1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp tác của hiệp hội các quốc gia đông nam á (asean) với liên minh châu âu (eu) và các nước đông bắc á trong diễn đàn hợp tác á âu (asean) từ 1996 đến năm 2006

146 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, những thành tựu trên lĩnh vực chính trị ngoại giao, sự phát triển kinh tế năng động và sự ra đời của các cơ chế hợp tác nh- AFTA, ARF và ý t-ởng xây dựng Cộng đồng A

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Tr-ờng đại học vinh

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo

Tr-ờng đại học vinh

Trang 3

Mục Lục

Ch-ơng 1: Khái quát về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và

Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM)

9

1.1 Khái quát về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) (1967 - 2006) 9 1.1.1 Sự ra đời Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) 9 1.1.2 Hoạt động và thành tựu của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á

Ch-ơng 2: Hợp tác kinh tế, chính trị - an ninh của Hiệp hội các quốc gia

Đông Nam á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU)

và các n-ớc Đông Bắc á trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (1996 - 2006)

2.3 Hợp tác ASEAN - Các n-ớc Đông Bắc á 67

Trang 4

2.3.1 ASEM – nhân tố mới trong quan hệ hợp tác giữa ASEAN và các n-ớc

Ch-ơng 3: Vai trò và triển vọng của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á

(ASEAN) trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM)

87

3.1.1 ASEAN khởi x-ớng ý t-ởng Hợp tác á - Âu 87 3.1.2 ASEAN là cầu nối trong mở rộng quan hệ hợp tác giữa châu á và châu Âu 91 3.1.3 Vị trí của ASEAN trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) 99 3.2 Triển vọng hợp tác của ASEAN trong ASEM 104

Trang 5

Bảng Các chữ viết tắt

AEBF Asia – Europe Business Forum Diễn đàn doanh nghiệp á - Âu AECF Asia Europe Cooperation Framewok Khuôn khổ hợp tác á - Âu

AFTA ASEAN Free Trade Area Khu mậu dịch tự do ASEAN

Apec Asia- Pacific Economic Cooperation Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á -

Thái Bình D-ơng ARF ASEAN Regional Forum Diễn đàn khu vực ASEAN

Asean Association of South- East Asian

Nations

Hiệp hội các n-ớc Đông Nam á

ASEF Asia – Europe Foundation Quỹ á - Âu

ASEM Asia - Europe Meeting Hội nghị á - Âu

Ec Europan Commission Uỷ ban châu Âu

EMM Economic Ministers Meeting Hội nghị Bộ tr-ởng Kinh tế

FMM Foreign Ministers Meeting Hội nghị Bộ tr-ởng Ngoại giao Gdp Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội

IPAP Investment Promotion Action Plan Kế hoạch hành động xúc tiến th-ơng

mại NAS New Asia Strategic Chiến l-ợc châu á mới

OdA Offcial Developvment assistance Viện trợ phát triển chính thức

SOMTI Senior Officers Meeting on Trade

ZOPFAN Zone of Peace Free and Neutrality Khu vực hoà bình, tự do và trung lập

Trang 6

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, quan hệ quốc tế nhanh chóng chuyển

từ cục diện đối đầu, chạy đua vũ trang, sang xu h-ớng “ hoà bình, hợp tác, cùng phát triển” , xu h-ớng này đang trở thành chủ đạo trong các mối quan hệ quốc tế

Để phù hợp với xu thế phát triển ấy, nhiều n-ớc và khu vực trên thế giới đã

đẩy nhanh quá trình khu vực hoá và toàn cầu hoá, tích cực mở cửa hội nhập, tạo không gian quan hệ trên mọi lĩnh vực, khai thác những -u thế có lợi nhất cho công cuộc phát triển quốc gia Bên cạnh những mối quan hệ, hợp tác truyền thống, một loạt quan hệ khác đ-ợc tạo dựng, hình thành theo hình thức đa ph-ơng hoá, đa dạng hoá Các mối quan hệ không chỉ thu hẹp giữa hai hoặc vài

ba quốc gia, lãnh thổ, mà còn sống động phát triển mạnh mẽ trong mối bang giao liên khu vực, giữa châu lục này với châu lục khác Sự phát triển ngày càng mạnh

mẽ của các tổ chức khu vực nh- ASEAN, APEC, EU về cả quy mô lẫn phạm vi hợp tác đã phản ánh rõ nét xu thế ấy

Trong bối cảnh quốc tế nh- vậy, các n-ớc châu á và châu Âu đã nhận thấy cần tạo dựng mối liên hệ chặt chẽ, thiết thực trên nhiều lĩnh vực, nhằm khai thác

và tận dụng những lợi ích phù hợp với nhu cầu của mỗi quốc gia, đồng thời góp phần vào sự phồn thịnh và phát triển chung của toàn khu vực và trên thế giới

Điều này đ-ợc thể hiện rất rõ trong tiếng nói chung của các n-ớc thuộc hai châu lục qua Hội nghị á - Âu (asia - Europe Meeting: ASEM), chính thức ra đời và đi vào hoạt động từ tháng 3/1996 Đây là b-ớc đột phá mới trong quan hệ giữa hai châu lục đ-ợc coi là có lịch sử và văn hoá lâu đời nhất trên thế giới Tìm hiểu về ASEM, đặc biệt là tìm hiểu về hợp tác của ASEAN với các đối tác trong Diễn

đàn hợp tác á - Âu sẽ giúp chúng ta hiểu đ-ợc thực lực của ASEAN hiện tại, cũng nh- vai trò và vị thế của tổ chức này đối với châu lục và thế giới trong xu thế hội nhập, hợp tác hiện nay

Trang 7

1.2 Kể từ khi ra đời cho đến năm 2006, với cơ chế hoạt động là Hội nghị

Th-ợng đỉnh 2 năm một lần, ASEM trở thành một diễn đàn mở và không chính thức của 39 thành viên đến từ hai châu lục á - Âu Trải qua hơn 10 năm phát triển, Diễn đàn hợp tác á - Âu đã có những đóng góp đáng kể vào việc mở rộng các quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa châu á và châu Âu, đặc biệt ASEM đã đạt

đ-ợc nhiều thành tựu trên cả 3 trụ cột chính: kinh tế, chính trị và văn hoá

Vì lẽ đó, ASEM đang thu hút sự chú ý của nhiều quốc gia ở cả hai châu lục Các n-ớc nh- ấn Độ, Australia, Niu Dilân, Pakistan và cả c-ờng quốc á -

Âu Liên bang Nga đều thể hiện mong muốn đ-ợc tham gia Với t- cách là thành viên sáng lập, sự phát triển của ASEM sẽ là cơ hội tốt để ASEAN hội nhập với cộng đồng quốc tế Nghiên cứu về ASEM giúp chúng ta hiểu rõ hơn về xu thế phát triển, triển vọng và thách thức của hình thức hợp tác mới mẻ này

1.3 Trong khuôn khổ hợp tác á - Âu, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á

(ASEAN) có một vai trò và vị trí khá quan trọng Vai trò và vị trí đó không chỉ

đ-ợc thể hiện ở chỗ các n-ớc ASEAN khởi x-ớng ý t-ởng sáng lập và tích cực tham gia thúc đẩy mối quan hệ này, mà quan trọng hơn là đã tạo ra một mô hình hợp tác liên kết khu vực khá điển hình, độc đáo

Trong những năm qua, những thành tựu trên lĩnh vực chính trị ngoại giao,

sự phát triển kinh tế năng động và sự ra đời của các cơ chế hợp tác nh- AFTA, ARF và ý t-ởng xây dựng Cộng đồng ASEAN với 3 trụ cột chính là Cộng đồng kinh tế, Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng đồng văn hoá - xã hội đã và đang tạo ra những cơ sở mới cho liên kết khu vực và hội nhập quốc tế của ASEAN trong đó có hợp tác á - Âu Với ASEAN, ASEM là một trong những sân chơi chiến l-ợc ở thời điểm hiện tại cũng nh- trong t-ơng lai Nghiên cứu vấn đề này

sẽ giúp chúng ta có đ-ợc một cách nhìn sâu hơn về những vẫn đề mang tính chiến l-ợc của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) trong quá trình hội nhập toàn diện hơn vào thế giới

1.4 Việt Nam là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á

(ASEAN) Từ năm 1995, sự phát triển của ASEAN sẽ tác động trực tiếp đến công cuộc xây dựng và phát triển của Việt Nam trong quá trình đổi mới Tham gia ASEM với t- cách là thành viên của ASEAN, Việt Nam sẽ mạnh mẽ hơn trong

Trang 8

việc thể hiện quan điểm và nguyện vọng của mình tr-ớc những c-ờng quốc có nền kinh tế phát triển hơn gấp bội, qua đó thu hút đ-ợc nhiều nguồn vốn đầu t-

và những lợi ích trên các lĩnh vực chính trị - an ninh, kinh tế, văn hoá - xã hội, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũng nh- quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc Tr-ớc tình hình đó, việc nghiên cứu hợp tác của ASEAN với các đối tác chính trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (1996 - 2006) không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra trong chính sách hội nhập của Đảng - Chính phủ Việt Nam Trên cơ sở đó giúp chúng

ta đề ra những giải pháp, chủ tr-ơng, chính sách phù hợp, thúc đẩy các mỗi quan

hệ hợp tác có hiệu quả hơn trong hiện tại và t-ơng lai

Xuất phát từ thực tế nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “ Hợp tác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU) và các n-ớc

Đông Bắc á trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) từ 1996 đến 2006” làm đề

tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Qua hơn 10 năm hoạt động, sự hợp tác á - Âu đã gặt hái đ-ợc nhiều thành tựu và có những đóng góp to lớn vào việc thúc đẩy các quan hệ hợp tác giữa châu

á và châu Âu nói chung, giữa EU và Đông á nói riêng, điều này đã từng b-ớc nâng cao uy tín và vị thế của hai châu lục này tr-ớc thế giới

Trên thực tế, ASEM là một thực thể rất lớn về chính trị, kinh tế, khoa học công nghệ và có sự đa dạng các nền văn hoá, đến cuối năm 2006, số thành viên

đã lên tới 39 (10 n-ớc thành viên ASEAN, 25 n-ớc thành viên Liên minh châu

Âu và Chủ tịch Uỷ ban châu Âu, 3 n-ớc Đông Bắc á là Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc) và sẽ còn tăng trong t-ơng lai Chính vì ASEM là một thực thể rất đa dạng và phức tạp cho nên đã có rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong và ngoài n-ớc quan tâm

Có thể khái quát quá trình nghiên cứu về tiến trình hợp tác á - Âu từ khi ra

đời cho đến nay qua một số nguồn t- liệu trong n-ớc mà chúng tôi đã tiếp cận đ-ợc:

Nổi bật nhất là cuốn “ Tiến trình hợp tác á - Âu và những đóng góp của Việt

Nam” do GS Nguyễn Duy Quý chủ biên, NXB KHXH Hà Nội 2006 Cuốn sách

Trang 9

này trình bày về quá trình thành lập, phát triển cũng nh- những thành tựu và hạn chế của tiến trình ASEM sau hơn 8 năm phát triển, qua đó nêu lên những cơ hội, thách thức và triển vọng phát triển của ASEM trong những năm sắp tới Ngoài ra các tác giả còn đề cập đến vấn đề triển vọng tham gia ASEM của Việt Nam Nhìn chung, đây là một công trình mang tính chất tổng quan về tiến trình hợp tác á -

Âu cho nên các vấn đề hợp tác cụ thể giữa các bộ phận cấu thành ASEM ch-a

đ-ợc quan tâm

Cuốn “ ASEM 5 - cơ hội và thách thức trong tiến trình hội nhập á - Âu” ,

NXB Lý luận chính trị, Hà Nội 2004 của Hoàng Lan Hoa đã trình bày về thể thức hoạt động, cơ chế hoạt động, nguyên tắc hoạt động cũng nh- các lĩnh vực hoạt

động cơ bản khác của ASEM Điều quan trọng ở đây là tác giả đã trình bày khá

cụ thể về các kỳ hội nghị cấp cao ASEM từ năm 1996 đến năm 2002 và những

đóng góp tích cực của ASEM trong phát triển quan hệ á - Âu Công trình này giúp chúng ta phần nào thấy đ-ợc bản chất và những mục đích chung của tiến trình hợp tác á - Âu (ASEM)

Cuốn “ Lịch sử Đông Nam á” do GS L-ơng Ninh chủ biên, NXB Giáo dục,

Hà Nội 2005 trình bày “ đại c-ơng một lịch sử Đông Nam á, nh-ng là một khu vực lịch sử, có quan hệ gần gũi, có nhiều duyên nợ với nhau, với các sự kiện

đồng thời t-ơng tác giữa các quốc gia khu vực theo lát cắt thời gian, nh-ng vẫn giữ tính riêng biệt, t-ơng đối hệ thống của từng quốc gia/vùng” Một nội dung khá quan trọng mà các tác giả đã đề cập đến đó là quá trình hội nhập, hợp tác và phát triển của các quốc gia Đông Nam á cũng nh- sự liên kết khu vực của ASEAN từ năm 1991 - 2005 Đây thực sự là nguồn tài liệu cần thiết để chúng tôi

sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài

Trong cuốn “ Liên kết kinh tế ASEAN vấn đề và triển vọng” của Trần Đình

Thiên, NXB Thế giới năm 2005, tác giả đã chỉ ra viễn cảnh của Đông Nam á kể từ sau cuộc khủng hoảng tiền tệ (1997) với sự xuất hiện một xu h-ớng nổi bật là các công thức sáng kiến liên kết và hợp tác khu vực lấy ASEAN làm trụ liên tục đ-ợc

đ-a ra tạo sức hấp dẫn đối với các đối tác bên ngoài Tuy vậy, tác giả mới chỉ trình bày ở dạng khái quát, lĩnh vực hợp tác chính trị - an ninh vẫn đang còn bỏ ngỏ

Trang 10

Trên thực tế, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết liên quan

đến tiến trình hợp tác á - Âu, tiêu biểu nh-: “ Liên minh châu Âu với tiến trình

ASEM ” của Nguyễn An Hà, Nghiên cứu châu Âu số 3/2004; “ Về hợp tác á - Âu

5/2004; “ ASEM châu Âu h-ớng về châu á - châu á h-ớng về châu Âu” , Đỗ Hiền, Nghiên cứu Đông Nam á số 6/2003; “ ASEM thành tựu và vấn đề” , Bùi Huy Khoát, Nghiên cứu châu Âu số 5/2004; “ ASEM 5 thách thức trong quan hệ á -

Âu ”, Phạm Quang Minh, Nghiên cứu Đông Nam á số 5/2004; “ASEM triển vọng

“Thử nhận diện vai trò của ASEM trong những năm đầu thế kỷ XXI”, Nguyễn Văn Tận, Nghiên cứu châu Âu số 5/2004; “ Đôi nét về hợp tác kinh tế trong khuôn khổ

2/2002; Những công trình này giúp chúng ta có đ-ợc diện mạo tổng quan về Diễn đàn hợp tác á - Âu nói chung

Các bài viết tiêu biểu về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) với quá trình hội nhập á - Âu và quan hệ với các đối tác chính của ASEAN trong

diễn đàn này là: “ Điểm t-ơng đồng và dị biệt giữa ASEAN và EU những thách

6/2005; “ ASEAN một đối tác chiến l-ợc của liên minh châu Âu” , Đặng Minh Đức, Nguyễn An Hà, Nghiên cứu châu Âu, số 2/2003; “ Đông Nam á trong chiến l-ợc

2/2005; “ Vai trò của Thái Lan trong việc liên kết giữa châu á và châu Âu” , Nguyễn Ngọc Lan, Nghiên cứu Đông Nam á, số 4/2004; “ ASEM 5 vai trò và

3/2005; “ Hợp tác ASEAN +3 trong bối cảnh ASEM” , Hoàng Khắc Nam, Nghiên cứu Đông Nam á, số 3/2004; “ ASEAN và hợp tác á - Âu” , Phạm Đức Thành,

Nghiên cứu Đông Nam á, số 5/2004…

Có thể thấy rằng, nghiên cứu Diễn đàn hợp tác á - Âu và sự tham gia của ASEAN đã đ-ợc rất nhiều tác giả quan tâm, các công trình ít nhiều đã đề cập đến

Trang 11

nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau Đây thực sự là nguồn t- liệu rất cần thiết giúp chúng tôi có một cái nhìn toàn diện hơn đến vấn đề đề tài đặt ra Tuy nhiên, việc nghiên cứu về ASEAN trong Diễn đàn hợp tác á - Âu mới chỉ trong phạm vi các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí chuyên ngành một cách khái quát, yêu cầu có cái nhìn tổng quan hơn về vấn đề này vấn còn bỏ ngỏ

Trên cơ sở những công trình nghiên cứu nêu trên, chúng tôi cố gắng để xử

lý t- liệu, lựa chọn, phân tích và tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề theo nội dung

đề tài đòi hỏi để có cái nhìn rõ nét hơn về vấn đề này Trong quá trình làm luận văn, một mặt chúng tôi kế thừa những thành tựu của các học giả, các nhà nghiên cứu đi tr-ớc, mặt khác cố gắng giải quyết các mối quan hệ hợp tác về kinh tế và chính trị của ASEAN với các đối tác chính trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) từ 1996 đến 2006

Tiếp cận nguồn t- liệu trong khả năng hạn chế của mình, chúng tôi nhận

thấy việc lựa chọn đề tài “ Hợp tác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU) và các n-ớc Đông Bắc á trong Diễn

đàn hợp tác á - Âu (ASEM) từ 1996 đến 2006” mang tính khoa học và có ý

nghĩa thực tiễn sâu sắc, vừa tầm với một luận văn cao học thạc sỹ

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối t-ợng nghiên cứu

Luận văn xác định đối t-ợng nghiên cứu là: Hợp tác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU) và các n-ớc Đông Bắc

á trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) Tuy nhiên, để có thể hiểu rõ hơn về ASEAN trong quá trình ấy, đề tài không thể không đề cập tới quá trình ra đời, phát triển của ASEAN, ASEM

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Căn cứ vào nguồn t- liệu và khả năng hạn chế của mình, chúng tôi xác

định phạm vi nghiên cứu của đề tài là:

Về phạm vi thời gian, đề tài bắt đầu từ tháng 3 năm 1996 đến tháng 9 năm 2006, tức là từ khi Hội nghị á - Âu (ASEM) ra đời tại Băng Cốc (Thái Lan)

đến Hội nghị th-ợng đỉnh ASEM VI tại Helsinki (Phần Lan)

Trang 12

Về nội dung, đề tài nghiên cứu về quan hệ hợp tác chính trị - an ninh, kinh

tế giữa ASEAN và các đối tác chính trong ASEM là Liên minh châu Âu (EU), nhóm n-ớc phát triển Đông Bắc á Từ đó làm sáng tỏ vai trò, lợi ích ASEAN thu

đ-ợc trong Diễn đàn hợp tác á - Âu, khẳng định vị thế và uy tín ngày càng lớn của ASEAN trên tr-ờng quốc tế Ngoài ra, thông qua việc trình bày mối quan hệ hợp tác giữa ASEAN và các đối tác chính trong ASEM chúng tôi hy vọng sẽ đ-a

ra những nhận xét b-ớc đầu về triển vọng phát triển của tiến trình hợp tác á - Âu những vẫn đề liên quan đến ASEAN và Việt Nam trong những năm sắp tới

Ngoài phạm vi về thời gian và nội dung giới hạn trên, những vấn đề khác không nằm trong khung nghiên cứu của đề tài

4 Nguồn tài liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi khai thác các nguồn tài liệu sau:

Nguồn tài liệu gốc bao gồm: Các tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị cấp cao

á - Âu từ lần thứ I đến lần VI; các bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của các nguyên thủ quốc gia thành viên khi tham gia vào Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM); các văn kiện Đảng, các văn kiện ngoại giao của chính phủ Việt Nam và một số bài phát biểu của các nhà lãnh đạo bộ ngoại giao Việt Nam

Nguồn tài liệu nghiên cứu đ-ợc thu thập từ các th- viện nh-: Th- viện Nghệ An, Th- viện quốc gia, Th- viện Tr-ờng Đại Học Vinh, Đại Học KHXH & Nhân Văn, Đại Học S- Phạm Hà Nội, Phòng t- liệu của Viện nghiên cứu Đông Nam á, Viện nghiên cứu Châu Âu và TT Thông tấn xã Việt Nam Các bài viết liên quan đến đề tài đã đ-ợc đăng trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành, báo Nhân dân và các loại báo tiếng Việt khác

Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm nguồn tài liệu trên mạng Internet, trang Web chính thức của ASEM và trang Web các Hội nghị cấp cao liên quan

đến đề tài

4.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu của luận văn

Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập đ-ợc, bằng ph-ơng pháp luận Mác - Lênin

và các ph-ơng pháp nghiên cứu lịch sử, chúng tôi cố gắng tái hiện khách quan chân thực về hợp tác kinh tế, chính trị - an ninh của Hiệp hội các quốc gia Đông

Trang 13

Nam á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU) và các n-ớc Đông Bắc á trong Diễn đàn hợp tác á - Âu từ 1996 đến 2006 Trong đó, đề tài chủ yếu sử dụng ph-ơng pháp lịch sử kết hợp với ph-ơng pháp lôgic và các ph-ơng pháp bộ môn nhằm giải quyết triệt để những vấn đề mà luận văn đặt ra

Bên cạnh đó, quan điểm của Đảng về các vấn đề quốc tế, đ-ờng lối đối ngoại cũng đ-ợc chúng tôi quán triệt trong quá trình nghiên cứu Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các ph-ơng pháp chuyên ngành và liên ngành nh-: tổng hợp, thống kê, phân tích, đối chiếu, so sánh và suy luận lôgic để giải quyết các vấn đề

mà luận văn đặt ra

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn có những đóng góp nhất định sau:

- Đ-a ra một cái nhìn toàn diện hơn d-ới góc độ sử học về quá trình hợp tác kinh tế, chính trị và an ninh giữa ASEAN và các đối tác chính trong ASEM

- B-ớc đầu đánh giá vai trò, vị thế, và những lợi ích mà ASEAN thu đ-ợc trong tiến trình hợp tác á - Âu

- Với những kết quả đạt đ-ợc, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến ASEAN và ASEM Đồng thời, góp phần tìm hiểu quan điểm của một số tổ chức khu vực, quốc gia về vấn đề hội nhập, hợp tác cùng phát triển đối với cộng đồng thế giới

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn đ-ợc triển khai trong 3 ch-ơng:

Ch-ơng 1: Khái quát về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) và

Diễn đàn hợp tác á - Âu (asem)

Ch-ơng 2: Hợp tác kinh tế, chính trị - an ninh của Hiệp hội các quốc gia

Đông Nam á (ASEAN) với Liên minh châu Âu (EU) và các n-ớc Đông Bắc á trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) (1996 - 2006)

Ch-ơng 3: Vai trò và triển vọng của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) trong Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM)

Trang 14

B Nội dung

Ch-ơng 1 Khái quát về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN)

và Diễn đàn hợp tác á - Âu (asem) 1.1 Khái quát về Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) (1967 - 2006)

1.1.1 Sự ra đời Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN)

Sau chiến tranh thế giới hai, xu h-ớng khu vực hoá trên thế giới ngày càng trở nên phổ biến Hàng loạt các tổ chức khu vực ở các châu lục trên thế giới hình thành, điển hình là Tổ chức các n-ớc Trung Mỹ - OCAS (1951), Cộng đồng kinh

tế châu Âu - EEC (1957), Thị tr-ờng chung Trung Mỹ - CACM (1961), Hội mậu dịch tự do Mỹ Latinh - LAFTA (1961)… Những sự kiện này đã tác động mạnh

mẽ đến Đông Nam á, khu vực có nhiều quốc gia mới giành đ-ợc độc lập đang có nhu cầu gắn kết lại với nhau trong quá trình phát triển

Đầu năm 1958, Thủ t-ớng Malaixia - ápđun Raman đã kêu gọi các nhà lãnh đạo các quốc gia Đông Nam á tổ chức hội nghị để bàn việc “ thống nhất hành động trong khu vực” Nh-ng do khu vực còn có nhiều bất đồng ch-a đ-ợc giải quyết nên lời kêu gọi của ápđun Raman ch-a có n-ớc nào h-ởng ứng Đến tháng 4/1958, ông tiếp tục đ-a ra đề nghị thành lập một tổ chức khu vực bao gồm các n-ớc Malaixia, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam Trong chuyến thăm chính thức Philippin (1/1959), áp đun Raman cùng Tổng thống Philippin Cáclôt Gaxia đã thông qua thông cáo chung kêu gọi ký kết Hiệp -ớc hữu nghị và kinh tế Đông Nam á (SEAFET) và mời Inđônêxia tham gia nh-ng không thành công Các n-ớc Đông Nam á tỏ ra thận trọng và ch-a thực sự mặn

mà với ý t-ởng tốt đẹp này Năm 1961, các n-ớc Malaixia, Thái Lan và Philippin đã thoả thuận thành lập Hội Đông Nam á (ASA) Tuy nhiên, những mâu thuẫn giữa các thành viên trong tổ chức này về biên giới, lãnh thổ … đã dẫn

đến sự tan rã của ASA sau hai năm tồn tại Tháng 8/1963, theo sáng kiến của Tổng thống Philippin Macapagan, ba n-ớc Philippin, Malaixia, Inđônêxia đã đi

đến thoả thuận về việc thành lập một tổ chức mới với tên gọi MAPHILINDO

Trang 15

nh-ng cũng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi Nhìn chung, sự ra đời các

tổ chức này đã phản ánh yêu cầu cần phải thành lập một tổ chức khu vực, nh-ng không tồn tại đ-ợc lâu do điều kiện ch-a chín muồi

Cũng trong những năm 60 của thế kỷ XX, sự phức tạp của tình hình thế giới

và khu vực đã tác động mạnh mẽ đến xu h-ớng liên kết ở Đông Nam á Cuộc chiến tranh Đông D-ơng đang biến Đông Nam á thành địa điểm tranh giành giữa các n-ớc lớn Vai trò của Liên Xô, Trung Quốc ngày càng tăng tại khu vực này Mối quan hệ tay ba Mỹ - Xô - Trung trở nên phức tạp, Đông Nam á rất dễ trở thành con bài cho các c-ờng quốc mặc cả với nhau “ Các quốc gia này nhận thức rằng cách tốt nhất để giảm sự chi phối của các n-ớc lớn là liên kết với nhau và dựa vào nhau trong một tổ chức khu vực vừa để đảm bảo hoà bình, an ninh khu vực, vừa tạo nên một sức mạnh tập thể để đối phó với các n-ớc lớn Bên cạnh đó, mục tiêu ngăn chặn ảnh h-ởng của chủ nghĩa cộng sản ở trong n-ớc và từ bên ngoài cũng đ-ợc đặt ra trong bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh đang bao trùm lên toàn thế giới” [53;468]

Cuối năm 1966, Ngoại tr-ởng Thái Lan gửi đến Ngoại tr-ởng các n-ớc Inđônêxia, Malaixia, Philippin và Singapore bản dự thảo về việc thành lập một tổ chức khu vực ở Đông Nam á Sau nhiều cuộc thảo luận, ngày 8/8/1967, Ngoại tr-ởng 5 n-ớc đã họp ở Băng Cốc (Thái Lan) đ-a ra tuyên bố Băng Cốc chính thức thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (Association of Southeast Asian Nations - ASEAN)

Tuyên bố Băng Cốc là văn kiện đầu tiên, quan trọng nhất nêu rõ 7 mục tiêu hoạt động của ASEAN, tập trung vào việc thúc đẩy tăng tr-ởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá, đồng thời cũng nêu rõ mục tiêu chính trị cơ bản là

đảm bảo ổn định an ninh và phát triển cho toàn bộ khu vực Đông Nam á và từng n-ớc ASEAN Mặt khác, ASEAN cũng đại diện cho ý chí tập thể của các n-ớc

Đông Nam á gắn bó với nhau và phấn đấu cho nhân dân và các thế hệ mai sau có hoà bình, tự do và thịnh v-ợng Tuy vậy, Tuyên bố Băng Cốc không phải là một hiệp định có tính pháp lý ràng buộc các hội viên một cách chặt chẽ, điều đó cho thấy trong buổi đầu tồn tại ASEAN là tổ chức phối hợp hoạt động, dung hoà lợi ích giữa các n-ớc thành viên

Trang 16

Sự ra đời của ASEAN đã báo hiệu một thời kỳ mới trong các mối quan hệ

ở Đông Nam á, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết thoả đáng các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội khối và ngăn chặn những nguy cơ can thiệp từ bên ngoài, góp phần duy trì hoà bình, ổn định trong khu vực

1.1.2 Hoạt động và thành tựu của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) (1967 - 2006)

Trong giai đoạn 1967 - 1976, tình hình khu vực và thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của ASEAN Các n-ớc ASEAN rất lo ngại khi Mỹ từng b-ớc giảm dần vai trò ở Đông D-ơng, Anh rút quân khỏi khu vực có thể làm xuất hiện “ khoảng trống quyền lực” , cơ hội để các n-ớc lớn khác có thể lợi dụng can thiệp vào Đông Nam á Cũng vào thời gian này, nội bộ một số n-ớc ASEAN trở nên phức tạp do các cuộc xung đột sắc tộc giữa ng-ời Hoa và ng-ời Mã Lai ở Malaixia (1969), phong trào li khai ở Minđanao (Philippin), cuộc đấu tranh vũ trang của những ng-ời cộng sản ở Inđônêxia… Vì thế, hoạt động của ASEAN thời kỳ này mang đậm tính chất chính trị Hợp tác kinh tế tuy là mục tiêu chính đ-ợc nêu trong Tuyên bố Băng Cốc nh-ng ch-a đ-ợc quan tâm một cách thích đáng

Ngày 27/11/1971 tại Cuala Lămpơ (Malaixia), Ngoại tr-ởng ASEAN đã đ-a

ra Tuyên bố về khu vực hoà bình, tự do và trung lập (ZOPFAN Declaration)

“Tuyên bố ZOPFAN (hay còn gọi là Tuyên bố Cuala Lămpơ) thể hiện ý thức tự c-ờng của các quốc gia Đông Nam á, nhằm hạn chế sự dính líu của các c-ờng quốc bên ngoài, thể hiện lập tr-ờng trung lập hoá và mong muốn thoát ra khỏi sự ràng buộc vào các khối liên minh quân sự của các thành viên ASEAN trong bối cảnh chiến tranh lạnh” [53;472] Đến nay, ZOPFAN vẫn là một ý t-ởng chính trị -

an ninh quan trọng ASEAN tiếp tục theo đuổi Hiệp -ớc Thân thiện và hợp tác

Đông Nam á (TAC) và Hiệp -ớc về khu vực không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) đ-ợc coi là hai công cụ chủ yếu để thực hiện ZOPFAN

Về cơ cấu tổ chức của ASEAN trong Tuyên bố Băng Cốc bao gồm: “ Hội nghi bộ tr-ởng ngoại giao ASEAN (AMM) là cơ quan hoạch định chính sách cao nhất của ASEAN, đ-ợc tổ chức hàng năm luân phiên tại các n-ớc thành viên, chịu trách nhiệm bàn về những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến ASEAN, kể

Trang 17

cả việc tiếp nhận hay kết nạp thêm thành viên mới; Một uỷ ban th-ờng trực ASEAN gồm đại sứ các n-ớc ASEAN và do Ngoại tr-ởng n-ớc chủ nhà làm Chủ tịch, thực hiện nhiệm vụ của tổ chức trong thời gian giữa hai cuộc họp Bộ ngoại giao, theo dõi việc thực hiện các nghị quyết chính của AMM; Các uỷ ban th-ờng trực gồm các chuyên gia và cán bộ cho từng lĩnh vực hoặc vấn đề hợp tác cụ thể;

Uỷ ban th- kí quốc gia của mỗi n-ớc thành viên phục vụ công việc của tổ chức

và cuộc họp hàng năm hoặc cuộc họp bất th-ờng của các Ngoại tr-ởng [53;470] Khi mới thành lập, bộ máy của ASEAN chỉ có 8 uỷ ban phụ trách các lĩnh vực khác nhau

Đến năm 1976, tại Hội nghị th-ợng đỉnh lần thứ nhất họp tại Bali (Inđônêxia) đã đ-a ra 3 quyết định lớn về cơ cấu tổ chức, bao gồm Hiệp định thành lập ban th- kí ASEAN (trụ sở đặt tại Giacácta - Inđônêxia); thành lập 5 uỷ ban hợp tác kinh tế để đẩy mạnh hợp tác kinh tế; thể chế hoá cuộc họp Bộ tr-ởng Kinh tế ASEAN (AEM) Đến nay, ASEAN đã cơ bản hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, đáp ứng đ-ợc nhu cầu phát triển của các thành viên và quá trình hội nhập vào cộng đồng quốc tế

Về nguyên tắc hoạt động, ASEAN tuân thủ nguyên tắc đồng thuận, bình

đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, luân phiên tổ chức các cuộc họp và đề cử chủ tịch Hiệp hội

Trong hợp tác kinh tế, các n-ớc ASEAN đã thể chế hoá đ-ợc một số ch-ơng trình hợp tác kinh tế Điểm nổi bật nhất về hợp tác kinh tế giai đoạn này

là tháng 3/1969, Quỹ ASEAN chính thức thành lập nhằm tài trợ cho các dự án chung của ASEAN Sau đó, một số cơ quan chuyên trách nh- Phòng th-ơng mại

và công nghiệp ASEAN (1972), các câu lạc bộ để trao đổi thông tin chuyên ngành, thu hút khách du lịch, phát triển dịch vụ; các uỷ ban về hợp tác tài chính, tiền tệ, ngân hàng, văn hoá - xã hội… đ-ợc thiết lập

Qua 8 năm đi vào hoạt động, mặc dù chỉ đạt đ-ợc những thành tựu rất hạn chế nh-ng những hoạt động của ASEAN đã đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành nhận thức chung, thống nhất giữa các n-ớc thành viên Đây chính là cơ sở vững chắc tạo tiền đề cho ASEAN phát triển sau này

Vào giữa những năm 70 của thế kỷ XX, quan hệ giữa ASEAN với các n-ớc Đông D-ơng bắt đầu có sự cải thiện ASEAN đã chủ động đ-a ra những cơ

Trang 18

chế hoạt động mới nhằm thúc đẩy quá trình liên kết khu vực Tháng 2/1976, tại Bali (Inđônêxia) Hội nghị th-ợng đỉnh ASEAN lần thứ nhất đã thông qua hai văn kiện quan trọng là Hiệp -ớc thân thiện và hợp tác ở Đông Nam á (Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia - TAC) và Tuyên bố hoà hợp ASEAN (Declaration of ASEAN Concord)

Hiệp -ớc Bali đặt ra những cơ sở, nền tảng cho một nền hoà bình lâu dài trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của các n-ớc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, giải quyết tranh chấp bằng ph-ơng pháp hoà bình Tuyên bố hoà hợp ASEAN nêu rõ những mục tiêu và nguyên tắc nhằm bảo đảm sự ổn định chính trị trong khu vực Trong hai văn kiện này, vấn đề hợp tác chính trị - an ninh

đ-ợc đặt lên hàng đầu Mặt khác, các thành viên ASEAN đã nhấn mạnh đến sự cần thiết phải cải tiến bộ máy tổ chức của ASEAN nhằm tăng c-ờng hợp tác chính trị

Đến lúc này, ASEAN đã thực sự tr-ởng thành về nhận thức và phản ứng kịp thời tr-ớc những chuyển biến mau lẹ của tình hình trong khu vực và quốc tế

Tháng 8/1977, Hội nghị cấp cao lần thứ hai của các ASEAN đã thông qua Tuyên bố Cuala Lămpơ (Kuala Lumpur Declaration 1977), khẳng định lại cam kết Bali và tuyên bố hoà hợp ASEAN, nhằm tỏ rõ mong muốn phát triển quan hệ hoà bình và cùng có lợi với tất cả các n-ớc trong khu vực

Từ năm 1979 đến năm 1989, hoạt động của ASEAN hầu nh- tập trung vào vấn đề Campuchia Các n-ớc ASEAN chủ tr-ơng liên kết với nhau dùng các biện pháp ngoại giao, sử dụng các diễn đàn quốc tế phản đối Việt Nam đ-a quân vào Campuchia và duy trì quân đội ở n-ớc này Từ khi Việt Nam từng b-ớc rút quân

và tiến hành giải pháp chính trị để giải quyết vấn đề Campuchia, các n-ớc ASEAN đã chuyển sang khuyến khích và thúc đẩy quá trình đối thoại giữa hai nhóm n-ớc Với t- cách là một tổ chức khu vực, ASEAN đã đóng góp một phần quan trọng trong việc đề ra những giải pháp chính trị toàn diện cho cuộc xung

đột Campuchia ASEAN đ-ợc d- luận quốc tế đánh giá cao và trở thành một tổ chức có uy tín trong việc giải quyết các vấn đề khu vực

Cùng với sự phát triển về cơ cấu tổ chức, ngày 7/1/1984, Brunây đ-ợc kết nạp thành thành viên thứ 6 của ASEAN tại Giacácta (Inđônêxia) Tháng 12/1987, Hội nghị th-ợng đỉnh lần thứ 3 của ASEAN tổ chức tại Manila (Philippin) đã

Trang 19

thông qua Tuyên bố Manila bày tỏ quyết tâm của các thành viên trong việc thúc

đẩy hợp tác an ninh - chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác

Nhìn chung, trong giai đoạn này ASEAN đã có những thành công t-ơng

đối lớn “ Một là, ASEAN đã thành công trong việc tạo dựng một cơ cấu quan hệ

ổn định giữa các n-ớc thành viên để xử lí và kiềm chế mâu thuẫn một cách hoà bình Mặc dù những tranh chấp song ph-ơng ch-a phải đã giải quyết xong, nh-ng trên thực tế đã không để xẩy ra chiến tranh hay xung đột vũ trang giữa các n-ớc thành viên Môi tr-ờng hoà bình và ổn định đã tạo điều kiện để một số n-ớc ASEAN đạt đ-ợc tốc độ tăng tr-ởng cao trong phát triển kinh tế Hai là ASEAN

đã thành công trong việc nâng cao uy tín của mình trong các vấn đề khu vực trên diễn đàn quốc tế, thể hiện qua những đóng góp vào việc thúc đẩy tiến trình tìm ra giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia” [53;509]

Mặt khác, ASEAN còn thành công trong việc đối thoại với các c-ờng quốc ngoài khu vực nhằm hợp tác phát triển kinh tế, củng cố an ninh - chính trị

và hoà bình khu vực

Về hợp tác kinh tế - th-ơng mại, Tuyên bố hoà hợp ASEAN đã nhấn mạnh ch-ơng trình hợp tác kinh tế, thúc đẩy việc cải tổ bộ máy hợp tác kinh tế giữa các n-ớc thành viên Theo đó Hiệp định -u đãi th-ơng mại (Preferential Trade Arrangements - PTA) đ-ợc kí kết (2/1977) nhằm thoả thuận một số -u đãi th-ơng mại để tạo khuôn khổ tổng thể cho việc mở rộng buôn bán giữa các n-ớc ASEAN Hiệp định -u đãi th-ơng mại PTA đã tạo ra nguồn động lực mới cho th-ơng mại ASEAN, tuy nhiên kim ngạch th-ơng mại giữa các n-ớc cũng chỉ chiếm từ 15 đến 20% tổng kim ngạch ngoại th-ơng của ASEAN Để đẩy nhanh quá trình hợp tác, từng b-ớc tiến tới liên kết công nghiệp, ASEAN đ-a ra ch-ơng trình các dự án công nghiệp (AIP) Từ năm 1980, ASEAN quyết định xây dựng năm công trình công nghiệp lớn ở 5 n-ớc do các n-ớc thành viên cùng sở hữu

đầu t- với tỷ lệ 60% của n-ớc chủ quản và 40% của các n-ớc còn lại Ngoài ra, ASEAN còn phát triển nhiều loại hình hợp tác trong các lĩnh vực chuyên ngành nh- khoa học công nghệ, văn hoá, y tế, giáo dục

Tại Hội nghị th-ợng đỉnh ASEAN - 3 (1987), lần đầu tiên thuật ngữ “ Hợp tác chuyên ngành” (Functional Cooperation) đ-ợc chính thức sử dụng Tuyên bố Manila đã nêu rõ phải phát triển giáo dục, tăng c-ờng hiểu biết trong ASEAN,

Trang 20

đẩy mạnh trao đổi thông tin, thúc đẩy sự tham gia của thanh niên và phụ nữ, các

tổ chức phi chính phủ vào nỗ lực phát triển hợp tác y tế, lao động, luật pháp, dân

số, văn hoá - xã hội, khoa học - công nghệ, môi tr-ờng Nhìn chung, hợp tác ASEAN trong lĩnh vực này mới chỉ đạt đ-ợc những kết quả rất khiêm tốn Nguyên nhân chính là do những tác động của những vấn đề chính trị xung quanh cuộc khủng hoảng khu vực về vấn đề Campuchia

Về hợp tác với các n-ớc ngoài khu vực, ngay từ đầu ASEAN đã nhận thức

rõ tầm quan trọng của hành động tập thể trong các vấn đề quốc tế Từ năm 1976, ASEAN đã có các cuộc đối thoại với Australia, Nhật Bản, Canađa, Niu Dilân, EEC, Mỹ, Hàn Quốc và sau đó đã từng b-ớc ký Hiệp định hợp tác với các đối tác này Hàng năm, ASEAN còn có các cuộc gặp chính thức ở cấp Bộ tr-ởng với các n-ớc thứ ba trong dịp hội nghị th-ờng niên của các Ngoại tr-ởng (AMM) Trên cơ sở đó, ASEAN tiếp tục thu hút vốn đầu t- n-ớc ngoài, tranh thủ sự viện trợ của các n-ớc phát triển và đẩy mạnh quan hệ với các n-ớc thứ ba Năm 1987, kim ngạch th-ơng mại hai chiều giữa Nhật và ASEAN đạt 35,5 tỷ USD, giữa Mỹ

và ASEAN đạt 27 tỷ USD Đây là một tiền đề hết sức quan trọng tạo đà cho sự phát triển của tổ chức trong giai đoạn sau

Thập niên cuối cùng của thế kỷ XX đã chứng kiến những biến động to trên bàn cờ chính trị quốc tế: Chiến tranh lạnh chấm dứt, Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô

và Đông Âu sụp đổ, trật tự hai cực Ianta tan rã Cũng trong thời gian này, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ cao tác động sâu rộng tới mọi mặt của đời sống xã hội quốc tế Xu thế hoà bình hợp tác và phát triển trở thành xu thế chủ đạo chi phối quan hệ quốc tế ở từng khu vực cũng nh- trên phạm vi toàn cầu Cùng với vấn đề Cămpuchia đ-ợc giải quyết, những biến cố lịch sử đó đã trực tiếp tác động đến khu vực Đông Nam á, tạo cơ hội để các n-ớc trong khu vực có điều kiện xích lại gần nhau, cùng hợp tác hội nhập để biến

Đông Nam á thành khu vực hoà bình, độc lập, ổn định và phát triển

Mở đầu cho quá trình đó là việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN (7/1995), sự kiện trọng đại này mở ra triển vọng cho sự liên kết toàn khu vực, đồng thời đánh dấu kết thúc sự đối đầu ý thức hệ t- t-ởng chính trị - quân sự giữa hai nhóm n-ớc ở Đông Nam á Do tình hình chính trị ở Campuchia ch-a ổn định nên tại Hội nghị Ngoại tr-ởng lần thứ 30 của ASEAN (8/8/1997)

Trang 21

chỉ kết nạp Lào và Mianma Đến ngày 30/4/1999, Campuchia mới chính thức trở thành thành viên thứ 10 của ASEAN Việc mở rộng ASEAN - 6 đến ASEAN - 10

đã nâng cao vị thế của ASEAN trong khu vực châu á - Thái Bình D-ơng và trên tr-ờng quốc tế

Trong giai đoạn 1990 - 2006, ASEAN đã đạt đ-ợc những thành tựu hết sức

to lớn trên tất cả các lĩnh vực

Tr-ớc hết là thành tựu về hợp tác nội bộ trên lĩnh vực an ninh - chính trị, thành công đáng kể nhất chính là các quốc gia thành viên ASEAN đã tìm đ-ợc tiếng nói chung trong hàng loạt các vấn đề quốc tế và khu vực Tháng 12/1995, Hội nghị cấp cao lần thứ 5 của ASEAN ở Băng Cốc (Thái Lan) đã ký Hiệp -ớc về khu vực phi vũ khí hạt nhân (SEANWFZ) Đây là một b-ớc tiến quan trọng trong việc thực hiện hoá t- t-ởng ZOPFAN, đặt cơ sở pháp lí cho các n-ớc cùng tham gia các hiệp -ớc quốc tế về giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí hạt nhân Ngoài ra nó còn phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chung của các n-ớc thành viên, góp phần nâng cao uy tín của ASEAN trên tr-ờng quốc tế

Từ Hội nghị cấp cao ASEAN - 8 (11/2002) ở Lào, các nhà lãnh đạo các n-ớc thành viên đã bàn bạc và khẳng định việc thực hiện các biện pháp tập thể để cùng nhau giải quyết những vấn đề an ninh - chính trị chung của khu vực Sau vụ khủng bố ở đảo Bali (Inđônêxia - 10/2002), Hội nghị AMM - 36 ở Phnôm Pênh (6/ 2003) đã đ-a ra ý t-ởng thành lập Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC) ý t-ởng này đã đ-ợc Hội nghị cấp cao ASEAN - 9 (11/2003) ở Bali khẳng định trong Tầm nhìn ASEAN - 2020, nhằm h-ớng tới xây dựng một Cộng đồng ASEAN đoàn kết, vững mạnh dựa trên ba trụ cột là an ninh, kinh tế và văn hoá - xã hội

Về hợp tác với an ninh với bên ngoài, các n-ớc châu á - Thái Bình D-ơng sau chiến tranh lạnh nhận thức rõ tầm quan trọng của việc giữ gìn an ninh và cục diện chính trị cân bằng, ổn định trên cơ sở hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau nhằm phucn vụ mục tiêu phát triển kinh tế Xuất phát từ nhận thức đó, các n-ớc ASEAN đ-a ra sáng kiến về việc xây dựng Diễn đàn an ninh khu vực Tại Hội nghị AMM - 24 (7/1993) ở Singapore đã đ-a ra quyết định thành lập Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ASEAN Regional Forum - ARF) Ngày 25/7/1994 tại Băng Cốc, ARF chính thức tuyên bố thành lập

Trang 22

Đến nay, ARF đã có tới 27 thành viên Theo quy định, ARF đ-ợc tổ chức hàng năm với sự tham gia của cấp Bộ tr-ởng và tiến hành luân phiên tại các n-ớc ASEAN theo sự điều phối của ASEAN Thông qua quá trình đối thoại, các chủ

đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đ-ợc đ-a ra thảo luận, đặc biệt là những vấn đề mang tính thời sự có khả năng tác động tiêu cực tới sự phát triển của khu vực Đông Nam á Điều này đã góp phần thúc đẩy quan hệ đối thoại, hợp tác và tăng c-ờng hiểu biết, tin cậy lẫn nhau không những giữa các n-ớc ASEAN với nhau mà còn đối với các n-ớc lớn khác trong khu vực và trên thế giới Từ Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN, nhiều sáng kiến về vấn đề an ninh khu vực đ-ợc kí kết nh-: Hiệp -ớc về xây dựng Bộ quy tắc ứng xử biển

Đông (1998) Tuyên bố hợp tác chống khủng bố để đảm bảo an ninh biên giới, Tuyên bố chung về chống c-ớp biển (6/2003), đàm phán về vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên…

Tuy vậy, để ARF tiếp tục là kênh đối thoại quan trọng trong việc bảo vệ hoà bình, an ninh khu vực, ARF phải có những b-ớc đi phù hợp với các n-ớc thành viên, ASEAN phải là nòng cốt và đóng vai trò đầu tàu trong các hoạt động của Diễn đàn

Để thúc đẩy chính sách đa ph-ơng hoá, đa dạng hoá quan hệ với các n-ớc lớn và các tổ chức khu vực, quốc tế, ASEAN đề ra ý t-ởng và vận động thành lập Diễn đàn hợp tác á-Âu (Asia Europe Meeting – ASEM) Tháng 3/1996, Hội nghị cấp cao á - Âu lần thứ nhất (ASEM - 1) đ-ợc tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) với sự tham gia của 25 quốc gia và Chủ tịch Uỷ ban châu Âu, đánh dấu sự

ra đời của Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM)

Từ sau Hội nghị th-ợng đỉnh ASEAN lần thứ 4 Singapore (1/1992) quan hệ của ASEAN với các đối tác mới trong khu vực châu á - Thái Bình D-ơng đ-ợc

đẩy mạnh lên cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Đến tháng 7/1996, ASEAN đã thiết lập quan hệ đối thoại đầy đủ với Trung Quốc, Liên bang Nga và ấn Độ Riêng

đối với Mỹ, Nhật Bản, EU, Canađa và Australia là những đối tác chiến l-ợc luôn

đ-ợc ASEAN coi trọng và không ngừng củng cố trong quá trình hợp tác cùng phát triển Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997, ASEAN chủ động đề

Trang 23

nghị thành lập cơ chế hợp tác mới: ASEAN + 3 (Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) nhằm thúc đẩy, mở rộng quá trình hợp tác trên các lĩnh vực chính trị kinh

tế - th-ơng mại giữa 10 n-ớc ASEAN với 3 n-ớc Đông Bắc á

Cùng với những hoạt động về hợp tác an ninh - chính trị, hợp tác kinh tế đã trở thành lĩnh vực -u tiên hàng đầu trong các hoạt động của ASEAN Về hợp tác kinh tế nội khối, việc thiết lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area - AFTA) đ-ợc thông qua tại Hội nghị th-ợng đỉnh ASEAN - 4 ở Singapore (1992) đã thể hiện quyết tâm và sự thích ứng mới của ASEAN với tình hình chính trị, kinh tế trong khu vực và thế giới Mục tiêu chủ yếu của AFTA là tạo một môi tr-ờng th-ơng mại - đầu t- -u đãi trong khu vực trên cơ sở loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, thực hiện Hiệp định về Ch-ơng trình thuế quan -u đãi hiệu lực chung (CEPT) theo một lộ trình nhất định và sẽ loại bỏ hoàn toàn thuế quan giữa các n-ớc trong ASEAN vào năm 2015 Việc thực hiện AFTA sẽ tạo cho ASEAN một thị tr-ờng thống nhất, một môi tr-ờng kinh tế năng

động với khả năng thu hút vốn đầu t- trực tiếp từ n-ớc ngoài AFTA chính là chiếc cầu nối để các n-ớc ASEAN tham gia một cách đầy đủ và có hiệu quả hơn vào các

tổ chức th-ơng mại quốc tế nh- APEC, WTO

Để thúc đẩy tiến trình AFTA, các n-ớc ASEAN đã thông qua Ch-ơng trình hợp tác công nghiệp (AICO) năm 1996, Hiệp định khung về Khu vực đầu t- ASEAN (AIA) năm 1998 nhằm tạo ra khu vực kinh tế phát triển năng động có sức cạnh tranh cao ở Đông Nam á

Mặt khác, để thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa các thành viên, ASEAN đ-a ra hàng loạt các ch-ơng trình hợp tác nh-: Ch-ơng trình hợp tác tiểu vùng sông Mê Công (1995), Ch-ơng trình hành động Hà Nội (1998), Sáng kiến hội nhập ASEAN (2000), Tuyên bố Hà Nội về thu hẹp khoảng cách phát triển nhằm tăng c-ờng liên kết ASEAN (2001), thực hiện các dự án trong sáng kiến liên kết ASEAN (IAI) Tháng 11/2003, tại Hội nghị th-ợng đỉnh ASEAN - 9 ở Bali (Inđônêxia) các nhà lãnh đạo ASEAN đã thoả thuận về việc thiết lập Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community - AEC) Đây là lần đầu tiên khái niệm cộng đồng kinh tế ASEAN đ-ợc sử dụng chính thức, với mục tiêu đến năm

2020 AEC sẽ là một khu vực sản xuất và thị tr-ờng chung với việc hàng hoá, dịch

vụ, đầu t-, nguồn nhân lực có tay nghề và cả vốn đầu t- đ-ợc luân chuyển tự do

Trang 24

Trong quan hệ ngoại khối, ASEAN tiếp tục chủ tr-ơng mở rộng và phát triển quan hệ kinh tế lên một tầm cao mới Đối với các nền kinh tế lớn nh- Cộng

đồng châu Âu (EC) (từ 1993 EC đổi thành EU), Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc …, ASEAN luôn xem đây là các đối tác chiến l-ợc trong quá trình mở rộng quan hệ th-ơng mại và đầu t- theo h-ớng hình thành các khu vực mậu dịch tự do chung Với các đối tác lớn khác nh- ấn Độ, Nga, Australia, Niu Dilân, ASEAN cũng có những b-ớc đi hợp lí nhằm thắt chặt hơn các mối quan hệ hợp tác trên cơ sở đôi bên cùng có lợi

Không chỉ tăng c-ờng hợp tác kinh tế đa ph-ơng, từng thành viên ASEAN cũng đã nỗ lực mở rộng hợp tác liên kết song ph-ơng với các n-ớc và các tổ chức khác

Nhìn lại quá trình phát triển, thành công của ASEAN đạt đ-ợc chủ yếu thể hiện trên hai bình diện chính sau đây:

Thứ nhất, ASEAN đã liên kết đ-ợc 10 n-ớc Đông Nam á thành một thực thể kinh tế - chính trị đoàn kết, nhất trí, có cơ chế giải quyết mâu thuẫn, xung đột bằng biện pháp hoà bình và thúc đẩy hợp tác kinh tế Nguyên tắc nhất trí (consensus) và việc đề ra những mục tiêu đúng đắn để đảm bảo đ-ợc “ tính thống nhất trong đa dạng” đã tạo nên ý thức cộng đồng và sức mạnh cho ASEAN

Thứ hai, ASEAN đã phát huy tối đa tính tự chủ, tự c-ờng khu vực, lôi kéo các n-ớc, các thực thể kinh tế - chính trị lớn nhất trên thế giới cùng đối thoại, hợp tác Với những sáng kiến và hoạt động có hiệu quả về chính trị - an ninh và kinh

tế, ASEAN đang ngày càng có vai trò quan trọng trên các Diễn đàn quốc tế và khu vực châu á - Thái Bình D-ơng [53;583]

Ngoài những thành công, ASEAN cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức trong quá trình phát triển và hội nhập nh-: trình độ và mức sống có những chênh lệch rất lớn, sự khác biệt về chế độ chính trị và hệ t- t-ởng, những tranh chấp do lịch sử để lại (biên giới, lãnh thổ, lãnh hải), những mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo, làn sóng li khai, chủ nghĩa khủng bố… Mặt khác, do ASEAN là một tổ chức liên chính phủ nên trong quá trình tồn tại và phát triển đã gặp phải mâu thuẫn giữa yêu cầu tôn trọng quyền lợi của từng thành viên với sự thống nhất chung của tất cả các n-ớc

Trang 25

Trong quan hệ đối ngoại, ASEAN không tránh khỏi việc phải chịu áp lực từ các n-ớc lớn An ninh của ASEAN gắn liền với an ninh của khu vực châu á - Thái Bình D-ơng và liên quan đến chính sách của các c-ờng quốc lớn trên thế giới

Về triển vọng phát triển của ASEAN, tháng 11/2003 Hội nghị cấp cao ASEAN - 9 ở Bali (Inđônêxia) đã đ-a ra lộ trình thực hiện Tầm nhìn ASEAN 2020 Trong Tuyên bố hoà hợp ASEAN II, các nhà lãnh đạo ASEAN khẳng định khuôn khổ tiến tới Cộng đồng ASEAN là Cộng đồng an ninh ASEAN (ASC), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), Cộng đồng văn hoá - xã hội ASEAN (ASCC) Hình ảnh về một cộng đồng ASEAN là triển vọng của một khu vực Đông Nam á thống nhất trong đa dạng, hoà bình, an ninh và thịnh v-ợng, mở ra một b-ớc ngoặt mới trên con

đ-ờng phát triển của khu vực có nền kinh tế năng động này

Từ việc tìm hiểu sự ra đời, quá trình phát triển và những thành tựu của ASEAN có thể nhận thấy mục tiêu cao nhất của ASEAN đ-ợc nêu trong Tuyên

bố Băng Cốc và thực hiện trong quá trình phát triển là thắt chặt quan hệ kinh tế - chính trị - xã hội nội khối, mở rộng quan hệ đối ngoại, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, hợp tác cùng phát triển Đây là điểm căn bản, thống nhất và là cơ sở để ASEAN tiếp tục đ-a ra những sáng kiến về hợp tác với các đối tác bên ngoài, trong đó có ASEM

1.2 Khái quát về quá trình ra đời và phát triển của Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM)

1.2.1 Sự ra đời của Diễn đàn hợp tác á - Âu (asem)

1.2.1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực

B-ớc vào thập niên cuối cùng của thế kỉ XX, nhân loại chứng kiến những

sự kiện lịch sử quan trọng: sự kết thúc chiến tranh lạnh, sự sụp đổ của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu Cũng từ đây, “ Thế giới đang chuyển mạnh

từ chạy đua quyết liệt về quân sự, tranh giành những khoảng trống quyền lực sang cạnh tranh kinh tế, chiếm lĩnh các thị tr-ờng Sức mạnh kinh tế ngày càng

có vai trò quyết định vị thế của mỗi n-ớc trên tr-ờng quốc tế” [65;17]

Để củng cố quyền lực và vai trò trong các mối quan hệ quốc tế, Mỹ đã

điều chỉnh chiến l-ợc, chính sách đối ngoại với mục đích là tăng c-ờng sức mạnh kinh tế và những lợi ích về an ninh, chính trị Tuy nhiên, do hậu quả của cuộc

Trang 26

chạy đua vũ trang, sức mạnh của nền kinh tế Mỹ bị suy giảm trong t-ơng quan so sánh với Liên minh châu Âu và Nhật Bản Trong khi đó nền kinh tế Trung Quốc lại đang phát triển mạnh mẽ với tốc độ cao và ổn định Bức tranh kinh tế thế giới bắt đầu có sự thay đổi theo chiều h-ớng tích cực

Đi cùng với sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là sự tan rã của mô hình kinh tế tập trung kế hoạch, nền kinh tế thị tr-ờng trở nên phổ biến và thắng thế với nhiều hình thức, nhiều mức độ, góp phần tăng c-ờng xu thế

tự do hoá kinh tế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trên cấp độ toàn cầu Những tiến bộ

về khoa học và công nghệ, đã tác động to lớn đến từng cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức và các quốc gia trên toàn thế giới Điều quan trọng là nó làm thay đổi các ph-ơng thức th-ơng mại quốc tế, cũng nh- các ph-ơng tiện sản xuất trong nền kinh tế Đến lúc này “ sự phát triển của xã hội không còn dựa chủ yếu vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà chủ yếu dựa vào những nguồn lực có yếu tố tri thức, nguồn lực con ng-ời, dần dần hình thành nền kinh tế tri thức là những yếu

tố đầu vào quan trọng của hệ thống sản xuất, quản lí” [62;29] Toàn cầu hoá kinh

tế trở thành một xu thế phổ biến trong quan hệ quốc tế “ Quá trình này một mặt gắn kết các n-ớc lại với nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết vào một làng toàn cầu thông qua việc mở rộng thị tr-ờng quốc tế và công nghệ thông tin hiện đại, mặt khác lại làm gia tăng và làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng đang tồn tại trong việc phân bổ của cải và nguồn tài nguyên giữa các quốc gia và ngay trong một quốc gia” [65;19] Tất cả những thay đổi trên đều tác động to lớn đến nền kinh tế

- chính trị của thế giới

Trong nền kinh tế toàn cầu hoá, xu h-ớng liên kết kinh tế khu vực cũng phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức, nhiều cấp độ khác nhau ở châu Âu, trên cơ sở Cộng đồng kinh tế châu Âu EEC (1957) với sáu n-ớc thành viên là Pháp,

Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lucxembua, thì đến năm 1992 thông qua Hiệp -ớc Maastrichts, Liên minh châu Âu (EU) chính thức đ-ợc thành lập Đây là một tổ chức khu vực đạt mức độ liên kết rất cao với thị tr-ờng thống nhất, có nghị viện chung, có đồng tiền chung và đang tiến tới thông qua hiến pháp chung ở châu

Mỹ, khối thị tr-ờng chung Nam Mỹ - MERCOSUR cũng tuyên bố thành lập vào năm 1991 Một năm sau, Hiệp định thành lập Khu mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) đ-ợc ký kết với sự tham gia của Mỹ, Canađa, Mêhicô ở châu á, Hiệp

Trang 27

hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN) cũng tăng c-ờng liên kết kinh tế khu vực bằng việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA (1992) Không chỉ liên kết ở quy mô châu lục, năm 1989 đã xuất hiện mô hình liên kết xuyên châu lục đó là sự ra đời của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình D-ơng (APEC) Ngoài ra, những năm 90 còn đánh dấu sự trỗi dậy của các nền kinh tế

Đông á nh- Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore, Malaixia, Thái Lan, biến châu á - Thái Bình D-ơng thành một khu vực kinh tế năng động với vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới

Cùng với xu thế toàn cầu hoá, diện mạo kinh tế thế giới có nhiều thay đổi, dần dần hình thành ba trung tâm kinh tế lớn là Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông á “ Bộ

ba này chiếm tới 85 - 98% các hoạt động trong các lĩnh vực mậu dịch quốc tế, đầu t- trực tiếp công nghệ thông tin và GDP Do sức mạnh kinh tế của nó, bộ ba kinh

tế trên đang chi phối sự phát triển của nền kinh tế thế giới và sẽ là lực l-ợng quyết

định diện mạo của kinh tế toàn cầu trong thế kỉ XXI” [65;21] Mỗi quan hệ giữa bộ

ba kinh tế này bắt đầu thay đổi theo xu h-ớng tích cực Nếu đầu những năm 90 của thế kỉ XX, giữa các cực trong bộ ba kinh tế này diễn ra một cuộc cạnh tranh rất khốc liệt do sự v-ơn lên mạnh mẽ của Đông á khiến cho nhiều ng-ời ở Tây Âu và Bắc Mỹ lo ngại thì giữa những năm 90 mỗi quan hệ giữa các chủ thể trong bộ ba

đó có sự thay đổi Các c-ờng quốc đóng vai trò hạt nhân nhận thấy rằng trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, sự hợp tác giữa các nền kinh tế sẽ đồng nghĩa với

sự phát triển, là hợp với xu thế của thời đại ngày nay

Nh- vậy, tr-ớc khi ASEM ra đời, mối quan hệ giữa châu á và châu Âu ch-a t-ơng xứng với vị trí và tiềm năng vốn có Nhận ra sự thiếu cân bằng trong tam giác kinh tế toàn cầu, tại Hội nghị cấp cao Kinh tế EU và Đông á do Diễn

đàn kinh tế thế giới tổ chức tại Singapore năm 1994, Thủ t-ớng n-ớc chủ nhà đã

đề xuất ý t-ởng tổ chức một cuộc gặp gỡ cấp cao giữa các nhà lãnh đạo châu á

và châu Âu đặt nền tảng đầu tiên cho tiến trình hội nhập toàn diện á - Âu

1.2.1.2 Quá trình vận động thành lập ASEM

Xuất phát từ nhu cầu hội nhập và phát triển, cùng với những nỗ lực không mệt mỏi của hai châu lục á - Âu, ngày 1/3/1996, Hội nghị th-ợng đỉnh á - Âu đã

Trang 28

đ-ợc khai mạc tại Trung tâm hội nghị quốc gia - Băng Cốc (Thái Lan) với sự tham gia của 10 quốc gia châu á, 15 thành viên Liên minh châu Âu (EU) và Chủ tịch Uỷ ban châu Âu Đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo châu á và châu Âu ngồi lại với nhau trong một không khí thân thiện, cởi mở trên cơ sở những thoả thuận chung nhằm mục đích tạo ra mối quan hệ mới năng động giữa châu Âu và châu á Sự kiện này đánh dấu Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) chính thức ra đời

Ngay từ thời cổ đại, con đ-ờng “ Tơ lụa” , buôn bán trao đổi hàng hoá giữa châu á và châu Âu đã hình thành và phát triển Đến thế kỉ XIII, Maco Polo tìm

ra châu á và tiếp tục mở rộng con đ-ờng này Sang thời Phục h-ng, khi hàng hải của châu Âu phát triển mạnh, thông qua các cuộc phát kiến địa lí (thế kỉ XV, XVI) ng-ời châu Âu đã biết tới châu á nh- một trong những khu vực giàu có nhất thế giới Từ đó, quan hệ buôn bán và văn hoá giữa các n-ớc của hai châu lục liên tục phát triển cho tới khi phần lớn các n-ớc châu á bị đặt d-ới ách thống trị của các n-ớc thực dân ph-ơng Tây

B-ớc sang thế kỉ XX, nhất là từ sau chiến tranh thế giới lần hai, phong trào

đấu tranh giải phóng dân tộc ở châu á phát triển, các n-ớc thực dân ph-ơng Tây lần l-ợt phải công nhân và trao trả độc lập cho nhiều dân tộc ở châu á Cũng từ

đây, quan hệ giữa châu Âu và châu á đã có nhiều cải thiện và chuyển sang một giai đoạn phát triển mới

Trên bình diện khu vực, mặc dù ASEAN đ-ợc thành lập từ năm 1967, nh-ng phải đến 11/1972, quan hệ giữa ASEAN và Cộng đồng châu Âu (EC) mới

đ-ợc thiết lập thông qua cuộc gặp gỡ chính thức tại Brussels (Bỉ) Đến 3/1980, Hiệp định hợp tác giữa hai bên đã đ-ợc ký kết với mục tiêu là phát triển kinh tế - th-ơng mại, văn hoá - xã hội trên cơ sở đôi bên cùng có lợi

Nh- vậy, các mối quan hệ trên đã tạo ra những tiền đề cho sự phát triển quan hệ hợp tác chính thức giữa hai châu lục ở thời kì hậu chiến tranh lạnh Học giả Fumiaki Takahashi ng-ời Nhật Bản nhận định: Chiến tranh lạnh chấm dứt đã làm phân tán quyền lực thành nhiều cực phụ thuộc lẫn nhau Chính sự phụ thuộc này là cơ sở cho mối liên hệ giữa châu á và châu Âu Tuy nhiên, hợp tác á - Âu

Trang 29

muốn phát triển lên tầm cao mới còn phải xuất phát từ nhu cầu của bản thân các n-ớc châu á và châu Âu

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, vị trí của ASEAN trong chiến l-ợc toàn cầu và khu vực của các n-ớc lớn bị giảm sút Hơn nữa việc thành lập Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ và sự thống nhất thị tr-ờng Liên minh châu Âu vào năm

1992 đã làm cho những khu vực này trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu t- trên thế giới Và hệ quả là luồng vốn FDI, nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế của các n-ớc ASEAN bị giảm đi so với tr-ớc Bên cạnh những trở ngại trên con đ-ờng phát triển kinh tế, ASEAN lại phải đối diện với những thách thức

về an ninh nảy sinh từ bên trong khu vực Mặc dù vấn đề Campuchia cơ bản đã

đ-ợc giải quyết với việc ký kết Hiệp định Pari (10/1991), nh-ng vẫn còn nhiều vấn đề do lịch sử để lại ở các n-ớc Đông Nam á nh- chủ nghĩa li khai ở Inđônêxia, xung đột sắc tộc ở Philippin, tranh chấp Biển Đông Từ năm 1992, khi

Mỹ và Nga rút bỏ sự có mặt ở Đông Nam á thì những quan ngại về an ninh của ASEAN lại càng tăng lên vì ở đây xuất hiện một “ khoảng trống quyền lực”

Để đối phó với tình trạng trên, ASEAN đã tiến hành thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA, đ-a ra sáng kiến thành lập Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN - ARF nhằm lôi kéo sự tham gia của nhiều c-ờng quốc, tăng c-ờng hợp tác quốc tế nhất là với những khu vực đạt tới trình độ liên kết cao và ngày càng có sức mạnh về kinh tế

Với EU, ASEAN nhận thấy, muốn tiếp tục duy trì sự phát triển với tổ chức này thì cần phải có một khuôn khổ hợp tác lớn hơn khuôn khổ ASEAN - EU hiện

đang trì trệ do chính sách của cả hai bên

Với các n-ớc Đông Bắc á, đứng tr-ớc một châu Âu hùng mạnh, họ nhận thấy rằng các cơ chế hợp tác song ph-ơng không còn hữu hiệu nh- tr-ớc nữa, cần phải tập hợp các n-ớc trong khu vực Đông á có cùng lợi ích lại để tạo ra một cơ chế tập thể mới nhằm đáp ứng đ-ợc các đòi hỏi mở của thị tr-ờng châu Âu Chính vì thế, sáng kiến tổ chức hội nghị hợp tác á - Âu của ASEAN đã đ-ợc các n-ớc

Đông Bắc á nhiệt thành ủng hộ bởi nó liên quan trực tiếp đến quyền lợi của họ

Về phía EU, sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt, tham vọng muốn thay thế

vị trí của Liên Xô trong chiến l-ợc toàn cầu xuất hiện Trong chính sách an ninh

Trang 30

chung, Liên minh châu Âu đã đ-a ra mục tiêu là đảm bảo sự có mặt của mình trên tất cả các khu vực của thế giới, nhất là châu á EU còn cho rằng, các lợi ích kinh tế ngày càng tăng của châu Âu cần đ-ợc sự hỗ trợ bằng việc đảm bảo một môi tr-ờng ổn định và dân chủ ở châu á EU cần có mặt về chính trị - an ninh ở khu vực này, nơi đ-ợc xem là khu vực phát triển năng động nhất và sẽ là một trong những trụ cột của kinh tế thế giới trong thế kỉ XXI “ Sự trỗi dậy của châu á

đang làm thay đổi một cách sâu sắc sự cân bằng của thế giới về sức mạnh kinh tế Khi sức mạnh của châu á tăng lên trong nền kinh tế toàn cầu thì sức ép của nó ngày càng tăng về một vai trò lớn hơn trong các công việc thế giới” [44;9] Một

số nhà lãnh đạo châu Âu nhận thấy rằng, chính sách “ Lẩn trốn khỏi châu á” nh- tr-ớc đây đã thu hẹp ảnh h-ởng của châu Âu ở khu vực châu á và ngăn cản châu

Âu khai thác những cơ hội kinh doanh mà một châu á đang tăng tr-ởng về kinh

tế có thể cung cấp cho họ Chiến l-ợc châu á mới (NAS) đã đ-ợc Hội đồng châu

Âu thông qua (12/1994) và đ-ợc Nghị viện châu Âu phê chuẩn vào năm 1995

Đây chính là một chiến l-ợc toàn diện, lâu dài nhằm giúp EU mở rộng các quan

hệ hợp tác với châu á trên tất cả các ph-ơng diện khi tình hình thay đổi

Cũng trong thời gian này, sự ra đời của APEC cũng là một nhân tố xúc tác nữa buộc châu Âu phải có cách nhìn nhận khác về châu á Năm 1989, khi sáng kiến thành lập APEC đ-ợc đ-a ra, châu Âu đã ngoảnh mặt làm ngơ Khu vực này chỉ thực sự thức tỉnh khi Hội nghị th-ợng đỉnh APEC - 1 đ-ợc tổ chức tai Siatơn năm 1993 Sự kiện này cho thấy rằng, lần đầu tiên trong lịch sử, một hội nghị quốc tế diễn ra mà không có sự tham gia của bất kì một quốc gia châu Âu nào Mặc dù sau đó Nghị viện châu Âu đã tìm cách để EU tham gia vào APEC d-ới một vài hình thức nh-ng đã bị từ chối Vì vậy, tham gia vào tiến trình hợp tác á -

Âu là cơ hội để EU bắc cầu nối tiếp với APEC

Nhân tố rất quan trọng xúc tiến nhanh quá trình ra đời của ASEM là nhu cầu hợp tác ngay trong bản thân châu á và châu Âu Chính sự thiếu vắng mối liên hệ giữa hai châu lục á - Âu đã gây ra sự mất cân bằng trong tam giác kinh tế thế giới Mỹ có thể lợi dụng cơ hội này để khai thác quan hệ với EU thông qua

Trang 31

NATO và quan hệ với Đông á thông qua APEC Do đó, hợp tác á - Âu đ-ợc chờ

đợi sẽ làm giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ

Ngoài ra, trong quan điểm của châu Âu, Đông á tuy là khu vực phát triển năng động nh-ng vấn tiềm tàng nguy cơ căng thẳng, xung đột, tranh chấp Châu

á sẽ là vị trí quan trọng mà châu Âu muốn đóng vai trò Hơn nữa châu Âu ch-a

từ bỏ ý định áp đặt điều kiện và truyền bá các quan điểm về nhân quyền, dân chủ,

hệ thống chính trị xã hội cho châu á

Nh- vậy, tr-ớc ng-ỡng cửa thế kỉ XXI, sáng kiến tổ chức Hội nghị th-ợng

đỉnh á - Âu hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của các bên Chính sự t-ơng đồng

về lợi ích đã gắn kết hai châu lục lại với nhau trong xu thế đối thoại hoà bình, hợp tác cùng phát triển Năm 1996, tại Băng Cốc (Thái Lan), ASEM - 1 đã thông qua

đ-ợc những ch-ơng trình và các hoạt động cụ thể, điều đó cho thấy quyết tâm của các nhà lãnh đạo Đông á và Liên minh châu Âu trong việc biến ASEM từ ý t-ởng thành một tiến trình hợp tác giữa hai châu lục á - Âu Chính những thành công b-ớc đầu của ASEM - 1 đã cho thấy chủ tr-ơng của các nhà lãnh đạo á - Âu là khép lại quá khứ để xây dựng quan hệ mới vì lợi ích của mỗi khu vực nói riêng và lợi ích của toàn nhân loại nói chung ASEM ra đời đã hoàn tất việc tạo ra cạnh thứ

ba của tam giác kinh tế toàn cầu với ba cực là Tây Âu, Đông á và Bắc Mỹ

1.2.1.3 Mục đích, nguyên tắc hoạt động và cơ cấu tổ chức của ASEM

Mục đích của ASEM : Xuất phát từ nhu cầu hợp tác á - Âu, ASEM đã ra

đời với mục đích là tạo dựng một mối quan hệ đối tác mới toàn diện giữa hai châu lục á - Âu vì sự tăng tr-ởng mạnh mẽ hơn nữa để h-ớng tới thế kỉ XXI Trong đó tập trung vào ba mục tiêu chính là: Thúc đẩy đối thoại chính trị để tăng c-ờng hơn nữa sự hiểu biết lẫn nhau và thống nhất quan điểm của cả hai châu lục

đối với các vấn đề chính trị – an ninh và xã hội của thế giới; Xây dựng quan hệ

đối tác một cách toàn diện và sâu rộng giữa hai châu lục nhằm thúc đẩy trao đổi th-ơng mại và đầu t- giữa các thành viên; Tăng c-ờng hợp tác trong các lĩnh vực khoa học kĩ thuật, môi tr-ờng, phát triển nguồn nhân lực…để tạo sự tăng tr-ởng bền vững ở cả châu á và châu Âu Mục đích này chỉ có thể đạt đ-ợc trên cơ sở các nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau cùng có lợi giữa các đối tác ASEM

Trang 32

Về nguyên tắc hoạt động: ASEM là một diễn đàn đối thoại không chính thức hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận, cùng nỗ lực tạo dựng một mối quan hệ đối tác mới toàn diện Nguyên tắc đồng thuận đ-ợc cụ thể hoá theo h-ớng: “ Bình đẳng t-ơng trợ lẫn nhau cùng có lợi; ASEM là một tiến trình mở và tiệm tiến, không chính thức nên không nhất thiết phải thể chế hoá; Tăng c-ờng nhận thức và hiểu biết lẫn nhau thông qua một tiến trình đối thoại và tiến tới hợp tác trong việc xác định cụ thể các -u tiên cho các hoạt động phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau trong khuôn khổ ASEM; Triển khai đồng đều cả ba lĩnh vực hợp tác là: Tăng c-ờng đối thoại chính trị; Thúc đẩy hợp tác kinh tế; Đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực khác; Việc mở rộng kết nạp thêm thành viên thực hiện trên cơ sở nhất trí chung của các vị đứng đầu nhà n-ớc và chính phủ của các quốc gia [28;37]

Cơ cấu tổ chức và tính chất của ASEM: Theo thoả thuận của các n-ớc thành viên, thể thức cao nhất của ASEM là Hội nghị cấp cao đ-ợc tổ chức hai năm một lần luân phiên ở cả hai châu lục á và Âu Tất cả các vấn đề quan trọng đều đ-ợc đ-a ra xem xét tại Hội nghị cấp cao, và các tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị sẽ quy định ph-ơng h-ớng, nội dung của ASEM Tiếp đến là Hội nghị cấp Bộ tr-ởng Ngoại giao, Bộ tr-ởng Kinh tế, Bộ tr-ởng Tài chính đ-ợc tổ chức mỗi năm một lần Cũng theo quy định về thể thức hoạt động của ASEM, Hội nghị cấp Bộ tr-ởng thuộc các lĩnh vực khác sẽ không họp th-ờng niên mà chỉ tổ chức khi cần thiết

Về cơ chế hoạt động, ASEM thực hiện cơ chế điều phối Các Bộ tr-ởng Ngoại giao và Thứ tr-ởng Ngoại giao chịu trách nhiệm điều phối chung toàn bộ hoạt động của ASEM Các Bộ tr-ởng Kinh tế và các quan chức cấp cao về th-ơng mại và đầu t- (SOMTI), các Bộ tr-ởng và Thứ tr-ởng các ngành chịu trách nhiệm

điều phối hợp tác trong các lĩnh vực cụ thể đ-ợc phụ trách

ASEM ra đời và đi vào hoạt động chính là chiếc cầu nối giữa châu á và châu Âu sau một thời gian dài bị lãng quên Tuy vậy, do sự khác nhau về văn hoá nên châu á và châu Âu có những cách tiếp cận khác nhau với vấn đề hợp tác Nếu châu Âu nhấn mạnh tính pháp lí và thể chế hoá thì châu á nhấn mạnh tính tiệm tiến và tính tự nguyện với cơ chế lỏng lẻo theo ph-ơng cách Đông Ph-ơng

Về mặt lí thuyết, thì sự khác biệt này ngăn cách hợp tác Hợp tác chỉ có thể thành công nếu hai ph-ơng thức này hoà hợp đ-ợc với nhau Trên thực tế, các n-ớc

Trang 33

châu Âu đã phần nào chấp nhận cách của châu á, nhờ vậy hợp tác trong ASEM

đã thành công

Trong ASEM - 1 không có ch-ơng trình nghị sự định tr-ớc mà chỉ có các cuộc thảo luận phi chính thức Các nhà lãnh đạo hai châu lục không thể chế hoá ASEM Tuyên bố của Chủ tịch ASEM - 2 đã khẳng định lại điều này Tuy nhiên,

để duy trì sự tồn tại của ASEM, các thành viên đã đồng ý họp th-ợng đỉnh hai năm một lần và giữa hai cuộc họp cấp cao có các cuộc họp cấp Bộ tr-ởng và các cuộc họp quan chức để theo dõi việc thực hiện thoả thuận ASEM không có ban th- kí mà chỉ có nhóm điều phối viên bao gồm một n-ớc châu Âu và một n-ớc châu á để giải quyết công việc hàng ngày ASEM cũng không có một hiệp -ớc chính thức mà chỉ có Tuyên bố của Chủ tịch hội nghị làm văn bản hợp tác Điều

đó có nghĩa là ASEM không phải là diễn đàn để thoả thuận mà chỉ có tính chất tham khảo Nh-ng về lâu dài không loại trừ khả năng ASEM sẽ đ-ợc củng cố về mặt tính chất d-ới tác động của châu Âu và mong muốn của châu á về một diễn

đàn ASEM có hiệu quả hơn

Nh- vậy, khác với các tổ chức hợp tác liên khu vực đ-ợc thành lập tr-ớc

đó, ASEM có những đặc điểm riêng, phù hợp với sự đa dạng về tầm cỡ lãnh thổ, quy mô dân số, truyền thống lịch sử, văn hoá, thể chế chính trị và trình độ phát triển, mức độ hiểu biết lẫn nhau giữa các đối tác Để v-ợt qua những trở ngại đó, các nhà lãnh đạo ASEM đã xây dựng một cơ chế hợp tác vừa tôn trọng sự đa dạng của các đối tác, vừa thúc đẩy các quan hệ hợp tác Từ sự đa dạng về thành viên, tính chất của ASEM đ-ợc xác định là một Diễn đàn phi chính thức, phi thể chế hoá Do đó, ASEM đ-ợc lập ra là để bổ sung chứ không phải lặp lại công việc đã đ-ợc tiến hành bởi các diễn đàn khu vực và quốc tế khác

Hợp tác trong khuôn khổ ASEM là hoạt động đa chiều kích, đ-ợc triển khai đồng đều phù hợp với ba trụ cột của ASEM để đảm bảo quan hệ đối tác toàn diện; ASEM nhấn mạnh vào quan hệ đối tác bình đẳng, có lợi cho quá trình đối thoại, hợp tác; tiêu điểm của ASEM chính là Hội nghị cấp cao ASEM là sáng kiến từ trên xuống, nó đ-ợc khai sinh từ một hội nghị cấp cao Đặc điểm này cho thấy cam kết mạnh mẽ của các đối tác thành viên trong Diễn đàn hợp tác á - Âu

Trang 34

Trên cơ sở mục tiêu, nguyên tắc và cơ chế hoạt động, nền tảng của ASEM xoay quanh trọng tâm của ba lĩnh vực chính trị, kinh tế tài chính và văn hoá cũng nh- các lĩnh vực khác Sự hợp tác toàn diện của ASEM cho thấy, “ nó không chỉ nhằm mục đích tăng c-ờng quan hệ hợp tác, hiểu biết lẫn nhau giữa châu á và châu

Âu mà còn mang lại sự hoà bình, ổn định và cân bằng trong phát triển kinh tế của toàn cầu trên cơ sở cân bằng giữa ba đại khu vực của thế giới á - Âu – Mỹ” [28;39]

1.2.2 Quá trình phát triển của Diễn đàn hợp tác á - Âu (ASEM) từ 1996 đến 2006

1.2.2.1 Quá trình phát triển của ASEM

Từ năm 1996 đến nay, ASEM trải qua hai giai đoạn phát triển Trong mỗi giai đoạn phát triển đó, ASEM từng b-ớc tr-ởng thành và hoàn thiện về mọi mặt nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của các thành viên và xu thế phát triển chung của thế giới

Giai đoạn 1: Từ sau khi thành lập cho đến cuối năm 2003, ASEM chủ yếu tập trung vào hai hoạt động chính: Xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ hợp tác á

- Âu, cơ cấu tổ chức và điều phối các hoạt động của tiến trình; Tiến hành các hoạt động đối thoại hợp tác trên cả ba trụ cột chính trị, kinh tế, văn hoá [65;124] Những nội dung này đ-ợc thể hiện rất rõ trong các Hội nghị th-ợng đỉnh và các Hội nghị quan chức cấp cao của ASEM

Ngay sau hội nghị thành lập (1996), ASEM đã xúc tiến mạnh mẽ nhiều hoạt

động hợp tác nhằm phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Tại Hội nghị các Bộ tr-ởng Ngoại giao (FMM) ở Singapore (2/1997) Quỹ á - Âu (ASEF) đ-ợc thành lập với nguồn đóng góp tự nguyện từ các thành viên Hoạt động của ASEF đ-ợc tiến hành thông qua ba ch-ơng trình chính: Ch-ơng trình trao đổi tri thức; ch-ơng trình trao đổi văn hoá; và ch-ơng trình trao đổi nhân dân với nhân dân, do Ban thống đốc điều hành Trong lĩnh vực kinh tế cũng diễn ra nhiều hoạt động sôi nổi Tháng 9/1997, Hội nghị Bộ tr-ởng Tài chính lần thứ nhất tại Băng Cốc (Thái Lan)

và Bộ tr-ởng Kinh tế tại Makuhari (Nhật Bản) đã thúc đẩy hợp tác giữa hai khu vực trong th-ơng mại, đầu t- và hỗ trợ tài chính Các kế hoạch xúc tiến đầu t- (IPAP) và thuận lợi hoá th-ơng mại (TFAP) cũng đ-ợc chuẩn bị để đệ trình “ Một không khí hợp tác hào hứng đã lan tràn khắp cả châu á và châu Âu Nh-ng chính

Trang 35

trong lúc châu Âu đang say s-a khám phá lại châu á, thì một cơn bão khủng hoảng tài chính – tiền tệ đã ập tới châu lục này” [65;68] Cuộc khủng hoảng bắt

đầu từ Thái Lan sau đó lan nhanh sang các n-ớc ASEAN và các n-ớc Đông á khác Trong một thế giới đang toàn cầu hoá về kinh tế, các nền kinh tế quốc gia đã trở nên phụ thuộc lẫn nhau, cho nên nếu không sớm khắc phục khủng hoảng nguy cơ lây lan sang các nền kinh tế, nhất là các nền kinh tế đang phát triển là rất lớn

Do vậy, giúp đỡ châu á khắc phục hậu quả của khủng hoảng đã trở thành một yêu cầu cấp bách đặt ra cho cộng đồng quốc tế, trong đó có các đối tác ASEM

Hội nghị cấp cao á - Âu lần thứ hai (ASEM - 2) đ-ợc tổ chức tại Luân Đôn (4/1998), đã ra Tuyên bố về tình hình tài chính và kinh tế châu á, trong đó nhấn mạnh ảnh h-ởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tới kinh tế toàn cầu Cần phải tăng c-ờng vai trò của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đối với các mỗi quan ngại toàn cầu

Hội nghị đã xem xét những kết quả đạt đ-ợc của hợp tác á - Âu từ ASEM – 1 và tái khẳng định vai trò của ASEM trong việc tăng c-ờng quan hệ đối tác giữa châu á và châu Âu trên tất cả các lĩnh vực hợp tác Hội nghị đã thảo luận về một khuôn khổ hợp tác á - Âu và quyết định thành lập nhóm Tầm nhìn á - Âu (AEVG) với mục đích là vạch ra một tầm nhìn từ trung hạn tới dài hạn cho ASEM b-ớc vào thế kỉ XXI Nhóm cũng có nhiệm vụ đánh giá thành tựu và đ-a

Đối với các vấn đề toàn cầu, Hội nghị đánh giá cao những kết quả đạt đ-ợc trong việc cải tổ Liên Hợp Quốc, các lĩnh vực kiểm soát vũ khí, giải trừ quân bị và

Trang 36

không phổ biến vũ khí giết ng-ời hàng loạt…vấn đề Campuchia, Bán đảo Triều Tiên, Côxôvô đ-ợc thảo luận nh- là những vấn đề thuộc lợi ích chung

Về hợp tác kinh tế, các nhà lãnh đạo ASEM nhất trí củng cố hơn nữa WTO nh- một diễn đàn đa ph-ơng chính thức cho đàm phán và cung cấp các ph-ơng tiện cho quá trình tự do hoá th-ơng mại trên cấp độ toàn cầu Để hỗ trợ thiết thực cho các n-ớc châu á cải cách hệ thống tài chính, v-ợt qua khủng hoảng, Hội nghị quyết định thành lập Quỹ tín thác á - Âu (ASEM Trust Fund) do một số n-ớc EU và Trung Quốc tài trợ đặt tại ngân hàng thế giới với số tiền là 43,5 triệu USD Thông qua hai kế hoạch hành động: Kế hoạch hành động thuận lợi hoá th-ơng mại (TFAP), Kế hoạch hành động xúc tiến đầu t- (IPAP) và Nhóm chuyên gia đầu t- (IEG)

Về hợp tác trong các lĩnh vực văn hoá - xã hội, ASEM – 2 khẳmg định tầm quan trọng của việc thúc đẩy hơn nữa những sáng kiến trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội nhằm củng cố và đa dạng hoá hợp tác giữa cộng đồng các nhóm chuyên gia, các nhóm nghiên cứu ở hai châu lục Hội nghị hoan nghênh thành lập quỹ á - Âu và các sáng kiến của tổ chức Hội nghị các nhà lãnh đạo trẻ ASEM

Đối với các lĩnh vực khác, ASEM - 2 bày tỏ sự quan tâm tới các vấn đề toàn cầu nh- phát triển nguồn nhân lực bao gồm quản lí giáo dục, chống đói nghèo, nâng cao sức khoẻ cộng đồng, phúc lợi cho trẻ em và phụ nữ Các vấn đề liên quan đến môi tr-ờng, buôn lậu, rửa tiền và các loại tệ nạn xã hội khác đều phải đ-ợc quan tâm và cùng nhau giải quyết

Để thực hiện những quyết định của ASEM – 2, trong giai đoạn 1998 –

2000, các Hội nghị Bộ tr-ởng Tài chính, Bộ tr-ởng Kinh tế, Bộ tr-ởng Khoa học

và Công nghệ lần l-ợt đ-ợc tiến hành nhằm triển khai cụ thể các lĩnh vực hợp tác

mà Hội nghị th-ợng đỉnh đã thông qua Những hoạt động đó đã từng b-ớc khôi phục nền kinh tế Đông á sau cuộc khủng hoảng tài chính và điều quan trọng là

nó đã làm thay đổi trong quan hệ mậu dịch giữa hai châu lục có lợi cho châu á

Tháng 10/2000, Hội nghị th-ợng đỉnh á - Âu (ASEM – 3) đ-ợc tổ chức tại Xơun (Hàn Quốc) với chủ đề “ Quan hệ đối tác vì phồn vinh và ổn định trong thiên niên kỉ mới” Đây là Hội nghị cấp cao á - Âu đầu tiên trong thế kỉ XXI nên

nó mang rất nhiều ý nghĩa

Trang 37

Sau những thảo luận về những phát triển mới trong tình hình quốc tế và khu vực nh- sự phục hồi kinh tế ở các n-ớc châu á bị ảnh h-ởng bởi cuộc khủng hoảng Việc Campuchia tham gia ASEAN và những tiến bộ trong hợp tác Đông

á, việc Triều Tiên tham gia ARF hay châu Âu đ-a đồng Euro vào sử dụng đã góp phần vào sự nghiệp hoà bình và an ninh khu vực cũng nh- phát triển về hợp tác an ninh trong bối cảnh mới

Về đối thoại chính trị, Hội nghị đã ra “ Tuyên bố Xơun về hoà bình của Bán đảo Triều Tiên” đồng thời kêu gọi các bên tiếp tục phát huy những kết quả

đạt đ-ợc và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lôi kéo CHDCND Triều Tiên tham gia vào các cuộc đối thoại đa ph-ơng Hội nghị còn thảo luận các vấn đề khu vực khác nh- vấn đề Đông Timo, Nam Âu và Trung Đông Đối với các vấn

đề quốc tế, ASEM – 3 hoan nghênh kết quả đạt đ-ợc của Hội nghị thiên niên kỷ diễn ra tại Tổng hành dinh của Liên Hợp Quốc (9/2000) Các vấn đề cân bằng và

ổn định toàn cầu, tăng c-ờng các sáng kiến toàn cầu và khu vực về kiểm soát vũ khí, giải trừ quân bị và không phổ biến vũ khí giết ng-ời hàng loạt cũng đ-ợc đặc biệt nhấn mạnh Các nhà lãnh đạo còn bày tỏ cam kết đối với việc giải quyết các vấn đề toàn cầu nh- di c- bất hợp pháp, tội phạm xuyên quốc gia, rửa tiền, chủ nghĩa khủng bố, c-ớp biển buôn bán phụ nữ, trẻ em, và tình trạng giảm môi tr-ờng tự nhiên

Về hợp tác kinh tế và tài chính, các nhà lãnh đạo ASEM quyết định “ thúc

đẩy liên kết kinh tế hơn nữa giữa các đối tác ASEM nh- là một yếu tố sống còn của quan hệ đối tác mạnh mẽ giữa hai khu vực” [65;84] Để thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác đầu t-, các nhà lãnh đạo yêu cầu Bộ tr-ởng Kinh tế duy trì đà tiến triển để đảm bảo các giải pháp đ-ợc thực hiện một cách có hiệu quả Hội nghị nhấn mạnh vai trò của Diễn đàn doanh nghiệp á - Âu (AEBF) trong thúc

đẩy đối thoại và hợp tác giữa cộng đồng doanh nghiệp hai khu vực về th-ơng mại

và đầu t- Các nhà lãnh đạo mong muốn AEBF sẽ đóng góp vai trò tích cực hơn nữa trong các hoạt động thực hiện TFAP và IPAP Hội nghị hoan nghênh những tiến bộ đạt đ-ợc trong việc thực hiện những nguyên tắc tài chính vững chắc, để giám sát ngân hàng một cách có hiệu quả cũng nh- những thành tựu của Quỹ tín

Trang 38

thác ASEM trong việc làm giảm nhẹ ảnh h-ởng của cuộc khủng hoảng tài chính tới các n-ớc châu á

Về hợp tác trong lĩnh vực văn hoá - xã hội và các lĩnh vực khác, các nhà lãnh đạo ASEM đánh gia cao vai trò quan trọng của ASEF, nhấn mạnh tầm quan trọng của hợp tác giáo dục cũng nh- phát triển nguồn nhân lực, các nguồn lực xã hội, nhằm giảm bớt sự chênh lệch về kinh tế – xã hội trong từng n-ớc cũng nh- giữa các thành viên ASEM Ngoài ra, ASEM - 3 đã có một quyết định rất quan trọng đó là thông qua Khuôn khổ hợp tác á - Âu 2000 (AECF) AECF đã vạch ra tầm nhìn, những nguyên tắc và mục tiêu, lĩnh vực -u tiên và cơ chế của hợp tác á

- Âu trong thập niên đầu của thế kỉ XXI

Từ những kết quả của Hội nghị cấp cao Xơun, khác với hai hội nghị tr-ớc chủ yếu nhấn mạnh nhiều vào trụ cột kinh tế, ASEM – 3 đã chú trọng nhiều hơn tới trụ cột chính trị Đây có thể xem là mốc lịch sử quan trọng trong quá trình phát triển của tiến trình ASEM Cũng từ sau Hội nghị cấp cao á - Âu lần thứ 3, ASEM tiến hành nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy hợp tác giữa hai châu lục

Các Hội nghị Bộ tr-ởng Ngoại giao (FMM – 3) tại Bắc Kinh (5/2001) và FMM – 4 tại Madrid (6/2002) cũng đã thảo luận hàng loạt vấn đề từ cải tổ Liên Hợp Quốc tới tình hình Đông Timo, những phát triển mới trong ASEAN + 3 tới sự cần thiết tăng c-ờng Hợp tác á - Âu trong lĩnh vực chống tội phạm xuyên quốc gia, chủ nghĩa khủng bố quốc tế và thúc đẩy sự hiểu biết giữa các dân tộc khác nhau

Đáng chú ý nhất sau ASEM – 3 là Hội nghị Bộ tr-ởng tài chính ASEM lần thứ 3 (FinMM – 3) ở Kôbê (1/2001) với mục đích là tăng c-ờng hơn nữa Hợp tác á - Âu trong lĩnh vực kinh tế – tài chính và học tập kinh nghiệm của nhau Hội nghị FinMM – 3 còn thông qua ch-ơng trình hỗ trợ Quỹ Tín thác á -

Âu giai đoạn hai Đến FinMM – 4 họp tại Côpenhagen (7/2002) vấn đề tăng c-ờng vai trò của hệ thống tài chính quốc tế trong việc chống chủ nghĩa khủng

bố quốc tế nh- chống rửa tiền, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động khủng bố đ-ợc chú trọng

Đầu thế kỉ XXI, tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến hết sức phức tạp Mặc dù Nga và các n-ớc châu á đã v-ợt qua đ-ợc cuộc khủng hoảng tài chính nh-ng thế giới vẫn còn đó sự tiềm tàng của các cuộc khủng hoảng Trong

Trang 39

khi đó, quá trình toàn cầu hoá kinh tế đang ngày càng làm sâu sắc thêm khoảng cách giàu nghèo Chiến tranh cục bộ và các xung đột sắc tộc, tôn giáo vẫn diễn ra

ở nhiều châu lục Chủ nghĩa khủng bố đang lan tràn từ á sang Âu và cả Mỹ gây kinh hoàng cho thế giới bằng việc đánh sập toà tháp đôi Trung tâm th-ơng mại thế giới ở New York làm hàng ngàn ng-ời chết trong ngày 11/9/2001 “ Sự kiện này

ảnh h-ởng nặng nề tới tình hình chính trị, kinh tế toàn cầu, đ-ợc nhiều ng-ời nhìn nhận nh- là thời điểm kết thúc của thời kì hậu chiến tranh lạnh” [62;25]

Trong bối cảnh đó, tháng 9/2002 tại Côpenhagen (Đan Mạch), Hội nghị th-ợng đỉnh á - Âu lần thứ t- đ-ợc tổ chức d-ới chủ đề “ Thống nhất và lớn mạnh trong đa dạng”

Về đối thoại chính trị, những thách thức về an ninh mới sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 và mối đe dọa từ chủ nghĩa khủng bố quốc tế đã đ-ợc các nhà lãnh đạo ASEM cụ thể bằng việc thông qua Tuyên bố Côpenhagen về hợp tác chống khủng bố quốc tế Hội nghị đã hoan nghênh những kết quả đạt đ-ợc trong Tuyên bố chung liên Triều (15/6/2002) và tái khẳng định sự ủng hộ của ASEM

đối với tiến trình hoà giải và hợp tác giữa hai miền Triều Tiên Hội nghị thảo luận

về tình hình ở Iraq, Trung Đông, hoan nghênh việc EU phát hành đồng tiền Euro

và những kết quả khả quan trong tiến trình kết nạp thêm thành viên, coi đây là những nhân tố có tác động tích cực tới nền kinh tế thế giới

Về hợp tác kinh tế, sau những biến động ở châu á, các nhà lãnh đạo ASEM đã nhất trí với nhau là cần phải tránh việc phân chia thế giới thành ba khối NAFTA, EU và châu á ASEM đang tạo nên một biện pháp hiệu quả cho việc tham khảo và đối thoại tại vòng đàm phán Doha Tuy vậy, cần phải công bằng, minh bạch, đảm bảo sự tiến bộ đồng đều về các mặt trong ch-ơng trình Doha của WTO ASEM – 4 nhất trí hành động vì một quan hệ đối tác kinh tế chặt chẽ hơn

và giao nhiệm vụ cho các Điều phối viên ASEM thành lập nhóm đặc nhiệm xem xét các hoạt động trong cả ba lĩnh vực trụ cột của kinh tế là đầu t-, th-ơng mại và tài chính nhằm cân nhắc kế hoạch hành động

Để triển khai lĩnh vực này, hàng loạt các hoạt động ở cấp Bộ tr-ởng trở xuống đ-ợc tiến hành Tháng 6/2003, Hội nghị các quan chức cấp cao về Mậu dịch và Đầu t- (SOMTI – 9) đ-ợc tổ chức tại Pari Sau khi đánh giá kết quả đã

Trang 40

đạt đ-ợc trong việc thực hiện ch-ơng trình TFAP và IPAP, Uỷ ban châu Âu đ-a

ra chiến l-ợc cải thiện quan hệ kinh tế với ASEAN thông qua sáng kiến Mậu dịch xuyên khu vực EU – ASEAN (TREATI) nhằm hình thành một khuôn khổ thoả thuận song ph-ơng cho việc tăng c-ờng hợp tác và đối thoại trong các lĩnh vực khác nhau liên quan đến lợi ích kinh tế của cả hai bên Hội nghị EMM – 5 (7/2003) tại thành phố Đại Liên cũng đã thảo luận về những triển vọng phát triển của kinh tế toàn cầu và tác động của chúng tới cả hai châu lục

Về văn hoá - xã hội và các lĩnh vực khác, ASEM – 4 đặc biệt nhấn mạnh tới giá trị của sự đa dạng về văn hoá và văn minh giữa các n-ớc ASEM, tầm quan trọng của giáo dục và phát triển nguồn nhân lực và khẳng định quyết tâm thực hiện những cam kết tại Hội nghị Th-ợng đỉnh thế giới về phát triển bền vững cũng nh- Hiệp định khung của Liên Hợp Quốc trong việc đối phó với những thay

đổi về khí hậu và Nghị định th- Kyôtô

Nh- vậy, ASEM – 4 đã tạo nên nhiều động lực mới cho sự phát triển quan

hệ giữa hai châu lục á - Âu, nó thể hiện quyết tâm của các nhà lãnh đạo trong việc chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế cũng nh- việc trao đổi về văn hoá, văn minh giữa hai châu lục

Giai đoạn 2 bắt đầu từ năm 2004, ASEM đã có sự phát triển cả về l-ợng và chất Số l-ợng tham gia đã tăng từ 26 đến 39 thành viên, điều này đã làm cho ASEM trở thành một tổ chức hợp tác liên khu vực thu hút tới 2,3 triệu ng-ời chiếm 40% dân số và 50% GDP của thế giới ASEM đang quyết tâm chuyển sang một giai đoạn phát triển mới năng động hơn, thực chất hơn

Trong giai đoạn này, ASEM đang phải đối diện với nhiều khó khăn và thách thức mới do tình hình thế giới và hai khu vực diễn ra nhiều sự kiện quan trọng Mỹ phát động chiến tranh xâm l-ợc Iraq, lật đổ chính phủ hợp pháp Sátđam Hútxen Cuộc chiến chống chủ nghĩa khủng bố quốc tế do Mỹ cầm đầu

đã không mang lại kết quả nh- mong muốn, các hoạt động của bọn khủng bố quốc tế ngày càng tăng và đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới

Trên quy mô khu vực, cả châu á và châu Âu đang trải qua những b-ớc tiến quan trọng Liên minh châu Âu tiến hành đợt mở rộng mới với việc kết nạp thêm 10 thành viên đến từ Trung, Đông Âu (4/2004) Tr-ớc đó, vào tháng 10/2003, ASEAN

đã quyết định đ-a hội nhập ở khu vực Đông Nam á lên một nấc thang mới với việc

Ngày đăng: 02/12/2021, 23:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Hoài Anh, (2001), “ Quan hệ chính trị- ngoại giao giữa Việt Nam - EU từ khi kết thúc chiến tranh lạnh đến nay” , Nghiên cứu châu Âu, số 4, tr 66 – 75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ chính trị- ngoại giao giữa Việt Nam - EU từ khi kết thúc chiến tranh lạnh đến nay”
Tác giả: Mai Hoài Anh
Năm: 2001
2. Mai Hoài Anh, (2002), “ Chiến l-ợc châu á mới của EU và triển vọng quan hệ Việt Nam – EU nh÷ng n¨m ®Çu thÕ kû XXI” , Nghiên cứu châu Âu, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến l-ợc châu "á" mới của EU và triển vọng quan hệ Việt Nam – EU nh÷ng n¨m ®Çu thÕ kû XXI”
Tác giả: Mai Hoài Anh
Năm: 2002
3. BaLadas,(1997), “ ASEAN b-ớc vào thế kỷ XXI những thách đố tr-ớc mắt” , Nghiên cứu Đông Nam á, số 4, tr 18 – 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN b-ớc vào thế kỷ XXI những thách đố tr-ớc mắt
Tác giả: BaLadas
Nhà XB: Nghiên cứu Đông Nam á
Năm: 1997
4. Bộ ngoại giao, (1998), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN)
Tác giả: Bộ ngoại giao
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
5. Carlo Altomonte – Mario Nava (cb), (2004) Kinh tế và chính sách của EU mở rộng, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế và chính sách của EU mở rộng
Tác giả: Carlo Altomonte, Mario Nava
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
6. Nguyễn Cảnh Chắt, (2003), “ Xu thế phát triển EU trong thế kỷ mới” , Nghiên cứu Châu Âu, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu thế phát triển EU trong thế kỷ mới
Tác giả: Nguyễn Cảnh Chắt
Nhà XB: Nghiên cứu Châu Âu
Năm: 2003
7. Diễn văn của chủ tịch Trần Đức L-ơng khai mạc hội nghị cấp cao ASEM 5 (9/10/2004) Báo Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn văn của chủ tịch Trần Đức L-ơng khai mạc hội nghị cấp cao ASEM 5
8. Nguyễn Thị Mỹ Dung, (2004), “ Hợp tác á -Âu và vai trò của Việt Nam” , Nghiên cứu Đông Nam á, số 5, tr 78 – 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác á -Âu và vai trò của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Dung
Nhà XB: Nghiên cứu Đông Nam á
Năm: 2004
9. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
10. Ngô Hồng Điệp, (2005), “ Điểm t-ơng đồng và dị biệt giữa ASEAN và EU những thách thức trong bối cảnh toàn cầu hoá” , Nghiên cứu Châu Âu, số 6, tr 19 -25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm t-ơng đồng và dị biệt giữa ASEAN và EU những thách thức trong bối cảnh toàn cầu hoá
Tác giả: Ngô Hồng Điệp
Nhà XB: Nghiên cứu Châu Âu
Năm: 2005
11. Đặng Minh Đức, (2003), “ ASEAN một đối tác chiến l-ợc của Liên minh Ch©u ¢u” , Nghiên cứu Châu Âu, số 5, tr 110 – 118 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEAN một đối tác chiến l-ợc của Liên minh Ch©u ¢u
Tác giả: Đặng Minh Đức
Nhà XB: Nghiên cứu Châu Âu
Năm: 2003
12. Đặng Minh Đức, (2004), “ Vai trò và sự tham gia của n-ớc Đức trong ASEM” , Nghiên cứu Châu Âu, số 3, tr 54 – 63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò và sự tham gia của n-ớc Đức trong ASEM
Tác giả: Đặng Minh Đức
Nhà XB: Nghiên cứu Châu Âu
Năm: 2004
13. V-ơng H-ớng Đông, (2004), “ Vai trò và những đóng góp của Trung Quốc, Việt Nam trong hội nghị á- Âu” , Nghiên cứu châu Âu, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò và những đóng góp của Trung Quốc, Việt Nam trong hội nghị á- Âu
Tác giả: V-ơng H-ớng Đông
Nhà XB: Nghiên cứu châu Âu
Năm: 2004
14. Nguyễn An Hà,(2003), “ Toàn cầu hoá kinh tế một số tác động tới quá trình liên kết kinh tế EU- ASEAN” , Nghiên cứu Châu Âu, số 2, tr 8 – 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá kinh tế một số tác động tới quá trình liên kết kinh tế EU- ASEAN
Tác giả: Nguyễn An Hà
Nhà XB: Nghiên cứu Châu Âu
Năm: 2003
15. Nguyễn An Hà, (2004), “ Liên minh châu Âu với tiến trình ASEM, ,Những vấn đề liên quan đến th-ơng mại và đầu t-” , Nghiên cứu Châu Âu, số 3, tr 22 – 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên minh châu Âu với tiến trình ASEM, Những vấn đề liên quan đến th-ơng mại và đầu t-
Tác giả: Nguyễn An Hà
Nhà XB: Nghiên cứu Châu Âu
Năm: 2004
16. Nguyễn An Hà, (2004), “ Liên minh Châu Âu - đối tác chiến l-ợc của Việt Nam trong ASEM” , Nghiên cứu Đông Nam á, số 5, tr 59 – 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên minh Châu Âu - đối tác chiến l-ợc của Việt Nam trong ASEM
Tác giả: Nguyễn An Hà
Nhà XB: Nghiên cứu Đông Nam á
Năm: 2004
17. Minh Hảo,(2004), “ ASEM 5 sống động và thiết thực” , Nghiên cứu Châu ¢u, sè 5, tr 3- 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEM 5 sống động và thiết thực
Tác giả: Minh Hảo
Nhà XB: Nghiên cứu Châu Âu
Năm: 2004
18. Đào Minh Hồng, (2004), “ Về hợp tác á - Âu những năm đầu thế kỷ XXI” , Nghiên cứu Đông Nam á, số 5, tr 63 – 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hợp tác á - Âu những năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Đào Minh Hồng
Nhà XB: Nghiên cứu Đông Nam á
Năm: 2004
19. Nguyễn Văn Hồng (cb), (2003), Trung Quốc cải cách mở cửa những bài học kinh nghiệm, NXB chính trị Quốc Gia- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc cải cách mở cửa những bài học kinh nghiệm
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: NXB chính trị Quốc Gia- Hà Nội
Năm: 2003
20. Đỗ Hiền, (2003), “ ASEM châu Âu h-ớng về châu á- châu á h-ớng về ch©u ¢u” , Nghiên cứu Đông Nam á, số 6, tr 76 – 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ASEM châu Âu h-ớng về châu á- châu á h-ớng về ch©u ¢u
Tác giả: Đỗ Hiền
Nhà XB: Nghiên cứu Đông Nam á
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng Các chữ viết tắt - Hợp tác của hiệp hội các quốc gia đông nam á (asean) với liên minh châu âu (eu) và các nước đông bắc á trong diễn đàn hợp tác á   âu (asean) từ 1996 đến năm 2006
ng Các chữ viết tắt (Trang 5)
Một số hình ảnh về hoạt động của Diễn Đàn hợp tá cá âu (ASEM)  - Hợp tác của hiệp hội các quốc gia đông nam á (asean) với liên minh châu âu (eu) và các nước đông bắc á trong diễn đàn hợp tác á   âu (asean) từ 1996 đến năm 2006
t số hình ảnh về hoạt động của Diễn Đàn hợp tá cá âu (ASEM) (Trang 144)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w