

đức Khổng Tử và 72 vị hiền triết ở các doanh, trấn Tại kinh đô Phú Xuân - Huế, triều

đình mở mang tr-ờng Quốc Tử Giám để dạy con em các quan lại trong triều và cả con th-ờng dân -u tú Tại các trấn triều Nguyễn cho đặt các quan chuyên chăm lo việc học hành, mặt khác triều Nguyễn còn cho mời những ng-ời khoa mục thời hậu Lê ra giảng dạy

Mặc dù vẫn nhận thức đ-ợc rằng các triều đại phong kiến đã trải qua hàng ngàn năm tồn tại là nhờ có các nhân tài của đất n-ớc, mà chỉ có thể thông qua con đ-ờng khoa cử mới phát hiện, tìm đ-ợc ng-ời tài giúp vua, giúp n-ớc Tuy nhiên, sau khi lên ngôi, Gia Long đứng tr-ớc một tình hình xã hội hết sức khó khăn, nên chỉ có thể chọn

nhân tài qua "chiêu hiền đãi sỹ" Mãi đến năm Đinh Mão, Gia Long thứ 6 (1807) mới

tổ chức đ-ợc khoa thi H-ơng đầu tiên Nối tiếp những truyền thống của khoa lục trong nền nho học của dân tộc nh-ng cũng mới tổ chức đ-ợc các khoa thi h-ơng mà thôi Mãi đến năm Nhâm Ngọ (1822), d-ới triều Minh Mệnh đại khoa mới đ-ợc tổ chức

Là một ng-ời tinh thâm nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mệnh rất quan tâm đến học hành khoa cử, tuyển chọn nhân tài Dựng Quốc Tử Giám, đặt chức Tế tửu

và T- nghiệp năm Tân Tỵ (1821), mở lại thi Hội, thi Đình năm Nhâm Ngọ (1822) Tr-ớc đó định kỳ 6 năm một khoa thi, nay rút xuống còn 3 năm: Các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu - thi H-ơng; các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi - thi Hội, thi Đình Vua Minh Mệnh còn cho đặt đốc học ở Gia Định thành, dùng thầy giáo ng-ời Nghệ An là Nguyễn Trọng Vũ làm phó đốc học để khuyến khích việc học hành ở vùng Nam Bộ

Nh- vậy, d-ới triều Nguyễn mặc dù mức độ quan tâm đến vấn đề học hành, thi

cử có khác nhau, nh-ng trong khoảng thời gian từ 1802 - 1919, triều Nguyễn đã tổ

Trang 29

chức đ-ợc 39 khoa thi Hội, thi Đình, lấy đậu 557 ng-ời Và tổ chức đ-ợc 47 khoa thi H-ơng (11 ân khoa và 36 khoa chính) với 5.232 cụ cử Kết quả này đã để lại cho lịch

sử cận đại và hiện đại Việt Nam không ít nhân tài

Cùng hoà với dòng chảy của dân tộc, những lớp con cháu ở Nghệ An đã noi g-ơng tổ tiên, nối nghiệp thi th-, sôi kinh, nấu sử, để trang bị cho mình nhiều tri thức

và lập thân qua khoa bảng, không chỉ đem lại danh vọng cho bản thân mà còn là niềm

tự hào của cả dòng họ, của cả quê h-ơng Nối tiếp truyền thống của dòng họ, của quê

h-ơng những ng-ời con trên "đất học" Nghi Lộc lại ra sức dùi mài kinh sử, khổ học

thành tài Và họ đã không hổ thẹn với quê h-ơng, rất nhiều sỹ tử đã đậu đạt trở về Có thể nói kể từ khoa thi đầu tiên ở thời nhà Lý (1075) đ-ợc tổ chức, cho đến khoa thi cuối cùng ở n-ớc ta (1919) thì giai đoạn từ 1802 - 1919 là giai đoạn đỉnh cao nhất của nền giáo dục khoa cử nho học ở Nghi Lộc

Qua các tài liệu nh-: "Những ông nghè ông cống triều Nguyễn", của Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Ph-ợng; "Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919" của Ngô Đức Thọ và Đào Tam Tĩnh trong cuốn "Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919)" đã

cho chúng ta thấy rõ những trang sử rất đáng tự hào của các sỹ tử Nghi Lộc Họ đã ghi danh vào những trang sử vẻ vang của dân tộc

Kể từ khoa thi H-ơng đầu tiên của triều Nguyễn, năm Gia Long thứ 6 (1807 )

đến khoa thi H-ơng cuối cùng Khải Định thứ ba (1918), triều Nguyễn đã tổ chức

đ-ợc 47 khoa thi, lấy đậu 5232 cử nhân Riêng Nghệ An có 523 ng-ời đậu, ch-a kể

88 vị cử nhân đã đậu tiếp tiến sỹ và phó bảng thì tổng số ng-ời Nghệ An đậu cử nhân

là 611 ng-ời.Nh- vậy ng-ời Nghệ An chiếm tỷ lệ (611/882 =69.3%), so với cả n-ớc,

số cử nhân Nghệ An chiếm tỷ lệ (611/5232 = 11,7%) Riêng huyện Nghi Lộc đã có

97 ng-ời đậu chiếm tỷ lệ 18,3% so với cả tỉnh

Ta có thể thấy một cách khái quát hơn qua bảng danh sách các sỹ tử Nghi Lộc

đã đậu trong các kỳ thi H-ơng

TT Họ và tên Quê quán Năm thi H-ơng - khoa

1 Cần Văn Thành Chính Vĩ - Chân Lộc Đinh Mão, Tự Đức 20 (1867)

2 D- Văn Trí Triều Châu - Chân Lộc Mậu Ngọ, Tự Đức 11 (1858)

3 D-ơng Xuân Lễ Ngô Xá - Chân Lộc Canh Tý, Minh Mạng 21(1840)

4 Đặng Huy Quỳ Kim Khê - Chân Lộc Kỹ Mão, Kiến Phúc 1 (1884)

Trang 30

5 §Æng Huy ThuËt Kim Khª - Ch©n Léc Kü M·o, Gia Long 18(1819)

6 §Æng Thä Ho¸ Khª Trung - Ch©n Léc MËu Tý, §ång Kh¸nh 3(1888)

7 §Æng Thä Tr-ng Kim Khª - Ch©n Léc §inh DËu, Thµnh Th¸i 9(1897)

8 §inh V¨n Chu Kim Khª - Ch©n Léc BÝnh Ngä, Thµnh Th¸i 15(1903)

9 §inh V¨n Th¸i Kim Khª - Ch©n Léc Êt M·o, Duy T©n 9(1915)

10 §ç V¨n TrÝ V¹n Léc- Ch©n Léc MËu Ngä, Tù §øc 11(1858

11 Hoµng NghÜa Léc H¶i - Ch©n Léc T©n Söu, ThiÖu TrÞ 6(1846)

12 Hoµng Thóc L-¬ng Kh¸nh Duª - Ch©n Léc Canh Tý, Thµnh Th¸i 12(1900)

13 Hoµng V¨n S©m V¹n Léc - Ch©n Léc Êt M·o, Duy T©n 9(1915)

14 Hoµng V¨n VËn Kim Khª - Ch©n Léc Quý DËu, Gia Long 12(1813)

15 Lª ChÝ Léc H¶i - Ch©n Léc T©n Söu, ThiÖu TrÞ 1(1841)

16 Lª §×nh Tr¸c Kim Khª- Ch©n Léc MËu Th×n, Tù §øc 21(1868)

17 Lª Huy NghiÔm Kim Khª- Ch©n Léc MËu DÇn, Tù §øc 31(1878)

18 Lª Huy Th¶n Kim Khª th-îng- Ch©n Léc §inh DËu, Thµnh Th¸i 9(1897)

19 Lª Huy TiÒm Kim Khª - Ch©n Léc Nh©m Tý, Duy T©n 6(1912)

20 Lª KÕ Tù Léc H¶i - Ch©n Léc Canh Ngä, Tù §øc 23(1870)

21 Lª Kh«n Trinh Kim Khª - Ch©n Léc Nh©m Tý, Duy T©n 6(1912)

22 Lª L-¬ng B¹t Xu©n T×nh - Ch©n Léc Gi¸p Ngä, Minh M¹ng 15(1834)

23 Lª Quan Quang ThÞnh Tr-êng- Ch©n Léc BÝnh Ngä, ThiÖu TrÞ 6(1846)

24 Lª TrÝ Tr¹ch Kim Khª - Ch©n Léc T©n M¹o, Minh M¹ng 12(1831)

25 Lª V¨n CÈn Kú Phóc - Ch©n Léc Canh Ngä, Tù §øc 23(1870)

26 Lª V¨n T¸n Kim Khª - Ch©n Léc MËu Ngä, Kh¶i §Þnh 3(1918)

27 Lª V¨n TrÝ Kú Phóc - Ch©n Léc Kû M·o, Tù §øc 32 (1879)

28 Lª V¨n Tù Kim Khª - Ch©n Léc Canh Ngä, Tù §øc 23(1870)

29 Lª V¨n T-êng Kim Khª - Ch©n Léc §inh DËu, Thµnh Th¸i 9(1897)

30 Lª Xu©n Huyªn Léc H¶i - Ch©n Léc Êt M·o, Tù §øc 8(1855)

31 NguyÔn BËt L-¬ng An Tr-êng - Ch©n Léc T©n Tþ, Minh M¹ng 2(1821)

32 NguyÔn C«ng Quang Yªn Dòng - Ch©n Léc MËu Th©n, Tù §øc 1(1848)

33 NguyÔn Cö §iÓn An Tr-êng - Ch©n Léc Quý M·o, Thµnh Th¸i 15(1903)

34 NguyÔn §×nh Viªm Yªn Tr-êng - Ch©n Léc §inh M·o,Gia Long 6(1807)

Trang 31

35 NguyÔn §øc §«n TÝch Tr-êng - Ch©n Léc BÝnh Ngä, Thµnh Th¸i 18(1906)

36 NguyÔn §øc HËu Kú Phóc - Ch©n Léc MËu Th×n, Tù §øc 21(1868)

37 NguyÔn §øc Huy CÈm Tr-êng - Ch©n Léc MËu Tý, §ång Kh¸nh 3(1888)

38 NguyÔn §øc Kh¸nh Yªn Tr-êng - Ch©n Léc MËu Tý, §ång Kh¸nh 3(1888)

39 NguyÔn §øc T©n CÈm Tr-êng - Ch©n Léc Quý DËu, Tù §øc 26 (1873)

40 NguyÔn §øc Thµnh CÈm Tr-êng - Ch©n Léc Kü M·o, Tù §øc 32(1879)

41 NguyÔn §øc ThËn Kim Khª - Ch©n Léc MËu Ngä, Tù §øc 11(1858)

42 NguyÔn §øc X¸n CÈm Tr-êng - Ch©n Léc Canh Tý, Thµnh Th¸i 12(1900)

43 NguyÔn Hµnh An D-¬ng - Ch©n Léc MËu Ngä, Tù §øc 11(1858)

44 NguyÔn Ho»ng Ng« Tr-êng - Ch©n Léc MËu Th©n, Tù §øc 1(1848)

45 NguyÔn Huy Thuyªn §Æng X¸- Ch©n Léc Êt DËu, Minh M¹nh 6(1825)

46 NguyÔn Huy Triªm V¹n Léc - Ch©n Léc Kü M·o, Gia Long 18(1819)

47 NguyÔn H÷u Th©n §«ng H¶i - Ch©n Léc Gi¸p Ngä, Minh M¹ng 15(1843)

48 NguyÔn Kh¾c KiÓm Léc Thä - Ch©n Léc Êt M·o, Tù §øc 8(1855)

49 NguyÔn Kh¾c Liªu Léc Ch©u - Ch©n Léc BÝnh Tý, Tù §øc 29(1876)

50 NguyÔn Kiªm §«ng Chö - Ch©n Léc Êt M·o, Duy T©n 9(1915)

51 NguyÔn KiÒu §«ng Chö - Ch©n Léc MËu Tý, §ång Kh¸nh 3 (1888)

52 NguyÔn L©m Cæ B¸i - Ch©n Léc MËu Tý, Minh M¹ng 9(1828)

53 NguyÔn N¨ng TÜnh ThÞnh Tr-êng - Ch©n Léc Kü M·o, Gia Long 18(1819)

54 NguyÔn Nh©n §«ng H¶i - Ch©n Léc Êt M·o, Tù §øc 8(1855)

55 NguyÔn Ph¹m §é H¶o Hîp - Ch©n Léc Gi¸p Ngä, Thµnh Th¸i 6(1894)

56 NguyÔn So¹n Ng« Tr-êng - Ch©n Léc MËu Tý, §ång Kh¸nh 3(1888)

57 NguyÔn SuÊt Yªn Dòng - Ch©n Léc Canh Ngä, Tù §øc 23(1870)

58 NguyÔn Thóc §ång Yªn Dòng - Ch©n Léc §inh DËu, Thµnh Th¸i 9(1897)

59 NguyÔn Thøc §é ThÞnh Tr-êng - Ch©n Léc Quý M·o,Thµnh Th¸i 15(1973)

60 NguyÔn Thøc Hµo §«ng Chö - Ch©n Léc Canh Tý, Thµnh Th¸i 12(1900)

61 NguyÔn Thøc Tù ThÞnh Tr-êng - Ch©n Léc MËu Th×n, Tù §øc 21(1868)

62 NguyÔn TiÕn Du Yªn Dòng - Ch©n Léc §inh DËu, Thµnh Th¸i 9(1897)

63 NguyÔn Trinh CÈm Tr-êng - Ch©n Léc MËu Tý, §ång Kh¸nh 3(1888)

Trang 32

64 NguyÔn Träng H÷u Yªn Tr-êng - Ch©n Léc MËu Tý, Minh M¹ng 9(1828)

65 NguyÔn Trung Khiªm An X¸ - Ch©n Léc Êt M·o, Duy T©n 9(1915)

66 NguyÔn Trung Qu¸n Yªn Dòng - Ch©n Léc Êt M·o, Tù §øc 8(1855)

67 NguyÔn Trung Trinh Yªn Dòng - Ch©n Léc Kû DËu, Duy T©n 3(1909)

68 NguyÔn V¨n Chóc Kú Tr©n - Ch©n Léc Gi¸p Th©n, TiÕn Phóc 1(1884)

69 NguyÔn V¨n Kh¶i Phan X¸ - Ch©n Léc Canh Ngä, Tù §øc 23(1870)

70 NguyÔn V¨n Quang Cæ §an - Ch©n Léc T©n M·o, Thµnh Th¸i 3(1891)

71 NguyÔn ViÕt T¹o Kim Khª - Ch©n Léc T©n M·o, Thµnh Th¸i 3(1891)

72 NguyÔn §µo V¹n Léc - Ch©n Léc MËu Tý, §ång Kh¸nh 3(1888)

73 NguyÔn V¨n Trung Mü - Ch©n Léc Kû M·o, Tù §øc 32(1879)

74 NguyÔn Tr¹c V¨n Tr-êng - Ch©n Léc §ång Kh¸nh, MËu Tý 3(1888)

75 NguyÔn §×nh DiÔm An Tr-êng - Ch©n Léc §inh M·o, Gia Long 6(1807)

76 ¤ng V¨n T¹o Minh H-¬ng - Ch©n Léc Quý M·o, Thµnh Th¸i 15(1903)

77 Ph¹m Danh ChiÓu §«ng H¶i - Ch©n Léc Canh TuÊt, Tù §øc 3(1850)

78 Ph¹m Huy CÈn Phông Léc - Ch©n Léc Nh©m DÇn, ThiÖu TrÞ 2(1842)

79 Ph¹m Huy Giao Ph-îng C-¬ng - Ch©n Léc Gi¸p Tý, Tù §øc 17(1864)

80 Ph¹m Huy Lang Ph-îng C-¬ng- Ch©n Léc §inh DËu, Thµnh Th¸i 9(1897)

81 Ph¹m Quang Huy ¢n HËu - Ch©n Léc Canh Tý, Thµnh Th¸i 12(1900)

82 Ph¹m TÜnh §Æng X¸ - Ch©n Léc BÝnh Ngä, Thµnh Th¸i 18(1906)

83 Ph¹m Truú Yªn Dòng - Ch©n Léc Canh Tý, Minh M¹ng 21(1840)

84 Ph¹m T- §Æng §iÒn - Ch©n Léc Êt DËu, Minh M¹ng 6(1825)

85 Ph¹m Xu©n Khanh ¢n HËu - Ch©n Léc Quý M·o, Thµnh Th¸i 15(1903)

86 Th¸i Trung Phu Phóc KiÕn - Ch©n Léc Gi¸p Tý, Tù §øc 17(1864)

87 TrÇn C¶nh NhuËn §øc ThÞnh - Ch©n Léc Kû DËu, Duy T©n 3(1909)

88 TrÇn H÷u Ph¸p ThÞnh Tr-êng - Ch©n Léc Canh TuÊt, Tù §øc 3(1850)

89 TrÇn Tri MiÔn Cæ §an - Ch©n Léc Gi¸p Th©n, KiÕn Phóc 1(1884)

90 TrÇn V¨n §iÓn Léc Ch©u - Ch©n Léc Quý M·o, Thµnh Th¸i 15(1903)

91 TrÇn V¨n Ngo¹n Léc Ch©u - Ch©n Léc Canh Tý, Thµnh Th¸i 12(1900)

92 Tr-¬ng Xu©n Th¸i §«ng H¶i - Ch©n Léc Canh TuÊt, Tù §øc 3(1850)

93 U«ng Hoan §øc Quang - Ch©n Léc Canh Tý, Minh M¹ng 21(1840)

Trang 33

94 Vũ Đình D-ơng Lộc Thọ - Chân Lộc Giáp Ngọ, Thành Thái 6(1894)

95 Vũ Văn Dự Hiếu Hợp - Chân Lộc ất Dậu, Minh Mạng 6(1825)

96 Vũ Xuân Doanh Mỹ Xá - Chân Lộc Tân Mão, Thành Thái 3(1891)

D-ới thời vua Minh Mạng, tổ chức đ-ợc 8 khoa thi Khoa Tân Tỵ, Minh Mạng

2 (1821) lấy đậu 132 ng-ời, tr-ờng Nghệ An lấy đậu 15 ng-ời, trong đó Nghi Lộc đậu

1 ng-ời; khoa ất Dậu, Minh Mạng 6(1825) lấy đậu 117 ng-ời, Nghệ An lấy đậu 23 ng-ời, Nghi Lộc đậu 3 ng-ời Khoa thi Canh Tý, Minh Mạng 21(1840) lấy đậu 81 ng-ời, trong đó riêng huyện Nghi Lộc đã có 3 ng-ời Nh-ng các khoa thi nh- ất Mùi, Minh Mạng 16(1835) lại không có ng-ời Nghi Lộc Thời vua Thiệu Trị tổ chức đ-ợc

5 khoa thi, các khoa thi có ng-ời Nghi Lộc đậu gồm: Khoa thi Tân Sửu, Thiệu Trị 1 (1841) lấy đậu 144 ng-ời, tr-ờng Nghệ An lấy đậu 21 ng-ời, Nghi Lộc đậu 1 ng-ời Khoa Nhâm Dần, Thiệu Trị 2(1842) lấy đậu 108 ng-ời, Nghệ An lấy 18 ng-ời, Nghi Lộc 1 ng-ời Khoa Bính Ngọ,Thiệu Trị 6 (1846) lấy đậu 132 ng-ời, tr-ờng Nghệ An lấy đậu 24 ng-ời, Nghi Lộc 2 ng-ời đậu Các khoa Quý Mão, Thiệu Trị 3(1843) và khoa Đinh Mùi, Thiệu Trị 7 (1847) không có ng-ời Nghi Lộc đậu Đời vua Tự Đức tổ chức đ-ợc 16 khoa thi trong đó có một số khoa thi có đông ng-ời Nghi Lộc đậu nh-: Khoa ất Mão, Tự Đức 8(1855), lấy đậu 119 ng-ời, Nghệ An lấy đậu 18 ng-ời, Nghi Lộc đậu 4 ng-ời Khoa Mậu Ngọ, Tự Đức 11(1858) lấy đậu 118 ng-ời, tr-ờng Nghệ

An lấy đậu 18 ng-ời, riêng Nghi Lộc đã đậu 4 ng-ời Khoa thi Canh Ngọ, Tự Đức 23(1870), lấy đậu 131 ng-ời, tr-ờng Nghệ An lấy đậu 21 ng-ời, Nghi Lộc đậu 5 ng-ời Khoa thi Kỷ Mão, Tự Đức 32 (1879 lấy đậu 122 ng-ời, tr-ờng Nghệ An lấy

đậu 22 ng-ời, Nghi Lộc đậu 3 ng-ời, đến thời vua Kiến Phúc chỉ tổ chức đ-ợc một khoa thi, lấy đậu 123 ng-ời trong đó Nghi Lộc đã có 3 ng-ời đậu Thời vua Đồng

Trang 34

Khánh tổ chức đ-ợc ba kỳ thi: Khoa thi Bính Tuất, Đồng Khánh 1(1886) và khoa thi

Đinh Hợi, Đồng Khánh 2(1887) không có ng-ời Nghi Lộc đậu đạt Nh-ng khoa thi Mậu Tý, Đồng Khánh 3(1888) lấy đậu 150 ng-ời, mà Nghi Lộc đã có 8 ng-ời

đậu Triều vua Thành Thái tổ chức đ-ợc 6 khoa thi, trong 6 khoa thi đều có ng-ời Nghi Lộc dự thi và đều có đậu đạt, tiêu biểu là các khoa thi: Khoa Đinh Dậu, Thành Thái 9(1897) lấy đậu 164 ng-ời, tr-ờng Nghệ An lấy đậu 22 ng-ời, Nghi Lộc đã có 6 ng-ời đậu Khoa Canh Tý, Thành Thái 12 (1900) lấy đậu 204 ng-ời, tr-ờng Nghệ An lấy đậu 30 ng-ời, Nghi Lộc đậu 5 ng-ời Đến khoa Quý Mão, Thành Thái 15(1903) lấy đậu 135 ng-ời, tr-ờng Nghệ An lấy đậu 22 ng-ời, Nghi Lộc đậu 6 ng-ời Vua Duy Tân cũng có chức đ-ợc ba kỳ thi H-ơng d-ới thời trị vì của mình: Khoa Kỷ Dậu, Duy Tân 3(1909) có 2 ng-ời Nghi Lộc đậu Khoa Nhâm Tý, Duy Tân 6(1912) lấy đậu

116 ng-ời, trong đó Nghi Lộc đậu 2 ng-ời Khoa thi ất Mão, Duy Tân 9(1915) lấy

đậu 126 ng-ời, Nghi Lộc đã có 4 ng-ời đậu Năm 1918 là năm cuối cùng tổ chức các khoa thi H-ơng ở n-ớc ta, với khoa thi Mậu Ngọ, Khải Định 3(1918), lấy đậu 204 ng-ời, có 1 ng-ời Nghi Lộc đậu trong khoa thi cuối cùng này

Ngoài sự chênh lệch tỷ lệ ng-ời đậu trong các khoa thi trong một triều vua trị vì thì giữa các triều vua, số ng-ời đậu đạt cũng có sự chênh lệch Thời vua Gia Long có

6 trên tổng số 97 cử nhân, chiếm 6,2% Thời vua Minh Mạng có 12 ng-ời trên tổng số

97 cử nhân, chiếm 12,3% Thời vua trị vì có ng-ời Nghi Lộc đậu cao nhất là vua Tự

Đức có tới 31 ng-ời trên tổng số 97 cử nhân, chiếm 31,95% Thời vua Thành Thái có

24 trên tổng số 97 cử nhân, chiếm 24,7% Bên cạnh đó cũng có những triều vua có số l-ợng cử nhân là ng-ời Nghi Lộc rất ít nh-: Thời vua Khải Định, có 1 trên tổng số 97

cử nhân, chiếm 1,03% Thời vua Kiến Phúc có 3 ng-ời trên tổng số 97 cử nhân, chiếm 3,1% Có sự chênh lệch đó một phần chúng ta thấy do giữa các triều vua có các chính sách, mức độ quan tâm đến vấn đề học hành, thi cử nho học khác nhau Ví dụ nh- d-ới thời vua Tự Đức và vua Minh Mạng, là hai vị vua có nhiều đóng góp cho sự phát triển giáo dục nho học của Việt Nam Vua Tự Đức (1874 -1883) là một vị vua hay chữ nhất của các vua triều Nguyễn, ông có nhiều cải cách trong việc học và tổ chức thêm nhiều khoa thi không theo định kỳ nh- các triều vua tr-ớc Mặt khác có sự chênh lệch đó cung là mặt bằng chung về sự đậu đạt trong chế độ giáo dục khoa cử nho học của cả n-ớc thời Nguyễn

Trang 35

Để chọn những ng-ời tài giỏi bổ sung vào bộ máy nhà n-ớc phong kiến, nhà Nguyễn đã tổ chức các kỳ thi Hội d-ới các triều vua:

Đời vua Minh Mạng: Từ năm 1822 - 1838, tổ chức đ-ợc 6 khoa, lấy 55 tiến sỹ

Đời Duy Tân: Từ 1910 - 1913, tổ chức 2 khoa, lấy 14 tiến sỹ và 22 phó bảng

Đời vua Khải Định: Từ 1916 - 1919 tổ chức 2 khoa, lấy 14 tiến sỹ và 22 phó bảng

Nh- vậy, tổng cộng có 39 khoa thi Hội, lấy 291 tiến sỹ và 266 phó bảng Đây

là một hình thức thi chủ yếu để tuyển chọn những ng-ời tài giỏi, đánh giá tài năng cao nhất, nhằm chọn nhân tài cho đất n-ớc, nên đ-ợc gọi là Đại tỉ hay Đại khoa Việc tổ chức thi rất nghiêm ngặt và số ng-ời đậu không nhiều Tuy nhiên, những sỹ tử Nghi Lộc đậu trong các kỳ thi Đại khoa này cũng không phải ít Trong tổng số 291 tiến sỹ cả n-ớc có 7 ng-ời Nghi Lộc và 5 trong tổng số 266 phó bảng, bao gồm các vị đại khoa sau:

1) Cao Huy Tuân (1849 - ?)

Ng-ời xã Phan Xá, nay là xã Nghi Kim, huyện Nghi Lộc 25 tuổi đậu cử nhân

á nguyên (1873), 31 tuổi đậu phó bảng, khoa Kỷ Mão, Tự Đức 32(1879) Làm quan tri huyện sau đó bị giáng, rồi Biên tu sử quán Sau tham gia nghĩa quân Phan Đình Phùng

2) Đinh Văn Chất (1847 - 1887)

Ng-ời xã Kim Khê, nay là xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc 22 tuổi đậu cử nhân (1868), 29 tuổi đậu Đệ tam giám tiến sỹ khoa ất Hợi, Tự Đức 28(1875) Làm quan: Tri phủ Nghĩa H-ng (Nam Định), phủ bị quân Pháp đánh chiếm ông về quê tổ chức chống Pháp, bị bắt chém bêu đầu

3) Đinh Văn Chấp (1882 - 1953)

Trang 36

Ng-ời xã Kim Khê, Nghi Long, Nghi Lộc Đậu cử nhân khoa thi Nhâm Tý, Duy Tân 6(1912) tại tr-ờng Thừa Thiên 21 tuổi đậu Đệ nhị giáp tiến sỹ (Hoàng giáp), khoa Quý Sửu, Duy Tân 7(1913) Làm quan: Đốc học Quảng Nam

4) Đinh Văn Phác (1790 - ?)

Ng-ời xã Kim Khê - Nghi Lộc Đậu cử nhân năm 1821 31 tuổi đậu Đệ tam giáp tiến sỹ, khoa Nhâm Ngọ, Minh mạng 3 (1822) Làm quan: Tham hiệp Quảng Nam, sau bị quan tịch Cháu nội là Đinh Văn Chất chống Pháp bị triều đình Đồng

Khánh coi là "phản nghịch" cả hai ông cháu bị đục tên ở bia tiến sỹ (văn miếu - Huế)

5) Nguyễn Đức Đàm (1870 - ?)

Tr-ớc có tên là Đức Giảng, ng-ời xã Cẩm Tr-ờng, nay là xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc 28 tuổi đậu cử nhân (1897), 29 tuổi đậu phó bảng, khoa Mậu Tuất, Thành Thái 10(1898) Làm quan: Thị độc, thông phán

6) Nguyễn Đức Lý (1874 - ?)

Ng-ời xã Trung Mỹ, huyện Chân Lộc, nay thuộc thành phố Vinh Thi H-ơng khoa Canh Tý, Thành Thái 12(1900), tại tr-ờng Nghệ An Đậu Đệ nhị giáp tiến sỹ (Hoàng Giáp), khoa Đinh Mùi, Thành Thái 19(1907) Làm quan: Đốc học Thanh Hoá, hàm Quang Lộc Tự Thiếu Khanh

7) Nguyễn Huy Nhu (1889 - 1961)

Ng-ời xã Vạn Lộc, huyện Chân Lộc, nay là ph-ờng Nghi Tân, thị xã Cửa Lò Năm 23 tuổi đậu cử nhân, khoa thi Kỷ Dậu, Duy Tân 3 (1909), tại tr-ờng Nghệ An

30 tuổi đậu Đệ tam giáp tiến sỹ, khoa Bính Thìn, Khải Định 1(1916) Làm quan: Giáo thủ Quảng Hoá

Ng-ời làng Đông Hải, xã Cổ Bái, nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc Năm

20 tuổi đậu cử nhân khoa Giáp Ngọ, Minh Mạng 15(1834), tại tr-ờng Nghệ An 27 tuổi đậu Đệ nhị giáp tiến sỹ (Hoàng giáp - Hội nguyên - Đình nguyên), khoa Tân Sửu,

Trang 37

Thiệu Trị 1(1841) Làm quan: Tu soạn, phạm lỗi trong khi đi chấm thi (tự ý sửa chữa bài thi) bị cách chức, sau cho phục chức Điển bạ

10) Nguyễn Viết Tuyên (1860 - ?)

Ng-ời xã Khê Trung, huyện Nghi Lộc nay thuộc xã Nghi Hoa, huyện Nghi Lộc Đậu cử nhân năm 1888 Đậu phó bảng khoa Mậu Tuất, Thành Thái 10(1898), 38 tuổi làm quan: Giáo thủ huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) , tr-ớc thi Hội, Đốc học Khánh Hoà

11) Vũ Văn Cầu (?)

Ng-ời xã Hảo Hợp, nay là xã Nghi Thu, thị xã Cửa Lò Đậu cử nhân (1855)

Đậu phó bảng khoa Nhâm Tuất, Tự Đức 15 (1862) Làm quan chức Tri huyện

12) Hoàng Văn C- (1860 -?)

Ng-ời xã Vạn Lộc, nay thôn Phúc Thọ, Nghi Tân - thị xã Cửa Lò, đậu cử nhân khoa Quý Mão (1903), đỗ phó bảng khoa Giáp Thìn, Thành Thái 16(1904) Làm quan: Đốc học Nghệ An

Với việc tổ chức các kỳ thi Đại khoa, nhà Nguyễn cũng nh- các triều đại tr-ớc

đó nh- thời nhà Trần, nhà Hồ, tổ chức các Đại khoa để chọn ng-ời tài Qua nền giáo dục nho học, nhằm đào tạo nên những ng-ời giúp việc n-ớc, thấm nhuần t- t-ởng

"Trung quân - ái quốc", một lòng phụng sự triều đình Tuy nhiên, chúng ta có thể

thấy các nhà đại khoa của chúng ta mặc dù đã thấm nhuần t- t-ởng nho giáo là phải

"trung quân, ái quốc", họ đậu đạt và ra làm quan, nh-ng khi đứng tr-ớc sự an nguy

của dân tộc thì họ sẵn sàng từ bỏ t-ớc vị, quyền lợi của bản thân để hoà mình vào cùng chí h-ớng với quần chúng nhân dân

Nh- vậy, với 12 ng-ời đậu đại khoa (tiến sỹ và phó bảng) và 97 cử nhân là một

con số không nhỏ, đó là những con số "biết nói", nó đã nói lên sự phát triển rực rỡ của

nền giáo dục khoa cử nho học ở Nghi Lộc trong giai đoạn này Cùng với các địa ph-ơng khác trong tỉnh, Nghi Lộc đã góp sức mình để đ-a Nghệ An trở thành một trong những tỉnh có đông ng-ời đậu đạt nhất ở các khoa thi Nó đã để lại trong nền văn hiến xứ Nghệ những giá trị đặc sắc, để lại những truyền thống, sự cần cù chịu khó, chịu khổ của truyền thống hiếu học Chính vì thế mà địa vị độc tôn của những giá trị đạo đức truyền thống là các ông tú, ông cử, ông nghè trong làng xã, dòng họ luôn đ-ợc tôn vinh Họ là những tấm g-ơng sáng đời đời cho lớp con cháu noi theo

Trang 38

Để có những thành quả đó không chỉ là sự nổ lực của bản thân các sỹ tử mà

đằng sau sự thành công của ng-ời học trò bao giờ cũng có bóng dáng của ng-ời thầy

Đối với Nghi Lộc là một huyện gần với Thành, nơi đặt tr-ờng thi H-ơng của nhà Nguyễn, cho nên ở đây nhà Nguyễn đã không chủ tr-ơng thành lập các tr-ờng công, vì thế ở đây chủ yếu là hệ thống tr-ờng t- Tr-ờng học t- là những lớp học nhỏ, th-ờng có rất ít học sinh do cha mẹ của các học trò tự mở rồi mời các ông thầy về dạy Những thầy giáo dạy học ở các tr-ờng t- này th-ờng là những ng-ời không đậu

đạt hoặc đậu học vị thấp Nh-ng cũng có tr-ờng t- do những thầy giáo tự mở, họ có thể là những ng-ời đậu đạt nh-ng không ra làm quan, hoặc cũng có ng-ời do bất bình với triều đình mà từ quan về quê, lấy nghề dạy học làm niềm vui cho mình Qua các lớp học của các thầy giáo nh- Nguyễn Thức Tự, Nguyễn Năng Tĩnh đã đào tạo nên những lớp sỹ tử có học thức và nhân cách Và chính các nho sỹ ấy đã làm rạng danh cho quê h-ơng

Truyền thống hiếu học, "khổ học thành tài" không chỉ ăn sâu vào bản thân của

từng sỷ tử, mà nó đã ăn sâu vào các làng, các dòng họ Và nó đã hình thành nên cái

gọi là "làng học", "dòng họ khoa bảng" Các dòng họ ở Nghi Lộc có một vai trò rất

lớn trong chế độ khoa bảng, các dòng họ ở đây đã phát huy đ-ợc những mặt mạnh của dòng họ mình, đề cao sức mạnh đoàn kết, tử tôn, trong việc khuyến học, trong tinh thần yêu n-ớc chống giặc ngoại xâm, trong lao động, sản xuất Và có lẽ không có gì

đ-ợc khơi dậy mạnh mẽ nh- truyền thống khoa bảng ở các dòng họ Làng quê Việt

Nam dù bất cứ ở đâu chứ không riêng gì Nghi Lộc, vai trò "trong làng", "ngoài họ" rất đ-ợc coi trọng Đặc biệt là ở những dòng họ có nhiều khoa bảng, "một ng-ời làm

quan, cả họ đ-ợc nhờ", chính vì thế mà trong họ có ng-ời đậu đạt cao đ-ợc coi là

dòng họ đó lớn mạnh và chiếm -u thế nhất trong làng Vì uy tín của dòng họ mình, họ lại khích lệ, tập trung nuôi d-ỡng, chăm lo đến việc học hành của con em trong họ để không thua kém các dòng họ khác Và ở các dòng họ có ng-ời đậu đạt cao lại có điều kiện giúp đỡ nhau tiến thân bằng con đ-ờng khoa cử, thoát khỏi đói nghèo Vào thời

điểm này ở Nghi Lộc đã có nhiều dòng họ nh- thế, đặc biệt nổi lên một số dòng họ nh-: Họ Nguyễn Đức (Cẩm Tr-ờng), họ Nguyễn Năng, Nguyễn Thức (Cẩm Tr-ờng),

họ Phạm (Nghi Xuân), họ Nguyễn (Vạn Lộc)… Đây là một trong số những dòng họ nổi tiếng về học hành, con em trong họ có nhiều ng-ời đậu đạt, tiến thân bằng con

Trang 39

đ-ờng khoa cử Con em đậu đạt ở trong các dòng họ này không chỉ là tấm g-ơng cho

các thế hệ tiếp theo trong họ mình, mà nó còn khích lệ sự "ganh đua" giữa các dòng

họ Bởi dòng họ nào cũng muốn con em trong họ mình đậu đạt nhiều hơn cả, dòng họ mình phải nổi tiếng hơn các dòng họ khác Và cứ thế truyền thống tốt đẹp đó ngày càng đ-ợc phát huy giữa các làng, các dòng họ vốn có truyền thống học hành Kết quả là đã có không ít con em của các dòng họ đã đậu đạt, mang tiếng thơm về cho dòng họ, quê h-ơng Có những dòng họ tuy không giàu có, thậm chí thiếu ăn, thiếu mặc nh-ng cũng phải chắt chiu từng hạt gạo, củ khoai nuôi con ăn học thành tài:

"Sáng khoai, tr-a khoai, tối khoai, khoai ba bữa

Ông đỗ, cha đỗ, con đỗ, đỗ cả nhà"

Một dòng họ nổi tiếng không chỉ là giàu có, có nhiều ruộng đất mà có những dòng lại giàu có không phải vì vật chất mà giàu có về nhân tài, dòng họ đó đ-ợc tiếng thơm, đ-ợc nhiều ng-ời ngoài họ kính nể và trọng vọng Có dòng họ cha con cùng thi

đậu, có dòng họ ông cháu đều đậu, có dòng họ thì anh em, chú cháu đều thiđậu Tất cả đều toát lên một điều rằng: Truyền thống hiếu học, có thể nói là khổ họca và quyết tâm thi đậu đã thấm vào máu của các gia đình, dòng họ Nghi Lộc

Nhìn chung, huyện Nghi Lộc cũng nằm trong vùng khó khăn chung của tỉnh Nghệ An Đó là, nền kinh tế nông thôn ở Nghệ An x-a gặp rất nhiều khó khăn, do

đặc điểm địa hình, thiên nhiên ở đây rất khắc nghiệt: Đất cằn, nắng gắt, gió Lào cháy bỏng, m-a bão lớn, hạn hán… là mối lo truyền kiếp của nhân dân, gây ra những thảm cảnh mất mùa liên miên, dân tình cực khổ Có lẽ vì mảnh đất xứ Nghệ không đ-ợc

"tạo vật cựu đ-ơng" nên đa số nho sỹ của Nghệ An và Nghi Lộc nói riêng đều rất

nghèo khổ Họ ăn khoai, ăn ngô, ăn sắn trừ bữa, ngày làm đêm học, nên th-ờng lấy sự kiên nhẫn tạo ra thành quả trong học tập Nhiều học trò do nhà nghèo không có tiền

để mua dầu thắp sáng để học, nên phải học d-ới ánh trăng, học trên l-ng trâu, đốt lá

để đọc sách, dùng mo cau thay giấy, bút là cành que viết chữ trên cát Học hành đã khó khăn nh- vậy, học trò nơi đây cũng phải chịu nhiều thiệt thòi khác nh-: sống chịu nhiều tầng lớp áp bức, bóc lột, tiền thiếu, sách vở thiếu nhất là vác lều chõng đi thi những khoa thi lớn nh- thi Hội, thi Đình ở tận kinh đô xa xôi, cách trở Xuất phát từ những khó khăn dó họ không còn cách nào khác là phải phấn đấu trong học tập bằng tính kiên trì, nhẫn nại, cần kiệm Nếp sống trong học tập của học trò xứ Nghệ có thể

Ngày đăng: 02/12/2021, 23:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh: Việt Nam văn hoá sử c-ơng. Nxb VHTT Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử c-ơng
Nhà XB: Nxb VHTT Hà Nội
2. Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Ph-ợng: Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn. Nxb VHTT, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb VHTT
3. Cao Xuân Dục: Quốc triều h-ơng khoa lục. Nxb VHTT, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều h-ơng khoa lục
Nhà XB: Nxb VHTT
4. Thái Kim Đỉnh: Năm thế kỷ văn nôm ng-ời Nghệ. Nxb Nghệ An, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm thế kỷ văn nôm ng-ời Nghệ
Nhà XB: Nxb Nghệ An
6. Vũ Ngọc Khánh: Thầy giáo Việt Nam m-ời thế kỷ - NXB Thanh Niên - 2000 7. Bùi D-ơng Lịch: Nghệ ân ký (quyển 1 và 2). Nxb KHXH, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thầy giáo Việt Nam m-ời thế kỷ - NXB Thanh Niên - 2000 "7. Bùi D-ơng Lịch: "Nghệ ân ký
Nhà XB: NXB Thanh Niên - 2000 "7. Bùi D-ơng Lịch: "Nghệ ân ký "(quyển 1 và 2). Nxb KHXH
8. Đinh Văn Niêm (chủ biên): Đinh Văn Tộc gia phả (1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Văn Tộc gia phả
9. Tr-ơng Hữu Quýnh (chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh: Đại c-ơng lịch sử Việt Nam (tập 1), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại c-ơng lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo dục
10. Nguyễn Quang Thắng: Khoa cử và giáo dục Việt Nam, Nxb VHTT, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa cử và giáo dục Việt Nam
Nhà XB: Nxb VHTT
11. Ngô Đức Thọ (chủ biên): Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919. Nxb Văn học, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075 - 1919
Nhà XB: Nxb Văn học
12. Đào Tam Tĩnh: Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919). Nxb Nghệ An, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919)
Nhà XB: Nxb Nghệ An
13. Nguyễn Đình Triển: Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam huyện Nghi Lộc. Nxb Nghệ An, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam huyện Nghi Lộc
Nhà XB: Nxb Nghệ An
14. Ban cán sự họ Nguyễn Đức: Gia phả họ Nguyễn Đức (tập 1), 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Nguyễn Đức
15. Ban nghiên cứu lịch sử Nghệ Tĩnh: Lịch sử Nghệ Tĩnh (tập 1). Nxb Nghệ Tĩnh, 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh
16. Ban phê bình, bình luận văn học: Lê Quý Đôn, Nguyễn Dữ, Mạc Thiên Tích, Phạm Nguyễn Du, Ngô Thi Sỹ. Nxb Văn Nghệ, TP.HCM, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Quý Đôn, Nguyễn Dữ, Mạc Thiên Tích, Phạm Nguyễn Du, Ngô Thi Sỹ
Nhà XB: Nxb Văn Nghệ
18. Hội văn nghệ dân gian Nghệ An: Câu đối xứ Nghệ (tập 1). Nxb Nghệ An, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đối xứ Nghệ
Nhà XB: Nxb Nghệ An
19. Hội văn nghệ dân gian Nghệ An: Câu đối xứ Nghệ (tập 2). Nxb Nghệ An, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đối xứ Nghệ
Nhà XB: Nxb Nghệ An
20. Hội văn nghệ dân gian Nghệ An, Viện nghiên cứu văn hoá dân gian: Văn hoá các dòng họ ở Nghệ An (Kỷ yếu hội thảo khoa học). Nxb Nghệ An - 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá các dòng họ ở Nghệ An (Kỷ yếu hội thảo khoa học)
Nhà XB: Nxb Nghệ An - 1997
5. Ninh Viết Giao: (CB) Nghệ An lịch sử và văn hoá - NXB Nghệ An - 2005 Khác
17. Tài liệu: Các nhà khoa bảng họ Đinh Khác
21. Sở văn hoá Nghệ An - Bảo tàng Nghệ An: Hồ sơ di tích và mộ Nguyễn Thức Tự Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đóng góp của các dòng họ khoa bảng  ở Nghi Lộc- Nghệ An đối với lịch sử dân tộc   - Đóng góp của các dòng họ khoa bảng ở nghi lộc   nghệ an đối với lịch sử dân tộc (từ đầu thế kỷ xix đến năm 1919)
ng góp của các dòng họ khoa bảng ở Nghi Lộc- Nghệ An đối với lịch sử dân tộc (Trang 1)
Ta có thể thấy một cách khái quát hơn qua bảng danh sách các sỹ tử Nghi Lộc đã đậu trong các kỳ thi H-ơng - Đóng góp của các dòng họ khoa bảng ở nghi lộc   nghệ an đối với lịch sử dân tộc (từ đầu thế kỷ xix đến năm 1919)
a có thể thấy một cách khái quát hơn qua bảng danh sách các sỹ tử Nghi Lộc đã đậu trong các kỳ thi H-ơng (Trang 29)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w