TỔNG QUAN
BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2017, bệnh đái tháo đường typ 2 là một rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose huyết do thiếu hụt insulin hoặc sự kháng insulin Tình trạng tăng glucose mạn tính kéo dài có thể dẫn đến rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protein và lipid, gây tổn thương cho nhiều cơ quan, đặc biệt là tim, mạch máu, thận, mắt và hệ thần kinh.
Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2019), đái tháo đường là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hóa đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose huyết Nguyên nhân chính của tình trạng này là do thiếu hụt insulin hoặc sự khiếm khuyết trong hoạt động của insulin, hoặc cả hai Nếu không được kiểm soát, tình trạng tăng glucose mạn tính có thể dẫn đến tổn thương và rối loạn chức năng của nhiều cơ quan trong cơ thể, đặc biệt là mắt, thận, tim và mạch máu.
1.1.2 Dịch tễ bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là một bệnh mạn tính không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu bên cạnh các bệnh tim mạch, ung thƣ… Theo thống kê của Liên đoàn đái tháo đường thế giới (International Diabetes Federation - IDF) năm
Năm 2019, trên toàn cầu có 463 triệu người trong độ tuổi 20-79 mắc bệnh đái tháo đường, chiếm 9,3% dân số thế giới, chủ yếu ở nhóm tuổi trên 60 Dự báo đến năm 2045, số người mắc bệnh này sẽ tăng lên khoảng 700 triệu, tương đương 1 trong 10 người trưởng thành Theo thống kê của IDF, năm 2019 có 4,2 triệu ca tử vong do đái tháo đường.
Năm 2019, chi phí liên quan đến đái tháo đường đạt 760 tỷ đô la Tại Việt Nam, nghiên cứu năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết Trung ương cho thấy tỷ lệ mắc đái tháo đường ở người trưởng thành là 5,4%, trong đó 63,6% chưa được chẩn đoán Theo thống kê của IDF năm 2019, Việt Nam có hơn 3,7 triệu người mắc đái tháo đường, với khoảng 53,4% chưa được phát hiện Đái tháo đường là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 30.000 người trưởng thành mỗi năm, và chi phí điều trị ước tính là 322,8 đô la/người hàng năm.
Đái tháo đường đang trở thành một vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, không chỉ ở các quốc gia phát triển mà còn ở các nước đang phát triển như Việt Nam.
1.1.3 Phân loại đái tháo đường
Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2019) và hướng dẫn chẩn đoán, điều trị đái tháo đường type 2 của Bộ Y tế (2017), bệnh đái tháo đường được phân loại rõ ràng để hỗ trợ việc chẩn đoán và điều trị hiệu quả.
- Đái tháo đường typ 1: do tế bào β của tuyến tụy bị phá vỡ, thường dẫn đến thiếu hụt insulin tuyệt đối
- Đái tháo đường typ 2: do quá trình giảm tiết insulin trên nền tảng đề kháng với insulin
Đái tháo đường thai kỳ là tình trạng đái tháo đường được phát hiện trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ, không có dấu hiệu của đái tháo đường typ 1 hoặc typ 2 trước đó.
Đái tháo đường (ĐTĐ) chuyên biệt có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm ĐTĐ sơ sinh, ĐTĐ do sử dụng thuốc và hóa chất như glucocorticoid, điều trị HIV/AIDS, hoặc sau khi cấy ghép mô Đặc biệt, ĐTĐ ở người trẻ thường xuất hiện trong độ tuổi trưởng thành.
1.1.4 Cơ chế bệnh sinh đái tháo đường typ 2
Hai yếu tố đặc trưng trong cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường typ 2 là rối loạn tiết insulin và đề kháng insulin kết hợp với nhau [7], [13], [23]:
Rối loạn tiết insulin xảy ra do sự bất thường trong việc bài tiết insulin của tế bào β ở đảo tụy, dẫn đến các vấn đề như rối loạn nhịp tiết, động học insulin và số lượng tế bào β tiết insulin không đủ để duy trì chuyển hóa glucose bình thường trong cơ thể Thiếu hụt insulin thường xuất hiện sau giai đoạn tăng insulin máu nhằm bù đắp cho tình trạng kháng insulin Kháng insulin có thể biểu hiện qua việc giảm khả năng ức chế sản xuất glucose tại gan, giảm khả năng thu nạp glucose ở mô ngoại vi và giảm khả năng sử dụng glucose ở các cơ quan.
Yếu tố di truyền cũng ảnh hưởng đến tình trạng kháng insulin Béo phì, đặc biệt là béo bụng, cùng với tuổi tác cao và lối sống ít vận động, đều góp phần gây ra kháng insulin.
1.1.5.1 Các biến chứng cấp tính
Hôn mê nhiễm toan ceton là một biến chứng nghiêm trọng với nguy cơ tử vong cao, do sự gia tăng hormone dẫn đến tăng glucose huyết và thiếu insulin Tình trạng này kích thích gan sản xuất nhiều glucose hơn, đồng thời gia tăng quá trình ly giải lipid và tổng hợp thể ceton, gây ra nhiễm toan chuyển hóa.
- Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu do tăng glucose huyết nặng, tăng đường niệu và gây mất nước, thường xảy ra ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 [14]
Hạ glucose huyết có thể xảy ra do bệnh nhân dùng thuốc điều trị đái tháo đường quá liều, sử dụng thuốc khi đói, bỏ bữa hoặc kết hợp với các loại thuốc khác như thuốc chẹn beta và thuốc giãn mạch vành Triệu chứng hạ glucose huyết thường xuất hiện khi lượng glucose huyết tương giảm xuống dưới 3,1 mmol/l, và nếu dưới 2,8 mmol/l thì được coi là hạ glucose huyết nặng Các biểu hiện của tình trạng này có thể từ nhẹ như vã mồ hôi và run chân tay, đến trung bình như dễ bị kích thích, và nặng có thể dẫn đến hôn mê.
- Nhiễm toan lactic do tăng acid lactic trong máu thường ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2, đặc biệt là ở người cao tuổi
- Các bệnh nhiễm trùng cấp tính [13], [20]
- Biến chứng mạch máu lớn: xơ vữa mạch vành, xơ vữa mạch não …[1]
Biến chứng mạch máu nhỏ ở bệnh nhân tiểu đường typ 2 thường bao gồm biến chứng võng mạc và thận, như viêm hoại tử đài bể thận và bệnh cầu thận Ngoài ra, bệnh thần kinh ngoại vi cũng phổ biến, gây rối loạn cảm giác, vận động và tự động, đặc biệt ở người cao tuổi.
- Biến chứng bàn chân: loét bàn chân do ĐTĐ
- Biến chứng nhiễm khuẩn nhƣ: da, niêm mạc, phổi, tiết niệu – sinh dục
Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2 của Bộ Y tế năm 2017, tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường được xác định dựa trên một trong bốn tiêu chí sau đây.
ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2
Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2019), mục tiêu chính trong điều trị bệnh đái tháo đường là ngăn chặn hoặc làm chậm sự phát triển của các biến chứng liên quan đến bệnh, đồng thời nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân.
Mục tiêu điều trị cụ thể cho bệnh đái tháo đường typ 2 được quy định trong hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2017 và Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA 2019) như được thể hiện trong bảng 1.1.
Bảng 1.1 Mục tiêu điều trị cho bệnh nhân ĐTĐ typ 2 [4], [15]
Glucose huyết tương mao mạch lúc đói, trước ăn
80 – 130 mg/dl (4,4 – 7,2 mmol/l)* Đỉnh glucose huyết tương mao mạch sau ăn 1-2 giờ
HA 15%: HA