Không chỉ dừng lại ở việc trình bày các sự kiện về quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì từ 1990 đến 2006, luận văn còn tập trung phân tích, lí giải các vấn đề đ-ợc nhiều ng-ời quan tâm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
===== =====
TRƯƠNG VĂN HÒA
Tiến trình bình thường hóa
Và sự phát triển của quan hệ ngoại giao
Việt Nam - hoa kì (1990 - 2006)
Trang 21 Lý do chọn đề tài
Kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
VI (tháng 12 - 1986), Việt Nam khởi động công cuộc đổi mới đất n-ớc nhằm thực hiện: "Dân giàu, n-ớc mạnh, xã hội cộng bằng, dân chủ, văn minh" Để thực hiện mục tiêu trên, Đảng đ-a ra đ-ờng lối ngoại giao đa ph-ơng, trong đó
đặc biệt quan tâm đến quan hệ ngoại giao với Hoa Kì Trên cơ sở các biện pháp đổi mới của Việt Nam cũng nh- những động thái ngoại giao tích cực từ phía Hoa Kì, quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì liên tục đ-ợc cải thiện, chuyển từ đối đầu sang đối thoại và đi đến bình th-ờng hoá quan hệ
Với vị thế là siêu c-ờng trong trật tự thế giới đa cực đang đ-ợc hình thành, các chiến l-ợc, động thái, chính sách của Hoa Kì đặc biệt là chính sách
đối ngoại đều trực tiếp tác động đến cục diện toàn cầu cũng nh- bản thân Việt Nam Việc Tổng thống Hoa Kì tuyên bố bình th-ờng hoá quan hệ với Việt Nam là kết quả của một quá trình đàm phán lâu dài và căng thẳng giữa hai Chính phủ Đồng thời là một b-ớc đi đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng chung của nhân dân hai n-ớc cũng nh- mong muốn hoà bình, ổn định và phát triển của các n-ớc châu á - Thái Bình D-ơng và trên toàn thế giới
Hiện nay Hoa Kì là đối tác quan trọng của Việt Nam, đặc biệt trên lĩnh vực kinh tế - th-ơng mại Những động thái trong quan hệ ngoại giao đều tác
động đến các lĩnh vực khác trong quan hệ chung giữa hai n-ớc Sự kiện Tổng thống Hoa Kì tuyên bố bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam (năm 1995), cũng nh- những b-ớc phát triển sau đó trong quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì, đã gây đ-ợc sự chú ý của các nhà nghiên cứu Hoa Kì và Việt Nam
Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Hoa Kì trải qua những b-ớc thăng trầm trong lịch sử, nh-ng từ đầu thập niên 90 của thế kỉ XX đến nay đã
Trang 3và đang đạt đ-ợc những b-ớc tiến tốt đẹp qua đó thúc đẩy các mối quan hệ khác Đối với Việt Nam việc bình th-ờng hoá và phát triển quan hệ ngoại giao với Hoa Kì là "thắng lợi lớn" trong chính sách ngoại giao đa ph-ơng mà Đảng
đề ra trong thời kì đổi mới, mở ra nhiều cơ hội để phát triển đất n-ớc Bên cạnh đó, không ít những thách thức đặt ra cho Đảng và Nhà n-ớc Việt Nam cả
về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội… nhất là khi Hoa Kì vẫn tiếp tục m-u đồ
"bá chủ toàn cầu", đặc biệt quan tâm đến các n-ớc có hệ t- t-ởng chính trị khác Hoa Kì nh- Việt Nam
Nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Hoa Kì nói chung, lĩnh vực ngoại giao nói riêng từ sau Chiến tranh lạnh là vấn đề đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, không ít các nhà nghiên cứu khi đ-a ra những nhận định,
đánh giá về mối quan hệ ngoại giao hai n-ớc ch-a thực sự khách quan, phiến diện đứng trên các lập tr-ờng chính trị khác nhau Quan hệ chính trị - ngoại giao là vấn đề nhạy cảm, đặc biệt là giữa Việt Nam với Hoa Kì Tuy vậy, trong bối cảnh đổi mới của đất n-ớc, cũng nh- xu thế toàn cầu hoá, vấn đề giao l-u
và hội nhập mang tính sống còn đối với mỗi quốc gia Do đó khi nghiên cứu quan hệ ngoại giao hai n-ớc, cần có sự nhìn nhận, đánh giá đúng đắn và khách quan trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau Nghiên cứu tiến trình bình th-ờng hoá và
sự phát triển quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn hơn bao giờ hết
Xuất phát từ những lí do trên đã khích lệ và tạo điều kiện cho tôi chọn
đề tài "Tiến trình bình th-ờng hoá và sự phát triển của quan hệ ngoại giao
Việt Nam - Hoa Kì (1990 - 2006)", làm luận văn Thạc sĩ của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì chuyển từ đối đầu sang đối thoại,
đặc biệt là sự kiện Tổng thống Hoa Kì B.Clin-tơn tuyên bố bình th-ờng hoá quan hệ ngoại hai n-ớc, đã thu hút đ-ợc sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu Chỉ riêng ở Việt Nam năm 1990 đến nay, nhất là từ năm 1995 đã
Trang 4có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết đ-ợc ấn hành và đăng tải trên các tạp chí khoa học, các tờ báo…
2.1 Có thể tìm hiểu tiến trình bình th-ờng hoá và sự phát triển của quan
hệ ngoại giao hai n-ớc Việt Nam - Hoa Kì từ năm 1990 đến năm 2006, qua một số nguồn t- liệu mà chúng tôi tiếp cận đ-ợc sau:
- Cuốn: "Vai trò của Hoa Kỳ ở châu á”, của nhóm nghiên cứu thuộc
Trung tâm Nghiên cứu cơ bản châu á về các vấn đề châu á - Thái Bình D-ơng do NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội - 1993 ấn hành Trong công trình này, nhóm tác giả đã trình bày và phân tích những thay đổi lớn trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ ở châu á nói chung và Đông Nam á nói riêng, cũng nh- vị trí của Hoa Kỳ ở châu á sau Chiến tranh lạnh
- Trên báo Nhân dân số 14636, tháng 7 năm 1995 có đăng bài: "Quan hệ Việt - Mĩ b-ớc sang một trang mới" của tác giả Duy Thịnh Bài viết đã trình
bày khái quát quá trình đàm phán giữa hai Chính phủ để đi đến bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao Đồng thời khẳng định việc Tổng thống Hoa Kì tuyên
bố bình th-ờng hoá quan hệ với Việt Nam (1995), đã đ-a quan hệ ngoại giao hai n-ớc b-ớc sang một trang mới, khép lại quá khứ h-ớng tới t-ơng lai
- Tạp chí châu Mĩ ngày nay số 2 - 1995, có đăng bài: "Tuyên bố của Tổng thống Mĩ B.Clin-tơn về việc bình th-ờng hoá quan hệ với Việt Nam" và
"Tuyên bố của Thủ t-ớng Võ Văn Kiệt về việc Tổng thống Mĩ quyết định bình th-ờng hoá quan hệ với Việt Nam"
- Năm 1996, trên Tạp chí Châu Mĩ ngày nay, số 4 có đăng bài: "Quan hệ
Mĩ - Việt sau một năm bình th-ờng hoá" của Đỗ Lộc Diệp Bài viết đã nêu
những thành tựu trên tất cả các lĩnh vực trong quan hệ Việt - Mĩ, đồng thời nhấn mạnh quan hệ ngoại giao giữa hai n-ớc cũng nh- các lĩnh vực khác cần phát triển hơn nữa
- Tạp chí Châu Mĩ ngày nay số 1 - 1996, đăng bài của A.Lake - Cố vấn
Trang 5an ninh của Tổng thống Mĩ B Clin-tơn Trong đó phân tích vị trí của lĩnh vực ngoại giao trong chính sách đối ngoại của Mĩ từ sau Chiến tranh lạnh Ngoại giao đ-ợc xem là vấn đề then chốt để phát triển kinh tế và thực hiện chiến l-ợc toàn cầu của Mĩ, mà tr-ớc hết Mĩ cần lấy lại vị trí của mình ở khu vực Đông Nam á
- Tuần báo Quốc tế số 23 từ ngày 5 - 11/6/1996, có đăng bài: "Tăng c-ờng quan hệ Mĩ - Việt" của tác giả Minh Nguyệt Trong bài này, tác giả đã
phân tích vị trí của Việt Nam cũng nh- của Mĩ trong lợi ích chung của hai n-ớc, nhấn mạnh quan hệ ngoại giao Mĩ - Việt cần đ-ợc tăng c-ờng hơn nữa Trong đó phía Mĩ cần phải có những động thái tích cực hơn để nâng quan hệ hai n-ớc lên cấp Đại sứ thay vì văn phòng liên lạc ở thủ đô mỗi n-ớc
- Cuốn sách: "Hoa Kỳ cam kết và mở rộng" của tác giả Lê Bá Thuyên do
NXB KHXH, Hà Nội - 1997 ấn hành Trong công trình này, tác giả đã đi sâu phân tích chiến l-ợc châu á - Thái Bình D-ơng của Hoa Kì, cũng nh- những thách thức của Hoa Kì ở châu á trong và sau Chiến tranh lạnh Tác giả phân tích vị trí của tổ chức ASEAN và những n-ớc thành viên trong chiến l-ợc của Hoa Kì ở khu vực này
- Năm 1997, Tạp chí Châu Mĩ ngày nay, số 1 có đăng bài của Nguyễn
Hữu Cát: "Những ghi nhận sau bình th-ờng hoá quan hệ Việt - Mĩ" Bài viết
trình bày những thành tựu và những b-ớc đi đúng đắn của hai Chính phủ trong những năm vừa qua Khẳng định, việc bình th-ờng hoá quan hệ Việt - Mĩ là b-ớc đi phù hợp với hoàn cảnh hai n-ớc cũng nh- xu thế của thời đại Trong lĩnh vực ngoại giao, hai năm sau khi tuyên bố bình th-ờng hoá, phía Mĩ đã có những động thái tích cực để đ-a quan hệ ngoại giao hai n-ớc lên ở cấp Đại
sứ (1997)
- Đăng trên Tạp chí Châu Mĩ ngày nay, số 2 - 1998, có bài: "B-ớc phát triển mới trong quan hệ Mĩ - Việt", của Đỗ Lộc Diệp thuộc Trung tâm Nghiên
Trang 6cứu Bắc Mĩ Tác giả phân tích khá sâu sắc vị trí của Việt Nam trong các lợi ích của Mĩ, trong đó ngoại giao có ý nghĩa hết sức quan trọng để thúc đẩy các lĩnh vực khác
- Cuốn "Quan hệ Việt - Mĩ thời kỳ sau Chiến tranh lạnh (1990-2000)"
của tác giả Lê Văn Quang, NXB ĐHQG TP.HCM, 2005 Tác giả đã trình bày
và phân tích khá sâu sắc mối quan hệ Việt - Mĩ trên các lĩnh vực, trong đó tác giả đi sâu phân tích quan hệ hai n-ớc từ sau Chiến tranh lạnh đến năm 2000
- Cuốn: "Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới (1975 - 2000)", của Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội - 2002 ấn hành Công trình
nghiên cứu này trình bày cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao của Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất n-ớc Trong đó cuộc đấu tranh ngoại giao của Việt Nam với Hoa Kì, đòi Nhà Trắng phải bỏ cấm vận kinh tế
và từng b-ớc đi đến bình th-ờng hoá quan hệ với Việt Nam
- Cuốn: "Ngoại giao Việt Nam 1995 - 2000" do Nguyễn Đình Bửu (chủ
biên), NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội - 2002 Cuốn sách trình bày khái quát quan hệ ngoại giao Việt Nam từ 1945 - 2000 Trong đó trình bày những nét khái quát quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì từ 1990 - 2000
- Đặc san Báo Đầu t- Việt Nam: "M-ời năm quan hệ và hợp tác kinh tế Việt - Mĩ" tháng 6 - 2005, có những bài viết trình bày dấu ấn m-ời năm quan
hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên lĩnh vực ngoại giao Đặc san có đăng các bài phát biểu, phỏng vấn về quan hệ Việt Nam - Hoa Kì của những ng-ời đứng đầu hai Chính phủ
- Lê Văn Bàng với bài: "Việt Nam - Hoa Kỳ: M-ời năm sau bình th-ờng hoá quan hệ", đăng trên Báo Đầu t- Việt Nam (tháng 6 - 2005) Trong bài
này, Thứ tr-ởng Lê Văn Bàng đã khái quát những thành tựu đạt đ-ợc trong quan hệ hai n-ớc trên các lĩnh vực trong m-ời năm qua Đồng thời cũng nêu lên những khó khăn, thách thức đối với Việt Nam trong quan hệ hợp tác với Hoa Kì
Trang 72.2 Qua các công trình nghiên cứu và các bài viết trên, chúng tôi đ-a ra
một số nhận xét sau:
2.2.1 Nhìn chung, các tác giả khi tìm hiểu về quan hệ ngoại giao Việt
Nam - Hoa Kì từ 1990 đến 2006 đều đã trình bày và phân tích những b-ớc tiến trong quan hệ ngoại giao hai n-ớc Có nhiều công trình, bài viết đã phân tích khá sâu sắc những động thái chính trị - ngoại giao của Việt Nam cũng nh- phía Hoa Kì Sự kiện Tổng thống B.Clin-tơn tuyên bố bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam (1995) và các chuyến thăm của những nhà lãnh đạo hai n-ớc là tâm điểm chính của nhiều bài viết Từ các công trình này, chúng tôi đ-ợc tiếp cận với một hệ thống tài liệu khá phong phú về quan hệ Việt Nam - Hoa Kì nói chung, lĩnh vực ngoại giao nói riêng Từ đó chúng tôi
có điều kiện tiếp thu, nhìn nhận quan hệ ngoại giao hai n-ớc từ 1990 đến 2006 một cách hệ thống và toàn diện Trên cơ sở đó, đ-a ra những nhận xét khách quan và trung thực hơn về quan hệ ngoại giao hai n-ớc trong tiến trình bình th-ờng hoá và phát triển
2.2.2 Mặc dù vậy, việc nghiên cứu "Tiến trình bình th-ờng hoá và phát triển của quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì từ năm1990 đến năm 2006", vẫn còn những "khoảng trống" mà tác giả luận văn quan tâm
- Hầu hết các công trình nghiên cứu, các bài viết trên còn mang tính chung chung và chia ra những giai đoạn khác nhau Ch-a có một công trình nào lớn nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc và có hệ thống về tiến trình bình th-ờng hoá và phát triển của quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì giai
đoạn này
- Các công trình nghiên cứu trên còn nhìn nhận vấn đề thiếu khách quan
và trung thực, còn bị chi phối khá nhiều bởi yếu tố chính trị Phía Hoa Kì vẫn ch-a đ-ợc phân tích và nhìn nhận một cách sâu sắc, đặc biệt là những chính sách ngoại giao của Hoa Kì ở châu á - Thái Bình D-ơng nói chung, khu vực
Đông Nam á nói riêng trong đó liên quan trực tiếp đến quan hệ ngoại giao với
Trang 8Việt Nam
2.3 Những kết quả nghiên cứu trên sẽ là nguồn t- liệu quan trọng để
chúng tôi tiếp tục nghiên cứu vấn đề một cách sâu sắc toàn diện và khách quan hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Hoa Kì giai đoạn 1990 – 2006, có cái nhìn tổng quát và sâu sắc trong tiến trình quan hệ ngoại giao hai n-ớc
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện đ-ợc mục đích của đề tài, cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Trên cơ sở nguồn t- liệu đ-ợc tiếp cận, phải tiến hành xử lí, xác minh
và phân loại Trình bày và phân tích một cách sâu sắc có hệ thống, đa ra những nhận xét, đánh giá khách quan quá trình đàm phán và những b-ớc phát triển của quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì giai đoạn 1990 - 2006 Từ đó chỉ ra triển vọng quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì cũng nh- vị trí của quan hệ ngoại giao đối với sự phát triển quan hệ chung hai n-ớc
4 Giới hạn của đề tài
Về thời gian: Mặc dù từ năm 1986, Việt Nam đ-a ra đ-ờng lối đổi mới trong lĩnh vực ngoại giao, song quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì cũng chỉ mới bắt đầu có những biến chuyển tích cực Cho đến năm đến năm 1990, giữa Việt Nam và Hoa Kì mới có những cuộc gặp gỡ chính thức đầu tiên để
Trang 9bàn về quan hệ ngoại giao hai n-ớc Từ năm 1990 đặc biệt là từ năm 1995 đến năm 2006 quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì đã đạt đ-ợc những b-ớc tiến rất quan trọng Vì vậy, đề tài này chúng tôi chỉ giới hạn trong khoảng thời gian từ 1990 đến 2006 Mặc dù vậy, để có cái nhìn rộng hơn trong quan hệ ngoại giao hai n-ớc, chúng tôi có sự liên hệ với giai đoạn tr-ớc cũng nh- đ-a
ra những dự đoán trong t-ơng lai
Về không gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tiến trình bình th-ờng hoá và sự phát triển quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì giai đoạn 1990 -
2006 Còn lại những vấn đề liên quan cũng nh- mối quan hệ khác, chúng tôi chỉ sử dụng với mục đích bổ sung, tổng kết phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài
5 Nguồn t- liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu
- Hệ thống các tin bài đăng trên báo chí từ năm 1990 đến 2005, nh-: Báo Nhân dân, Báo Tuổi trẻ, Báo Đầu t- Việt Nam, Sổ tay xây dựng Đảng…
- Nguồn Tài liệu tham khảo đặc biệt của Thông tấn xã Việt Nam trong các năm 1995 đến 2005
- Các bài tuyên bố, các cuộc phỏng vấn, báo cáo của các quan chức cấp cao hai n-ớc
- Nguồn tài liệu lấy từ Trung tâm Nghiên cứu Bắc Mĩ của Viện Quan hệ Quốc tế
Trang 10- Nguồn t- liệu thu thập từ Internet qua các trang wesite chính thống
5.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài cùng nguồn t- liệu
đ-ợc tiếp cận, để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các ph-ơng pháp nghiên cứu nh-: ph-ơng pháp lịch sử và ph-ơng pháp lôgic Đồng thời, kết hợp với các ph-ơng pháp chuyên ngành với liên ngành nh-: so sánh, phân tích, tổng hợp từ đó sử dụng ph-ơng pháp dự báo cho vấn đề cần nghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Luận văn sẽ đ-a đến cái nhìn tổng quát và sâu sắc tiến trình bình
th-ờng hoá và phát triển của quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì từ 1990
đến 2006
6.2 Không chỉ dừng lại ở việc trình bày các sự kiện về quan hệ ngoại
giao Việt Nam - Hoa Kì từ 1990 đến 2006, luận văn còn tập trung phân tích, lí giải các vấn đề đ-ợc nhiều ng-ời quan tâm nh-: những nhân tố nào chi phối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì trong tiến trình bình th-ờng hoá và phát triển; tại sao sau năm 1975, quan hệ ngoại giao hai n-ớc vẫn là đối đầu; tại sao phải mất 20 năm sau khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt (1975), hai n-ớc mới bình th-ờng hoá quan hệ (1995), và phải mất hai năm sau đó quan
hệ ngoại giao hai n-ớc mới chính thức đ-ợc thiết lập ở cấp Đại sứ Từ đó, luận văn sẽ rút ra những nhận xét, đánh giá về quan hệ ngoại giao hai n-ớc trong tiến trình bình th-ờng hoá và phát triển từ 1990 đến 2006 Đồng thời chỉ ra triển vọng cho sự phát triển quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì trong những năm tiếp theo
6.3 Qua nghiên cứu đề tài sẽ góp phần lý giải một vấn đề chung của thời
đại đó là: tuy mỗi n-ớc có chế độ chính trị - xã hội và hệ t- t-ởng khác nhau nh-ng cũng có thể tồn tại hoà bình, hợp tác và phát triển Đối đầu và chiến tranh không phải là một định mệnh lịch sử của sự khác biệt về chế độ chính trị - xã hội và hệ t- t-ởng Qua đó đặt ra vấn đề là: cùng ý thức hệ hay khác ý thức
Trang 11hệ t- t-ởng có phải là chuẩn mực cao nhất trong quan hệ quốc tế hay không?
6.4 Đề tài đ-ợc tiếp cận d-ới góc độ sử học, vì vậy sẽ là tài liệu tham
khảo cho việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Hoa Kì nói chung và lĩnh vực ngoại giao nói riêng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, mục lục, nội dung chính của luận văn gồm ba ch-ơng:
Chương 1 Tiến trỡnh bỡnh thường hoỏ quan hệ ngoại giao Việt
Nam - Hoa Kỡ (1990 - 1995)
Chương 2 Sự phỏt triển quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỡ sau
khi bỡnh thường hoỏ (1995 - 2000)
Chương 3 Bước phỏt triển mới của quan hệ ngoại giao Việt Nam -
Hoa Kỡ (2000 - 2006)
B Nội dung
Trang 12Ch-ơng 1 Tiến trình bình th-ờng hóa quan hệ ngoại giao việt Nam - Hoa Kì (1990 - 1995)
1.1 Những nhân tố thúc đẩy tiến trình bình th-ờng hóa 1.1.1 Nhân tố quốc tế và khu vực
Những năm cuối thập niên 1980, nhân loại chứng kiến những biến động
to lớn trên chính tr-ờng quốc tế Tháng 12/1989, tại cuộc gặp gỡ giữa M.Goóc-ba-chốp và G.Bu-sơ trên bán đảo Man-ta, hai siêu c-ờng Xô - Mĩ tuyên bố chấm dứt Chiến tranh lạnh Tháng 1/1990, Hội nghị cấp cao về an ninh và hợp tác châu Âu (CSCE) họp tại Pa-ri ra “Tuyên ngôn kễt thủc Chiễn tranh l³nh” Chiễn tranh l³nh kễt thủc, đ²nh dấu mốt mỗc lỡn trong lịch sụ quan hế quỗc tễ hiến đ³i: “nõ đ± kễt thủc hơn 40 năm đối đầu căng thẳng giữa hai cực Xô - Mĩ bởi Chiến tranh lạnh trong khuôn khổ của trật tự thế giới hai cực I-an-ta và mở ra một thời kì mới trong quan hệ quốc tế - thời kì mà xu thế hoà bình hợp tác, đối thoại cùng có lợi và phát triển giữa các quốc gia có chế
độ chính trị - xã hội khác nhau và hệ t- t-ởng khác nhau - xu thế này sẽ ngày c¯ng chiễm xu thễ v¯ sẻ trờ th¯nh xu thễ chù đ³o” [66; 45] Trong thội gian tú
1989 đễn 1991, thễ giỡi cðng chửng kiễn “bi kịch” cùa chù nghĩa x± hối (CNXH) ở các n-ớc Đông Âu và Liên Xô Do những sai lầm tích tụ trong quá trình xây dựng CNXH, trong công cuộc cải tổ và sự phá hoại, tấn công của các lực l-ợng phản động quốc tế, Liên Xô và các n-ớc Đông Âu đã rơi vào tình trạng khủng hoảng cả về chính trị, kinh tế mà Đảng Cộng sản và chính quyền
đ-ơng thời không thể kiểm soát đ-ợc Hệ quả là CNXH lần l-ợt sụp đổ ở các n-ớc Đông Âu và trong tháng 12/1991 diễn ra ngay trên quê h-ơng của Cách mạng Tháng M-ời là Liên Xô Sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu
Trang 13đã khiến toàn nhân loại, đặc biệt là các n-ớc XHCN trong đó có Việt Nam ph°i “b¯ng ho¯ng, sụng sỗt” Xẽt trên bệnh diến quan hế quỗc tễ, trật tữ hai cực I-an-ta ra đời và tồn tại từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến đây đã hoàn toàn sụp đổ và một trật tự thế giới mới đang dần dần đ-ợc hình thành Bình luận vẹ giai đo³n “giao thội” cùa chính trưộng thễ giỡi n¯y, Trần Quang Cơ trong cuỗn “Hối nhập quỗc tễ v¯ giừ gện b°n sãc dân tốc” nhận định: “Thễ giới đang thay đổi Hầu nh- tất cả những gì đặc tr-ng cho cục diện chính trị thế giới đ-ợc hình thành từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay đã đi vào quá khứ cùng với sự tan rã của Liên bang Xô Viết… Giờ đây thế giới khẩn tr
ơng đi vào một cuộc cờ mới Bàn cờ đang đ-ợc sắp đặt lại Luật chơi cũng
đang đ-ợc định lại với những chuẩn mực mới Tất cả tuy đều còn là manh nha, ch-a định hình hẳn, song có thể chắc chắn là mọi sự sẽ không còn hoàn toàn lập lại nh- tr-ớc, mà sẽ linh hoạt, sinh động và cũng phức tạp hơn nhiều Bàn
cờ không còn chia thành hai mảng lớn phân cách rõ ràng bởi một đ-ờng ranh giới, mà các quân cờ sẽ ở vào những vị trí đan xen lẫn nhau Mỗi con cờ trên bàn cờ, dù là tốt đen, đều có linh hồn riêng, vận mệnh riêng và đòi hỏi phải có bản lĩnh, có n-ớc cờ riêng của mình, tuy tất cả đều có sự ràng buộc khăng khít với nhau hơn trong vận mệnh chung của cả cuộc cờ Cờ tàn thì quân nào cũng phễ c°” [17; 95-96]
Cuộc khủng hoảng năng l-ợng 1973, kéo theo hàng loạt các cuộc khủng hoảng trên nhiều mặt: chính trị, kinh tế, tài chính, cơ cấu… và một loạt các vấn
đề bức thiết đặt ra mà các quốc gia phải quan tâm giải quyết Trong bối cảnh
đó, cách mạng khoa học kỹ thuật càng đ-ợc đẩy mạnh và cách mạng công nghệ đ-ợc nâng lên hàng đầu, mở ra giai đoạn hai cho cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại Trong khi chính tr-ờng thế giới cuối thập niên 80 đầu
90 đang có những biến động sâu sắc, thì nhân loại chứng kiến sự phát triển nh- vũ bão của các ngành khoa học công nghệ cao, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tác động sâu sắc đến
Trang 14mọi mặt của đời sống quốc tế cũng nh- ảnh h-ờng đễn “tính phửc t³p” trong quan hệ quốc tế, trong đó có mối quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kì
Cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá
và khu vực hoá, làm tăng nhu cầu hợp tác quốc tế và đối thoại để khai thác và cùng đối phó với những vấn đề nảy sinh từ quá trình này Xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển trở thành xu thế chủ đạo chi phối quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh, ở các khu vực cũng nh- trên phạm vi toàn cầu Nhân tố kinh tế ngày càng có vị trí quan trọng và dần trở thành nhân tố chủ đạo trong quan hệ quỗc tễ “Tr¯o lưu cải cách thể chế, cơ cấu kinh tế ở các quốc gia trên thế giới
đã trở thành phổ biến và làm thay đổi cơ bản bộ mặt kinh tế, xã hội của thế giỡi trong thập niên đầu sau Chiễn tranh l³nh” [60; 517] Đề tọn t³i v¯ ph²t triển, các dân tộc, quốc gia trên thế giới đều đặt -u tiên cao cho phát triển kinh tế, coi đó là nhân tố quyết định sức mạnh tổng hợp của quốc gia và đều phải nhanh chóng hội nhập vào xu thế phát triển chung trong cuộc chạy đua kinh tế toàn cầu
Cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, lợi ích về kinh tế đã làm cho “tính tương thuốc” giừa c²c quỗc gia, dân tốc ng¯y c¯ng lỡn Bên c³nh đõ, các vấn đề mang tính toàn cầu cũng đặt ra mà một quốc gia, khu vực không thể giải quyết đ-ợc, cần phải có sự hợp tác quốc tế mà ở đó mỗi quốc gia dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển đều đóng vai trò,
vị trí nhất định Vì vậy, vấn đề giao l-u hội nhập và phát triển mang tính sống còn đối với mỗi quốc gia, dân tộc cũng nh- vận mệnh chung của thế giới
Đối với khu vực Đông Nam á, những biến đổi của tình hình thế giới đã tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của toàn khu vực nói chung và từng quốc gia nói riêng Chiến tranh lạnh kết thúc, nhất là sau khi Liên Xô và trật tự hai cực I-an-ta sụp đổ, sự đối đầu về hệ t- t-ởng kéo dài trong hơn 40 năm đã không còn mang ý nghĩa chi phối tình hình khu vực Những thay đổi này góp phần cải thiện quan hệ giữa hai nhóm
Trang 15n-ớc sau những năm bị chia rẽ bởi sự đối đầu trong trật tự thế giới l-ỡng cực
Sự kiện Việt Nam tuyên bố rút quân hoàn toàn khỏi Căm-pu-chia đến việc kí Hiệp định Pa-ri về vấn đề này (tháng 10/1991), vấn đề Căm-pu-chia đ-ợc giải quyết ổn thoả bằng những giải pháp chính trị, hoà bình Sang năm 1993, cùng với việc Căm-pu-chia tiến hành tổng tuyển cử và bầu ra quốc hội mới, Chính phủ Liên hiệp hai đảng đ-ợc thành lập; Hoa Kì rút dần sự có mặt của mình ở các căn cứ quân sự Cơ-lác và Su-bích (Phi-líp-pin) Những diễn biến tích cực trong khu vữc dẫn tỡi kễt qu° l¯: “lần đầu tiên trong lịch sụ tú sau Chiễn tranh thế giới thứ hai, Đông Nam á không còn tình trạng đối đầu, không còn quân
đội n-ớc ngoài Các n-ớc trong khu vực có điều kiện xích lại gần nhau, cùng hợp tác, hội nhập để biến Đông Nam á thành khu vực hòa bình, ổn định, độc lập v¯ ph²t triền” [60; 518] Mờ đầu cho thội kệ mỡi trong xu thễ hớp t²c quỗc gia Đông Nam á là quá trình cải thiện quan hệ giữa Việt Nam và các n-ớc trong tổ chức ASEAN Để thích ứng với những diễn biến mới trên thế giới và trong khu vực, vấn đề đặt ra đối với các n-ớc ASEAN là tăng tr-ởng sức mạnh kinh tế của từng quốc gia thành viên và của toàn khu vực, thông qua đẩy mạnh hợp tác trong khu vực và duy trì đ-ợc tốc độ tăng tr-ởng kinh tế cao Trong tình hình đó, việc phát triển quan hệ với Việt Nam cũng nh- các n-ớc Đông D-ơng khác trở thành một chính sách quan trọng của các n-ớc ASEAN
Những biến đổi của tình hình thế giới và khu vực đã tạo điều kiện, môi tr-ờng khách quan thuận lợi cho việc thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác quốc
tế cũng nh- quan hệ giữa các quốc gia với nhau trong đó có mối quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kì
1.1.2 Nhân tố quốc gia
1.1.2.1 Đ-ờng lối đối ngoại của Việt Nam thời kì đổi mới
Trong trật tự thế giới mới đang dần hình thành, Việt Nam cũng nh- thế giỡi bãt đầu v¯ buốc ph°i l¯m quen vỡi viếc sỗng “không cõ Liên Xô” Tuy
“b¯ng ho¯ng, sụng sỗt” tr-ớc bi kịch của CNXH, nh-ng Việt Nam cũng đã ý
Trang 16thức đ-ợc điều này Tháng 12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI diễn
ra ờ H¯ Nối vỡi tinh thần “nhện thàng v¯o sữ thật, đ²nh gi² đủng sữ thật, nõi rỏ sữ thật” [21; 12] Đ³i hối đ± nhện l³i thữc tr³ng cùa đất n-ớc một cách nghiêm túc, nêu rõ những thành tựu và khuyết điểm, những thiếu sót trong chỉ đạo chiến l-ợc, trong tổ chức thực hiện, từ đó đề ra đ-ờng lối đổi mới toàn diện
đất n-ớc Đây chính là thời điểm lịch sử đáng ghi nhớ, mở ra một giai đoạn mới với những chuyển biến quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam
Với nhận thức rõ hơn về tình hình thế giới, tr-ớc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, tháng 7/1986 Bộ Chính trị khoá V của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết 32 xác định chủ tr-ơng về điều chỉnh b-ớc đầu chính sách đối ngoại của Việt Nam Đảng đề ra các chủ tr-ơng và giải pháp ứng phó với những tác động tiêu cực của tình hình với nội dung chủ yếu là đẩy lùi chính sách bao vây cấm vận kinh tế, cô lập về chính trị đối với n-ớc ta, từ đó
mở rộng quan hệ quốc tế Trên tinh thần đó, tháng 5/1987 Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết Trung -ơng 13 về chính sách đối ngoại trong tình hình mỡi Nghị quyễt nêu rỏ nhiếm vũ đỗi ngo³i cùa Viết Nam l¯ “kễt hớp sửc mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi nhất
để xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, chủ động tạo thế ổn định để tập trung xây dững kinh tễ” [2; 42]
Các nghị quyết của Bộ Chính trị trong những năm 1986 - 1988 trên lĩnh vực ngoại giao, đánh dấu một b-ớc phát triển hết sức quan trọng trong đổi mới t- duy nhận thức về các vấn đề quốc tế và đ-ờng lối đối ngoại của Đảng ta Với chính sách đa dạng hoá, đa ph-ơng hoá các quan hệ quốc tế trên nguyên tãc tôn tróng đốc lập, chù quyẹn v¯ cợng cõ lới, “c²c nghị quyễt không chì
đánh dấu b-ớc chuyển biến có ý nghĩa chiến l-ợc trong đ-ờng lối đối ngoại của Đảng và Nhà n-ớc ta mà còn là cơ sở cho việc đổi mới công tác đối ngoại v¯ ho³t đống cùa ng¯nh ngo³i giao trong tệnh hệnh mỡi” [2; 43]
Trang 17Tiếp tục thực hiện đ-ờng lối đối ngoại đổi mới của Đại hội Đảng lần
VI, Đại hội Đảng lần thứ VII (tháng 6/1991) khẳng định lại nhiệm vụ bao trùm của đưộng lỗi đỗi ngo³i Viết Nam l¯: “giừ vừng ho¯ bệnh, mờ rống quan
hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ x± hối” [22; 88] Trước những biến chuyển rất mới của tình hình thế giới, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Đảng ta kịp thời vạch ra đ-ờng lối đối ngoại mang tính chiến l-ợc Đại hội Đảng lần thứ VII xác định cần phải đa dạng hoá, đa ph-ơng hoá quan hệ đối ngoại của đất n-ớc theo phương châm “Viết Nam muốn làm bạn với tất cả các n-ớc trên thế giới, phấn đấu vì độc lập, hoà bệnh, dân chù v¯ tiễn bố x± hối” Thữc tễ đây chính l¯ sữ kễ tũc v¯ ph²t triền lên một b-ớc t- t-ởng Hồ Chí Minh từ năm 1947, rằng: Việt Nam muốn là bạn với các n-ớc dân chủ, không gây thù oán với một ai Đại hội VII cũng đề
ra chủ tr-ơng trong hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các n-ớc, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình, đồng thời nhấn mạnh cần phải coi trọng vận dụng bài học kết hợp sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nớc với sức mạnh quốc tế, yếu
tố truyền thống với yếu tố hiện đại trên cơ sở nhạy bén nhận thức và dự báo những diễn biến phức tạp, với những thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế,
sự phát triển mạnh mẽ của lực l-ợng sản xuất và xu h-ớng quốc tế hoá nền kinh tế thế giới để có những đối sách phù hợp trong quan hệ đối ngoại trên tinh thần hợp tác bình đẳng cùng có lợi với tất cả các n-ớc Đây chính là
đ-ờng lối, là ngọn cờ t- t-ởng mới dẫn đ-ờng cho chính sách đối ngoại và hoạt động quốc tế của Việt Nam thời kì hậu Chiến tranh lạnh và sau khi CNXH ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, trật tự hai cực I-an-ta tan rã
Tú cồ chí kim, ông cha ta đ± x²c định: “mờ rống bang giao l¯ c²i cỗt
để giữ và phát triển đất nưỡc” Trong bỗi c°nh quỗc tễ v¯ đất nước bấy giờ,
Trang 18Đảng đề ra ph-ơng châm Việt Nam muốn là bạn với tất cả các n-ớc trong cống đọng quỗc tễ mang nối dung đồi mỡi đủng đãn v¯ sâu sãc “Trước đây, chuẩn mực cao nhất trong quan hệ quốc tế là cùng ý thức hệ hay khác ý thức
hệ Ngày nay, với sự kết thúc của Chiến tranh lạnh, trật tự hai cực I-an-ta đã mất đi trong khi trật tự mới còn đang trong quá trình hình thành, sự tập hợp lực l-ợng trong quan hệ quốc tế diễn ra rất đa dạng và linh hoạt, chủ yếu dựa trên sự trùng hợp với lợi ích dân tộc trên từng vấn đề, từng lúc, từng nơi Các n-ớc ra sức mở rộng quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau, không câu nệ đối t-ợng với tất cả những ai có khả năng hợp tác hiệu quả Việc xác định bạn, thù, hình thức, mức độ quan hệ trở nên rất linh
ho³t” [17; 131-132]
Hội nghị Trung -ơng lần thứ 3 (khoá VII) tháng 6/1992, đã đ-a ra t- t-ởng chủ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng trong tình hình mới là: giữ vững nguyên tắc độc lập, thống nhất và CNXH, đồng thời cần sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của n-ớc ta cũng nh- với diễn tiến của cục diện thế giới và khu vực với từng đối t-ợng có quan
hệ với Việt Nam Tháng 1/1994, Hội nghị giữa nhiệm kì khoá VII đã khẳng
định việc mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên tr-ờng quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới đất n-ớc Hội nghị đề ra nhiệm vụ đẩy tới một b-ớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-ớc, nhằm đ-a n-ớc ta thoát khỏi nguy cơ tụt hậu xa so với các n-ớc trong khu vực, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ độc lập chủ quyền và định h-ớng CNXH
Với sự đổi mới trong đ-ờng lối đối ngoại, đặc biệt là chính sách ngoại giao đa ph-ơng của Việt Nam mà Đảng và Nhà n-ớc ta đã đề ra tại Đại hội VI (12/1986), chúng ta đã: tích cực tham gia đối thoại, tìm giải pháp chính trị cho
“vấn đẹ Căm-pu-chia”; đ°m b°o v¯ giừ vừng đ-ợc thành quả cách mạng của nhân dân Căm-pu-chia; tạo dựng môi tr-ờng hoà bình trên bán đảo Đông
Trang 19D-ơng và khu vực Đông Nam á; kiên trì chủ tr-ơng sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc nhằm bình th-ờng hoá và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của hai nưỡc trên nguyên tãc “l²ng giẹng thân thiến v¯ cợng tọn t³i ho¯ bệnh”; chù tr-ơng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các n-ớc Đông Nam á, sẵn sàng cùng các n-ớc trong khu vực th-ơng l-ợng để giải quyết các vấn đề ở khu vực, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xây dựng Đông Nam á thành khu vực hoà bình, ổn định và hợp tác Trên tinh thần đó, cùng với giải quyết
“vấn đẹ Cam-pu-chia”, quan hế đỗi đầu, căng thàng giừa mốt sỗ nước ASEAN vỡi Viết Nam cðng chuyền sang trang mỡi theo tinh thần “Biễn Đông D-ơng
từ chiến tr-ờng thành thị trưộng”, Viết Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với tất tất cả các n-ớc ASEAN và Đông Nam á Năm 1992, Việt Nam và Lào
là quan sát viên của tổ chức ASEANvà là cơ sở cho việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này vào năm 1995 Bên cạnh việc rộng quan
hệ với các n-ớc trong khu vực, tiếp tục duy trì quan hệ với các nưỡc “truyẹn thỗng”, Viết Nam cðng mờ rống quan hế vỡi c²c nước t- bản Tây Âu và EU cả trên lĩnh vực ngoại giao và kinh tế Với các tổ chức quốc tế, tiếng nói của Việt Nam ngày càng có trọng l-ợng mà tr-ớc hết là tổ chức Liên Hợp Quốc Chúng ta rất đáng tự hào vì chỉ trong vòng một thời gian ngắn, ngoại giao Việt Nam đã phủ sóng gần nh- trên phạm vi toàn cầu
Với những thành tựu mà Việt Nam đạt đ-ợc kể từ khi tiến hành đổi mới
đất n-ớc, đặc biệt là sau Chiến tranh lạnh, đ-ờng lối đối ngoại nói chung, lĩnh vực ngoại giao nói riêng tiếp tục đ-ợc Đảng và Nhà n-ớc ta đổi mới và hoàn chỉnh nhằm đa đất n-ớc v-ợt qua những khó khăn, để tạo lập và củng cố môi tr-ờng quốc tế hoà bình, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển đất n-ớc
Sau năm 1975, quan hệ Việt Nam - Hoa Kì chẳng những không đ-ợc nhanh chóng bình th-ờng hoá nh- mong đợi, ng-ợc lại cùng với các thế lực phản động quốc tế khác, Hoa Kì tiếp tục thi hành chính sách bao vây, cấm vận
Trang 20đối với Việt Nam Thất bại trên chiến tr-ờng Đông D-ơng, uy tín và vị thế của Hoa Kì trên chính tr-ờng quốc tế có ảnh h-ởng nhất định, song Hoa Kì vẫn là một siêu c-ờng quốc tế, mọi chính sách, động thái của Hoa Kì đều trực tiếp
ảnh h-ởng đến cục diện toàn cầu Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu đã dẫn tới sự thay đổi t-ơng quan lực l-ợng thế giới có lợi cho Hoa Kì và các n-ớc ph-ơng Tây
Xét về kinh tế: Hoa Kì là quốc gia có trình độ phát triển công nghiệp và nông nghiệp cao, nắm bắt đ-ợc những chìa khoá của khoa học và công nghệ tiên tiến trên thế giới, là n-ớc giàu có, thị tr-ờng rộng lớn, thống nhất với sức mua cao Do đó, quan hệ kinh tế với thị tr-ờng Hoa Kì là mong muốn của các quốc gia trên thế giới mà Việt Nam cũng không là ngoại lệ Kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kì là trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới, không chỉ
là một quốc gia công nghiệp phát triển nhất mà còn đứng đầu về sản xuất nông nghiệp Hoa Kì là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, có vị trí quan trọng trong các tổ chức này Trong một số tổ chức, tiếng nói của Hoa Kì có tính “quyễt định” như: tổ chức Tiền tệ thế giới (IMF), tổ chức Th-ơng mại thế giới (WTO), Diễn đàn Kinh tế các n-ớc châu á - Thái Bình D-ơng (APEC)
Đối với các n-ớc ASEAN, Hoa Kì là một bên đối thoại và là một bạn hàng quan trọng, gần nh- tất cả các n-ớc ASEAN đều xuất siêu sang Hoa Kì với kim ngạch gia tăng mạnh mẽ hàng năm
Xét về chính trị - quân sự: Hoa Kì có tiếng nói rất lớn trong tổ chức Liên Hợp Quốc cũng nh- trên các diễn đàn quốc tế khác Sau khi Liên Xô sụp
đổ, Hoa Kì là c-ờng quốc số một về quân sự Mặc dù phải thừa nhận sự lớn mạnh của các c-ờng quốc khác nh- Trung Quốc, Nhật Bản hay các n-ớc Tây
Âu, song những động thái chính trị - quân sự của Hoa Kì luôn tác động trực tiếp đến cục diện chính trị thế giới
Kể từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, n-ớc ta tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất n-ớc, trong đó có sự đổi mới về đ-ờng lối đối
Trang 21ngoại và chính sách ngoại giao Đảng và Nhà n-ớc ta ý thức đ-ớc r´ng: “Vấn
đề quan hệ bình th-ờng giữa Việt Nam với Hoa Kì là vấn đề tồn tại lớn nhất trên bản đồ ngoại giao của Việt Nam hiện nay, và cũng là ch-ớng ngại lớn nhất cho việc thực hiện chính sách đối ngoại mở cửa, đa dạng hoá và đa ph-ơng hoá của Viết Nam” [17; 108]
Đảng và Nhà n-ớc ta nhận thức đ-ợc vị trí số một về kinh tế, chính trị, quân sự cũng nh- tầm ảnh h-ởng của Hoa Kì trên thế giới nói chung, khu vực
Đông Nam á nói riêng, đặc biệt là sau khi hệ thống CNXH tan rã Do đó vấn
đề bình th-ờng quan hệ ngoại giao và hợp tác phát triển kinh tế với Hoa Kì
đ-ợc Đảng và Nhà n-ớc ta hết sức quan tâm, là một trong những -u tiên hàng
đầu trong chính sách đối ngoại của Đảng Trách nhiệm của đối ngoại Việt Nam là cần phải giải tỏa đ-ợc trở ngại này trên con đ-ờng phát triển của đất n-ớc
ý thức đ-ợc tầm quan trọng của vấn đề, ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI - Đại hội đổi mới, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung
ương аng nêu rỏ: “Chính phù ta tiễp tũc b¯n b³c vỡi Mĩ gi°i quyễt các vấn
đề nhân đạo do chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ với Mĩ vì lợi ích của hoà bình, ổn định ở Đông Nam á” [21; 108] Quan điềm n¯y đ-ợc
Đảng ta tiếp tục khẳng định tại Đại hội VII của Đảng, coi việc thúc đẩy bình th-ờng hoá quan hệ với Hoa Kì là một chủ tr-ơng quan trọng của Đảng và Nhà n-ỡc ta: “Viết Nam coi Mĩ l¯ mốt n-ớc có vai trò rất quan trọng đối với t-ơng lai, hoà bình và phồn vinh ở châu á - Thái Bình D-ơng Việt Nam luôn mong muốn quan hệ với Mĩ đ-ợc bình th-ờng hoá không điều kiện vì lợi ích nhân dân hai n-ớc, vì hoà bình ổn định, hợp tác của châu á - Thái Bình
Dương Đõ l¯ mũc tiêu phấn đấu cùa Viết Nam” [17; 114] Tr-ớc báo giới
trong n-ớc và quốc tế, trả lời câu hỏi về các thế hệ mai sau ở Việt Nam và Hoa Kì sẽ sống với quá khứ hay với t-ơng lai khi mà các nhân tố làm nên quá khứ
đã không còn nữa? Thứ tr-ởng Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ khẳng
Trang 22định: “vẹ phần chủng tôi đ± cõ sữ lữa chón rỏ r¯ng: chủng tôi chón tương lai H-ớng về t-ơng lai mà sống và phấn đấu Chính phủ và nhân dân Việt Nam muốn làm mọi việc cho quá khứ cay đắng không là vật cản mối quan hệ bình th-ờng giữa Việt Nam và Hoa Kì Chúng tôi muốn nhân dân hai n-ớc sống với nhau nh- những ng-ời bạn mãi mãi hay ít nhất cũng không nh- những kẻ thù cùa nhau Đõ l¯ đ³o lí cao nhất cùa Viết Nam” [17; 113]
Trong đ-ờng lối đổi mới đất n-ớc, mục tiêu phát triển kinh tế đ-ợc
Đảng và Nhà n-ớc ta đặt lên hàng đầu đồng thời nhấn mạnh tính cốt yếu đầu tiên là mở rộng quan hệ kinh tế với các n-ớc khác, qua đó giao l-u buôn bán,
mở rộng thị tr-ờng, thu hút vốn đầu t-, khoa học kỹ thuật… Mọi sự đổi mới trong đ-ờng lối đối ngoại cũng nh- các chính sách ngoại giao đều nhằm mục
đích phát triển kinh tế đất n-ớc
Giới lý luận chiến l-ợc của Hoa Kì luôn ca tụng câu nói nổi tiếng đã lan truyẹn tú lâu ờ Anh l¯: “Không cõ kÍ thợ vĩnh cụu, không cõ b³n vĩnh cụu, chì
cõ lới ích vĩnh cụu” Giừa Viết Nam v¯ Hoa Kệ túng l¯ kÍ thợ cùa nhau trong hơn 20 năm Tuy nhiên, trong bối cảnh quốc tế có những thay đổi sâu sắc cả
về chính trị, kinh tế, khi mà lợi ích phát triển kinh tế đất n-ớc đ-ợc đặt lên trên hết, Đảng và Nhà nưỡc ta đ± cõ sữ nhện nhận vấn đẹ “b³n” v¯ “thợ” rỏ rết hơn Ngay trên đất Hoa Kì, Thứ tr-ởng Ngoại giao Việt Nam Trần Quang Cơ
đã thẳng thắn tuyên bỗ: “KÍ thợ hiến t³i cùa Viết Nam l¯ nghèo n¯n, l³c hậu Bạn của Việt Nam là tất cả những ai sẵn sàng hợp tác giúp đỡ chúng tôi đánh
đuồi nghèo n¯n, l³c hậu ra khài Viết Nam” [17; 108]
Khác với các n-ớc nghèo và chậm phát triển khác, để hoà nhập đ-ợc vào đời sống kinh tế của thế giới bên ngoài nhằm tìm lối thoát ra khỏi nghèo n¯n l³c hậu, “Viết Nam còn cõ c²i khõ l¯ chưa có đ-ợc quan hệ quốc tế hoàn toàn bình th-ờng cần thiết cho việc mở rộng giao l-u và hợp tác quốc tế, còn
đang bị chính sách bao vây cấm vận đè nặng” [17; 108] Chính sách bao vây,
cấm vận mà Hoa Kì áp dụng đối với Việt Nam đã đè nặng lên nền kinh tế
Trang 23cũng nh- quan hệ giữa hai n-ớc Vì vậy, phía Việt Nam luôn dành -u tiên cho Hoa Kì cũng nh- sẵn sàng đàm phán với Hoa Kì về các vấn đề liên quan để Hoa Kì từ chỗ nới lỏng đến việc bãi bỏ cấm vận đối với Việt Nam
Có thể nhận thấy rất rõ rằng: trong chính sách đối ngoại của Việt Nam thời kì mở cửa, Đảng và Nhà n-ớc ta đã nhận thức đ-ợc vị trí quan trọng của Hoa Kì trên chính tr-ờng quốc tế cũng nh- nền kinh tế toàn cầu Việt Nam muốn đ-a nền kinh tế đất nưỡc ph²t triền thệ ít hay nhiẹu cần ph°i cõ “tiễng nõi tích cữc” tú phía Hoa Kệ, nhất l¯ trong bỗi c°nh Hoa Kệ đang tiễn h¯nh chính sách cấm vận đối với Việt Nam, đó là một thực tế không thể phủ nhận Những động thái trong quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì đều trực tiếp tác động đến quan hệ kinh tế hai n-ớc Trong xu thế hội nhập toàn cầu, vấn đề giao l-u mở cửa trở thành yếu tố sống còn đối với sự phát triển của một quốc gia Nếu trong việc thực hiện chính sách đối ngoại của Việt Nam có tiếng nói tích cực từ phía Hoa Kì, thì những trở ngại trên bản đồ ngoại giao của Việt Nam sẽ đ-ợc dỡ bỏ Đảng và Nhà n-ớc cũng cần nhận thức đ-ợc rằng: Hoa Kì
là một siêu c-ờng, một n-ớc lớn, trong khi Việt Nam vẫn còn là quốc gia có nền kinh tế kém phát triển, từ đó để đ-a ra những chính sách sát với thực tế và
đúng đắn theo ph-ơng châm “dĩ bất biễn, ửng v³n biễn”vệ lới ích cùa đất nước
1.1.2.2 Chính sách đối ngoại của Hoa Kì ở khu vực Đông Nam á sau Chiến tranh lạnh
Cuộc đối đầu của các siêu c-ờng trong Chiến tranh lạnh kết thúc, mở ra
kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của rất nhiều cơ hội thịnh v-ợng kinh tế toàn cầu, kỉ nguyên của quan hệ lành mạnh giữa các quốc gia và của các chế độ chính trị rộng mở Truyền thông, th-ơng mại, giao thông vận tải đang từng b-ớc gặm nhấm, xói mòn để phá vỡ những rào chắn chính trị Các kẻ thù tr-ớc đây, nay
đang tìm cách hoà giải những bất đồng, mâu thuẫn Tr-ớc sự thay đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, nhiệm vụ của Hoa Kì tr-ớc tiên là phải hiểu r´ng: “Trong thội đ³i nhừng biễn đống to¯n cầu hiến nay không cõ mốt câu tr°
Trang 24lời có sẵn luôn luôn đúng, không có giải pháp cẩm nang thích hợp cho mọi hoàn cảnh, không có một thiết chế chung cho mọi nh¯” [87; 13]
Mặc dợ Liên Xô sũp đồ, trên “b¯n cộ chính trị thễ giỡi” không còn phân
ra thành hai phía quân đen, quân đỏ với đ-ờng ngăn cách rạch ròi, nh-ng vị thế của Hoa Kì trên tr-ờng quốc tế cũng bị giảm sút bởi sự trỗi dậy của nhiều quốc gia khác về kinh tế, quân sự, trong đó đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản,
ấn Độ và một số n-ớc Tây Âu Thế giới đang chuyển mạnh từ chạy đua quyết liết vẹ quân sữ, tranh gi¯nh nhừng “kho°ng trỗng quyẹn lữc” sang c³nh tranh
về kinh tế, chiếm lĩnh thị tr-ờng Sức mạnh kinh tế ngày càng có vai trò quyết
định vị thế của các n-ớc, các khu vực trên tr-ờng quốc tế Do đó, từ cuối những năm 80, đầu thập niên 90 của thế kỉ XX, chính sách đối ngoại của Hoa Kì cũng bắt đầu có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình trong n-ớc và thế giới
Đông Nam á là khu vực có vị trí địa - chiến l-ợc quan trọng đối với khu vực châu á - Thái Bình D-ơng, đặc biệt là với các n-ớc lớn có nhiều tham vọng nh- Hoa Kì Chiến tranh lạnh kết thúc, sự sụp đổ của trật tự thế giới hai cực I-an-ta đã dẫn tới những chuyển biến to lớn hết sức nhanh chóng trong đời sống quốc tế nói chung, khu vực Đông Nam á và từng quốc gia ở đây nói riêng Đông Nam á b-ớc vào một thời kì lịch sử mới với xu thế đối thoại, hoà bình, hợp tác và phát triển Những vấn đề gây mâu thuẫn, chia rẽ giữa các n-ớc Đông D-ơng với các n-ớc khác trong khu vực dần đ-ợc giải quyết bằng giải pháp chính trị Tổ chức ASEAN ngày càng phát triển và trở thành một tổ chức khu vực thống nhất, tập hợp tất cả các quốc gia trong khu vực với các trình độ phát triển kinh tế, chế độ chính trị - xã hội, văn hoá khác nhau Tổ chức ASEAN cũng có những ảnh h-ởng đáng kể đối với các n-ớc lớn cũng nh- các trung tâm kinh tế, chính trị trên thế giới
Trên thực tế, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, Đông Nam á không còn chiếm vị trí -u tiên trong chính sách đối ngoại của Hoa Kì Việc ngăn chặn
Trang 25chủ nghĩa cộng sản của Hoa Kì ở đây không còn vấn đề thiết yếu sau khi Liên Xô sụp đổ, Hoa Kì đã rút dần sự có mặt về quân sự của mình ở khu vực Đông Nam á Tuy nhiên, sự lớn mạnh và trỗi dậy của Trung Quốc, Nhật Bản và Tây
Âu đang ảnh h-ởng trực tiếp đến vị thế và quyền lợi của Hoa Kì ở khu vực châu á - Thái Bình D-ơng nói chung và khu vực Đông Nam á nói riêng Đối với Hoa Kì, trong các khu vực trên thế giới, khu vực châu á - Thái Bình D-ơng đóng vai trò hết sức quan trọng, then chốt mang tính chiến l-ợc cả về kinh tế và quân sự Theo các chiến l-ớc gia Hoa Kệ, “châu á - Thái Bình D-ơng về mặt kinh tế sẽ là đầu dây cứu sống chúng ta, đó là khu vực của những quỗc gia đõng vai trò then chỗt trong thễ kì XXI” [87; 11] Trong khi Hoa Kì rút dần vị thế của mình ở khu vực Đông Nam á thì các n-ớc lớn khác nh- Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, ấn Độ lại tìm mọi cách gây ảnh h-ởng và tranh giành lợi ích của mình ở đây Vì vậy, trong sự thay đổi chiến l-ợc toàn cầu mới của mình, chính sách đối ngoại của Hoa Kì là tiếp tục sự hiện diện tại khu vực Đông Nam á
Để đáp ứng lợi ích của Hoa Kì trong chiến l-ợc toàn cầu mới, mục tiêu bao trùm của chính sách đối ngoại đối với khu vực Đông Nam á đ-ợc xác
định là xác lập vai trò bá chủ, ngăn chặn các thế lực nổi lên đe dọa quyền lãnh
đạo của Hoa Kì nhằm bảo đảm duy trì lợi ích tr-ớc mắt cũng nh- lâu dài tại khu vực này Do đó, chính sách của Hoa Kì đối với khu vực Đông Nam á dựa trên 3 trụ cột: mở rộng các giá trị Mĩ (dân chủ, nhân quyền, kinh tế thị tr-ờng
tự do); duy trì sự hiện quân sự; xây dựng cộng đồng hợp tác kinh tế, bành tr-ớng ngoại th-ơng Tuy các biện pháp, chính sách của mỗi Tổng thống Hoa Kì từ G Bu-sơ (cha), B.Clin-tơn, đến G.Bu-sơ (con) đối với khu vực Đông Nam á có sự điều chỉnh nhất định, song các mục tiêu cụ thể về cơ bản thể hiện rõ tính nhất quán và xoay quanh một số điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động dân chủ, nhân quyền và tự
Trang 26do hoá th-ơng mại với các n-ớc trong khu vực Đông Nam á, nhất là đối với những n-ớc có chế độ chính trị khác Hoa Kì nh- Việt Nam, kể cả Trung Quốc; Hoa Kì đẩy mạnh các nỗ lực nhằm áp đặt giá trị dân chủ, nhân quyền, xúc tiến âm mưu “diển biễn ho¯ bệnh” đỗi vỡi các n-ớc XHCN ở đây; sử dụng ngọn cờ dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo để tập hợp lực l-ợng trong thời kì mới nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của các n-ớc khác, trên cơ sở đó là
đòn bẩy để thực hiện chiến l-ợc toàn cầu mới của mình ở khu vực
Thử hai, thữc hiến chính s²ch “dính líu to¯n diến” mang tính hai mặt nhằm kiềm chế sự ảnh h-ởng của các n-ớc lớn khác ở khu vực Đông Nam á,
đặc biết l¯ Trung Quỗc “quỗc gia đang cõ sữ °nh hưởng lớn đối với khu vực
và là đối thủ cạnh tranh về quyền lực với Mĩ trong t-ơng lai” [29; 24)]; xây dựng quan hệ đối tác kinh tế và an ninh với ASEAN, nhất là đối với các n-ớc nh- Phi-líp-pin, Thái Lan, Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a; sử dụng các công cụ truyền thống nh- tình báo, sẵn sàng về quân sự và các hoạt động ngoại giao để giải quyết những thách thức an ninh xuyên quốc gia trong thế kỉ XXI ở khu vực; ngăn chặn tình trạng phổ biến vũ khí giết ng-ời hàng loạt nh-
vũ khí hạt nhân, hoá học, sinh học và các hệ thống triển khai vũ khí này để
đảm bảo an ninh và -u thế hạt nhân của Hoa Kì ở khu vực và trên thế giới
Thứ ba, dàn xếp việc sử dụng các căn cứ quân sự ở Phi-líp-pin,
Xin-ga-po, căn cứ quá cảnh và tiếp dầu ở Thái Lan, sử dụng các ph-ơng tiện bảo quản sửa chữa máy bay và hạm đội tàu hải quân ở Ma-lai-xi-a; xúc tiến các quan hệ huấn luyện, diễn tập, bán hàng quân sự và tài trợ quân sự cho một số n-ớc ở khu vực Đông Nam á; chú trọng các hoạt động đối thoại hợp tác an ninh song ph-ơng và đa ph-ơng thông qua Diễn đàn An ninh khu vực (ARF); coi đây là
“hòn đ² t°ng” trong chiễn lược an ninh, yếu tố then chốt của chiến l-ợc quân
sự Hoa Kì tiếp tục giữ vững và cũng cố hành lang chiến l-ợc trên Thái Bình D-ơng và kiểm soát các vùng biển, eo biển then chốt ra vào Thái Bình D-ơng
và ấn Độ D-ơng, trong đó In-đô-nê-xi-a đ-ợc coi là có tầm quan trọng nhất
Trang 27Thấy đ-ợc tầm quan trọng của khu vực Đông Nam á trong lợi ích của Hoa Kì, khi lên nắm c-ơng vị Tổng thống ở thời kì đầu, B.Clin-tơn đã cam kết tiễp tũc chính s²ch tham gia tích cữc v¯o “c²n cân quyẹn lực ở khu vực bằng cách tăng c-ờng các liên minh và duy trì việc triển khai ở phía tr-ỡc” [29; 25] Trong tuyên bố toàn diện về chính sách mới của Tổng thống đối với khu vực
đ-ợc W.Lốt (Phó trợ lí Bộ tr-ởng Ngoại giao) trình bày tr-ớc Uỷ ban Đối ngoại Th-ớng viến Hoa Kệ nêu rỏ: “Đỗi vỡi Mĩ không cõ khu vữc n¯o quan trọng hơn châu á - Thái Bình D-ơng và không có khu vực nào khác có tầm quan trọng nh- thế đối với Hoa Kì trong thế giới mới Hoa Kì cần khống chế
sự v-ơn lên của Trung Quốc và Nhật Bản ở khu vực Đông Nam á, ngăn chặn liên minh châu á, tiếp tục kiềm chế Nga, từ đó duy trì sức mạnh hiện có, đảm bảo không có lực l-ợng nào có khả năng thách thức sức mạnh của Mĩ xuất hiện trên lục địa á - Âu để Mĩ giữ vững vị trí siêu c-ộng duy nhất” [29; 25]
Mặc dù có những điều chỉnh trong chính sách ngoại giao ở Đông Nam
á, nh-ng mục tiêu và lợi ích của Hoa Kì ở khu vực này vẫn thể hiện tính liên tục và kế thừa, Hoa Kì coi việc hợp tác với các n-ớc Đông Nam á là tiền đề chủ yếu để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế ở khu vực này Điều đáng chú ý
là Hoa Kì tìm cách ngăn chặn ảnh h-ờng v¯ sữ xuất hiến cùa c²c “trung tâm quyẹn lữc” mỡi đang nồi lên, kiẹm chễ, bao vây nhừng n-ớc có tham vọng giữ vai trò chủ đạo ở khu vực nhất là với Trung Quốc và Nhật Bản Bên cạnh đó, các n-ớc Đông Nam á cũng nhấn mạnh yêu cầu đối với Hoa Kì và các n-ớc lớn khác, cần tăng c-ờng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế, đấu tranh chống các mối đe doạ chung, phấn đấu xây dựng một khu vực Đông Nam á hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển
Tr-ớc đây, chính sách của Hoa Kì đối với Việt Nam nằm trong chiến l-ợc ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản, sau khi Liên Xô sụp đổ thì chính sách mới của Hoa Kì đối với Việt Nam lại đ-ợc xây dựng trên cơ sở những mục
Trang 28tiêu chiến l-ợc toàn cầu cũng nh- xuất phát từ những lợi ích chiến l-ợc của Hoa Kì ở Việt Nam, Đông D-ơng và Đông Nam á - Châu á-Thái Bình D-ơng trong thời kì mới Xuất phát từ mục tiêu duy trì lâu dài vị trí siêu c-ờng duy nhất, Hoa Kì vẫn tìm cách tập hợp lực l-ợng, mở rộng kinh tế thị tr-ờng khãp to¯n cầu v¯ kiên quyễt chỗng l³i “mốt cường quốc hoặc liên minh nhiều nưỡc”, gi¯nh dật, th²ch thửc vai trò l±nh đ³o cùa mệnh Hoa Kệ xem Viết Nam vừa là đối t-ợng tranh thủ, tập hợp lực l-ợng, đồng thời vừa là đối t-ợng chuyển hoá sang “dân chù kiều Mĩ” Hoa Kệ vẫn xem Viết Nam l¯ mốt trong
số năm n-ớc XHCN còn lại, thông qua chiến lước “dính líu”, Hoa Kệ đang thữc hiến “diển biễn ho¯ bệnh” vỡi Viết Nam Bên c³nh đõ, trong “trò chơi” cân bằng khu vực và trật tự quốc tế ở Đông Nam á - Châu á-Thái Bình D-ơng, Hoa Kì không thể không tính đến Việt Nam nh- là một nhân tố không thề bà qua trong “cuốc cộ lỡn” giừa c²c c-ờng quốc và nhóm các n-ớc Đông Nam á mà rộng hơn là châu á - Thái Bình D-ơng
Việt Nam nằm trên vành đai châu á - Thái Bình D-ơng, là cầu nối
Đông Nam á với Đông Bắc á nằm án ngữ các eo biển yết hầu nối liền Thái Bình D-ơng với ấn Độ D-ơng, địa bàn chiến l-ợc của Việt Nam nằm trong lợi ích chiến l-ợc của Hoa Kì, do đó Hoa Kì không thể không cân nhắc tính toán
Trang 29đó, Hoa Kì tính toán không để c-ờng quốc nào giành đ-ợc vị thế v-ợt trội ở Việt Nam, sẽ tìm cách khai thác vị trí -u thế chiến l-ợc này phục vụ cho mục tiêu chiến l-ợc của Hoa Kì ở châu á - Thái Bình D-ơng
2 Về lợi ích kinh tế, th-ơng mại, đầu t-, tuy tr-ớc mắt ch-a lớn so với tầm vóc kinh tế toàn cầu của Hoa Kì, nh-ng với dân số đông, có tài nguyên thiên nhiên, tiềm năng con ng-ời và khả năng phát triển năng động, Việt Nam nằm trong nhóm n-ớc ASEAN là một trong mời thị tr-ờng đang trỗi dậy trong chiến l-ợc bành tr-ớng ngoại th-ơng của Hoa Kì
3 Xét trong mối quan hệ giữa Hoa Kì và các c-ờng quốc khác ở Việt Nam, các n-ớc Hoa Kì quan tâm là Trung Quốc, Nga, ấn Độ, nhất là sự trỗi dậy của Trung Quốc có thể trở thành đối thủ toàn cầu mới của Hoa Kì trong mấy chục năm đầu thế kỷ XXI Do đó, việc Hoa Kì tranh giành quyền lợi chiến l-ợc dẫn đầu trên địa bàn Việt Nam và trong khu vực, khiến Việt Nam
về khách quan bị cuốn hút vào bàn cờ chiến l-ợc của Hoa Kì và các n-ớc lớn khác trong khu vực
Xuất phát từ lợi ích chiến l-ợc nói trên, chúng ta có thể đ-a ra những nhận định về chính sách đối ngoại mà Hoa Kì sẽ áp dụng đối với Việt Nam nh- sau:
- Hoa Kì sẽ xúc tiến việc bình th-ờng hoá quan hệ th-ơng mại, đầu t- hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhằm phục vụ cho chính sách bành tr-ớng ngoại th-ơng, chấn h-ng kinh tế nh-ng vẫn theo điều kiện khắt khe về tự do hoá th-ơng mại toàn cầu và dân chủ, nhân quyền
- Từng b-ớc bình th-ờng hoá quan hệ với Việt Nam nhằm thực hiện lợi ích chiến l-ợc toàn cầu và khu vực tạo thêm thế mạnh cho mình trong quan hệ với các c-ờng quốc khác và từng b-ỡc giừ vai trò “thướng phong” ờ Viết Nam
- Hoa Kì sẽ thông qua các quan hệ kinh tế th-ơng mại, đầu t-, trao đổi văn hoá, giáo dục, quan hệ ngoại giao nhà n-ớc và ngoại giao nhân dân cùng các thủ đoạn khác của kỉ nguyên thông tin để tác động trực tiếp đến từng cá
Trang 30nhân, từng gia đình, từng tổ chức Đồng thời sử dụng các thủ đoạn truyền thống về xâm nhập, đặc vụ, tay sai, âm m-u tạo ra cơ sở xã hội mới, môi trưộng x± hối mỡi thuận lới cho viếc thữc hiến “diển biễn ho¯ bệnh” v¯ “tữ diển biễn ho¯ bệnh” đỗi vỡi Viết Nam
Qua đó, chúng ta có thể thấy rằng những chính sách đối ngoại mà Hoa Kì tiến hành ở Việt Nam là nhằm phục vụ cho lợi ích của Hoa Kì về mặt kinh
tế, chính trị, an ninh Việc bình th-ờng hoá quan hệ với Hoa Kì sẽ tạo điều kiện cho Việt Nam phục vụ lợi ích phát triển kinh tế đất n-ớc, đồng thời chúng ta cũng cần phải cảnh giác cao với những âm m-u chính trị và chiến l-ợc mà các thế lực phản động đang tiến hành để bảo vệ vững chắc nền độc lập chủ quyền và thể chế chính trị của mình
1.1.3 Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì (1975 - 1989)
Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì trong giai đoạn 1975 - 1989 nằm trong khuôn khổ cuộc Chiến tranh lạnh và trật tự hai cực I-an-ta, nên diễn
ra khá phức tạp Nhìn chung, trong giai đoạn này quan hệ hai n-ớc vẫn là đối
đầu, mỗi bên đều đ-a ra những cách lý giải khác nhau trong việc giải quyết c²c vấn đẹ cũ thề Phía Viết Nam cho r´ng, Hoa Kệ đ± “bà lở cơ hối” bệnh th ờng hoá quan hệ hai n-ớc Ngước l³i phía Hoa Kệ gói l¯ nhừng “cơ hối bị bà lở” tú phía Viết Nam
Về phía Hoa Kì, trong khoảng thời gian 1975 đến 1989, Hoa Kì có để ngõ khả năng cải thiện quan hệ với Việt Nam với những động thái của Nhà Trắng đó là: chính quyền Hoa Kì đã nhiều lần gửi thông điệp cho phía Việt Nam, khẳng định Hoa Kì không hề thù địch với Việt Nam và sẵn sàng đàm phán với Việt Nam về quan hệ hai n-ớc; khi ch-a công nhận n-ớc Cộng hoà XHCN Việt Nam, nh-ng Hoa Kì tuyên bố không công nhận bất kì một Chính phủ l-u vong nào của Việt Nam; Hoa Kì không chống lại việc Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế nh-: Quỹ Tiền tệ quốc tế, Ngân hàng thế giới, Tổ chức Y tế và Cứu trợ thế giới… Hoa Kì còn cấp thị thực cho các đoàn Việt
Trang 31Nam tham gia các cuộc họp của Liên Hợp Quốc ở Niu-oóc D-ới thời Tổng thống J.Ca-tơ (1977-1981), thông qua trung gian là Liên Xô, Tổng thống đã gửi đến Chính phủ Việt Nam đề nghị về một kế hoạch bình th-ờng hoá quan
về bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao hai n-ớc Qua các cuộc gặp gỡ và đàm phán trên, phía Hoa Kì đề nghị bình th-ờng hoá quan hệ không điều kiện và thành lập văn phòng liên lạc ở thủ đô hai n-ớc trong khi ch-a bình th-ờng hoá quan hệ Phía Hoa Kì thôi không dùng quyền phủ quyết (Ve-to) việc Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc Ngày 20/9/1977, khi Việt Nam chính thức gia nhập Liên Hợp Quốc, Tổng thống Hoa Kì J Ca-tơ đã chúc mừng Đại sứ Việt Nam tại Liên Hợp Quốc nhân sự kiện này
Mặc dù để ngỏ cửa cho khả năng cải thiện quan hệ hai n-ớc, song Hoa Kì vẫn tiếp tục thi hành chính sách thù địch đối với Việt Nam Hoa Kì vẫn thi hành chính sách bao vây, phong tỏa, cấm vận chống Việt Nam Theo Thứ trường Ngo³i giao Viết Nam Lê Mai: “chính s²ch ngo³i giao cấm vận chỗng Việt Nam có thể nói gọn là sự kéo dài một cuộc chiến tranh ch-a từng đ-ợc chính thức phát động, nh-ng ch-a từng đước chính thửc kễt thủc” [66; 29]
Về phía Việt Nam, tr-ỡc nhừng đống th²i “tích cữc” trong viếc đề ngà cho cải thiện quan hệ hai nưỡc, chủng ta lủc đầu vẫn luôn “kiên quyễt viếc
Trang 32Hoa Kì đóng góp vào công việc hàn gắn vết th-ơng chiến tranh và xây dựng Việt Nam sau chiến tranh, đồng thời cũng không tán thành việc lập văn phòng liên lạc ở thủ đô hai nưỡc” [66; 27] Điẹu n¯y được hiểu là: trong quá trình
đàm phán phía Hoa Kì đề nghị bình th-ờng hoá quan hệ hai n-ớc không điều kiện; phía Việt Nam yêu cầu có điều kiện và Hoa Kì phải có trách nhiệm trong việc hàn gắn vết th-ơng chiến tranh ở Việt Nam Mặc dù đ-a ra ý kiến của mình, nh-ng trên thực tế Hoa Kì không theo đuổi ý kiến đó mà ng-ợc lại vẫn tiếp tục thi hành chính sách thù địch với Việt Nam Ngày 17/7/1978, tại thủ đô Tô-ki-ô (Nhật Bản), Thứ tr-ởng Ngoại giao Việt Nam Phan Hiền tuyên bố: Việt Nam sẽ bỏ tất cả các điều kiện tiên quyết tr-ớc đây mà Việt Nam đ-a
ra nhằm tiến tới bình th-ờng hoá quan hệ với Hoa Kì Nh-ng chính quyền Cát-tơ đã không thừa nhận và đòi phải có văn bản viết chính thức và phía Việt Nam đã đáp ứng ngay điều kiện này T-ởng chừng hai bên sẽ đạt đ-ợc những kết quả tốt đẹp trong vòng đàm phán giữa Trợ lí Bộ tr-ởng Ngoại giao Hoa Kì, R.Hôn-brúc và Thứ tr-ởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch vào cuối tháng 11/1978, song vẫn không đi đến kết quả nh- mong muốn Mặc dù vậy, chúng
ta cũng không quá bất ngờ vì quan hệ hai n-ớc không đi đến bình th-ờng hoá, bởi vì mối quan hệ này đang bị chi phối bởi cuộc Chiến tranh lạnh và trật tự hai cực I-an-ta, “thữc ra chính s²ch cấm vận cùa Hoa Kệ chỗng Viết Nam cõ cả một lịch sử lâu dài, là sản phẩm trực tiếp của chiến l-ợc toàn cầu phản cách mạng của Hoa Kì trong khuôn khổ Chiến tranh lạnh và trật tự thế giới hai cực I-an-ta” [66; 2] Thữc ra, phía Hoa Kệ đ± rủt lui khài cơ hối bệnh th-ờng hoá vào cuối năm 1978 chứ không phải phía Việt Nam, đó là sự thật không thể phủ nhận Phân tích về nguyên nhân này, G.E-van và K.Rô-li, tác giả của cuốn s²ch “Chân lí thuốc vẹ ai” đ± cho rằng: lúc này chính quyền Ca-tơ có một canh bạc khác, lý do thực sự ngoài sự thù địch chống cộng đối với Chính phủ
Hà Nội, một nhân tố có tầm quan trọng ngày càng tăng là họ sợ việc bình th-ờng hoá có thể làm tổn th-ơng đến mối quan hệ đang phát triển giữa Hoa
Trang 33Kì với Trung Quốc Cả những ng-ời tự do và những ng-ời cánh hữu đều đồng
ý với nhau về lý do đó Bản thân Tổng thống Ca-tơ đã viết trong hồi kí của mệnh: “bước đi với Trung Quốc có tầm quan trọng tối cao, cho nên sau vài tuần đánh giá, tôi quyết định hoãn cố gắng về Việt Nam cho đến khi ký hiệp
định cùa chủng ta ờ Bãc Kinh” Như vậy, “con b¯i” Trung Quỗc chính l¯ nguyên nhân sâu xa để Hoa Kì bác bỏ bình th-ờng hoá quan hệ với Việt Nam mặc dù cơ hội đã rõ ràng
Năm 1979, “vấn đẹ Căm-pu-chia” nồi lên khi Việt Nam đem quân tình nguyện sang giúp đỡ nhân dân nơi đây chống lại chế độ diệt chủng Khơme đỏ Ngày 9/1/1979, Ngoại tr-ởng Hoa Kì tuyên bố ngừng mọi cuộc tiếp xúc, trao
đổi giữa Việt Nam với Hoa Kì, chính quyền Nhà Trắng đứng đầu lúc đó là Tổng thống Ri-gân đã gắn việc giải quyết vấn đề Căm-pu-chia và vấn đề POW/MIA với việc bình th-ờng hoá quan hệ với Việt Nam Đồng thời Hoa Kì còn thi h¯nh chính s²ch “siễt chặt đinh ỗc”, cợng vỡi c²c thễ lữc ph°n đống tăng c-ờng chống phá, cấm vận Việt Nam, bất chấp mọi nỗ lực, thiện chí của Việt Nam về việc bình th-ờng hoá với Hoa Kì Tình hình căng thẳng trong quan hệ hai n-ớc dần đ-ợc giải toả khi Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc
đổi mới toàn diện đất n-ớc (trong đó coi trọng việc đổi mới về công tác ngoại giao và quan hệ quốc tế), và cuộc diện Chiến tranh lạnh trong khuôn khổ hai cực I-an-ta dần đi đễn kễt thủc v¯o cuỗi thập niên 80 cùa thễ kì XX “Thữc tễ
từ giữa năm 1986, quan hệ Việt Nam - Hoa Kì chuyển dần từ đối đầu sang đối thoại và có những b-ớc phát triển quan trọng, nhất là từ cuộc xung đột Căm-pu-chia đạt đ-ợc những giải pháp chính trị và Việt Nam đạt những thành tựu quan tróng trong công cuốc đồi mỡi” [63; 352] Viếc Viết Nam quyễt định rủt quân ra khỏi Căm-pu-chia tr-ớc thời hạn trong năm 1989 đ-ợc xem là một quyết định sáng suốt, đúng đắn và hợp tình hợp lí nhất Đây là điểm mấu chốt
để đi đến giải quyết vấn đề Căm- pu-chia vốn đ-ợc Hoa Kì sử dụng nh- một yếu tố quan trọng, đặt điều kiện cho việc bình th-ờng hoá quan hệ với Việt
Trang 34Nam Việc giải quyết hoà bình vấn đề Căm-pu-chia đã giải tỏa một trong những trở ngại lớn nhất trên con đ-ờng bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì Chỉ vài giờ tr-ớc lễ kí Hiệp định hoà bình Pa-ri về vấn đề Căm-pu-chia trong ngày 23/10/1991, Bộ tr-ởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đ± nêu rỏ: “Đỗi vỡi riêng Viết Nam, chủng tôi hy vóng gi°i ph²p to¯n bố cho vấn đề Căm-pu-chia sẽ giải toả những cản trở cuối cùng trên con đ-ờng triển khai chính sách đối ngoại của chúng tôi là bình th-ờng hoá, đa dạng hoá
và sẵn sàng hợp tác cùng với tất cả các n-ớc… trên cơ sở bình đẳng và cùng có lới” [17; 79-80]
Trong giai đoạn 1975 - 1989, nhìn chung quan hệ ngoại giao hai n-ớc Việt Nam - Hoa Kì vẫn ở trong tình trạng đối đầu, song cũng đã đạt đ-ợc những b-ớc tiến làm tiền đề, cơ sở cho việc bình th-ờng hoá sau này Phía Hoa Kì cũng nh- Việt Nam đã có những động thái ngoại giao tích cực nh-: Hoa Kì ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hợp Quốc; không cản trở Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế; chính quyền Ca-tơ đa ra ch-ơng trình ba điểm về bình th-ờng hoá quan hệ với Việt Nam, cử phái đoàn thuộc đặc viên Tổng thống sang thăm Việt Nam (1977), Trợ lí Ngoại tr-ởng và Trợ lí Bộ Quốc phòng thăm Việt Nam và thảo luận các vấn đề cùng quan tâm (1986) Phía Việt Nam cũng có những động thái tích cực trong quan hệ ngoại giao với Hoa Kì: Việt Nam không đặt điều kiện về việc Hoa Kì phải bồi th-ờng chiến tranh cho Việt Nam; sẵn sàng ngồi vào bàn đàm phán với Hoa Kì, tạo điều kiện thuận lợi và hợp tác với Hoa Kì giải quyết vấn đề MIA/POW… Trong giai
đoạn này, hai n-ớc Việt Nam - Hoa Kì cũng đã có những cuộc gặp gỡ, những vòng đàm phán để thảo luận các vấn đề hai bên cùng quan tâm cũng nh- tiến tới cải thiện bình th-ờng hoá quan hệ hai n-ớc Mặc dù vậy, do bị chi phối bởi nhiều yếu tố từ quốc tế và khu vực đến trong n-ớc, nên kết quả đạt đ-ợc trong các vòng đàm phán không nh- mong đợi của đông đảo nhân dân hai n-ớc Những gì mà quan hệ ngoại giao hai n-ớc trong giai đoạn này đã đạt đ-ợc sẽ
Trang 35có vai trò, vị trí nhất định trong việc thúc đẩy tiến trình bình th-ờng hoá quan
hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì trong giai đoạn tiếp theo
1.2 Tiến trình bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì (1990 - 1995)
1.2.1 Quá trình đàm phán đi đến bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao
Trong giai đoạn 1975 - 1989, vấn đề bình th-ờng hoá quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kì luôn đ-ợc Chính phủ hai n-ớc quan tâm, song do bị chi phối bởi những nguyên nhân trong n-ớc và quốc tế, nên ngoại giao hai n-ớc vẫn ch-a đi đến kết quả nh- mong đợi Phía Hoa Kì đ-a ra những lí do rất khác nhau để cản trở tiến trình bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam nh-:
- Hoa Kì chiến đấu ở Việt Nam là nhằm ngăn chặn Trung Quốc
- Hoa Kì chống Việt Nam vì Việt Nam thân thiện với Liên Xô
- Hoa Kì chống Việt Nam vì Việt Nam đe doạ an ninh các n-ớc ASEAN, đặc biệt là Thái Lan
- Hoa Kì không thể có quan hệ với Việt Nam vì Việt Nam không hợp tác trong việc giải quyết những vấn đề nhân đạo mà Hoa Kì quan tâm, đặc biệt
là vấn đề POW/ MIA
- Hoa Kì chỉ bình th-ờng hoá với Việt Nam sau khi Việt Nam rút quân khỏi Căm-pu-chia
Đến năm 1990, khi vấn đề Căm-pu- chia đ-ợc giải quyết, quan hệ giữa Việt Nam với các n-ớc ASEAN có sự cải thiện tích cực,Việt Nam tuyên bố sẵn sàng hợp tác, giúp đỡ Hoa Kì trong việc giải quyết vấn đề MIA Có thể nói, những điều kiện quốc tế, khu vực và trong n-ớc đã xuất hiện để hai n-ớc bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao Tuy nhiên, những điều kiện trên chỉ dần
đi đến sự chín muồi, còn lại tuỳ thuộc rất nhiều vào nỗ lực cũng nh- thiện chí của Chính phủ hai n-ớc Thực tế cho thấy, để đi đến bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì, hai bên đã trải qua quá trình đàm phán lâu dài, không đơn giản nếu không nói là rất khó khăn, phức tạp
Trang 36Điểm mấu chốt và cũng là điều kiện cơ bản đầu tiên hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kì là thiện chí của Việt Nam rút hoàn toàn quân tình nguyện ra khỏi Căm-pu-chia tr-ớc thời hạn (tháng 9/1989), điều này đã phá vỡ những bế tắc, rào cản trong quá trình bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao hai n-ớc Sau sự kiện trên, Hoa Kì tuyên bố sẵn sàng đối thoại trực tiếp với Việt Nam về vấn đề Căm-pu-chia, đọng thội Hoa Kệ cðng rủt lui viếc ùng hố chiễc ghễ cùa “Căm-pu-chia dân chù” ờ Liên Hớp Quỗc Hai th²ng sau tuyên bỗ cùa Hoa Kệ, ng¯y 20/9/1990 tại Niu-oóc, Thứ tr-ởng Ngoại giao Việt Nam Lê Mai đã có cuộc gặp gỡ và trao đổi với Trợ lí Bộ tr-ởng Ngoại giao Hoa Kì R.Sô-lô-mông về những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm
Ngày 29/9/1990, Bộ tr-ởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch có chuyến thăm và làm việc tại Hoa Kì, đây là chuyến thăm đầu tiên của một vị
Bộ tr-ởng Ngoại giao Việt Nam tại Hoa Kì Sự kiện này đã gây đ-ợc tiếng vang và sự chú ý của d- luận Việt Nam cũng nh- Hoa Kì và quốc tế, coi đây
là dấu hiệu tốt đẹp trên tiến trình bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao hai n-ớc Bình luận về chuyến thăm Hoa Kì của Bộ tr-ởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, trên tạp chí Quan hệ quốc tế ngày 30/10/1990 Thứ tr-ởng Ngoại giao Trần Quang Cơ cho rằng: vì hoà bình và phát triển, Việt Nam coi trọng quan
hệ với các n-ớc lớn, ng-ợc lại các n-ớc lớn không phải không có lợi trong việc trở lại quan hệ bình th-ờng với Việt Nam
Sau bốn vòng đàm phán ở Niu-oóc giữa Bộ tr-ởng Nguyễn Cơ Thạch với những nhà cầm quyền Hoa Kì, hai bên đã nhất trí thúc đẩy hơn nữa việc giải quyết các vấn đề nhân đạo liên quan tới việc khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam Phía Hoa Kì đặc biệt nhấn mạnh sự quan tâm của mình về vấn đề MIA, yêu cầu Chính phủ Việt Nam cần có sự giúp đỡ và hợp tác với Hoa Kì hơn nữa Qua các cuộc gặp gỡ và đàm phán giữa Hoa Kì và Việt Nam hai bên tiếp tục khẳng định sự hợp tác trong một giải pháp toàn diện, hoà bình
Trang 37về vấn đề Căm-pu-chia Những kết quả đạt đ-ợc trên đây thúc đẩy hơn nữa quá trình bình th-ờng hoá quan hệ hai n-ớc
Có thể thấy, đây là lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ Việt Nam và Hoa Kì diễn ra cuộc hội đàm giữa hai Ngoại tr-ởng hai n-ớc ngay trên đất Hoa Kì,
và cũng là lần đầu tiên một quan chức cấp cao Việt Nam đến thăm Hoa Kì theo lời mời từ phía bên kia Đối với Việt Nam, Hoa Kì là quốc gia khác nhau
về nhiều mặt, cách xa nhau 1/2 quả địa cầu, nh-ng trong lịch sử lại có nhiều
“duyên nớ” vỡi nhau Vẹ mặt ngo³i giao Hoa Kệ ho¯n to¯n l¯ m°nh đất mới với Việt Nam, quan hệ giữa Hoa Kì và Việt Nam còn mang tính chất giữa
“nưỡc lỡn” vỡi “nưỡc nhà” Hoa Kệ vỡi địa vị l¯ mốt siêu c-ờng thế giới, cầm trịch chính sách cấm vận của thế giới Ph-ơng Tây đối với Việt Nam, mọi động thái của Hoa Kì đều tác động đến thái độ của các n-ớc này với Việt Nam
Điều này đ-ợc thể hiện rỏ khi quan hệ Việt Nam - Hoa Kì đạt đ-ợc những b-ớc tiến mới, đặc biệt là sau chuyến thăm Hoa Kì của Ngoại tr-ởng Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch Ngày 22/10/1990, Hội nghị Bộ tr-ởng Ngoại giao 12 n-ớc thuộc thành viên Khối thị tr-ờng chung châu Âu đã quyết định thiết lập quan hế ngo³i giao vỡi Viết Nam, “đây đ-ợc xem là b-ớc đi mạnh bạo nhất của thế giới Phương Tây xích l³i gần Viết Nam” [17;7]
Trên cơ sở những động thái ngoại giao tích cực từ phía Việt Nam cũng nh- những kết quả đạt đ-ợc trong quan hệ với Hoa Kì thời gian qua, ngày 9/4/1991 trong cuộc hội đàm giữa hai phái đoàn Việt Nam và Hoa Kì tại Niu-oóc, Hoa Kì đã đ-a ra Bản lộ trình cho việc bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam qua bốn giai đoạn:
Giai đoạn 1: Bắt đầu từ tháng 10/1991, với việc kí Hiệp nghị hoà bình
về vấn đề Căm-pu-chia Trong giai đoạn này, Hoa Kì yêu cầu từ phía Việt Nam thực hiện các nội dung sau: kí Hiệp nghị hoà bình về Căm-pu-chia và thuyết phục chính quyền Phnôm-pênh cùng kí vào Hiệp nghị này; thực hiện những b-ớc cần thiết để nhanh chóng giải quyết các tr-ờng hợp không khớp
Trang 38nhau về các tù binh còn sống, trao trả các hài cốt lính Mĩ nhằm tiến tới giải quyết các tr-ờng hợp POW/MIA ở Đông D-ơng trong hai năm; cho phép những ng-ời Việt Nam bị giam giữ do tr-ớc đây đã cộng tác với Hoa Kì đ-ợc
đi theo ch-ơng trình DOP Đồng thời với việc Việt Nam thực hiện các yêu cầu trên của Hoa Kì, thì phía Hoa Kì sẽ: bãi bỏ lệnh cấm các nhà ngoại giao Việt Nam ở Niu-oóc v-ợt quá phạm vi 25 dặm; bắt đầu có các cuộc đàm phán song ph-ơng về quan hệ ngoại giao hai n-ớc; cho phép công dân Hoa Kì đ-ợc tổ chức du lịch vào Việt Nam; tự do hoá các quan hệ kinh tế của Hoa Kì với Căm-pu-chia; tuyên bố công khai những lo ngại của Hoa Kì về nạn diệt chủng
ở Căm-pu-chia
Giai đoạn 2: Trên cơ sơ hai bên thực hiện xong những nội dung của giai
đoạn một, giai đoạn hai bắt đầu khi các lực l-ợng quân gìn giữ hoà bình Liên Hợp Quốc đứng chân vững chắc ở Căm-pu-chia Trong giai đoạn hai này, phía Hoa Kì chỉ yêu cầu Việt Nam thực hiện hai nhiệm vụ: tiếp tục khuyến khích Phnôm-pênh ủng hộ Hiệp nghị hoà bình; Việt Nam tiếp tục triển khai các vấn
đề POW/MIA Ng-ợc lại phía Hoa Kì sẽ: cử phái đoàn cấp cao đến Hà Nội để
đàm phán và bình th-ờng hoá các quan hệ với Việt Nam; cho phép liên lạc viễn thông giữa hai n-ớc Việt Nam và Hoa Kì; cho phép kí các hợp đồng giữa hai n-ớc và cho phép hai n-ớc mở giao dịch buôn bán để đáp ứng nhu cầu cơ bản của con ng-ời ở Việt Nam; Hoa Kì sẽ cùng các n-ớc khác giúp Việt Nam thanh toán các khoản nợ Chính phủ Hoa Kì cho phép các công ty của mình
mở các văn phòng th-ơng mại tại Việt Nam; Hoa Kì bãi bỏ mọi hạn chế đối với các tổ chức phi chính phủ của mình khi vào Việt Nam
Giai đoạn 3: Đ-ợc bắt đầu khi các thủ tục của Liên Hợp Quốc và tiến trình giải pháp Căm-pu-chia phát triển tốt Phía Việt Nam sẽ phải tiếp tục thúc
đẩy việc chính quyền Phnôm-pênh ủng hộ Hiệp nghị hoà bình; rút toàn bộ các lực l-ợng cùng cố vấn quân sự khỏi Căm-pu-chia; giải quyết các tr-ờng hợp hai bên không khớp nhau cuối cùng về vấn đề MIA và trao trả hài cốt lính Mĩ
Trang 39đã tìm thấy ở Việt Nam Cùng với việc Việt Nam thực hiện các yêu cầu đó, phía Hoa Kì sẽ cho phép mở văn phòng liên lạc ngoại giao của mình tại Hà Nội và mời Chính phủ Việt Nam mở văn phòng liên lạc ở thủ đô Oa-sin-tơn; Hoa Kì sẽ bải bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận th-ơng mại đối với Việt Nam và tạo
điều kiện để giúp đỡ Việt Nam đáp ứng những nhu cầu cơ bản
Giai đoạn 4: Bắt đầu khi tổ chức một cuộc bầu cử tự do đ-ợc Liên Hợp Quốc đảm bảo diễn ra ở Căm-pu-chia, một Quốc hội Căm-pu-chia đ-ợc thiết lập và soạn thảo ra Hiến pháp mới Đồng thời, phía Việt Nam và Hoa Kì đã
đạt đ-ợc những mục tiêu mà các vòng đàm phán song ph-ơng vấn đề POW/MIA Giai đoạn này phía Hoa Kì không yêu cầu phía Việt Nam phải làm thêm gì Ng-ợc lại, phía Hoa Kì sẽ: thành lập quan hệ ngoại giao ở cấp
Đại sứ với Việt Nam; xem xét việc cho Việt Nam đ-ợc h-ởng quy chế tối huệ quốc trong buôn bán; Hoa Kì sẽ xem xét các khoản viện trợ cho các dự án ở Việt Nam nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con ng-ời ở Việt Nam
Việc Hoa Kì đ-a ra Bản lộ trình 4 giai đoạn về bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam, là một sự kiện quan trọng trong quan hệ ngoại giao hai n-ớc Tuy nhiên, chúng ta cần thấy rằng: Bản lộ trình này đ-ợc soạn thảo mang đậm tính chủ quan và đơn ph-ơng rõ rệt từ phía Hoa Kì, ngay cả d- luận Hoa Kì cũng gọi đây là sự áp đặt đối với Việt Nam; Hoa Kì gắn vấn đề Căm-pu-chia và những vấn đề liên quan đến hậu quả chiến tranh Việt Nam với tiến trình bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao hai n-ớc; những b-ớc đi trong Bản
lố trệnh trên đẹu không cõ sữ tham kh°o ý kiễn tú phía Viết Nam, “lố trệnh ấy chỉ phản ánh quan điểm từ phía Mĩ, chứ không phải là kết quả của sự bàn bạc, thảo luận, th-ơng l-ợng đi đến nhất trí, thoả thuận giữa Việt Nam và Hoa Kì Vì vậy về nguyên tắc, Việt Nam không hề có nghĩa vụ phải thực thi Bản lộ trình ấy do phía Mĩ đơn ph-ơng đ-a ra” [66; 66] Tuy vậy, đây l¯ lần đầu tiên Hoa Kì đ-a ra một Bản lộ trình cho bình th-ờng hoá quan hệ Việt Nam - Hoa Kì khá rõ ràng với những yêu cầu, điều kiện cụ thể Việt Nam không nhất
Trang 40thiết phải thực hiện những yêu cầu mà Bản lộ trình đ-a ra, nh-ng nó có giá trị tham khảo quan trọng cho việc hoạch định những chính sách của Việt Nam
đối với Hoa Kì trong quá trình đàm phán Cho dù không có Bản lộ trình này, phía Viết Nam vẫn nhất qu²n quan điềm “khẽp l³i qu² khử, h-ớng tới t-ơng lai”, sản s¯ng cợng Hoa Kệ th°o luận vẹ tất c° nhừng gệ hai bên cợng quan tâm
để đi đến bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao hai n-ớc.Theo các nhà nghiên cứu Hoa Kì, việc Nhà Trắng đ-a ra Bản lộ trình này là nhằm đáp lại những lời chỉ trích từ d- luận trong nưỡc vẹ viếc Hoa Kệ “th° nổi” chính s²ch ờ Đông D-ơng Về phía Việt Nam, qua đó có thể thấy đ-ợc mình phải làm gì và sẽ
đước lới ích gệ khi Hoa Kệ đ± thề hiến rỏ “nhừng thề thửc cõ đi cõ l³i”cùa mình Bản lộ trình cũng đ-ợc xem là một động thái tích cực từ phía Hoa Kì cho tiến trình bình th-ờng hoá quan hệ ngoại giao với Việt Nam
Với những thiện chí của Việt Nam trong việc rút quân khỏi chia và giúp đỡ Hoa Kì trong việc giải quyết vấn đề POW/MIA… sau khi đ-a
Căm-pu-ra Bản lộ trình của mình, Hoa Kì cũng thể hiện những b-ớc đi tích cực trong quan hệ với Việt Nam: ngày 25/4/1991, Hoa Kì đã viện trợ nhân đạo cho Việt Nam 1.000.000 USD để khắc phục hậu quả chiến tranh; Hoa Kì cũng nới lỏng những ràng buộc đối với ng-ời Việt Nam ở Hoa Kì, đồng thời cũng giảm sức
ép đối với các tổ chức tiền tệ quốc tế trong quan hệ với Việt Nam Trên tinh thần đó, ngày 8/7/1991 Hoa Kì mở rộng văn phòng đại diện ở Hà Nội để giải giải quyết vấn đề MIA cùng với phía Việt Nam Hai tháng sau (9/1991), Hoa Kì viện trợ cho Việt Nam 1.300.000 USD để cứu trợ các th-ơng binh Việt Nam trong chiến tranh
Ngày 23/10/1991, Hiệp định Pa-ri về hoà bình ở Căm-pu-chia đ-ợc kí kết, đánh dấu một mốc căn bản trong quá trình giải quyết hoàn toàn vấn đề Căm-pu-chia với sự tham gia của đại diện phía Hoa Kì, Việt Nam và Liên Hợp Quốc… Nhân dịp này, Bộ tr-ởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đã
có cuộc gặp gỡ với Ngoại tr-ởng Hoa Kì J.Ba-cơ, hai bên đã thảo luận về các