Quan sát, tìm hiểu vấn đề này trong các tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về đề tài chiến tranh chính là một cách nhận diện sự trở về chính mình của văn học sau những hành trình gian na
Trang 1Hoàng Thị Hảo
Việc thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
về đề tài chiến tranh
(Khảo sát qua một số tác phẩm tiêu biểu)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
VINH - 2007
Trang 2Trường đại học vinh
Hoàng Thị Hảo
Việc thể hiện số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
về đề tài chiến tranh
(Khảo sát qua một số tác phẩm tiêu biểu)
Chuyên ngành: lý luận văn học
Mã số: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS PHAN HUY DŨNG
VINH - 2007
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Phạm vi tư liệu khảo sát 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp mới của luận văn 5
7 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 Số phận con người như một đối tượng khám phá, thể hiện quan trọng của văn học 6
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về việc khám phá, thể hiện số phận con người trong văn học 6
1.1.1 Vấn đề con người và quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 6
1.1.2 Quá trình gia tăng sự chú ý tới vấn đề số phận con người trong văn học 11
1.1.3 Vấn đề số phận con người trong văn học Việt Nam truyền thống và hiện đại 13
1.2 Nét đặc thù của việc khám phá thể hiện số phận con người ở tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học cách mạng Việt Nam trước 1975 17
1.2.1 Tô đậm “những lựa chọn cao cả” 17
1.2.2 Né tránh thể hiện những bi kịch số phận 21
1.2.3 Ưu tiên sự kiện hơn là tâm lý 23
Trang 4hiện số phận con người ở tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về
đề tài chiến tranh 24
Trang 51.3.3 Ảnh hưởng của mảng tiểu thuyết viết về đề tài chiến
tranh trong văn học thế giới 31
Chương 2 Những vấn đề của số phận con người được quan tâm, khám phá, thể hiện trong tiểu thuyết sau 1975 viết về đề tài chiến tranh 36
2.1 Quan hệ phức tạp, quanh co giữa ý thức nghĩa vụ và ý thức cá nhân của con người trong chiến tranh 36
2.1.1 Những lựa chọn không dễ dàng của con người và sự đè nén nhu cầu cá nhân 36
2.1.2 Sự đa dạng của những con đường ra với “tiền tuyến lớn” 39
2.1.3 Những khoảnh khắc yếu hèn rất con người 40
2.2 Bi kịch của tình yêu và hạnh phúc gia đình trong và sau chiến tranh 45
2.2.1 Những mất mát về hạnh phúc 45
2.2.2 Sự lệch pha trong cách nhìn nhận về cuộc sống do tác động của chiến tranh 50
2.2.3 Những hành trình gây dựng lại hạnh phúc bị tổn thương 53
2.3 Nhận thức mới về chiến tranh từ góc độ số phận con người 58
2.3.1 Chiến tranh còn là hậu chiến 58
2.3.2 Chiến tranh và sự bào mòn nhân tính 63
2.3.3 Chiến tránh thúc đẩy nhu cầu bảo vệ phẩm giá con người 66
Chương 3 Những thể nghiệm nghệ thuật tương ứng với cách nhìn nhận mới về số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 về đề tài chiến tranh 71
3.1 Đặt trọng tâm vào việc miêu tả “lịch sử con người” hơn là “con người trong lịch sử” 71
3.1.1 Bớt đuổi theo sự kiện mà xoáy sâu vào đời sống của nhân vật 71
Trang 63.1.3 Vấn đề con người “không trùng khít với chính mình” 80
Trang 73.2.2 Mối tương tác giữa thủ pháp đồng hiện và cấu trúc chung
của tác phẩm 84 3.2.3 Nét độc đáo trong việc sử dụng thủ pháp đồng hiện ở các
tác giả 85 3.3 Gia tăng tính triết luận 89
3.3.1 Sự cần thiết của việc gia tăng tính triết luận 89 3.3.2 Sự “hoà lẫn” giữa tác giả và nhân vật trong môi trường
triết luận 90 3.3.3 Những hình thức gia tăng tính triết luận ở các tác giả,
tác phẩm 92
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chiến tranh đã đi qua, đất nước đang hồi sinh và ngày càng phát triển
về mọi mặt Nhưng dấu ấn của một thời đau thương tàn khốc do bom đạn của chiến tranh vẫn còn in đậm trong ký ức của mỗi người Văn học giai đoạn sau
1975 luôn trăn trở đổi mới bởi đời sống xã hội thay đổi, thị hiếu bạn đọc thay đổi đã đòi hỏi người sáng tạo phải đổi mới tư duy nghệ thuật Văn học vẫn viết về chiến tranh, về những con người đã trải qua chiến tranh, nhưng các nhà văn đã đi sâu vào khám phá những cơ chế bí ẩn đã chi phối cuộc chiến cũng như cách con người tham gia cuộc chiến Các nhà văn cũng đã giúp người đọc hôm nay có một cái nhìn toàn diện hơn về hiện thực chiến tranh, về
số phận con người Những tìm tòi đó hết sức có ý nghĩa và cần được nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống
Thực ra, việc thể hiện số phận con người luôn là mối quan tâm hàng đầu của những nền văn học lớn, của những sáng tác văn học đích thực Quan sát, tìm hiểu vấn đề này trong các tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về đề tài chiến tranh chính là một cách nhận diện sự trở về chính mình của văn học sau những hành trình gian nan, vất vả, có cái được mà cũng có những cái mất Tiếp sau sự nhận diện đó, hẳn người nghiên cứu sẽ có cơ hội khám phá được nhiều điều về quy luật phát triển của văn học cũng như nhận rõ con đường đi tới của văn học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và giao lưu văn hoá hiện nay
Trang 9- Lại Nguyên Ân - Văn xuôi gần đây, diện mạo và vấn đề, Tạp chí
VNQĐ tháng1/1980
- Nhiều tác giả - Mấy nét chung quanh mảng văn học viết về chiến
tranh trong 35 năm qua, Tạp chí VNQĐ tháng 6/1980
- Bùi Việt Thắng - Văn xuôi gần đây và quan niệm về con người,
- Nhiều tác giả - Việt Nam nửa thế kỷ văn học, Nxb Văn học, 1996
- Nhiều tác giả - Một thời đại mới trong văn học, Nxb Văn học, 1996
- Nhiều tác giả - Văn học 1975 - 1985 tác phẩm và dư luận, Nxb Hội
Nhà văn, 1997
- Phong Lê - Văn học trên hành trình của thế kỷ XX, Nxb ĐHQG HN,
1997
- Phan Cự Đệ - Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb GD, 2001
Nhìn chung các bài nghiên cứu phê bình đều thống nhất ý kiến cho rằng: văn học viết về chiến tranh nói chung, tiểu thuyết về chiến tranh nói riêng đa dạng hơn, phong phú hơn, chân thực hơn, táo bạo hơn với nhiều suy ngẫm, nhiều khám phá
Nhà văn Chu Lai đã khẳng định sự chuyển hướng tư duy nghệ thuật của
các cây bút tiểu thuyết chiến tranh hôm nay qua việc nhìn nhận “không phải
chiến tranh biến con người thành những chi tiết trong bộ máy bạo lực chỉ biết bấm cò và chém giết, chiến tranh là điều kiện, là tình huống để đẩy suy nghĩ đời thường lên đến đỉnh điểm” [31;179] Nguyễn Hương Giang cũng
đồng nhất quan điểm “Sự thật về chiến tranh hôm nay được nhìn lại là một
Trang 10sự thật đã được trải qua những năm tháng day dứt trăn trở trong tâm hồn nhà văn, hơn thế nó thật sự là những nếm trải của người chịu trận, người trong cuộc” [12;114]
Trong cuộc gặp mặt và trao đổi về đề tài chiến tranh trong văn học 35 năm qua, ở các bài viết của mình nhiều tác giả cũng đưa ra ý kiến về vấn đề
này như Nguyễn Trọng Oánh đã nói “Phải lấy con mắt nhìn hôm nay để soi
vào sự kiện hôm qua, con mắt nhà văn hôm nay nhìn vào sự việc hôm qua thường tỉnh táo hơn, khách quan hơn, điều đó có thật Nhưng ngày hôm nay bao giờ cũng là ngày kế tiếp của ngày hôm qua Hiện thực luôn phát triển và
bổ sung cho nhau Cái hôm nay bao giờ cũng là do cái hôm qua mà có… Muốn có cái nhìn khái quát cần có cái nhìn cụ thể Phải nhìn cái cụ thể hôm qua thì mới có độ lùi khái quát hôm nay” [35]
Nhà văn Hữu Mai trong bài viết của mình cũng đã khẳng định “Tác
phẩm viết về chiến tranh đã mang những sắc thái mới Một số đi vào những
đề tài rộng lớn của chiến tranh, một số lại có xu hướng khai thác những bình diện chưa được đề cập nhiều trong những tác phẩm trước đây như: cái đau thương, cái mất mát, ác liệt, cái thấp hèn, những vấn đề thuộc đạo đức trong chiến tranh Tiểu thuyết hiện nay bám sát hiện thực, nhìn thẳng vào thực trạng, nói ra thẳng những gì mình và mọi người quan tâm” [26;93]
Ngoài các công trình, các bài nghiên cứu phê bình còn có các cuộc hội thảo luận bàn về tiểu thuyết viết về chiến tranh do báo Văn nghệ tổ chức vào
các năm như năm 1991 thảo luận về tiểu thuyết đoạt giải “Bến không chồng” của Dương Hướng; “Thân phận tình yêu” của Bảo Ninh Năm 1996 báo Văn
nghệ đặt ra vấn đề “Những vấn đề bức xúc đặt ra trong tiểu thuyết chiến
tranh” và gần đây nhất (năm 2002) tổ chức toạ đàm về “Lạc rừng” của Trung
Trung Đỉnh, “Cuộc đời dài lắm” của Chu Lai
Trang 11Nhìn chung tiểu thuyết viết về chiến tranh sau năm 1975 đã có những điểm mới mẻ hơn trong việc phản ánh đời sống mà đặc biệt là số phận con người trong cái hiện thực ấy Điều này cũng được Hồ Phương khẳng định:
“Nhà văn khám phá và biểu hiện tâm hồn tính cách, sức sống của con người qua những số phận rất khác nhau trong muôn vàn sự kiện xảy ra trong cuộc sống” [31;133]
Nhưng nhìn nhận một cách khách quan thì chưa có một bài viết, công trình nghiên cứu nào thể hiện một cái nhìn tổng quát, toàn diện, có hệ thống
về vấn đề thể hiện số phận con người ở tiểu thuyết về đề tài chiến tranh viết sau 1975 Vì vậy đi sâu vào nghiên cứu, để có một cái nhìn hệ thống về mảng
đề tài này vẫn là vấn đề cần thiết
3 Phạm vi tư liệu khảo sát
Với đề tài này, chúng tôi khảo sát chuyên sâu vào một số tác phẩm tiêu
biểu mà ở đó số phận con người được biểu hiện khá đậm nét như: Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Thân phận tình yêu (Bảo Ninh) và một số tiểu thuyết tiêu biểu của Chu Lai, Bến không chồng (Dương Hướng), Bến đò xưa lặng
lẽ (Xuân Đức), Lạc rừng (Trung Trung Đỉnh), Rừng thiêng nước trong
(Trần Văn Tuấn)
Ngoài ra chúng tôi còn đi vào một số tiểu thuyết trước 1975 về mảng đề tài này để đối sánh
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nhìn nhận lại vấn đề phản ánh số phận con người - một đối tượng khám phá, thể hiện trong văn học nói chung và ở mảng tiểu thuyết Việt Nam viết về đề tài chiến tranh nói riêng
Trang 12- Đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề của số phận con người được quan tâm khám phá thể hiện trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 ở đề tài chiến tranh
- Phân tích những thể nghiệm nghệ thuật mới của các nhà văn khi thể hiện mới về số phận con người trong các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống
- Phương pháp lịch sử - logic
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
6 Đóng góp mới của luận văn
Lần đầu tiên đi sâu vào nghiên cứu, chỉ ra những khía cạnh mới mẻ về nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 ở đề tài chiến tranh trong việc thể hiện số phận con người
7 Cấu trúc luận văn
Tương ứng với những nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần Mở
đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai
qua 3 chương:
Chương 1: Số phận con người như một đối tượng khám phá, thể
hiện quan trọng của văn học
Trang 13Chương 2: Những vấn đề của số phận con người được quan tâm
khám phá, thể hiện trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
về đề tài chiến tranh
Chương 3: Những thử nghiệm nghệ thuật tương ứng với cách nhìn
nhận về vấn đề số phận con người trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 về đề tài chiến tranh
Trang 14Chương 1
Số phận con người như một đối tượng khám phá,
thể hiện quan trọng của văn học
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về việc khám phá, thể hiện số phận con người trong văn học
1.1.1 Vấn đề con người và quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học
1.1.1.1 Những quan niệm khác nhau về con người trong triết học
Triết học được xem là phương pháp luận, là “khoa học của mọi khoa học” Vì vậy các nhà triết học đưa ra những quan niệm khác nhau của mình về con người thì ít nhiều đều ảnh hưởng đến các khoa học, trong đó có cả văn học nghệ thuật
Triết học phương Đông xưa quan niệm con người là tiểu vũ trụ, con người và vũ trụ giao cảm, hài hoà Còn ở phương Tây, do khoa học phát triển sớm, con người sớm tách khỏi vũ trụ để khẳng định mình như một thế giới
độc lập với vũ trụ Nhà triết học Đề-các từng nói: “Tôi tư duy tôi tồn tại”
Điều đó có nghĩa là sự tồn tại của con người không phải do sự quy định của một lực lượng siêu nhiên nào đó mà do chính quá trình hoạt động của mình
Chủ nghĩa duy tâm thì cho rằng con người cũng như toàn bộ thế giới này là do thượng đế sinh ra Từ đó họ cho rằng con người hoàn toàn bị động trước định mệnh Tômát Đacanh (1225 - 1274) đã khẳng định: con người do chúa trời tạo ra theo ý muốn của mình và sắp xếp các đẳng cấp khác nhau Quan niệm này vẫn được một số nhà triết học phát triển và nó ít nhiều ảnh hưởng đến quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học
Các nhà duy vật máy móc lại cho rằng: con người là sản phẩm của tự nhiên Tuy nhiên, con người cũng chỉ bị động trước thiên nhiên, trước sự chi phối của tự nhiên Và trong văn học chúng ta thấy xuất hiện một dòng văn
Trang 15học theo chủ nghĩa tự nhiên, xem con người trong mọi hoạt động mang tính bản năng của nó
Tiếp thu thành tựu của các nhà triết học trước đó đồng thời khắc phục hạn chế những nhược điểm, sai lầm của họ, triết học duy vật biện chứng của Mác đã khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” Điều này có nghĩa là con người tồn tại thông qua mối quan hệ với cộng đồng xung quanh, nhưng điều này không có nghĩa là con người tách khỏi tự nhiên, không có mối liên hệ với tự nhiên Theo cách nói của Mác thì chúng ta phải tính đến các quan hệ tự nhiên của con người hay các quan hệ tự nhiên của họ cũng được xã hội hoá Con người trong văn học được nhìn nhận, xem xét trong các mối quan hệ với cộng đồng, tự nhiên và cả chính bản thân mình Ở đó con người không đơn giản, xuôi chiều nữa mà phong phú, và phức tạp như chính bản thân con người trong cuộc sống, xã hội
1.1.1.2 Quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người
Văn học là nhân học Đối tượng chủ yếu của nó là con người Không thể lý giải thơ, văn mà bỏ qua con người được thể hiện trong đó Không chỉ
có con người thực tế, mà còn là quan niệm về con người ấy một cách thẩm
mỹ nghệ thuật, hay nói cách khác đó là quan niệm nghệ thuật về con người
Văn học là một sáng tạo nghệ thuật Nhiệm vụ của các nhà văn là sáng tạo ra những con người trong tác phẩm Họ tất yếu phải hình dung con người trên phương diện nghệ thuật Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm chỉ phạm vi sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của nhà văn
Nhà văn miêu tả con người trong tác phẩm không bao giờ là sự sao chép chụp ảnh, vì tâm hồn nhà văn không phải là tấm gương để cho sự vật phản chiếu vào Hơn nữa nhân vật trong tác phẩm phần nhiều không phải là
đã có sẵn để nhà văn cứ thể sao chép lại, mà nhà văn tạo ra nhân vật, nhà văn
Trang 16phải là “người thợ kim hoàn” năng động, tháo vát, kiên trì, để cho “đứa con tinh thần” của mình thêm lung linh toả sáng
Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc cảm nhận thẩm mỹ
về con người, nằm trong cách miêu tả, thể hiện của tác giả qua tác phẩm Hay nói một cách cụ thể, quan niệm nghệ thuật về con người là cách cắt nghĩa, cách đánh giá, lý giải của nhà văn về phẩm chất, số phận và tương lai của con người thông qua hệ thống hình thức nghệ thuật mà nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm
Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học có chịu ảnh hưởng quan niệm về con người của triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, pháp luật, nhưng quan niệm nghệ thuật về con người không giống với các quan niệm đó
mà là một sáng tạo nghệ thuật của nhà văn và nó không đồng nhất với các quan niệm kia
Chúng ta cần phân biệt được quan niệm nghệ thuật về con người như một phạm trù tư tưởng, đạo đức xã hội với quan niệm nghệ thuật về con người
như một phạm trù thẩm mỹ GS.TS Trần Đình Sử nhận xét rằng: “Việc phân
tích thi pháp nhân vật theo quan niệm của chúng tôi là miêu tả nhân vật, ít quan tâm đến nhân vật này, mà quan tâm đến con người được cảm nhận qua các nhân vật loại này, hoặc miêu tả nhân vật của tác giả này thuộc tác phẩm này” [41; 29]
Vấn đề quan niệm nghệ thuật về con người thực chất là “vấn đề mang
tính năng động nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực, lý giải con người bằng các phương tiện nghệ thuật, là vấn đề phạm vi chiếm lĩnh đời sống của một hệ thống nghệ thuật, là khả năng thâm nhập của nó vào các miền khác nhau của cuộc đời” [5; 20] Một khi chưa có sự đổi mới trong quan niệm nghệ
thuật về con người, thì sự tái hiện các hiện tượng đời sống khác nhau chỉ có ý nghĩa mở rộng trên cùng một chiều Việc đổi mới quan niệm nghệ thuật về
Trang 17con người theo hướng hiện thực khiến cho khả năng chiếm lĩnh con người của văn học ngày càng sâu sắc hơn, phong phú hơn và vì thế nhân bản hơn
Và nói đến quan niệm nghệ thuật về con người là nói đến sự sáng tạo chủ quan của người nghệ sĩ khi phát hiện những mặt khác nhau trong thế giới con người còn bị che lấp Ngay cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng, nó cũng là sự phản ánh, khám phá về con người của nhà văn Nó phản ánh cấu trúc nhân cách con người và các hình thức phức tạp tương ứng trong quan hệ nhân sinh Bởi vì, chính con người nhiều khi cũng không hiểu nổi chính bản thân mình mà chỉ có nghệ thuật mới phát hiện ra tính người chưa bị tiêu diệt hoàn toàn ở kẻ cướp Vì trong tình huống kia nó
là ác quỷ, nhưng trong tình huống này nó là thánh nhân Nhà văn muốn nêu quan niệm của mình về con người thì phải hiểu con người, và không nên đánh giá con người bằng những bản mẫu về những giá trị cho trước, cần phải khẳng định con người trong tình huống cụ thể để lý giải và đánh giá nó
Bên cạnh đó, quan niệm nghệ thuật về con người còn mang dấu ấn sáng tạo riêng của cá tính người nghệ sĩ gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ Vì vậy mà chính quan niệm nghệ thuật về con người rất riêng của mỗi nhà văn đã ảnh hưởng, chi phối đến cách xây dựng nhân vật, cũng như triển khai nội dung tác phẩm
Quan niệm nghệ thuật về con người ở từng nhà văn khác nhau là khác nhau, nhưng trong cùng một thời điểm, một thời đại, quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà văn lại có điểm tương đồng, đánh dấu trình độ chiếm lĩnh con người trong từng giai đoạn lịch sử
Cách mạng tháng 8-1945 thành công, mở ra thời đại mới trong lịch sử, đồng thời mở ra thời đại mới cho văn học Quá trình phát triển của văn học 1945-1975 gắn liền với một quan niệm nghệ thuật mới về con người Và đó chính là sự xuất hiện con người quần chúng, con người chính trị, con người công dân, những con người vì tập thể, vì nghĩa lớn, đẹp một cách hoàn thiện,
Trang 18hoàn mĩ Họ là những con người sử thi Nhưng sau 1975, khi hoà bình lập lại,
ta thấy có sự xuất hiện của con người đời tư - con người được nhìn nhận đầy
đủ với tất cả sự phong phú đa dạng, phức tạp, bí ẩn và đầy biến hoá của nó
Như vậy có thể nói rằng, quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn sẽ chi phối cách cảm thụ, cách cắt nghĩa, cách lý giải về con người, về cách xây dựng hình tượng con người Sự phát triển của văn chương gắn liền với sự phát triển trong quan niệm về con người của nhà văn
1.1.1.3 Sự thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm văn chương
Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúc của tác phẩm văn học (như trong đề tài, chủ đề, kết cấu, cốt truyện ) Nhưng
biểu hiện tập trung trước hết ở các nhân vật, bởi “nhân vật văn học là con
người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học”
(Giáo trình Lý luận văn học, tr.61) Nhân vật văn học nào cũng biểu hiện cách
hiểu của nhà văn về con người theo một quan niệm nhất định và qua các đặc
điểm mà anh ta lựa chọn Chẳng hạn ta thấy trong truyện cổ tích Tấm Cám,
Tấm và Cám là hai nhân vật khác nhau nhưng cùng thể hiện một quan niệm
nghệ thuật về con người Cũng vậy trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, Thuý
Kiều, Thuý Vân, Kim Trọng, Từ Hải là những nhân vật khác nhau nhưng đều thuộc một quan niệm nghệ thuật về con người
Và muốn tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con người thì phải xuất phát từ các biểu hiện của nhân vật, thông qua các yếu tố tạo nên nhân vật Người ta hiểu nhân vật văn học là một cấu tạo nghệ thuật bao gồm các yếu tố sau: cách xưng hô đối với nhân vật, tên gọi của nhân vật, chân dung nhân vật, ngoại hình, trang phục, hành động, tâm lý, sinh lý, ngôn ngữ, giao tiếp Và thông qua những sự biểu hiện của nhân vật, của con người trong tác phẩm thì
Trang 19chúng ta thấy rõ hơn về bức tranh đời sống trong tác phẩm cũng như là hiện thực cuộc sống mà tác giả muốn phản ánh
Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người được biểu hiện rõ nhất qua nhân vật Vì vậy, để miêu tả nhân vật thì chủ thể phải hiểu về con người
mà nhân vật là thể hiện cá biệt Từ cách xưng hô gọi tên, miêu tả hay không miêu tả chân dung, đến hành động được lặp đi lặp lại, tâm lí, ngôn ngữ của nhân vật đều thể hiện quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn Chẳng
hạn sự miêu tả chân dung nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam
Cao, đó không phải giản đơn là đặc điểm riêng cá biệt của nhân vật hoặc là loại của nó mà đây chính là quan niệm về con người của Nam Cao
Và chúng ta thấy rằng từ quan niệm nghệ thuật về con người của mình, mỗi nhà văn đều hướng cho mình sự thể hiện cuộc sống để đưa vào tác phẩm,
mà con người (nhân vật) là biểu hiện rõ nhất trong bức tranh đời sống tác giả sáng tạo nên
Tuỳ thuộc vào thế giới quan, vào cách cảm nhận vốn sống, nhu cầu thẩm mĩ và hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà mỗi nhà văn biểu hiện cuộc sống con người trong tác phẩm như thế nào Vì vậy mà trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, chịu sự áp bức của quân xâm lược thì cuộc sống con người hiện lên với bao khó khăn vất vả trong cảnh mất tự do, trong thân phận là người dân nô lệ Nhưng khi trong cảnh hoà bình, cuộc sống con người được ổn định, ấm no hơn thì con người lại hiện lên cuộc sống với bao lo toan vì cuộc sống cá nhân, riêng tư, với những sự phức tạp của nó
Ngược dòng thời gian, lần theo những trang sách trong từng tác phẩm ở từng xu hướng, trào lưu, giai đoạn văn học Chúng ta sẽ thấy rõ hơn về vấn
đề này
1.1.2 Quá trình gia tăng sự chú ý tới vấn đề số phận con người trong văn học
Trang 20Suốt một thời gian dài trung tâm chú ý của các nhà nghiên cứu, phê
bình, và giới sáng tác là mối quan hệ giữa văn học và chính trị Trong hoàn cảnh “văn học phục vụ chính trị”, các nhà văn chỉ mới có điều kiện quan tâm chủ yếu đến cái chung chứ chưa phải cái riêng, và do đó vấn đề số phận con người chưa có được vị trí xứng đáng của nó trong văn học Chúng ta vẫn bắt gặp con người nhưng phần lớn trong đó là con người - tập thể, con người - quần chúng, con người - nhân dân, chứ chưa phải là những cá nhân, những số phận Và trong điều kiện ấy, văn học phải quan tâm chủ yếu đến việc làm sao phản ánh hiện thực cho thật nhiều, ghi lại cho hay những biến động lớn lao của đời sống Do vậy, cũng số phận con người tuy có được khắc hoạ nhưng vẫn chưa ở vào vị trí trung tâm của tác phẩm
Khi nhiệm vụ của văn học là phục vụ chính trị đã tạm lắng xuống, cùng với những hiện thực mới được mở ra trong đời sống xã hội thì vấn đề con người, số phận con người được chú ý nhiều hơn trong văn học ở các tác phẩm
Nhiệm vụ mô tả con người trong văn học đặt ra cho giới sáng tác những yêu cầu mới Nhà văn có thể viết về nhà máy, hợp tác xã, công trường nhưng mối quan tâm chính của anh ta ở đây không phả là năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, cơ chế quản lý mà là quan hệ con người, là hạnh phúc, tình yêu, nỗi đắng cay hay sự hèn hạ của con người, là những giá thị nhân văn của cuộc sống Và khi viết về con người, các tác phẩm hướng vào việc khám phá “bước ngoặt” của con người, tạo ra những chân dung mới về các kiểu tính cách của con người để thực sự tác phẩm là những trang viết diễn tả sâu sắc thế giới nội tâm và đời sống tinh thần của con người Bởi tính chất “hướng nội”,
sự phát triển tâm lý phức tạp, chiều sâu và sự phong phú của các quá trình ý thức và vô thức là đặc điểm tinh thần của con người hiện tại
Trang 21Gia tăng sự chú ý tới vấn đề số phận con người cũng là một phương diện, một khía cạnh của sự “đổi thay”, “chuyển mình” trong văn học, đồng thời là biểu hiện của sự mới mẻ trong cách nhìn, cách phản ánh hiện thực cuộc sống, trong quan niệm về nghệ thuật, về con người của các nhà văn
Từ chỗ vấn đề trung tâm của các tác phẩm là vấn đề cái chung cao cả, liên quan tới sự nghiệp cách mạng và sự sống còn của dân tộc, dần dần, vấn
đề số phận con người được chú ý, đề cập nhiều hơn trong văn học Ta bắt gặp hàng loạt tác phẩm, trang viết về cuộc đời, số phận con người như số phận những người lính trở về sau chiến trận, bi kịch cuộc sống của những người phụ nữ trong và sau chiến tranh, rồi số phận của những người trí thức, nông dân Tất cả tạo nên số phận con người với sự đa dạng, muôn màu muôn vẻ cùng với chất hiện thực của đời sống
Chú ý tới vấn đề số phận con người, các tác giả dường như đưa văn học tìm lại những giá trị đích thực của nó Từ góc độ số phận của từng cá nhân, văn học tìm ra những vấn đề chung của cuộc sống, của xã hội
1.1.3 Vấn đề số phận con người trong văn học Việt Nam truyền thống và hiện đại
Văn học là nhân học, một khoa học về con người Bất cứ một nền văn học nào cũng lấy con người làm đối tượng chủ yếu, và chính việc quan tâm,
lý giải những vấn đề có liên quan đến con người làm nên đặc trưng của văn học nghệ thuật Vấn đề con người, số phận con người đã được đề cập đến từ lâu trong văn học Khi nền văn học đang còn mang tính chất sơ khai, ban đầu như văn học dân gian thì số phận con người đã được các tác giả dân gian đề cập Đó là số phận của nhân vật Tấm, Cám, mụ dì ghẻ trong truyện cổ tích
Tấm Cám, số phận của những người nông dân nghèo khổ, hiền lành như Sọ
Dừa trong truyện Sọ Dừa, anh thanh niên trong Cây tre trăm đốt
Trang 22Hay các tác giả dân gian cũng đã viết về số phận, cuộc đời của các cô gái qua những câu ca dao:
- Thân em như dải lụa đào Phất phơ trước gió biết vào tay ai
- Thân em như hạt mưa sa Hạt rơi xuống giếng, hạt ra ngoài đồng
Kết cục cuộc đời của nhân vật ở trong các truyện cổ tích, thần thoại hay một loạt từ “thân em” trong các câu ca dao đã bắt đầu báo hiệu sự đề cập, nói đến số phận của con người trong văn học Nhưng những số phận con người này đang mang tính chất chung chung, nó chưa phải là những số phận riêng
Đến văn học trung đại thì số phận con người được nói đến một cách rõ
hơn Chinh phụ ngâm khúc (thế kỷ XVIII) tập trung biểu hiện khát vọng
được hưởng hạnh phúc tuổi trẻ, cái phần vật chất nhất của con người Lý tưởng võ công, lý tưởng hiếu nghĩa vẫn còn được nhắc đến nhưng không còn
là niềm rung cảm Người chinh phụ nhân danh “khách má hồng” chịu nỗi
“truân chuyên” mà lên án “xanh kia”, không chấp nhận kiếp hy sinh chiến trường trong chiến tranh phi nghĩa:
Trong cánh cửa đã đành phận thiếp Ngoài mây kia há kiếp chàng vay?
Rồi Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều là sự oán hận về nỗi
cá nhân không có một chút quyền nào:
Quyền hạnh phúc trời tranh mất cả Chút tiện nghi chẳng trả phần ai Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm!
Trang 23Ta cũng bắt gặp những dòng thơ Nôm của Hồ Xuân Hương viết về thân phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến như chiếc bánh trôi ba chìm bảy nổi, những cảnh làm lẽ, kiếp chung chồng:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết về cuộc đời, số phận của Thuý
Kiều, sự đấu tranh lựa chọn giữa “bên tình bên hiếu”, mười lăm năm lưu lạc, cuộc đời làm lẽ, kiếp lầu xanh đầy tủi nhục Nguyễn Du và độc giả thương
cảm cho số phận một con người “hồng nhan mà bạc phận”, “chữ tài liền với
chữ tai một vần”
Nhìn chung vấn đề con người cá nhân, với những số phận đã được nói đến trong văn học trung đại Những số phận con người vẫn đang trong vòng kiềm toả của tư tưởng Đạo, Nho, Phật, tư tưởng trung nghĩa và chưa thể thoát
ra khỏi được những luật lệ, phép tắc của lễ giáo phong kiến
Sang văn học hiện đại thì vấn đề con người càng được đề cập nhiều hơn Đó là con người cá nhân cô đơn trong Thơ mới:
Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất
(Hy Mã Lạp Sơn - Xuân Diệu)
(Tràng giang - Huy Cận)
Trang 24Đặc biệt, ở tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, các tác giả đã đề cập đến những cuộc đời, số phận của những cô gái như Loan, Huệ phải chịu cảnh hôn nhân gượng ép không tình yêu, phải sống với những nhà chồng hà khắc
Đến văn học hiện thực phê phán, ta bắt gặp những số phận éo le của con người như số phận bị hà hiếp, thống trị của người nông dân bởi bọn quan lại thối nát, không có tính người Như cuộc đời anh Pha, chị Dậu, cô Mịch hay số phận của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao, một con người bị tước quyền sống làm người, biến đổi cả nhân hình lẫn nhân tính Nam Cao không chỉ viết về số phận những người nông dân như Lão Hạc, Chí Phèo mà ông còn dành nhiều trang viết về cuộc đời bi kịch của
những người trí thức, Hộ trong Đời thừa bị chuyện áo cơm đè nặng, đã phạm
vào lẽ sống tình thương và đạo đức nghề nghiệp do chính mình đặt ra Thứ
(Sống mòn) phải chịu kiếp mòn mỏi với những tính toán chi li của cuộc sống
Văn học cách mạng bên cạnh cảm hứng chính là viết để ca ngợi sức mạnh, chiến thắng của dân tộc thì cũng viết về cuộc đời, số phận của những con người phải chịu bom đạn chiến tranh Nhưng càng lùi thời gian về sau (sau 1975), cùng với sự thay đổi của xã hội, ngòi bút của các nhà văn đã có những chuyển hướng mới trong cách nhìn nhận, cách viết, và phản ánh hiện thực Giờ đây con người xuất hiện với sự phong phú đa dạng muôn màu muôn
vẻ, hay nói một cách khác là con người được tìm hiểu - khai thác ở nhiều tầng vỉa mới Tìm hiểu con người không chỉ còn là cái vẻ bề ngoài, những cái gì
mà nổi trội nhất, các cây bút còn đi sâu vào tìm hiểu thế giới nội tâm bên trong của con người Vì vậy mà số phận của con người được biểu hiện rõ nét hơn bao giờ hết Những con người mang đầy những bi kịch, số phận cả vật chất lẫn tinh thần
Như vậy chúng ta thấy rằng vấn đề số phận con người đã được đề cập rất sớm trong văn học Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử, từng thời kì phát triển của văn học, vào cách quan niệm con người mà vấn đề số phận con
Trang 25người được nhìn nhận và đề cập khác nhau Đồng thời nó cũng phụ thuộc rất nhiều vào yêu cầu văn học đặt ra, vào hiện thực cuộc sống, vào thị hiếu bạn đọc Theo suốt chặng đường phát triển của văn học, qua từng tác giả ở nhiều tác phẩm thì vấn đề về số phận con người luôn luôn là “một mảnh đất lạ mà quen”, hấp dẫn đến thú vị, gợi mở nhiều cảm hứng để các cây bút thả sức chiêm nghiệm, sáng tạo Và đây là một trong những yếu tố đem lại thành công cho mỗi tác phẩm, mỗi giai đoạn văn học Bởi viết về con người, về những số phận của họ, các nhà văn đã đưa văn học trở về với tính nhân văn
“Một yêu cầu quan trọng để tạo dựng được bức tranh của một thời chính là
việc miêu tả thành công những số phận trong đời Chính họ là các đơn vị bé nhỏ nhưng giàu năng lượng để nói lên tiếng nói của một thời đại Có biết bao nhiêu mẫu người mới lạ, hay có, dở có để khai thác, miêu tả” (Hà Minh Đức)
1.2 Nét đặc thù của việc khám phá thể hiện số phận con người ở tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học cách mạng Việt Nam trước 1975
1.2.1 Tô đậm “những lựa chọn cao cả”
Văn học cách mạng Việt Nam 1945-1975 là tiếng nói của Đảng, của
quần chúng cách mạng như Hồ chủ tịch đã khẳng định “Văn học nghệ thuật
cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sỹ trên mặt trận ấy” [10;131] Văn
học trong thời kỳ chiến tranh phải là tiếng nói của công lý chính nghĩa, cổ vũ chiến đấu cho lý tưởng độc lập tự do của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại Vì thế, nền văn học của chúng ta thời kỳ này phải bám rễ sâu trong nguồn lý tưởng cách mạng, đảm nhiệm vai trò tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu
Nền văn học 1945-1975 là sự kết tinh chín muồi của lý tưởng thẩm mỹ, rung cảm nghệ thuật Cuộc kháng chiến trường kỳ khốc liệt, quật cường, anh dũng đã tiếp nguồn cảm xúc, tác động đến thế giới quan của người sáng tác Văn học thể hiện khí phách cách mạng với những nét tươi nguyên, sống động,
Trang 26chân thực, khoẻ khoắn Trong bối cảnh phải theo sát bước đi của dân tộc, văn học giai đoạn này tất yếu nghiêng về mạch chảy của lịch sử sự kiện, của cả sự sống, tâm hồn dân tộc Đối tượng trung tâm mà văn học hướng tới là tầng lớp công nông binh, những chiến sỹ anh hùng đại diện tiêu biểu, kết tinh của lý tưởng cách mạng Những con người hết sức giản dị nhưng quả cảm, dám hi sinh cái tôi cho cái ta, hy sinh cái vị kỷ vì nghĩa cả Trong họ luôn luôn hun đúc một lý tưởng cách mạng, tất cả cho sự nghiệp chung của cách mạng, của dân tộc
Văn học giai đoạn năm 1945 - 1975 là văn học của những sự kiện lịch
sử, của số phận toàn dân, của chủ nghĩa anh hùng Nhân vật trung tâm là những con người đại diện cho giai cấp, dân tộc, thời đại Những con người này kết tinh một cách chói lọi những phẩm chất cao quý của cộng đồng, là hình tượng của thời đại Ở họ hiện lên những phẩm chất tốt đẹp, có một sự xác định chọn lựa đúng, cao cả về sự nghiệp chung của cách mạng
Cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc đã đem lại cho nhà văn những phát hiện lớn lao Trước hết đó là sức mạnh của dân tộc con người Việt Nam hiện ra với một vẻ đẹp mới lạ thường Và với sự nhạy cảm của mình, người nghệ sĩ đã nhận thức được sức mạnh của “cả dân tộc vươn mình tới ánh sáng”, nhà văn đã phát hiện ra hình tượng nghệ thuật quan trọng bậc nhất của văn học thời kì kháng chiến đó là con người quần chúng
Tô đậm những lựa chọn cao cả trong mỗi cá nhân con người đó là việc các nhà văn thể hiện, phản ánh chung cái không khí tưng bừng nhiệt huyết vì cách mạng, vì dân tộc của những con người phải sống trong cảnh đất nước có chiến tranh Họ sẳn sàng xả thân, hy sinh, chịu mất mát về quyền lợi cá nhân cho đất nước, dân tộc Họ xác định sự sống còn của đất nước cao hơn những
gì thuộc về cá nhân Dường như cái nhu cầu cá nhân, cái ý thức cá nhân bị lu
mờ đi trước cái ý thức cộng đồng tập thể Họ sẵn sàng hy sinh quyền lợi cá
Trang 27nhân (ước mơ, hoài vọng, sự nghiệp, tuổi xuân ) để “nhập cuộc”, và ngay cả
hy sinh đến tính mạng thì họ cũng không nuối tiếc
Ta bắt gặp hàng loạt sáng tác của các nhà văn dựng lên những con
người như thế Đó là anh hùng Núp trong tác phẩm Đất nước đứng lên của
Nguyên Ngọc Đây là một minh chứng về người anh hùng của quần chúng cách mạng, mang vẻ đẹp của quần chúng vừa phi thường, vừa bình thường
Hay như chị Út Tịch trong truyện kí Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, chị Sứ trong Hòn Đất của Anh Đức
Hòn Đất miêu tả về cuộc chiến đấu của nhân dân vùng Hòn thuộc tỉnh
Kiên Giang trong những ngày đầu chống Mỹ cứu nước Bọn Mỹ quyết tâm tiêu diệt đội du kích, thực hiện kế hoạch “tấn công dồn dập” Sứ - một thiếu phụ đẹp người đẹp nết bị bọn chúng bắt, trói chị suốt đêm bên bờ suối Dù đau đớn nhưng Sứ không nghĩ đến bản thân mình, và giữ vững tinh thần chiến đấu Trong tác phẩm ta còn bắt gặp một bà mẹ anh hùng vĩ đại khi bà có một
sự quyết định chọn lựa cao cả giữa tình cảm cá nhân (mẹ con) và quyền lợi của đất nước Bà Cà Sợi là mẹ của Xăm - một tên ác ôn khét tiếng đã từng
“mổ gan, lấy mật người gọn lẹ nhất” Sau cái chết của Sứ, bà đã như điên dại
vì thằng Xăm, con trai bà đã chém chết một người con gái không những được
cả xứ Hòn yêu mến mà còn là ân nhân cứu mạng của bà khi bà sinh Cà My Khi chém Sứ xong, Thằng Xăm trở về thăm mẹ, bà Cà Sợi làm cơm rượu mừng thằng Xăm để có ý định tự tay mình giết chết nó Cuốn tiểu thuyết đã xây dựng thành công hình tượng những người phụ nữ (má Sáu, Cà My, út Quyên, Sứ, bà Cà Sợi ) điển hình cho những phẩm chất cao quý của các mẹ, các chị ở miền Nam những năm chống Mỹ cứu nước
Tiếp tục nâng cao tinh thần chiến đấu của những người chiến sỹ cách
mạng, ở Một chuyện chép ở bệnh viện Bùi Đức ái đã xây dựng thành công
hình tượng chị Tư Hậu vừa chân thực, vừa sinh động với những cuộc đấu
Trang 28tranh quyết liệt của người mẹ giữa tình mẫu tử và nhiệm vụ cách mạng Gạt nỗi buồn đau sang một bên (chồng chị hy sinh) và sau bao nhiêu đấu tranh dằn vặt, chị quyết định gửi con để thoát ly đi hoạt động cách mạng Bọn giặc tìm cách bắt và hành hạ hai đứa con chị để hòng buộc chị phải ra hàng khai báo cơ sở địch hậu để lung lạc tinh thần chị Đã có những lúc chị tưởng chừng như không chịu đựng nổi
Trong sáng tác của các nhà văn giai đoạn này (trước 1975) những người lính xuất hiện trong tác phẩm trên nền phông sử thi và lãng mạn Họ là những con người sử thi, con người đại diện cho sức mạnh, ý chí khát vọng
của cộng đồng dân tộc đất nước Ở Dấu chân người lính những người lính đi
vào chiến dịch Khe Sanh (1968) dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu là những con người mang lý tưởng cách mạng lớn lao và ý chí mãnh liệt, tâm hồn của họ tràn đầy sức sống Và trong tác phẩm, vẻ đẹp của các thế hệ người lính được nhà văn miêu tả khá hoàn chỉnh Chính uỷ Kinh đại diện cho thế hệ cha anh đã từng tham gia đánh Pháp Là một người chỉ huy có tài, ông suốt một đời hy sinh quyền lợi cá nhân cho cách mạng, đồng thời ở ông còn nổi bật lên sự chân thành, khiêm tốn và thái độ ưu ái, nâng đỡ đối với lớp trẻ Nguyễn Minh Châu đã xây dựng nên cả một thế hệ người lính anh hùng Lữ
kế thừa tinh thần dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc của thế hệ cha anh đi
trước Suy nghĩ của Lữ đại diện cho lớp trẻ “chúng tôi đã chịu ơn lớp người
sinh ra mình và chúng tôi cần xứng đáng với những đứa con” [2; 420] Khi
giặc tràn đến, Lữ đã có hành động hết sức dũng cảm: anh đã gọi pháo của ta rót xuống bọn địch và cũng là chính ở trên đầu mình nữa, khi biết mình không thoát khỏi tay địch, anh đã nói dối là mình đã rút khỏi chốt để các bạn yên tâm Lữ điển hình cho lớp người mới trong quân đội ngày nay, người chiến sỹ
trẻ ở thời chống Mỹ Ở anh “chứa đựng cả niềm vui và nỗi buồn, cả hoài bão
và lý tưởng của cả một thế hệ trẻ” Đó là niềm say mê thực hiện vươn tới lý
Trang 29tưởng, là độ chín của sự giác ngộ giai cấp, là sự trưởng thành của nhân cách mới, là sự vững vàng về trí thức Bên cạnh nhân vật Lữ, ta còn thấy những gương mặt như Khuê, Lượng, Cận, Đàm Cách sống, sự suy nghĩ của họ
giống nhau Tất cả họ đều là những chiến sỹ đầy anh dũng hy sinh: “họ từ giã
gia đình, trường học, từ giã tương lai cuộc sống tốt đẹp, hết sức bảo đảm đã bắt đầu xây dựng cho họ, từ bỏ trái tim đang ửng hồng ở nhà để đi vào chiến đấu đầy vất vả hy sinh khá là vô tư, lạc quan, tươi trẻ” [2; 202-203]
Như vậy Nguyễn Minh Châu trong sáng tác trước 1975, qua tác phẩm
tiêu biểu Dấu chân người lính, đã đi vào khám phá, ca ngợi những người
chiến sỹ anh hùng.Đó là mẫu hình lý tưởng trong thời đại vinh quang và oanh liệt Những con người có cùng sự nghiệp chung là xả thân vì nghĩa lớn, vì tập thể Họ xuất hiện trong trang văn như là sự đại diện trọn vẹn cho đất nước, cho lý tưởng, cho lương tâm, khí phách của thời đại Nguyễn Minh Châu đã
đem đến cho người đọc vẻ đẹp người lính của hai thế hệ cùng ra trận “Lớp
cha trước, lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu quân hành” (Tố Hữu)
Có thể nói rằng trong các tiểu thuyết trước 1975 viết về chiến tranh, các nhà văn đã nghiêng ngòi bút của mình về sự ca ngợi, viết về những gì là cao
cả, vĩ đại, đẹp đẽ Họ hiện lên với vẻ đẹp toàn diện, một vẻ đẹp mang tính
chất sử thi, mang vẻ đẹp của cộng đông dân tộc; là “viên ngọc không tỳ vết”
Vì vậy mà ý kiến của một số nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá là: viết về những con người như vậy là khiếm khuyết, là công thức, đơn giản và sơ lược Thực ra, các nhà văn viết như vậy (tô đậm những lựa chọn cao cả) của những con người trong chiến tranh, cũng xuất phát từ những đặc điểm nền văn học giai đoạn trước 1975, do cách quan niệm nghệ thuật về con người của các cây bút lúc bấy giờ và đồng thời cũng do thị hiếu của bạn đọc thời điểm ấy, thích đọc và tìm hiểu những con người mang ý nghĩa tầm vóc của thời đại, tiêu biểu cho ý chí và cộng đồng
Trang 301.2.2 Né tránh thể hiện những bi kịch số phận
Có chiến tranh là có chiến thắng và có đau thương mất mát Sau những chiến thắng vĩ đại là sự đổ xuống của bao mất mát, đau thương Những con người mang khí thế tưng bừng ra chiến trường thì trong họ đã chôn vùi bao quyền lợi cá nhân, tuổi trẻ, sự nghiệp, tình yêu hạnh phúc nghĩa là bao số phận con người được biểu hiện và đặt ra Không phải các nhà văn không nhìn thấy những bi kịch số phận cuộc đời của con người, của nhân vật, mà trong các tiểu thuyết trước 1975 viết về chiến tranh, do nhiều yếu tố chi phối ngòi bút mà các nhà văn ít thể hiện những cái mất mát đau thương, số phận bi kịch con người
Trở lại những đặc điểm của nền văn học Việt Nam trong những năm chiến tranh (giai đoạn trước 1975), đó là một nền văn học phục vụ cho chính trị, phản ánh cuộc chiến đấu kiên cường anh dũng của quân và dân ta Một nền văn học dưới sự chỉ đạo của đường lối văn hoá văn nghệ của Đảng Và cảm hứng chung của văn học giai đoạn này là ca ngợi, là lãng mạn, ngợi ca cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc, ngợi ca những anh hùng của thời đại Do đòi hỏi của nền văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ chiến đấu, cho nên các nhà văn ở tác phẩm của mình cái được viết ra là cái được, cái chiến thắng nhiều hơn là cái đau, cái mất Và ở giai đoạn lịch sử này, trong không khí đất nước, dân tộc lúc bấy giờ nếu như đi sâu phản ánh, viết nhiều về bi kịch của con người thì sẽ tạo ra những trang viết có thể ảnh hưởng tiêu cực đến không khí tưng bừng sục sôi của cách mạng
Vì vậy mà trong các sáng tác viết về đề tài chiến tranh của văn học giai đoạn trước 1975, từ những truyện ngắn nho nhỏ đến những cuốn tiểu thuyết
dày mấy trăm trang như Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Hòn
Đất của Anh Đức có đến bao nhiêu là nhân vật với những cuộc đời khác
Trang 31nhau nhưng các nhà văn ít viết về số phận của họ Mà cảm hứng chính nổi lên trên tác phẩm là cái ý chí, tinh thần chiến đấu dũng cảm của họ
Nói tới chiến tranh chúng ta thường nghĩ ngay tới sự mất mát hy sinh đầy đau thương tang tóc Nhưng do yêu cầu bức thiết của hoàn cảnh, văn học phải hướng con người vào tương lai chiến thắng, phải vượt lên hoàn cảnh, xem cái chết nhẹ tựa “lông hồng” Cho nên vấn đề không có lợi cho cách mạng như cái chết, sự mất mát, tang tóc hầu như không được đề cập đến Nếu có thì cũng được các nhà văn phản ánh bằng hào khí, tâm lý của một dân tộc anh hùng Cái chết nếu có được nói đến thì cũng là “những cái chết hoá thành bất tử”, cũng là sự khẳng định cái chết bất diệt trường tồn của lý tưởng, cách mạng, của lòng quả cảm hi sinh cho đất nước, cho dân tộc
Như vậy, do đặc điểm chi phối của nền văn học mà ta thấy rằng ở các tiểu thuyết trước 1975 trong văn học cách mạng Việt Nam viết về đề tài chiến tranh, các nhà văn thường chú ý để biểu hiện được cái tinh thần cổ vũ chiến đấu cho cách mạng, cái không khí tưng bừng của cách mạng, nên cảm hứng bao trùm là lãng mạn, ngợi ca, viết ra những cái gì là được, là chiến thắng hơn
là mất mát, đau thương Vì thế trong tác phẩm của họ bạn đọc ít bắt gặp những bi kịch số phận nhân vật như trong một số tiểu thuyết cùng viết về đề tài này trong ở giai đoạn sau 1975
Né tránh thể hiện những bi kịch số phận con người cũng có nghĩa là các cây bút tiểu thuyết ở giai đoạn trước 1975 viết về chiến tranh đã đáp ứng đúng yêu cầu mà văn học đặt ra lúc bấy giờ, phù hợp với khuynh hướng thẩm mỹ, thị hiếu độc giả trong giai đoạn này Đồng thời góp nên những trang viết để làm rõ hơn đặc điểm của nền văn học Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử
1.2.3 Ưu tiên sự kiện hơn là tâm lý
Đọc các tiểu thuyết trước 1975 viết về đề tài chiến tranh, một đặc điểm
mà chúng ta dễ dàng nhận ra là: các nhà văn ưu tiên miêu tả sự kiện hơn là
Trang 32tâm lý Vì sao lại như vậy? Trở lại đặc điểm của văn học ở thời kỳ này chúng
ta thấy rằng: khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn chi phối rất mạnh sáng tác của các nhà văn Các nhà văn tập trung phản ánh những sự kiện, hiện tượng có ý nghĩa đối với vận mệnh dân tộc, với cuộc sống và sự đấu tranh anh dũng của nhân dân ta
Tác phẩm Sống mãi với thủ đô, Nguyễn Huy Tưởng dựng lại cả một
bức tranh Hà Nội ngổn ngang, xô bồ trong không khí nhiệt huyết cách mạng của ngày đầu kháng chiến chống Pháp Toàn dân Hà Nội tạo dựng trận địa chống Pháp ngay giữa lòng Thủ đô “mỗi phố là một mặt trận, mỗi nhà là một pháo đài”
Ở Hòn Đất, Anh Đức miêu tả về cuộc chiến đấu của nhân dân vùng
Hòn thuộc tỉnh Kiên Giang trong những ngày đầu kháng chiến chống Mỹ cứu nước Tác phẩm miêu tả rất nhiều sự kiện của cuộc chiến đấu giữa đội du kích
và bọn địch do thằng Xăm chỉ huy để biểu hiện rõ hơn sự độc ác của giặc và tinh thần chiến đấu dũng cảm của dân và quân ta Địch ném hàng trăm quả lựu đạn vào hang Hòn, thả thuốc độc xuống suối, bắt, tra tấn và chém chết chị
Sứ Để làm nổi bật tinh thần chiến đấu anh dũng của quân ta (qua hình tượng chị Sứ), Anh Đức không hướng ngòi bút nhiều vào việc miêu tả tâm lý, tâm trạng nhân vật mà lại chú ý miêu tả những sự kiện có tính chất tiêu biểu, thông qua đó làm rõ hơn tính cách hình tượng nhân vật Như là việc Sứ phải dùng đến ca nước cuối cùng dành cho con để nấu cháo cho hai du kích bị thương (Thắm và Bé), rồi việc Sứ đã lợi dụng chiếc micro kêu gọi anh em đừng uống nước suối và giữ vững tinh thần chiến đấu
Với Dấu chân người lính - một cuốn tiểu thuyết dày 500 trang,
Nguyễn Minh Châu đã dẫn dắt người đọc đi vào chiến dịch lớn của Quân giải phóng miền Nam với hàng loạt sự kiện: những chiến dịch Đường 9, Khe Sanh, Tà Cơn trong cảnh hành quân ban đêm xuyên rừng, xuyên núi; Những
Trang 33trận máy bay B52 ném bom theo toạ độ, một trận tập kích chớp nhoáng rất linh hoạt của các chiến sỹ ta, một trận đổ quân bất thần của địch
Điểm qua một số tiểu thuyết thì chúng ta nhận thấy: do đặc điểm trong
tư duy nghệ thuật, do sự chi phối chung của nền văn học lúc bấy giờ, các tiểu thuyết trước 1975 viết về đề tài chiến tranh chú ý miêu tả sự kiện nhiều hơn là miêu tả tâm lý nhân vật Từng có những ý kiến đánh giá: tiểu thuyết thời kỳ kháng chiến mới chỉ dừng lại những mốc, những sự kiện mà chưa có được
tầm khái quát cũng như tầm nhận thức chiến lược, bởi “những năm tháng sôi
nổi mãnh liệt đó, con người mới đã hiện ra nhưng các đường nét của tính cách vẫn còn đang phát triển, chưa ổn định Nhà tiểu thuyết bị lôi cuốn bởi những thác người cuồn cuộn đi vào cách mạng nên chưa đủ thời gian lắng lại
để tìm hiểu sâu vận mệnh và đời sống bên trong của những con người cụ thể”
[10]
Những hạn chế, thiếu hụt này sẽ được khắc phục ở tiểu thuyết giai đoạn sau (sau 1975) - trong điều kiện lịch sử xã hội mới Vì vậy mà trong các tác phẩm sau 1975 cũng viết về mảng đề tài này, các nhà văn chú ý miêu tả nhiều, sâu hơn đến tâm lý của nhân vật, vào cái thế giới bên trong mỗi con người
1.3 Những điều kiện đưa đến bước chuyển trong việc khám phá, thể hiện số phận con người ở tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 viết về đề tài chiến tranh
1.3.1 Hiện thực bề bộn của đất nước thời hậu chiến
Viết về đề tài chiến tranh, về bao cảnh chiến đấu dữ dội mà oanh liệt,
về con người trong những hoàn cảnh, lịch sử luôn là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà văn, nhà thơ ở cả hai giai đoạn trước và sau 1975 Các cây bút tiểu thuyết cũng không ngừng thể nghiệm ở lĩnh vực này Vì vậy ở thể loại tiểu thuyết đã xuất hiện hàng loạt tác phẩm gắn liền với những tên tuổi, như
trước 1975 có Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Một chuyện chép ở
bệnh viện của Bùi Đức Ái, Cửa sông, Dấu chân người lính của Nguyễn
Trang 34Minh Châu, Mặt trận trên cao của Nguyễn Đình Thi, Hòn Đất của Anh Đức Sau 1975 có hàng loạt tác phẩm tiêu biểu như Bến không chồng (Dương Hướng), Thân phận tình yêu (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng, Ba lần
và một lần, Vòng tròn bội bạc (Chu Lai), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Cửa gió (Xuân Đức), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh); Lạc rừng (Trung
Trung Đỉnh)
Cùng xuất phát từ một nguồn đề tài nhưng hiện thực xã hội ở những thời kỳ khác nhau đã chi phối đến tư tưởng thẩm mỹ, cách viết, xây dựng nhân vật và việc phản ánh chất hiện thực trong tác phẩm ở từng tác giả qua những tác phẩm có sự khác nhau Chẳng hạn cũng viết về sự tàn khốc huỷ diệt của chiến tranh, nhưng ở những tác phẩm trước 1975 ta bắt gặp sự ác liệt
dữ dội của những trận chiến dịch Nhưng trong các tác phẩm sau 1975, cái sự
ác liệt của chiến tranh không chỉ nằm ở những sự kiện, mà còn là sự mất mát đau thương của mỗi con người, những bi kịch đau đớn ở mỗi số phận nhân vật
Chính những chuyển biến lớn lao của đời sống xã hội đã tạo cho các nhà văn những tiền đề, những chất liệu để làm nên những tác phẩm đời hơn, thực hơn, đáp ứng được yêu cầu của xã hội, của văn học đặt ra Phan Cự Đệ
quả là có lý khi cho rằng: “Bầu sữa nuôi dưỡng tiểu thuyết bao giờ và trước
hết cũng là một cuộc sống thực với tất cả sự phong phú và phức tạp của nó Nhưng không phải cuộc sống nào cũng là mảnh đất thuận lợi của tiểu thuyết Thể loại văn học này đặc biệt phát triển trong những thời kỳ mà xã hội có những chuyển biến dữ dội” [10;191]
Với đại thắng mùa xuân năm 1975, nước nhà đã hoàn toàn thống nhất
Sự kiện vĩ đại này đã mở ra kỷ nguyên mới, vận hội mới Cuộc sống có nhiều biến động, đổi thay, những khó khăn lâu dài và trước mắt đang từng bước được khắc phục Tuy vậy cái xấu, cái ác, tệ nạn xã hội và những khó khăn
Trang 35phức tạp vẫn đang tồn tại trong cuộc sống Vì thế mà văn học phải có những đóng góp vào việc xác định những chuẩn mực, những giá trị chân chính trong
xã hội, mặc dù nhận thức được toàn diện “khuôn mặt” của cuộc sống mới không phải là điều dễ dàng
Đất nước bước vào thời kỳ hoà bình thống nhất Thế nhưng chiến tranh chưa thể là câu chuyện của ngày hôm qua, vẫn còn đó những đống hoang tàn
đổ nát, những đau thương mất mát, những di chứng của chiến tranh, và biết bao ngổn ngang xô bồ của thời hậu chiến Hậu quả, mặt trái của cuộc chiến vẫn đeo bám, in dấu trên từng gương mặt số phận
Sau 1975 với yêu cầu bức thiết của lịch sử, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong văn học không còn phù hợp, không đáp ứng với thị hiếu thẩm mỹ của người tiếp nhận Nhu cầu cổ vũ, động viên, ca ngợi không
còn là vấn đề bức xúc cấp thiết nữa “Người đọc mới hôm qua còn mặn mà là
thế mà bỗng dưng bây giờ quay lưng lại với anh” [29; 57]
Và cũng trong thời kỳ này được sự động viên khuyến khích của Đảng,
văn học của chúng ta đã có sự cách tân đổi mới Nghị quyết 05 của Bộ Chính
trị về Văn học nghệ thuật đã tạo điều kiện cho văn học nói chung và văn xuôi
nói riêng phát triển Nó mang những tố chất mới so với thời kỳ trước Văn học nghệ thuật không chỉ được hiểu một các đơn giản máy móc như là công
cụ chính trị, vũ khí tư tưởng Nó không hề từ bỏ vai trò vũ khí tinh thần - tư tưởng, nhưng vai trò khám phá thực tại, thức tỉnh ý thức về sự thật, dự báo, dự cảm lúc này phải được đặc biệt nhấn mạnh
Sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài và chủ
đề mới làm thay đổi quan niệm về con người Văn học ngày càng đi tới một quan niệm sâu sắc hơn về con người Con người vừa là điểm xuất phát, là đối tượng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của văn học, đồng thời cũng là điểm quy chiếu, là thước đo giá trị của mọi vấn đề xã hội, mọi sự kiện
và biến cố lịch sử Vì vậy mà nhà văn Nguyễn Minh Châu trong một lần trả
Trang 36lời phỏng vấn của báo Văn nghệ đầu năm 1986 đã phát biểu: “Văn học và đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó là con người Người viết nào cũng có tính xấu nhưng tôi không thể nào tưởng tượng nổi một nhà văn
mà lại không mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu thương con người Tình yêu này của người nghệ sỹ vừa là một niềm hân hoan say mê, vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải Cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình, nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnh của người đời, giúp họ có thể vượt qua những khủng hoảng tinh thần và đứng vững được trước cuộc sống”
Ở bình diện tư duy nghệ thuật cũng có sự đổi mới: văn xuôi sau 1975 chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết Văn học lúc này không chỉ chú trọng vào hai đề tài Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội như trước, một mảng hiện thực lớn trước đây hầu như bị bỏ quên nay được đặc biệt chú ý: đó là vấn
đề đời tư đời thường và thế sự đạo đức
Như vậy hiện thực đất nước sau 1975 có nhiều chuyển biến phong phú,
đa dạng đã tạo nên những cơ sở, những chất liệu mới để các nhà văn có
những thay đổi, khám phá mới về con người trong và sau chiến tranh “Văn
xuôi sau 1975 đã chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết Cuộc chiến đã lùi vào dĩ vãng, sau một quãng lùi lịch sử, sau một khoảng cách thời gian chất sử thi nhạt dần, cảm hứng sáng tạo chuyển từ ngợi ca, tự hào, khâm phục đến chiêm nghiệm, lắng đọng suy tư Thay vì cách nhìn đơn giản rạch ròi thiện ác, bạn thù, cao cả, thấp hèn là cách nhìn đa chiều, phức hợp về hiện thực và số phận con người.” [43]
1.3.2 Sự trăn trở về thiên chức của nhà văn
Như chúng ta biết rằng, ở mỗi thời điểm lịch sử, quan niệm về văn chương có biến đổi phù hợp với yêu cầu và tâm lý công chúng văn học Quan niệm về văn học thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi quan niệm về nhà văn, về
Trang 37thiên chức của nhà văn trong đời sống xã hội Sự chuyển biến của văn học trước hết ở sự chuyển biến trong ý thức của người cầm bút Sau 1975 đến nay, thì nhu cầu đổi mới cách viết, cách nghĩ, đổi mới để tồn tại và phát triển càng trở nên cấp thiết
Khi nói tới sự trăn trở của các nhà văn nghĩa là chúng ta tiếp cận, tìm hiểu những phương diện trong tư tưởng của nhà văn Nếu như nhà văn không
có sự “trăn trở” trong dòng suy nghĩ là “viết cái gì”, “viết như thế nào” thì có
lẽ tác phẩm khó đi đến thành công Hay đó chính là sự tìm tòi trong sáng tạo nghệ thuật Đại văn hào Nga L.Tônxtôi đã từng nói: “Nghệ thuật là kính hiển
vi mà nghệ sỹ soi vào những bí ẩn của tâm hồn mình và trình bày những bí ẩn chung cho tất cả mọi người” (Dẫn theo Nguyễn Hải Hà [13]) Hay hơn nửa
thế kỷ trước, nhà văn hiện thực Nam Cao đã nói: “Văn chương không cần đến
những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa
ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Đời thừa)
Giai đoạn 1945 - 1975, với nguyên lý “văn học phản ánh hiện thực”, văn học trở nên gắn bó với đời sống xã hội hơn, theo sát từng biến cố lịch sử, từng bước phát triển của phong trào cách mạng Hiện thực được lựa chọn là hiện thực chính trị rộng lớn, là những đề tài lớn như công-nông-binh Và sáng tác thường thiên về hướng ca ngợi một chiều, tô hồng Do hoàn cảnh chiến tranh luôn phải đánh giá đời sống theo lập trường ta - địch nên việc xử lý chất liệu hiện thực ở từng tác phẩm chủ yếu theo tinh thần đường lối chính sách của Đảng Nhưng sau 1975 với nhu cầu được “nói thật” và quan hệ nhà văn với hiện thực đã có thay đổi Đây là một tâm lý xã hội điển hình, một nhu cầu khẩn thiết về chân lý Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng tại đại hội VI nói rõ: “Thái độ của Đảng ta trong việc đánh giá tình hình là nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” Nghị quyết 05 của Bộ chính trị cổ vũ văn nghệ sỹ: “Tiếng nói của văn nghệ hiện thực xã hội
Trang 38chủ nghĩa Việt Nam phải là tiếng nói đầy trách nhiệm, trung thực, tự do, tiếng nói của lương tri, của sự thật, của tinh thần nhân đạo cộng sản chủ nghĩa” Sự
ra đời của một số tác phẩm như Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Gặp gỡ
cuối năm (Nguyễn Khải), Hai người trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Năm 1975 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí
Huân) cho thấy văn xuôi đã có sự nới rộng phạm vi hiện thực, bổ sung vào những mảng chưa được nói tới (những thời điểm khốc liệt, những mất mát to lớn, những tiêu cực trong nội bộ ta ) Vì vậy mà văn học đi từ “phản ánh hiện thực” đến “nghiền ngẫm về hiện thực” Vai trò chủ thể của nhà văn tăng lên, chủ động đối với việc lựa chọn hiện thực, chủ động về tư tưởng
Từ mối quan hệ giữa nhà văn với hiện thực, vấn đề nhà văn trong quan
hệ với công chúng được đặt ra Trong văn học cách mạng (trước 1975) nhà văn tự ý thức về mình trước hết như một cán bộ tuyên huấn, người truyền bá chủ trương chính sách của Đảng qua phương tiện văn học Văn xuôi sau 1975
là sự đối thoại với văn xuôi trước 1975 và đối thoại với bạn đọc về những vấn
đề của đời sống, nhìn hiện thực trong sự vận động không ngừng, không khép kín, nhìn con người ở nhiều toạ độ, nhiều thang bậc giá trị Nhà văn có sự nhìn nhận, suy ngẫm mới về mối quan hệ giữa văn học với hiện thực, với
công chúng: “tôi muốn dùng ngòi bút tham gia trợ lực vào cuộc đấu tranh
giữa cái xấu và cái tốt, bên trong mỗi con người, một cuộc giao tranh không
có gì ồn ào nhưng xảy ra từng ngày, từng giờ trên khắp các lĩnh vực cuộc sống” (lời phát biểu của nhà văn Nguyễn Minh Châu trên báo Văn nghệ số
6/1989)
Với một nhà văn, đổi mới không phải là vấn đề cách tân hình thức, thay đổi cảm xúc hay khu vực đề tài, thay đổi các thủ pháp biểu hiện, mà quan
trọng hơn đó là tư tưởng Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: “Tư
tưởng nghệ thuật mới là cái giá trị của một nhà văn, làm nên gương mặt riêng, phong cách riêng của tác giả” [28;78] Trước đây do yêu cầu lịch sử,
Trang 39vấn đề quan trọng là vấn đề cộng đồng, bây giờ đổi mới tư duy, định vị lại giá trị cá nhân, vì thế mà trong văn học, ý thức cá tính trở thành một nhu cầu thường trực Vì thế mà trong quan niệm, sáng tác của các tác giả đã có sự thay đổi Chẳng hạn trước đây trong tác phẩm viết về chiến tranh và người lính của Nguyễn Minh Châu, với cảm hứng lãng mạn ông thể hiện thái độ chiêm bái đắm say vẻ đẹp lý tưởng của những nhân vật anh hùng, những con người
mang tầm vóc dân tộc và thời đại (Cửa sông, Dấu chân người lính, Mảnh
trăng cuối rừng ) Bây giờ phát hiện ra con người phức tạp “nhiều chiều”,
ông muốn sử dụng một thước đo khác - thước đo nhân bản - để định giá con người từ mọi hành vi sống Nhờ thước đo này, Nguyễn Minh Châu giúp người đọc nhận ra “những hạt ngọc ẩn kín trong tâm hồn con người”, nhận ra cuộc đấu tranh muôn đời giữa cái thiện và cái ác, phần tối và phần sáng nơi mỗi người, tránh được cái nhìn đơn giản, dễ dãi hoặc lý tưởng hoá, thần thánh hoá con người
Và xét cho đến cùng mọi sự đổi mới, cách tân văn học đều xuất phát từ
sự đổi thay về tư duy nghệ thuật, đặc biệt là sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người Trong văn học Việt Nam, quan niệm nghệ thuật về con người luôn luôn có sự vận động và phát triển Hiện thực xã hội thay đổi tác động rất lớn đến quan niệm, suy nghĩ về cuộc sống và con người của nhà văn:
“Khi những biến động xã hội luôn luôn tác động đến cuộc sống, và nhân sinh
luôn đặt ra những câu hỏi và giày vò lương tâm của mỗi con người thì người viết cũng phải suy nghĩ và có thái độ thích hợp” [24;32]
Trước đây với tư duy sử thi và cảm hứng lãng mạn, cách nhìn cuộc đời
và con người của các nhà văn chủ yếu là cách nhìn đơn giản, một chiều, phiến diện và hết sức rạch ròi thiện - ác; địch - ta; cao cả - thấp hèn, không hề có sự pha trộn trong các lĩnh vực ấy Người đọc có cảm giác nắm bắt, hiểu được con người một cách dễ dàng Nhưng văn học sau 1975 chuyển sang cảm hứng đời tư, thế sự, các nhà văn trăn trở hơn về những hiện thực cuộc sống Vì vậy
Trang 40trên những trang văn, cuộc sống hiện lên với đầy đủ sự sinh động, phức tạp và nhiều màu sắc như nó vốn có Đồng thời con người được cảm nhận là một tiểu vũ trụ vô cùng phức tạp, chiều sâu tâm hồn khó nắm bắt Nhiều khía cạnh mới trong tính cách con người đời thường được các nhà văn sau 1975 khám
phá khai thác: “Đó là những con người được nhìn nhận trong nhiều mối quan
hề phong phú và phức tạp, con người với những niềm vui và nỗi buồn, trong
sự phấn khởi và khổ đau, trong niềm tin và hoài nghi chiến thắng Họ đẹp trong chất thép và cả sự mềm yếu” [40;10]
Có thể nói rằng, ở các tiểu thuyết sau 1975 viết về đề tài chiến tranh, các nhà văn hầu như đã xác định rõ hơn thiên chức của mình trong việc phản ánh đời sống, đưa văn học trở về đúng với đặc trưng cơ bản của nó, và văn học ngày càng trở nên đời hơn, người hơn
1.3.3 Ảnh hưởng của mảng tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh trong văn học thế giới
Không chỉ văn học Việt Nam mới viết về đề tài chiến tranh Chiến tranh cũng là đề tài, nguồn cảm hứng sáng tạo của nhiều nhà thơ, nhà văn trên thế giới Miêu tả nỗi bất hạnh của con người trong chiến tranh cũng là một
cách để các nhà văn phản đối chiến tranh Nhà thơ Đỗ Phủ với chùm thơ Tam
lại, Tam biệt, Binh xa hành nổi tiếng đã nói lên nỗi oán hờn của con người:
Cha mẹ vợ con chạy theo đưa tiễn Níu áo, dậm chân, ngăn đường cùng nhau kêu khóc Tiếng khóc vang mây xanh
Và
Từ xưa xương trắng chôn vùi
Ma mới oán thán ma cũ khóc Tiếng rên rỉ trong mưa rả rích, dưới trời âm u
(Binh xa hành - Đỗ Phủ)