1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÀI LIỆU LUYỆN THI NGỮ văn PHẦN văn học VIỆT NAM HIỆN đại

288 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Học Việt Nam Hiện Đại
Tác giả Nguyễn Hữu Bản
Trường học Trường THPT Xín Mần Hà Giang
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Tài liệu ôn luyện thi
Định dạng
Số trang 288
Dung lượng 6,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Dù tác phẩm không có sức tố cáo một cách mạnh mẽ như các sáng tác của Nam Cao hướng vào thế lực địa chủ phong kiến và thực dân, Hai đứa trẻ cũng không phải là trái bom làm nổ tung thà

Trang 1

tình cảm mãnh liệt của tác giả Các nhà văn thường tìm kiếm những giá trị cao đẹp

trong những cảnh đời tầm thường, tăm tối, khám phá cái cao cả trong những số

khách quan của đời sống

- Sáng tác của văn học lãng mạn thường sử dụng thủ pháp tương phản, đối lập, thích phóng đại, khoa trương, sử dụng ngôn ngữ tân kì, giàu sức biểu hiện cảm xúc

2 Thạch Lam và Hai đứa trẻ

2.1 Tác giả Thạch Lam

- Thạch Lam (1910-1942), tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh, là thành viên của Tự lực văn đoàn Ông sinh tại Hà Nội, nhưng nhiều năm tháng tuổi thơ sống ở

huyện Cẩm Giàng, Hải Dương Ông là con người đôn hậu và rất đỗi tinh tế

- Những tác phẩm chính: các tập truyện ngắn Gió đầu mùa (1937), Nắng

trong vườn (1938), Sợi tóc (1942); tiểu thuyết Ngày mới (1939); tập tiểu luận Theo

dòng (1941); tùy bút Hà Nội băm sáu phố phường (1943)

- Tuy là cây bút trong Tự lực văn đoàn nhưng suốt cuộc đời cầm bút của mình Thạch Lam đã lặng lẽ đi theo một lối riêng Sáng tác của ông thể hiện niềm cảm

thông chân thành với những kiếp người nghèo khổ Thạch Lam thường quan tâm

đến những con người nhỏ bé bất hạnh, sống nghèo khổ, lay lắt ở những nơi như

phố huyện nghèo hay ở những vùng nông thôn hẻo lánh với tấm lòng đồng cảm, sẻ

chia và tình yêu thương sâu sắc

- Truyện của Thạch Lam thường không có cốt truyện đặc biệt Nhà văn chú trọng khai thác chất thơ của đời sống bình dị thường nhật, những rung động rung

cảm tinh vi trong lòng người Truyện của Thạch Lam ít sự kiện mà đầy ắp những

rung động, mỗi truyện giống như một bài thơ trữ tình đượm buồn Ngôn ngữ văn

chương Thạch Lam tinh tế “dịu dàng như những lời thủ thỉ và ngọt ngào như

hương sắc hoàng lan”

- Vị trí văn học sử: Cây bút viết truyện ngắn tiêu biểu, xuất sắc của văn xuôi lãng mạn Việt Nam trước 1945

2.2 Tác phẩm Hai đứa trẻ

- Xuất xứ: Hai đứa trẻ được in trong tập truyện ngắn Nắng trong vườn (1938)

Tác phẩm gắn với kỉ niệm của nhà văn thủa thiếu thời Trước đây, gia đình Thạch

Lam sống ở Hà Nội, sau đó gia cảnh sa sút, cha bị mất việc nên gia đình chuyển về

quê ngoại ở vùng đất Cẩm Giàng - Hải Dương Mẹ Thạch Lam làm hàng sáo, giao

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 2

cho hai chị em trông coi một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu gần ga xép nhỏ Những kí ức

thủa thơ bé cùng những rung cảm sâu sắc về những kiếp người quẩn quanh, nghèo

khó nơi phố huyện đã khơi nguồn cảm hứng sáng tác cho nhà văn Viết Hai đứa trẻ

Thạch Lam đã sống lại những kí ức và nỗi niềm mơ hồ ngày bé dại về kiếp nhân sinh

- Nội dung:

+ Tác phẩm đã tái hiện bức tranh phố huyện lúc chiều tối, đêm về và khi chuyến tàu đêm đi qua với khung cảnh đẹp thi vị nhưng đượm buồn Đằng sau bức

tranh ấy là những kiếp người sống lầm than, cơ cực trong đêm đen của xã hội cũ

+ Qua bức tranh phố huyện nghèo, nhà văn đã thể hiện một cách nhẹ nhàng

mà thấm thía niềm xót thương chân thành với những kiếp lầm than sống quẩn

quanh, mòn mỏi, chìm khuất trong bóng đêm mênh mông của xã hội cũ Đồng

thời, nhà văn cũng thể hiện sự trân trọng với khát vọng ước mơ đổi đời dù vẫn còn

+ Nhà văn sử dụng thủ pháp nghệ thuật tương phản đối lập thành công, nhất

là sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối, giữa tính cách và hoàn cảnh

+ Giọng văn thủ thỉ, nhẹ nhàng thấm thía, thấm đượm chất thơ, chất trữ tình sâu lắng

II Phân tích bức tranh phố huyện nghèo được thể hiện trong truyện

ngắn Hai đứa trẻ

Là một trong những cây bút chủ lực của tự lực văn đoàn, một văn đoàn lãng mạn tập trung vào đó những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng nhất trong trào lưu lãng

mạn này Nhưng ngòi bút trong Thạch Lam luôn luôn hướng tới hiện thực đúng

như Thạch Lam từng tuyên bố “Không phải cứ chân thực thì trở thành nghệ sĩ

nhưng người nghệ sĩ trước hết phải chân thực” Thạch Lam hướng lòng mình về

những kiếp người bé nhỏ nhiều cảnh đời tàn tạ, vì số phận lam lũ trong mưu sinh

mà không rơi vào khuynh hướng thi vị hoá đời sống, hay nhiều đề tài về tình yêu

dang dở kiểu “Nửa chừng xuân” hay uỷ mỹ như trong “Hồn bướm mơ tiên”, cũng

không rơi vào ảo tưởng, viển vông kiểu như “Con đường sáng” Hai đứa trẻ, một

trong những truyện ngắn hay nhất của Thạch Lam thể hiện một cách sâu sắc nhất

quan điểm nghệ thuật ấy của nhà văn

Truyện ngắn Hai đứa trẻ nói cho cùng là bức tranh tâm trạng với nhiều biến chuyển hết sức tinh tế trong thế giới tâm trạng của Liên và An Nhưng đó lại là

một thế giới tâm trạng gắn liền với nhiền cảm nhận về hiện thực thế giới xung

quanh - phố huyện nghèo Vì thế mà Nguyễn Tuân mới nhận xét “Truyện ngắn là

một mẩu đời sống được kéo dài của một ngày trên cái phô huyện nhỏ cách rất xa

thành phó, có một cái ga xép, đêm đêm vẫn có một chuyến tàu từ Hà Nội đi qua”

Tuy nhiên chúng ta lại cũng phải thấy bức tranh đời sống được kéo dài của một

ngày trên phố huyện không phải hiện lên qua những dòng miêu tả trực tiếp mà qua

cái nhìn và nhiều cảm nghĩ của hai đứa trẻ Liên, An Mà cái nhìn không thể tách

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 3

rời dòng chảy của thời gian đã dành cả dòng chảy của tâm trạng Cho nên cấu trúc

bức tranh đời sống phố huyện bị chi phối bởi cấu trúc thời gian Từ lúc chiều

xuống tới khi đêm về và chuyến tàu từ Hà Nội đi qua, phù hợp với cái nhìn của

Liên, An lại vừa bị chi phối bởi cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, một cái nhìn vừa

lãng mạn, lại vừa hiện thực

Cho dẫu Thạch Lam từng tuyên bố “Văn chương không phải là cách đem đến

cho người đọc sự thoát li hay sự quên” nhưng từ sự nhạy cảm đặc biệt của tình yêu

đối với thiên nhiên, đối với làng quê xưa cùng một thế giới tâm hồn của một nhà

văn lãng mạn, bức tranh đời sống của phố huyện nghèo qua ngòi bút của Thạch

Lam ít ra là về thiên nhiên, vẫn đậm một màu sắc thi vị

Vì thế cảnh chiều xuống trên phố huyện rất gợi rung động man mác trong lòng người Đó là khung cảnh chân trời phía Tây rực lên nguồn ánh sáng mạnh,

nhiều đám mây hồng lên như một hòn than rực cháy, bóng luỹ tre làng cắt nhiều

đường đen trắng trên nền trời và mở đầu truyện ngắn là những lời miêu tả rất giầu

cảm xúc “Tiếng trống thu không gọi buổi chiều về” chữ gọi như thổi hồn vào

không gian chiều làng quê, một cái gì êm ả mơn man trong tâm hồn con người Rồi

tiếng ếch nhái ở ngoài đồng vọng về như khúc nhạc êm ái ru hồn người Làng quê

như ngân vang trong bản xô nát chiều chẳng thế mà Thạch Lam phải thốt lên

“Chiều, một buổi chiều mùa hạ êm như ru” Khung cảnh buổi chiều trên phố huyện

gợi một nỗi buồn man mác trong tâm hồn Liên Chỉ có điều cái nhìn hiện thực đã

khiến cái thoáng lãng mạn kia chỉ nhẹ nhàng lướt qua tâm hồn Liên Ngòi bút của

Thạch Lam đã làm hiện lên một khung cảnh phố huyện xơ xác tiêu điều Thạch

Lam hoàn toàn không ngẫu nhiên khi chọn thời điểm “ngày tàn” để miêu tả bức

tranh đời sống phố huyện Đó là thời điểm dễ gợi trong lòng người nỗi buồn,

nhưng cũng dễ gợi khung cảnh tàn tạ trong đời sống khi bóng tối sắp sửa bao trùm

tất cả mà bóng tối trong văn Thạch Lam luôn đồng nghĩa với cái nghèo cái khổ

dường như thời điểm ngày tàn đã trở thành một đặc điểm của thời gian nghệ thuật

trong văn học Thạch Lam Bởi trong văn Thạch Lam có biết bao nhiều buổi chiều

như thế Buổi chiều nào cũng đìu hiu cũng xơ xác cũng tàn tạ Có bao nhiêu buổi

chiều trong truyện ngắn “Nhà Mẹ Lê” mà buổi chiều kinh hoàng nhất là buổi chiều

nhiều người dân xóm chợ chôn cất Mẹ Lê về thấy mười một đứa trẻ con Mẹ Lê, có

đứa còn đang ẵm ngửa ngồi trước mái lều xơ xác trong cái đói chết người đang chờ

đợi Hoặc buổi chiều tủi nhục của vợ chồng Sinh - Hạnh, truyện ngắn mang tựa đề

“Đói” Thạch Lam lựa chọn thời điểm ấy để diễn tả sâu sắc nhất sự tàn tạ của cuộc

sống của xã hội nói chung lúc bấy giờ

Cái khoảnh khắc ngày tàn được Thạch Lam chọn làm thời điểm bắt đầu câu chuyện càng làm nổi bật khung cảnh của phố huyện trong sự đìu hiu, tàn tạ Có thể

nói đó là không gian nghệ thuật của Thạch Lam Đó là hình ảnh cái chợ lúc đã

vãn, phải chăng vì hình ảnh cái chợ chính là bộ mặt đời sống của làng quê, là thước

đo kinh tế của vùng nông thôn… mà tác giả đã chọn hình ảnh cái chợ như một

“tiêu điểm”, như một biểu tượng cho bức tranh đời sống của phố huyện Nhìn vào

chợ vạn người đọc đã cảm thông hết cuộc sống nghèo khổ, tù đọng ở nơi đây Đó

là cái chợ mà người đi chợ về gần hết trên chợ chỉ còn thấy rác rưởi vỏ bưởi, vỏ

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 4

thị, lá nhãn…tất cả đọng lại một mùi ẩm mốc, cái mùi quen thuộc đến nỗi Liên

nghĩ đến mùi quê hương Ba chữ “mùi quê hương” là một khái quát rất tinh tế về

nỗi niềm quê hương của mỗi con người Nó có thể ám ảnh suốt đời của những

người xa xứ Ở cái phố huyện nghèo này cái mùi ẩm ấy chẳng phải rễ làm cho con

người vì nghèo khổ quẩn quanh tù đọng mà trở nên “mốc đen, mòn đi, gỉ đi” Chỉ

cần hình ảnh một cái chợ hiện ra đã đủ tạo nên ấn tượng sâu đậm trong niềm cảm

thương của người đọc Cái chợ trở thành một thứ không gian nghệ thuật bởi nó ẩn

chứa trong đó nhiều ý tưởng của nhà văn đã đành Nó còn trở đi trở lại như một nút

nhấn trong những khúc nhạc, buồn của Thạch Lam Không phải chỉ có cái chợ

trong hai đứa trẻ mà còn có cả cái chợ với những lều quán gầy ruộc, siêu vẹo trước

những cơn gió đầu mùa vừa thổi trong truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” Người đọc

còn không rứt được lòng mình trước hình ảnh cái xóm chợ nơi kết đọng những số

phận nghèo khổ, cái xóm chợ đầy bi thảm trong truyện ngắn “Nhà Mẹ Lê” Rồi cái

chợ ngay trong truyện ngắn “Đói”…Chợ trở thành không gian tụ hội sinh sống của

những kiếp người bé nhỏ, lam lũ

Con người vẽ thời gian và không gian với những nét đặc trưng trong tư duy nghệ thuật của Thạch Lam cũng là để tạo nên cái nền cho sự xuất hiện con người

Bởi nói đến bức tranh đời sống của phố huyện nghèo không thể không nói tới hình

ảnh của những kiếp người bé nhỏ là lam lũ trong mưu sinh ở đây Mà nói tới con

người ta lại thấy ngòi bút của Thạch Lam hướng rất nhiều tới hình ảnh của những

đứa trẻ Đâu phải ngẫu nhiên tựa đề của tác phẩm đã làm hiện lên hình ảnh hai đứa

trẻ Đó là hai đứa trẻ con nhà nghèo vì xa xút kinh tế, từ Hà Nội lưu lạc về phố

huyện nhỏ này, hai đứa trẻ mà đã phải mưu sinh, phải trông nom một gian hàng

nhỏ để lo kiếm sống Cùng với Liên và An là những đứa trẻ con nhà nghèo đang

lang thang trên chợ vãn Chúng nhặt nhạnh tất cả những gì có thể dùng được mà

người đi chợ bỏ lại, từ thanh tre, mẩu nứa Hình ảnh của chúng hiện lên trong hai

chữ “lang thang”, trong hành động nhặt nhạnh đủ làm nổi bật lên những kiếp người

bé nhỏ này như đang nhoè đi giữa những quán chợ nghèo, mờ đi trong cái mùi ẩm

mốc Rồi còn đó là đứa con của chị Tý suốt ngày theo mẹ mò cua bắt tép, tối đến

lại theo mẹ táp về cái phố huyện này chỉ để kiếm vài ba xu, chỉ để bán vài ba bát

nước cho những người phu xe, còn đứa trẻ con nhà người hát xẩm ngồi trên chiếu

rách nghịch đất cát, không chỉ theo bố mẹ mà cũng góp phần vào công việc mưu

sinh của bố mẹ Một phố huyện với bao nhiêu đứa trẻ phải mưu sinh như thế chẳng

phải là phố huyện nghèo tội nghiệp đó sao Mà sao trong văn Thạch Lam lại nhiều

những đứa trẻ đến thế Có bao nhiêu đứa trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” Còn có

bao nhiêu đứa trẻ trong “gió lạnh đầu mùa” da dẻ đã tím bầm sau lần áo rách, rồi

những đứa trẻ của cái “xóm chợ” trong truyện ngắn “Nhà mẹ Lê” hay đứa trẻ vì

đói phải đi làm dâu hết sức tủi cực trong truyện ngắn hai lần chết Phải chăng ngòi

bút thấm đẫm nhân đạo của Thạch Lam khi hướng về “những kiếp người khốn

khổ” đã rung động sâu xa nhất trước số phận của những đứa trẻ, những sinh linh bé

nhỏ vô tội nhưng lại là nạn nhân của một “xã hội” giả dối tàn ác

Khi những người bán hàng, kiếm ăn ban ngày “từ trong đêm đi ra” chìm vào

bóng tối, thì từ bóng tối, màn đêm những người kiếm ăn đêm lại lục tục kéo ra

Cuộc đời luẩn quẩn như chiếc đèn cù, những con người xuất hiện như những hình

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 5

nhân đuổi nhau quanh cái trục đèn giữa ánh sáng mờ mờ nhân ảnh như người đi

đêm Đầu tiên là mẹ con chị Tí lôi thôi dắt nhau trong nhá nhem tối, thằng cu bé

xách điếu đóm và khiêng hai cái ghế ở trong ngõ đi ra, chị Tí mẹ nó mang theo

không biết bao nhiêu là đồ đạc Ban ngày chị là con cò đi mò cua bắt tép, ban đêm

chị là con vạc đi kiếm ăn., chị dọn cái hàng nước này dưới gốc cây bàng chả

kiếm được bao nhiêu nhưng ngày nào chị cũng dọn hàng từ chập tối cho đến đêm

Hình ảnh chị Tí phe phẩy cành chuối khô đuổi ruồi bò trên mấy thức hàng gợi lên

không khí uể oải, chán nản của cuộc sống Đó đâu phải là sống mà chỉ là sự tồn tại

vất vưởng

Bác phở Siêu - Thạch Lam miêu tả bóng bác mênh mông ngả xuống đất một

vùng và kéo dài đến tận hàng rào hai bên ngõ Bát phở của bác Siêu đã trở thành

chiếc phao để đo mức sống của người dân nơi đây: An và Liên ngửi thấy mùi phở

thơm nhưng ở cái huyện nhỏ này quà bác Siêu là một thứ qùa xa xỉ, nhiều tiền, hai

chị em không bao giờ mua được Gánh phở thành ra ế, lại thêm gánh hát gia đình

bác Xẩm mù ế khách, họ ngồi trên manh chiếu rách, cái thau sắt trắng để trước

mặt, bố con bác xẩm im lìm từ bao giờ và không biết đến bao giờ mới thôi im lìm

vì không ai đến nghe hát

Bà cụ Thi hơi điên và nghiện rượu Tiếng cười khanh khách lúc đến và lúc đi

là chồng chất những lụi tàn: lụi tàn vì tuổi già, lụi tàn vì hơi điên, lụi tàn vì nghiện

rượu và lụi tàn vì nghèo khó Hình ảnh bà cụ Thi điên lảo đảo bước ra ngoài đi lần

vào bóng tối cùng với tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng làm hai chị em

Liên đứng sững nhìn theo, lòng bàng hoàng run sợ, xót xa khó tả như thấy một

mảnh đời âm thế vừa hiện hình và lướt qua Một kiếp người tàn, một tiếng cười

khanh khách reo vào lòng người đọc bao thế hệ nỗi day dứt, một vang hưởng thống

thiết bi thương

Phố huyện lại có thêm một gia đình “bỏ HN về quê ở” vì người cha mất việc

Từ đó người mẹ phải làm hàng xáo, còn lại hai đứa con thì trông coi cửa hàng tạp

hóa nhỏ xíu Họ hòa nhập vào điệu sống buồn tẻ nhàm chán, quẩn quanh bế tắc nơi

đây Đây đau phải chuyện riêng của hai đứa trẻ, đây là câu chuyện của cả phố

huyện nghèo với những con người nhỏ bé, thân phận của những “con ong cái kiến”

âm thầm tội nghiệp đi vào đêm tối và sống trong tăm tối

=>Thạch Lam không miêu tả chi tiết về số phận, xuất thân, vì thế mà họ hiện lên càng nhỏ bé, tội nghiệp Ai cũng sống lầm lũi, âm thầm Tả ít mà văn Thạch

Lam gợi lên nhiều, thiên về đời sống bên trong, đời sống tâm hồn Sống trong lặng

lẽ trong tăm tối nhưng những con người này vẫn đậm đà tình người Họ trao đổi

thân mật, quan tâm gắn bó với nhau Thạch Lam khéo léo xen vào những dòng

miêu tả của mình những mẩu đối thoại ngắn giữa các nhân vật để gợi tình người,

khiến cho người đọc không chỉ thương mà còn cảm mến những con người bé nhỏ

ấy Qua ngòi bút nhân hậu của Thạch Lam họ hiện lên với bao hiền lành, lương

thiện

Đọc “Hai đứa trẻ” ta bị ám ảnh day dứt không thôi trước đêm tối bao trùm

phố huyện và xót xa thương cảm trước cuộc đời hiu quạnh cam chịu của những

con người sống nơi đây Nhưng “Hai đứa trẻ” cũng thu hút ta bởi cái hương vị man

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 6

mác của đồng quê vào một “chiều mùa hạ êm như ru” và “một đêm mùa hạ êm như

nhung và thoảng qua gió mát” Nó làm sống lại cả một thời quá vãng, nó đánh

thức tình cảm quê hương đậm đà, và làm giàu tâm hồn ta bởi những tình cảm “êm

mát và sâu kín”

Trong cảm nhận của Liên, bóng tối thật ghê ghớm “Tối hết cả con đường

thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen

hơn nữa” Bóng tối là hiện thân của sự tù túng ngột ngạt, bế tắc không lối thoát

Đó là bóng tối của sự đói nghèo, lam lũ Là hình ảnh đất nước ta trước năm 1945

của nó thì ánh sáng xuất hiện với tần số thấp Đó chỉ là “hột sáng”, “khe ánh

sáng”, “đốm sáng”, “vệt sáng”… tất cả đều hiện lên thật bé nhỏ tội nghiệp ” mất

đi rồi lại hiện ra trong đêm tối” Và cùng với ánh sáng nhỏ nhoi, yếu ớt đó là

những phận người với cuộc sống bấp bênh, trôi nổi và lụi tàn, le lói như ngọn đèn

trước gió Liên thương hết thảy những con người nơi phố huyện nhỏ bé này Đó

chính là chị Tý với cuộc đời cơ cực “mò cua bắt ốc”, tối đến cùng ghánh hàng

nghèo xơ xác chỉ với bát nước chè, điếu thuốc lào, thanh kẹo lạc… tất cả gia tài

mưu sinh bên ngọn đèn con chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ Liên thương bác phở

Siêu với ghánh phở xa xỉ, ế ẩm nhưng đêm nào cũng thấy bác dọn hàng Thương

bác xẩm với manh chiếu rách tả tơi cùng chiếc thau trắng trống trơn chưa một niềm

hi vọng, thương lắm những tiếng đàn bác góp chuyện bật trong yên lặng Thương

bà cụ Thi điên đơn chiếc với tiếng cười chìm vào bóng tối… Cuộc sống phố huyện

là như vậy Đơn điệu, tẻ nhạt Đêm nào cũng như đêm nào, cứ lặp đi lặp lại:

Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt người

Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện

Điều gì có thể làm chị em Liên quên đi được thực tại này? May ra chỉ có vũ trụ là cơ hội cuối cùng để ru hai chị em vào những miền cổ tích Cảnh hai chị em

ngẩng mặt lên trời tìm con vịt theo sau ông thần nông cho thấy: tâm hồn hai đứa trẻ

thật hồn nhiên, vô tư trong sáng và rất đỗi trẻ con Nhưng buồn thay, bầu trời đầy

sao trên kia cũng không thể nào cứu vớt được hai sinh linh bé nhỏ, tội nghiệp ấy

Bởi ”vũ trụ bao la và thăm thẳm như chứa đầy bí mật và xa lạ với hai đứa

trẻ” Để rồi cuối cùng chính chúng lại quay về với quang cảnh phố chung quanh

mà đặc biệt là ngọn đèn con của chị Tý Và cứ thế trong đêm tối những con người

tội nghiệp ngồi chờ đợi một điều gì đó cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ

+ Trong cả chuỗi thời gian dài buồn tẻ thì chuyến tàu đêm qua phố huyện là

cả một niềm vui lớn với hai chị em Liên Hai đứa trẻ đêm nào cũng náo nức thức

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 7

chờ tàu, không hoàn toàn xuất phát từ nhu cầu vật chất Chúng không chờ tàu để

bán hàng, dù mẹ vẫn dặn cố thức đợi chuyến tàu để bán hàng Hai chị em chờ tàu

là xuất phát từ nhu cầu cuộc sống tinh thần Khi tàu đến Liên và An đứng cả dậy,

hướng về phía con tàu và khi nó đi rồi Liên vẫn “lặng theo mơ tưởng”

Vậy vì sao họ đợi tàu – Đúng hơn là với Liên và An:

+Thứ nhất: Đợi chờ tàu mong một sự đối lập - đó là cuộc sống giàu sang

Liên và An đợi tàu như một thói quen, giống như những người dân phố huyện

vì cuộc sống ở đây hiện tại trống trải, tù đọng, bức bối, nghèo nàn (cha Liên mất

việc, mẹ Liên bán hàng xáo ) Bởi vậy hình ảnh đoàn tàu chính là một thế giới đối

lập, một thế giới trong mơ Chẳng thế mà bé An đã buồn ngủ ríu cả mắt nhưng vẫn

dặn chị “Khi nào tàu đến chị ” Khi tàu đến Liên reo mừng gọi em “An, dậy đi,

tàu đến rồi kìa” Thạch Lam miêu tả đoàn tàu chói ngời ánh sáng, lấp lánh sự sang

trọng “tiếng còi tàu rít lên,và tàu rầm rộ đi tới đốm than nhỏ bay tung trên đường

sắt” Chỉ vậy thôi nhưng nó là con tàu trong mơ, nó khởi hành từ một quá khứ , nó

chuyên trở biết bao hy vọng, nó sẽ đến một vùng đất thật xa, thật xa như mong ước

dài như ảo vọng Và đúng như lời nhận xét của Nguyễn Tuân “truyện ngắn Thách

Lam như reo vào lòng người đọc những bận bịu khó quên đầy ám ảnh”

+Thứ hai: hình ảnh đoàn tàu làm sống lại quá khứ êm đẹp Hình ảnh đoàn tàu

vì sao mà trở nên thân thiết với chị em Liên như vậy? Phải đặt nó trong hành trình

kiếm tìm cho một vùng sáng ước mơ của chị em Liên, hình ảnh con tàu mới trở

nên vô giá Nó được đón tiếp một cách long trọng, tưng bừng dù là trong tâm

tưởng Bởi vùng sáng ước mơ này nhắc nhở Liên về một

“ Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo” Trong hoàn cảnh

nông thôn đồng ruộng ngày xưa một nông thôn tăm tối tiêu điều, Hà Nội luôn là

một sức hấp dẫn lớn lao Với chị em Liên (Phân tích ngắn gọn tâm trạng đợi tàu)

+Thứ ba: Đánh thức khát vọng trong lòng người: Xuất phát từ tấm lòng nhân hậu, Thạch Lam rất trân trọng nâng niu những kí ức đẹp của tuổi thơ sống mãi

trong lòng bọn trẻ để rồi chuyển hóa thành khao khát, mong mỏi đợi chờ trong

cuộc sống bình thường Tuổi trẻ đẹp là ở chỗ đó Ước mơ nuôi chúng lớn lên để

mãi mãi tuổi trẻ trong mọi thời biết nuôi dưỡng ước mơ cho mình khiến cho trái

đất này trẻ mãi không già, đó là nhu cầu của cuộc sống

Dẫu rằng Thạch Lam chỉ mới đề cập mà chưa có hướng giải quyết nhưng chính từ những đề xuất đó, nhà văn hướng lên một chân lý của thời đại: Phải thay

đổi một trật tự xã hội, tạo ra một thế giới mới gắn liền với ba yếu tố “Độc lập – Tự

do – Hạnh phúc”

Bởi vậy, biết đợi tàu cũng có nghĩa là Liên và An chưa thỏa hiệp với cuộc sống nghèo nàn, tù túng, ngột ngạt Chúng chờ tàu để được nhúng mình trong sự

nhộn nhịp để được vui ghé, vui lây, vui nhờ

Mỗi đêm chỉ có một chuyến tàu từ Hà Nội về Mỗi chuyến chỉ dừng lại ga xép phố huyện ít phút nên không thể bỏ lỡ Vì thế cả Liên và An đã buồn ngủ ríu

cả mắt mà vẫn chống đỡ cơn buồn ngủ tự nhiên của trẻ nhỏ và kiên nhẫn, thiết tha

đợi chờ Bé An khi gối đầu lên đùi chị, mi mắt sắp rơi xuống mà vẫn cố dặn với

:Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé! Sự chờ đợi thật thiết tha cảm động như bao sự

chờ đợi tha thiết khác ở đời.Thạch Lam thấu hiểu và trân trọng nỗi đợi chờ thiết

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 8

tha ấy nơi lòng con trẻ nên đã dành những trang viết sinh động để miêu tả tỉ mỉ,

trang trọng hình ảnh chuyến tàu Chuyến tàu là sự hoạt động cuối cùng của đêm

khuya, để rồi sau đó lại là đêm khuya tịch mịch và đầy bóng tối “Dậy đi An, tàu

đến rồi” hình ảnh đoàn tàu với ánh sáng, âm thanh, con người tạo nên một cuộc

sống nhộn nhịp, một cuộc sống đối lập với phố huyện

Đoàn tàu chưa tới nhưng đã được báo trước từ xa với ánh đèn của người gác ghi và tiếng còi tàu theo gió vẳng lại Tiếp theo là Liên trông thấy ngọn lửa xanh

biếc, sát mặt đất như ma trơi, rồi nghe thấy tiếng còi xe lửa trong đêm khuya kéo

dài ra theo ngọn gió xa xôi Sau đó, hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít

mạnh vào ghi, kèm theo một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng

hành khách ồn ào khe khẽ Thế rồi, tàu rầm rộ đi tới, các toa đèn sáng trưng, những

toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh Cuối cùng là

cảnh tàu đi xa dần mất hút trong đêm tối mênh mông, để lại những đốm than đỏ

bay tung trên đường sắt, cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng,

xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre…

Cách quan sát, miêu tả của Thạch Lam rất tinh tế và giàu tính nghệ thuật Tác giả quan sát, miêu tả hình ảnh đoàn tàu đêm từ Hà Nội về theo trình tự lúc tàu từ

xa, lúc tàu đến rồi xa dần bằng nhiều giác quan cùng với rất nhiều sắc thái cảm

giác; bằng sự đan xen giữa hồi ức và thực tại Chuyến tàu đi qua phố huyện chỉ

trong một khoảng thời gian rất ngắn nhưng đã để lại cho hai đứa trẻ bao nhiêu cảm

xúc và nuối tiếc Phố huyện rầm rộ, ồn ào lên trong chốc lát rồi lại chìm sâu vào

bóng đêm yên tĩnh Gần như đã thành nếp, những người dân phố huyện chỉ chấm

dứt hoạt động khi chuyến tàu đêm đã đi xa

Đối với chị em Liên, đoàn tàu đến từ Hà Nội gợi lại những kỉ niệm đẹp Liên

lặng lẽ mơ tưởng đến Hà Nội xa xăm…, nơi hai chị em đã sống thời thơ ấu êm ấm

và sung sướng khi thầy chưa mất việc Đó là cuộc sống ở một thời chưa xa, hoàn

toàn khác với cuộc sống ở phố huyện buồn tẻ và nghèo nàn này

- Hình ảnh chuyến tàu đêm vụt qua phố huyện trong phút chốc có ý nghĩa

quan trọng với chị em Liên:

+ Đoàn tàu đêm đem đến cho chị em Liên một thế giới khác giàu sang, nhộn nhịp và rực rỡ đối lập với phố huyện nghèo nàn, buồn tẻ và vắng lặng Bởi vậy

hình ảnh đoàn tàu đem theo cả giấc mơ của Liên cũng như những cư dân phố

huyện về một cuộc sống mới tươi đẹp hơn, có ý nghĩa hơn

+ Chiêm ngưỡng đoàn tàu, Liên không chỉ được thỏa mãn về thị giác mà còn được thỏa mãn về tư tưởng, được sống trọn vẹn về giấc mơ tuổi ấu thơ, giấc mơ về

Hà Nội Chờ đợi tàu là nhu cầu bức thiết minh chứng cho việc Liên không thỏa

hiệp với cuộc sống thực tại, không cam chịu cuộc sống trong bóng tối với những

cái quẩn quanh vô nghĩa mà luôn khao khát hướng tới một điều gì đó tốt đẹp hơn

để mỗi cá nhân tồn tại trên đời phải được là mình và phải được sống có ý nghĩa

Đúng là hai đứa trẻ vui vì niềm khao khát, đợi chờ vừa được thỏa mãn

Nhưng đoàn tàu ấy lại thuộc về một thế giới quá xa xôi và nó càng sáng rực, vui

vẻ, huyên náo bao nhiêu thì càng làm cho cảnh sống nơi phố huyện trở nên tăm tối,

buồn tẻ và chìm lặng bấy nhiêu Chỉ có hình ảnh đoàn tàu lướt qua hằng đêm mà

những người dân phố huyện ai cũng nôn nao chờ đợi Người đọc cùng Thạch Lam

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 9

thụng cảm với tõm trạng của lớp người sống lầm lũi trong tăm tối, nghốo khổ Tuy

thế, truyện cũng nhen nhúm trong lũng người đọc hi vọng vượt lờn sự tẻ nhạt, tầm

thường của cuộc sống hằng ngày

III Kết luận

Con tàu đã đi qua Phố huyện trở lại tĩnh lặng vốn có Cô bé Liên cũng đã “ ngập vào giấc ngủ yên tĩnh” mà không hiểu sao dờng nh ta vẫn nghe “ Tiếng còi xe

lửa ở đâu vẳng lại, trong đêm khuya kéo dài ra theo ngọc gió xa xôi” Cái âm thanh

mơ hồ ấy âm vang trong lòng mỗi ngời dân nơi phố huyện và trong lòng mỗi chúng

ta Nó không chỉ là âm vang của tiếng còi tàu mà là âm vang của khát vọng.Nơi

phố huyện xa của Thạch Lam Chị em Liên và những bóng ngời thầm lặng đợi chờ

tiếng trống thu không man mác tiếng còi tàu âm u và thăm thẳm trong đêm Họ chờ

đợi và hy vọng, bao nhiêu lần chờ đợi trong đời.Ai chẳng chờ đợi, hi vọng chuyến

tàu của đời mình Có lẽ vì vậy mà đọc lại “ Hai đứa trẻ” Thạch Lam, ta thấy d vang

của nỗi lòng ông vẫn gần gũi với chúng ta biết dờng nào

B PHẦN HAI: MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP

Đề 1: Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, giữa búng tối mờnh mụng bao trựm

phố huyện, Thạch Lam đó đặc biệt quan tõm tới hai loại ỏnh sỏng nào? í

nghĩa của hai loại ỏnh sỏng đú?

Hướng dẫn trả lời:

- Trong truyện ngắn Hai đứa trẻ, giữa búng tối mờnh mụng thống trị phố

huyện nghốo, Thạch Lam cú ý thức ghi lại cỏc loại ỏnh sỏng, đặc biệt là ỏnh sỏng

từ chiếc đốn con của chị Tớ và ỏnh sỏng từ đoàn tàu

+ Trong tỏc phẩm ỏnh sỏng từ ngọn đốn con của chị Tớ được tỏc giả nhắc đi

nhắc lại tới 7 lần, đú là “quầng sỏng thõn mật”, chỉ đủ sức chiếu sỏng một vựng

đất cỏt Ánh sỏng ấy trở thành một ỏm ảnh tõm lớ đi vào cả giấc ngủ của Liờn

+ Đối lập với nguồn sỏng nhỏ bộ yếu ớt từ ngọn đốn con của chị Tớ là ỏnh sỏng

từ chuyến tàu đờm vụt qua phố huyện Trong phỳt chốc, đoàn tàu đến từ Hà Nội đó

đem theo một nguồn sỏng rực rỡ với “cỏc toa đốn sỏng trưng, chiếu ỏnh cả xuống

của cuộc đời Ánh sỏng từ đoàn tàu vụt qua phố huyện trong phỳt chốc với nguồn

sỏng rực rỡ là hỡnh ảnh biểu tượng cho mơ ước khỏt vọng về một cuộc sống mới

tươi đẹp hơn

+ Hai loại ỏnh sỏng dự yếu ớt hay vụt sỏng qua phỳt chốc nhưng Thạch Lam luụn cú ý thức tỡm kiếm và ghi lại Những hỡnh ảnh ấy đó cho thấy tấm lũng

thương cảm của nhà văn Thạch Lam với những kiếp người nghốo khổ sống chỡm

khuất trong tăm tối quẩn quanh nơi phố huyện nghốo Đồng thời nhà văn cũng bày

tỏ tấm lũng trõn trọng với ước mơ nhỏ bộ, bỡnh dị mà tha thiết của họ Đú là

phương diện tạo nờn giỏ trị nhõn đạo sõu sắc cho tỏc phẩm

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 10

Đề 2: Nhận xét về nhân vật Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của

Thạch Lam có ý kiến cho rằng:

“Tâm hồn Liên đã trở thành nguồn sáng chiếu rọi cả câu chuyện đầy bóng tối này”

Từ cảm nhận của mình về nhân vật Liên, anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên?

Hướng dẫn trả lời:

a Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm

- Thạch Lam là một trong những cây bút viết truyện ngắn xuất sắc của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Ông là người có tấm lòng đôn hậu và quan niệm văn

chương tiến bộ, có biệt tài về truyện ngắn, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân

vật với những cảm xúc mong manh mơ hồ

- Hai đứa trẻ (in trong tập Nắng trong vườn) là truyện ngắn đặc sắc tiêu biểu

cho phong cách viết truyện của Thạch Lam Tác phẩm đã xây dựng thành công

nhân vật Liên với những vẻ đẹp đặc biệt

b Giải thích

- Hai đứa trẻ là một câu chuyện cảm động, tái hiện không gian phố huyện tù

đọng, đầy bóng tối với những kiếp người tàn tạ, những kiếp sống quẩn quanh, tàn

lụi bế tắc, xa lạ với ánh sáng và niềm vui

- Câu chuyện được kể qua cái nhìn và cảm nhận của nhân vật Liên - một cô

bé mới lớn nhạy cảm, tinh tế, có trái tim đa cảm, giàu lòng yêu thương, luôn khao

khát đổi thay, vươn lên cuộc sống tăm tối hiện tại Chính vẻ đẹp tâm hồn Liên là

nguồn sáng trong trẻo nhất tỏa ra từ câu chuyện đầy bóng tối này

c Cảm nhận về nhân vật Liên

* Lai lịch: Liên là cô gái được sinh ra ở Hà Nội, một thế giới văn minh lịch sự

và giàu sang Cô có một tuổi thơ sống sung sướng ở Hà Nội “được hưởng những

thức quà ngon lạ” Nhưng từ khi thầy Liên bị mất việc, gia đình ngày càng sa sút

Mẹ đưa hai chị em Liên về quê ngoại, sống ở một phố huyện nghèo với một gian

hàng tạp hóa nhỏ xíu

* Những nét đẹp trong tính cách và tâm hồn của Liên

- Liên là cô bé có tâm hồn nhạy cảm tinh tế trước thiên nhiên:

+ Liên có những rung động mãnh liệt, cảm nhận được sự đổi thay của khung cảnh thiên nhiên Tâm hồn Liên xao động trước cảnh hoàng hôn với những hình

ảnh và âm thanh quen thuộc: phương tây đỏ rực như lửa cháy, tiếng ếch nhái văng

vẳng ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve

+ Liên cảm nhận được vẻ êm đềm, tĩnh lặng của đêm tối nơi phố huyện: đó là một đêm mùa hạ êm như nhung, thưa thớt từng hột sáng, khe sáng, quầng sáng nhỏ

nhoi, leo lét, chập chờn của đom đóm, của ngọn đèn con nơi hàng nước chị Tí, trên

gánh phở bác Siêu giữa một không gian tĩnh lặng ngập tràn bóng tối “Tối hết cả,

con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà ”

+ Tình yêu thiên nhiên gắn liền với tình yêu quê hương đất nước tạo nên một nét đẹp trong tâm hồn Liên Chị cảm nhận được mùi vị rất riêng của quê hương,

của cuộc sống không ít cơ cực lầm than: mùi âm ẩm bốc lên mùi cát bụi quen

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 11

thuộc mùi vị riêng của đất, của quê hương mình Với tâm hồn tinh tế nhạy cảm

Liên thấy “lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”

- Liên có trái tim nhân hậu, biết cảm thông, yêu thương con người và cuộc sống:

+ Liên đảm đang tháo vát trong công việc gia đình, thay mẹ quán xuyến việc

ở cửa hàng, yêu thương, chăm sóc ân cần đối với An

+ Trái tim cô bé mới lớn thật rộng mở, Liên đã “động lòng thương” những

đứa trẻ con nhà nghèo khi chúng cúi lom khom trên mặt đất đi lại tìm tòi những gì

còn sót lại của phiên chợ tàn

+ Chị còn quan tâm, cảm thông sẻ chia với cuộc sống mưu sinh lam lũ tội nghiệp

của mẹ con chị Tí với những lời hỏi thăm ân cần “sao hôm nay chị dọn hàng muộn

thế ?”, động lòng thương với tình cảnh của bà cụ Thi điên nên lần nào cô cũng

“lẳng lặng rót một cút rượu ti đầy đưa cho cụ”

- Liên luôn khao khát ước mơ một cuộc sống tươi sáng, đẹp đẽ và có ý nghĩa hơn:

+ Giấc mơ của Liên gửi gắm vào cả đoàn tàu Hàng ngày đêm nào chị em Liên cũng cố thức để đợi chuyến tàu đêm đi qua, không chỉ để bán thêm ít hàng mà

để được ngắm nhìn đoàn tàu Khác với phố huyện nghèo khổ tăm tối và tĩnh lặng,

hình ảnh từ đoàn tàu ở Hà Nội về mang theo một thế giới khác hẳn: tràn ngập âm

thanh “vui vẻ và huyên náo”, ánh sáng “những toa đèn sáng trưng”, sự sung túc

với những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người “đồng và kền lấp lánh”

Đoàn tàu chính là biểu tượng cho thế giới của ước mơ, khát vọng đổi thay

+ Đợi tàu trở thành một nhu cầu bức thiết đối với Liên, nó không chỉ gợi lại một miền kí ức tươi đẹp mà còn chứng tỏ Liên không thỏa hiệp với cuộc sống hiện

tại Khi tàu qua, Liên lặng theo mơ tưởng, cố nhìn theo ánh đèn màu xanh trên toa

sau cùng Hình ảnh “Hà Nội sáng rực, vui vẻ và huyên náo” đã trở thành niềm mơ

ước tha thiết cháy bỏng về một cuộc sống tươi sáng hơn

+ Từ hình ảnh chuyến tàu đêm, Liên nhìn thấy rõ hơn sự tàn tạ của đời mình

và những người xung quanh Do đó đợi tàu còn chứng tỏ Liên không cam chịu

cuộc sống trong bóng tối với những cái quẩn quanh vô nghĩa, phải hướng tới một

điều gì đó tốt đẹp hơn để mỗi cái tôi tồn tại trên đời phải được là mình và phải

được sống có ý nghĩa Đợi tàu là cách đi tìm nghĩa lí của cuộc đời, không biến

mình thành kẻ vô tri trước cuộc sống

* Nghệ thuật xây dựng nhân vật Liên

- Để có được thành công của nhân vật phải kể đến biệt tài của Thạch Lam trong việc lựa chọn chi tiết tái hiện khung cảnh phố huyện lúc chiều về, khi đêm

xuống và khi chuyến tàu đêm đi qua qua cái nhìn của chị em Liên

- Đặc biệt bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật rất tinh tế Nhà văn đã thể hiện thành công những rung động, rung cảm rất tinh vi, mong manh mơ hồ trong tâm

hồn của một cô bé mới lớn

- Giọng văn nhẹ nhàng mà thấm thía, đầy chất thơ, chứa đựng tình cảm xót thương chân thành sâu sắc cho nhân vật của mình

d Đánh giá chung

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 12

- Liên là nhân vật trung tâm của bức tranh đời sống phố huyện, hội tụ đầy đủ những nét đẹp trong tâm hồn cũng như tiêu biểu cho số phận của những người dân

nghèo thành thị Đây là hình tượng nghệ thuật đẹp, gợi lên trong lòng người đọc sự

xót xa, thương cảm cũng như lòng ngưỡng mộ

- Những nét đẹp trong tâm hồn Liên đã tô đậm giá trị nhân đạo cho tác phẩm

Vẻ đẹp ấy của Liên trở thành “nguồn sáng chiếu rọi câu chuyện đầy bóng tối

a Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm

(Xem đề 1- dạng phân tích nhân vật)

b Giải thích

- Nhân đạo là một trong hai truyền thống lớn của văn học Việt Nam Cùng với nội dung yêu nước, nội dung nhân đạo xuyên suốt các sáng tác từ văn học dân

gian, văn học trung đại đến văn học hiện đại Nó là thước đo tin cậy giá trị của một

tác phẩm văn học cũng như một người nghệ sĩ chân chính

- Nhân đạo là tình cảm yêu thương con người, thường được biểu hiện ở bốn khía cạnh cơ bản: đồng cảm sâu sắc với những bất hạnh của con người; ca ngợi

trân trọng phẩm chất tốt đẹp của con người; tố cáo các thế lực chà đạp lên con

người; trân trọng những khát vọng chân chính của con người

c Giá trị nhân đạo trong Hai đứa trẻ

* Thạch Lam đã kế thừa truyền thống nhân đạo của dân tộc:

- Nhà văn bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc với những kiếp người lầm than cơ cực:

+ Tác giả thương cho cuộc đời gia cảnh của những cư dân nơi phố huyện nghèo Đó là gia cảnh của mẹ con chị Tí ngày đi mò cua bắt ốc, đêm đêm lại dọn

hàng ra bán mà có ăn thua gì; cảnh bà cụ Thi điên với tiếng cười khanh khách nhỏ

dần về phía làng; cuộc sống thê lương ảm đạm của gia đình bác Xẩm với cảnh màn

trời chiếu đất; gánh hàng ế ẩm đứng trước nguy cơ lụi tàn của bác phở Siêu; đặc

biệt là chị em Liên khi tuổi đời còn rất nhỏ đã sớm phải lo toan kiếm sống, thậm

chí phải thức thật khuya để bán hàng “may ra còn có vài người mua”

+ Nhà văn xót xa trước cuộc sống không chỉ nghèo khổ về vật chất mà còn quẩn quanh, lặp đi lặp lại một cách đơn điệu buồn tẻ, không có niềm vui, ít ánh

sáng và hi vọng đổi thay Với giọng điệu chậm buồn, tha thiết, nhà văn bày tỏ niềm

xót xa với những con người chỉ như những chiếc bóng sống vật vờ lay lắt trong

đêm đen của xã hội cũ

- Nhà văn ca ngợi trân trọng những phẩm chất tốt đẹp của người dân nghèo thành thị:

+ Họ là những con người chịu thương, chịu khó lặn lội để kiếm sống Mẹ con chị Tí ngày đi mò cua bắt ốc, tối lại dọn hàng ra bán dù biết chẳng kiếm được bao

nhiêu; gia đình bác xẩm ngồi trên manh chiếu với cái thau để trước mặt; bác phở

Siêu với gánh quà xa xỉ khó bán nhưng đêm nào chị em Liên cũng nghe thấy

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 13

“tiếng đòn gánh kĩu kịt”; Liên và An tuổi nhỏ nhưng đã sớm phụ mẹ bán hàng để

kiếm sống

+ Vẻ đẹp đặc biệt ở những cư dân phố huyện là tấm lòng yêu thương nhân ái

Thạch Lam đã thể hiện phẩm chất ấy tập trung ở nhân vật Liên Liên là cô gái có

trái tim nhân hậu, biết cảm thông yêu thương con người và cuộc sống Phẩm chât

nổi bật ở Liên cũng như cư dân phố huyện là luôn khao khát một cuộc sống mới,

tươi sáng, đẹp đẽ và có ý nghĩa hơn (hành động đợi tàu hàng đêm của những người

dân phố huyện)

- Trong màn đêm mênh mông của cuộc đời, Thạch Lam thắp sáng trong lòng những cư dân phố huyện khát vọng về một cuộc sống mới:

+ Tác giả đã để cho từng ấy con người trong bóng tối “mong đợi một cái gì tươi

sáng hơn cho cuộc sống nghèo khổ hàng ngày của họ” Dưới ngòi bút Thạch Lam

những kiếp người lầm than như mẹ con chị Tí, gia đình bác Xẩm hay chị em Liên

không bị nhấn chìm bởi màn đêm của cuộc đời mà vẫn khao khát, hi vọng đổi thay

dù còn mong manh, mơ hồ

+ Khát vọng sống được thể hiện tập trung trong tâm trạng đợi tàu của hai chị

em Liên Đêm nào cũng vậy, dù đã buồn ngủ ríu cả mắt, chị em Liên vẫn cố thức

để đợi chuyến tàu đêm đi qua Đó là một nhu cầu bức thiết về tinh thần, khao khát

hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn, thoát khỏi màn đêm đang bủa vây họ

- Dù tác phẩm không có sức tố cáo một cách mạnh mẽ như các sáng tác của

Nam Cao hướng vào thế lực địa chủ phong kiến và thực dân, Hai đứa trẻ cũng

không phải là trái bom làm nổ tung thành trì của xã hội tư sản như trong Hạnh

phúc của một tang gia (trích Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng nhưng bằng những chi

tiết miêu tả về màn đêm nơi phố huyện, Thạch Lam đã giúp cho ta hình dung một

phần về xã hội phong kiến khiến bao kiếp người như mẹ con chị Tí, gia đình người

hát xẩm và chị em Liên phải sống trong lầm than cơ cực

* Điểm mới trong tiếng nói nhân đạo của Thạch Lam

- Một trong những đặc điểm của nội dung nhân đạo của văn học Việt Nam từ

đầu TK XX đến CMT8 - 1945 là tinh thần dân chủ Tác phẩm Hai đứa trẻ của

Thạch Lam không nằm ngoài qui luật ấy

- Đối tượng thương cảm: nhà văn hướng tình thương của mình đến những con người nhỏ bé bình thường trong xã hội Họ là những người dân nghèo thành thị

như mẹ con chị Tí ngày đi mò cua bắt ốc, đêm dọn hàng ra bán mà chẳng được bao

nhiêu; bà cụ Thi hơi điên; hay gia đình bác Xẩm sống bằng nghề hát rong, bác phở

Siêu với gánh quà ế ẩm

- Do ý thức cá nhân có sự thức tỉnh, các nhà văn không những đề cao phẩm chất phát huy tài năng của con người mà còn thể hiện sâu sắc khát vọng của mỗi cá

nhân Vì vậy trong truyện Hai đứa trẻ, Thạch Lam đã thắp sáng ngọn lửa của niềm

hi vọng trong lòng những cư dân nơi phố huyện nghèo Dù phải sống trong đêm

đen của cuộc đời nhưng họ, chừng ấy con người trong bóng tối vẫn luôn “mong

đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày”

- Không những vậy, tác giả còn lay tỉnh những tâm hồn đang lay lắt, lụi tàn

Đêm nào cũng như đêm nào, chị em Liên và những người dân phố huyện vẫn cố

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 14

thức để đợi chuyến tàu đêm đi qua mang theo niềm hi vọng về một thế giới khác

văn minh, nhộn nhịp, giàu sang, thoát khỏi cảnh sống tăm tối ở phố huyện

phương diện quan trọng, góp phần làm nên sức hấp dẫn của nội dung tác phẩm

Đề 4: Cảm nhận của anh (chị) về các chi tiết nghệ thuật “quầng sáng thân mật” từ ngọn đèn con của chị Tí và “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả

xuống đường” từ chuyến tàu đêm đi qua phố huyện trong truyện ngắn Hai

đứa trẻ của Thạch Lam?

Hướng dẫn trả lời:

a Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm

(Xem đề 1- dạng phân tích nhân vật)

b Cảm nhận về hai chi tiết nghệ thuật

* Chi tiết “quầng sáng thân mật” từ ngọn đèn con của chị Tí

- Nội dung:

+ Đây là chi tiết miêu tả nguồn ánh sáng nhỏ bé yếu ớt, không đủ sức khuếch tán lan rộng Trong một không gian tràn ngập bóng tối của phố huyện nghèo, ngọn

đèn con của chị Tí chỉ là “quầng sáng thân mật”, đủ sức “chiếu sáng một vùng đất

cát” Quầng sáng ấy hợp cùng khe sáng trong các cửa hàng, chấm lửa nhỏ trên

gánh hàng của bác phở Siêu, ngọn đèn thưa thớt từng hột sáng của chị em Liên tô

đậm không gian tối tăm của phố huyện nghèo

+ Qua nguồn sáng nhỏ bé yếu ớt ấy, Thạch Lam muốn biểu tượng cho những kiếp người

nhỏ nhoi, sống leo lét mù tối trong bóng đêm mênh mông của cuộc đời Ánh sáng của ngọn đèn tuy yếu ớt nhưng không thể dập tắt cũng chính là khao khát

sống, khao khát hạnh phúc của con người nơi phố huyện nghèo

+ Chi tiết nghệ thuật ấy đã cho thấy tấm lòng thương cảm của nhà văn Thạch Lam với những kiếp người nghèo khổ đồng thời thể hiện sự trân trọng của nhà văn

khi luôn có ý thức tìm kiếm và ghi lại ánh sáng

- Nghệ thuật: đây là chi tiết nghệ thuật đặc sắc, trở đi trở lại bảy lần trong tác phẩm đầy sức ám ảnh, góp phần thể hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm và khẳng

định tài năng của nhà văn trong việc xây dựng chi tiết truyện đắt giá

* Chi tiết ánh sáng của đoàn tàu

- Nội dung:

+ Đó là một nguồn sáng rực rỡ, có sức khuếch tán lan rộng “các toa đèn sáng

trưng, chiếu ánh cả xuống đường” Nguồn sáng ấy đối lập hoàn toàn với những

khe sáng, vệt sáng, hột sáng, chấm lửa nhỏ, quầng sáng của phố huyện nghèo

Nguồn sáng ấy lại càng tương phản với bóng tối ngập tràn của phố huyện “tối hết

cả, con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng

sẫm đen hơn nữa”

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 15

+ Ánh sáng của đoàn tàu biểu tượng cho một thế giới khác văn minh, nhộn nhịp và giàu sang Nguồn sáng ấy đã đánh thức trong kí ức của Liên về một Hà nội

xa xăm “Hà nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”, bởi vậy ánh sáng đoàn tàu đem

theo cả giấc mơ của Liên cùng những cư dân phố huyện về một cuộc sống mới tươi

đẹp và có ý nghĩa hơn

+ Qua nguồn sáng ấy, Thạch Lam gửi gắm tình cảm yêu thương trân trọng giấc mơ đổi đời dù mơ hồ và mong manh của những cư dân phố huyện Đó là

phương diện tạo nên giá trị nhân đạo sâu sắc cho tác phẩm

- Nghệ thuật: chi tiết ánh sáng của đoàn tàu được nhà văn miêu tả độc đáo qua cách sử dụng bút pháp lãng mạn Nguồn sáng ấy chỉ xuất hiện một lần nhưng có

sức khuấy động cả phố huyện, góp phần thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm

c So sánh giữa hai chi tiết

- Điểm tương đồng: hai chi tiết nghệ thuật trên đều mang ý nghĩa tả thực về một loại ánh sáng xuất hiện nơi phố huyện và cùng mang ý nghĩa biểu tượng Đây

cũng là hai chi tiết nghệ thuật đắt giá, được miêu tả trong sự xung đột gay gắt với

Đề 5: Cảm nhận của anh (chị) về cảnh đợi tàu của chị em Liên trong

truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam) và cảnh cho chữ của Huấn Cao trong

truyện ngắn Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)?

Hướng dẫn trả lời:

a Giới thiệu đôi nét về tác giả, tác phẩm

- Thạch Lam là cây bút viết truyện ngắn xuất sắc của Tự lực văn đoàn với loại truyện không có cốt truyện, chủ yếu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với những cảm

xúc mong manh mơ hồ Hai đứa trẻ (in trong tập Nắng trong vườn) là truyện lãng mạn

đậm chất hiện thực thể hiện giá trị nhân đạo và tài năng nghệ thuật của Thạch Lam

- Nguyễn Tuân là nhà văn rất mực tài hoa uyên bác, người nghệ sĩ “suốt đời

đi tìm cái đẹp” Tác phẩm Chữ người tử tù (rút ra từ tập truyện Vang bóng một

thời) là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Tuân trước CMT8, thể hiện được những

nét đặc sắc nổi bật trong phong cách nghệ thuật của nhà văn

b Cảm nhận

* Cảnh đợi tàu của chị em Liên trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch

Lam

- Nội dung:

+ Đêm nào chị em Liên cũng như những cư dân nơi phố huyện đều cố thức để

đợi chuyến tàu đêm đi qua phố huyện Đoàn tàu đến rộn rã âm thanh “tiếng rồn

rập, tiếng xe rít mạnh vào ghi, tiếng còi rít lên ”; tràn đầy ánh sáng “làn khói

bừng sáng trắng, các toa đèn sáng trưng”; đông đúc và giàu sang “những toa

hạng trên sang trọng lố nhố những người ” Đoàn tàu đến đã đánh thức kí ức của

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 16

Liên về Hà Nội, bởi vậy khi tàu qua Liên còn nhìn theo mãi “chấm nhỏ của chiếc

đèn xanh treo trên toa sau cùng”

+ Hình ảnh chuyến tàu hàng đêm đi qua phố huyện đã đem đến một thế giới khác giàu sang nhộn nhịp và rực rỡ, đối lập với phố huyện nghèo nàn, buồn tẻ và

vắng lặng Đợi tàu gửi gắm ước mơ của chị em Liên thoát khỏi cuộc sống thực tại

buồn chán vươn tới một cuộc sống mới Đợi tàu còn chứng tỏ Liên không cam chịu

cuộc sống trong bóng tối mà luôn khao khát hướng tới một điều gì đó tốt đẹp hơn,

một cuộc sống có ý nghĩa hơn

+ Đằng sau cảnh đợi tàu là chiều sâu trong tiếng nói nhân đạo của Thạch Lam khi nhà văn thắp lên trong lòng hai đứa trẻ ngọn lửa của niềm tin, niềm hi vọng và

lay tỉnh những tâm hồn đang lay lắt lụi tàn

- Nghệ thuật:

+ Đoạn văn sử dụng bút pháp đặc trưng của văn học lãng mạn: thủ pháp nghệ thuật tương phản, đối lập

+ Đoạn văn giàu chất trữ tình thông qua diễn biến tâm trạng của nhân vật cô

bé Liên Ngôn ngữ văn chương tinh tế, thiết tha

* Đoạn văn tả cảnh cho chữ của Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù

của Nguyễn Tuân

- Nội dung:

+ Cảnh cho chữ là kết quả của quá trình biệt nhỡn, biệt đãi đầy dụng công và khổ tâm của viên quản ngục; cùng sự xúc động mãnh liệt của Huấn Cao khi nhận ra

một tấm lòng trong thiên hạ nơi quản ngục ngay ở chốn ngục tù tăm tối Cảnh cho

chữ “xưa nay chưa từng có” với không gian và thời gian đặc biệt (nơi tù ngục, lúc

đêm khuya); vị thế các nhân vật bị đảo ngược (tử tù ung dung đường hoàng, răn dạy

ngục

quan, quản ngục khúm núm, cảm động vái lạy tù nhân)

+ Qua cảnh cho chữ, Nguyễn Tuân đã khắc họa hoàn chỉnh chân dung mang

vẻ đẹp lí tưởng, lãng mạn của các nhân vật Huấn Cao và viên quản ngục: vẻ đẹp

của tài hoa, khí phách và thiên lương

+ Cảnh cho chữ cũng thể hiện tập trung ý nghĩa nhan đề, chiều sâu giá trị nhân văn đẹp đẽ, mới mẻ của tác phẩm cũng như toàn bộ văn nghiệp của Nguyễn

Tuân Đó là niềm tin tưởng vào sự bất tử của cái đẹp cùng sức mạnh cảm hóa kì

diệu của cái đẹp trong cuộc đời

Trang 17

+ Hai đoạn văn đều sử dụng bút pháp nghệ thuật tương phản đối lập gay gắt giữa ánh sáng và bóng tối

- Điểm khác biệt:

+ Cảnh đợi tàu của chị em Liên diễn ra như một hoạt động thường nhật, một điệp khúc Đêm nào cũng vậy, dù đã buồn ngủ đến ríu cả mắt lại, chị em Liên vẫn

cố thức để đợi tàu Con tàu là một thế giới khác, mang theo cả niềm hi vọng của

chị em Liên về một tương lai tươi sáng Cảnh đợi tàu mang đậm phong cách nghệ

thuật của Thạch Lam với bút pháp lãng mạn, chất trữ tình đượm buồn

+ Cảnh cho chữ của Huấn Cao chỉ diễn ra một lần vào đêm cuối cùng trước khi Huấn Cao vào kinh lĩnh án tử hình Dù vậy cảnh cho chữ vẫn khẳng định sự

chiến thắng tuyệt đối của ánh sáng với bóng tối, của cái đẹp với cái xấu, của thiên

lương với cái tàn bạo Cảnh tượng này in đậm phong cách nghệ thuật tài hoa, uyên

bác của Nguyễn Tuân nhất là ở việc dựng người dựng cảnh, tạo nên một cảnh

tượng “xưa nay chưa từng có”

Đề 6: Đánh giá về truyện ngắn Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam, có ý kiến cho rằng:Cảm hứng hiện thực là cảm hứng nổi trội của tác phẩm Ngược lại, có ý

kiến khác lại khẳng định:Cảm hứng lãng mạn bao trùm, thấm đẫm trong từng câu

chữ của truyện ngắn Từ cảm nhận của mình về tác phẩm, anh (chị) hãy bình luận

- Đây là hai nhận xét khái quát về hai phương diện khác nhau trong cảm hứng

sáng tác cũng như bút pháp thể hiện của truyện ngắn Hai đứa trẻ Ý kiến trước chỉ

ra chất hiện thực, chất đời, ý kiến sau chỉ ra chất lãng mạn, chất thơ của tác phẩm

c Cảm nhận về tác phẩm

* Cảm hứng hiện thực nổi trội trong tác phẩm

- Điểm nhìn của tác giả được đặt vào điểm nhìn của nhân vật Liên - một cô gái mới lớn sống ở phố huyện nên bức tranh hiện thực về phố huyện nghèo hiện

lên thật chân thực: tiêu điều, xơ xác, ảm đạm qua hình ảnh của ngày tàn và phiên

chợ tàn

- Chất hiện thực thể hiện sâu sắc ở hình ảnh những kiếp người tàn (mẹ con chị

Tí, bác phở Siêu, gia đình người hát Xẩm, bà cụ Thi điên, chị em Liên) Cuộc sống

của họ đơn điệu, mòn mỏi, tối tăm, nghèo đói, bế tắc khiến tâm hồn những cư dân

phố huyện chai sạn, xơ cứng, sống mà không biết đến niềm vui, hạnh phúc

* Cảm hứng lãng mạn bao trùm, thấm đẫm từng câu chữ của truyện ngắn

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 18

- Chất lãng mạn đến từ bức tranh thiên nhiên làng quê đẹp, thi vị khúc xạ qua tâm hồn trong trẻo của nhân vật Liên và được ghi lại bằng những câu văn giàu chất

thơ, chất nhạc

- Lãng mạn toát ra từ những rung cảm mong manh, mơ hồ, trong sáng trong tâm hồn Liên (tâm trạng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn; cảm nhận

được mùi riêng của đất, của quê hương; thương những đứa trẻ, những con người

nghèo khổ; háo hức chờ đợi chuyến tàu đêm) Điều này khiến cho truyện giàu tâm

tình, tâm trạng

- Lãng mạn ở ước mơ hướng tới một cuộc sống tràn đầy ánh sáng, niềm vui, hạnh phúc của những kiếp người tàn ngay cả khi tâm hồn họ tưởng chừng đã chai

sạn Người dân phố huyện nghèo, nhất là hai chị em Liên đêm nào cũng cố thức để

đợi tàu với tâm trạng háo hức không phải để bán thêm hàng mà cốt tìm thấy một

cái gì tươi sáng hơn, vui vẻ hơn cho chuỗi ngày tối tăm, để đánh thức và nuôi

dưỡng ước mơ thay đổi cuộc đời bế tắc của họ

* Nghệ thuật thể hiện

- Cốt truyện rất đơn giản, ít sự kiện, nhân vật, biến cố nhưng lại tái hiện khá chân thực cuộc sống nghèo khổ, đơn điệu của những kiếp người tàn trong khung

cảnh tối tăm, bế tắc của phố huyện và cũng là của xã hội Việt Nam trước CM

- Nghệ thuật tả cảnh đặc sắc với những câu văn giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu, gợi ra cái hồn của cảnh vật quê hương; biệt tài của nhà văn trong việc miêu tả tâm

lí nhân vật với những trạng thái mơ mong manh, mơ hồ, tinh tế góp phần tạo nên

chất thơ, vẻ đẹp lãng mạn cho thiên truyện

d Bình luận hai ý kiến

- Cả hai ý kiến nhận xét về truyện ngắn Hai đứa trẻ đều chính xác Mỗi ý kiến

đề cập đến một khía cạnh khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau

cùng làm nổi bật vẻ đẹp của tác phẩm và cũng là phong cách văn chương của

Thạch Lam vừa giàu chất hiện thực vừa đậm chất lãng mạn

- Chất hiện thực và lãng mạn kết hợp hài hòa nhuẫn nhuyễn với nhau tạo nên giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ cho tác phẩm Đó cũng là sức hấp dẫn của truyện

ngắn Thạch Lam

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 19

CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ

A PHẦN 1 : NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN

1 Xuất xứ

Chữ người tử tù ban đầu có tên là Dòng chữ cuối cùng in năm 1938 trên tạp

chí Tao đàn Đây là một truyện ngắn đặc sắc trong “Vang bóng một thời” – tập

truyện được xuất bản năm 1940, gồm 11 truyện ngắn viết về “một thời” đã qua nay

chỉ còn “vang bóng” Mỗi truyện trong “Vang bóng một thời” đi vào một cái tài,

một thú chơi tao nhã, phong lưu của những nhà nho tài hoa lỡ vận: chơi chữ,

thưởng thức chén trà buổi sớm, thả thơ đánh thơ… Nhân vật trong “Vang bóng

một thời” chủ yếu là những nho sĩ cuối mùa, tuy buông xuôi bất lực nhưng quyết

giữ “thiên lương” và “sự trong sạch của tâm hồn” bằng cách thực hiện “cái đạo

sống của người tài tử” Qua tập truyện này, nhà văn không chỉ thể hiện sự nuối tiếc

vẻ đẹp của một thời quá vãng mà còn bộc lộ niềm trân trọng và tự hào về truyền

thống văn hoá lâu đời của dân tộc

2 Cảm hứng chủ đạo

Thái độ trân trọng, ngợi ca, nuối tiếc của nhà văn trước một vẻ đẹp văn hóa lâu đời đang có nguy cơ mai một đồng thời là sự thể hiện quan niệm thẩm mĩ mà

suốt đời nhà văn theo đuổi : cái Đẹp là sự hòa hợp giữa cái tâm và cái tài, cái tài

nhờ có cái tâm để mà “cháy lên” còn cái tâm nhờ có cái tài để mà “tỏa sáng”

(R.Gam-da-tốp) Tác phẩm cũng là bài học về lẽ sống đẹp, về “đạo sống” của

những con người chân chính trên đời : dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải

giữ gìn “thiên lương” cho lành vững; sống trên đời không được phụ những tấm

lòng trong thiên hạ; phải biết tôn trọng tài năng và phẩm giá của con người

3 Nhan đề

“Chữ” ở đây là chữ Hán - thứ chữ khối vuông, được viết bằng bút lông, vừa

có tính chất tạo hình vừa ít nhiều mang dấu ấn cá tính, nhân cách người viết Từ

xưa, ở nhiều nước Châu Á, trong đó có Việt Nam người ta đã biết thưởng thức chữ

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 20

đẹp và có thú chơi chữ Người viết chữ đẹp được coi là nghệ sĩ và viết chữ được

xem là một hành vi sáng tạo nghệ thuật, một hoạt động sản sinh cái đẹp Bộ môn

nghệ thuật ấy được gọi là thư pháp

“Người tử tù” trong nhan đề chính là Huấn Cao, người nổi tiếng về viết chữ đẹp, thiên lương trong sáng và khí phách hơn người Huấn Cao không chỉ là người

nghệ sĩ có khả năng sáng tạo cái Đẹp mà còn là người kết tinh, lưu giữ một trong

những vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc

Căn cứ vào nội dung truyện, có thể hiểu Chữ người tử tù là cái nhan đề hàm

chứa quan niệm và thái độ trân trọng, ngợi ca của nhà văn đối với cái Đẹp thuộc về

văn hóa truyền thống và cái Đẹp thuộc về nhân cách con người Đó chính là sự tôn

vinh và luyến tiếc của Nguyễn Tuân trước một vẻ đẹp văn hóa lâu đời đang có

nguy cơ mai một đồng thời là sự thể hiện một quan niệm thẩm mĩ mà suốt đời nhà

văn theo đuổi : cái Đẹp là sự hòa hợp giữa cái tâm và cái tài, cái tài nhờ có cái tâm

để mà “cháy lên” còn cái tâm nhờ có cái tài để mà “tỏa sáng” (R.Gam-da-tốp)

Bên cạnh đó, Chữ người tử tù thực ra không chỉ là chuyện chữ nghĩa (xin chữ,

cho chữ) mà sâu xa hơn đó là bài học về lẽ sống, “đạo sống” của những con người

chân chính trên đời : dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải giữ gìn “thiên

lương” cho lành vững và cũng phải sống đẹp, mà sống đẹp thì không thể không

gắn liền với cách ứng xử nhân văn - “biệt nhỡn liên tài” tức là phải biết tôn trọng

tài năng và phẩm giá của con người

4 Tình huống truyện Trong loại tự sự, đặc biệt là thể loại truyện ngắn, tình huống truyện có vai

trò rất quan trọng Nó không chỉ góp phần đáng kể vào việc thể hiện tính cách nhân

vật và chủ đề tác phẩm mà còn tạo ra kịch tính cho câu chuyện, gia tăng tính hấp

dẫn của cốt truyện

Tình huống truyện được hiểu là một hoàn cảnh đặc biệt, một cảnh huống bất bình thường mà ở đó con người bộc lộ một cách một cách rõ nét những suy nghĩ,

hành động, năng lực và cá tính của mình Tình huống gắn bó chặt chẽ với cốt

truyện, thường hiện lện rõ rệt ở các bước ngoặt trên dòng cốt truyện, chi phối chiều

hướng con đường đời của nhân vật

Tình huống của truyện Chữ người tử tù là cuộc gặp gỡ khác thường của hai

con người khác thường : viên quản ngục - kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối nhưng lại

rất khát khao ánh sáng của chữ nghĩa và Huấn Cao – người tử tù có tài viết chữ đẹp

nổi tiếng Lẽ ra đây phải là cuộc hội ngộ tương đắc của những kẻ biệt nhỡn liên tài,

của hai tâm hồn nghệ sĩ yêu cái đẹp Nhưng thật oái oăm, họ lại phải gặp nhau giữa

chốn ngục tù và trong một tình thế éo le : cuộc chạm trán giữa một tên “đại

nghịch”, cầm đầu cuộc nổi loạn đang đợi ngày ra pháp trường với kẻ đại diện cho

trật tự xã hội đương thời

Tình huống truyện này trước hết đã góp phần làm nổi rõ tính cách của Huấn Cao – nhân vật chính của truyện, đó là một người tài hoa, hiên ngang, bất khuất

trước cái ác, cái xấu nhưng lại mềm lòng trước cái thiện, cái đẹp; đồng thời soi

sáng vẻ đẹp tâm hồn khuất lấp của viên quản ngục - một “thanh âm trong trẻo chen

vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 21

Tình huống truyện này cũng đã ít nhiều làm bật sáng chủ đề tác phẩm : ngợi

ca cái tài, cái đẹp, cái “thiên lương” và đề cao cách hành xử giàu tinh thần nhân

văn và cao thượng – sống trên đời không được phụ những tấm lòng tri kỉ; sống trên

đời phải biết “biệt nhỡn liên tài”

Tình huống truyện nêu trên còn cho thấy phần nào kịch tính của câu chuyện

Mâu thuẫn “kịch” ở đây là sự đối lập giữa niềm khát khao chữ nghĩa của quản

ngục với thái độ khinh bỉ của Huấn Cao đối với ngục quan Diễn biến của thiên

truyện cũng tựa như cách trình bày, thắt nút, đỉnh điểm, mở nút của một vở kịch

Sau phần giới thiệu đầu truyện (trình bày) dành cho hai nhân vật là Huấn Cao và

quản ngục, mâu thuẫn bắt đầu hình thành khi ngục quan có ý biệt đãi tử tù trong

khi Huấn Cao thì hiên ngang và tỏ ý thản nhiên coi khinh ra mặt Mâu thuẫn ngày

một căng thẳng nhất là khi Huấn Cao cố tình sỉ nhục ngục quan trong khi quản

ngục vừa khổ tâm vừa nóng lòng sốt ruột xin chữ (thắt nút) và lên tới đỉnh điểm

khi ngục quan nhận được công văn khẩn về việc chuyển các tử tù vào pháp trường

trong Kinh chịu án Nhưng cũng liền ngay đó, mâu thuẫn được giải quyết, xung đột

được cởi bỏ (mở nút) khi Huấn Cao hiểu rõ tâm ý của quản ngục và quyết định cho

tưởng thẩm mĩ và phong cách độc đáo Đánh giá về Nguyễn Tuân, nhà văn

Nguyễn Minh Châu đã từng nói : Nguyễn là “một cái định nghĩa về người nghệ

sĩ” Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân nổi tiếng với “Vang bóng một

thời” – tập truyện được xuất bản năm 1940, viết về những vẻ đẹp của “một thời”

đã qua nay chỉ còn “vang bóng” Trong tập truyện này, Chữ người tử tù được xem

là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất, kết tinh phong cách sáng tác và tài

năng nghệ thuật của nhà văn Chữ người tử tù là một truyện ngắn Thế giới nhân

vật ở đó không nhiều Nhưng nhân vật nào cũng hiện lên thật sống động với số

phận, tính cách và vẻ đẹp riêng Điển hình là Huấn Cao - nhân vật trung tâm của

tác phẩm

● Nguyên mẫu của hình tượng nhân vật Huấn Cao

Theo các nhà nghiên cứu, nhân vật Huấn Cao được xây dựng từ nguyên mẫu

là Cao Bá Quát (1808-1855) Chữ “Huấn” ở đây là huấn đạo (giáo thụ) – chức

quan phụ trách việc học ở một huyện Cao Bá Quát đã từng làm chức giáo thụ ở

Quốc Oai – Hà Tây Còn “Cao” là họ của “thánh Quát” Trong lịch sử nước ta, Cao

Bá Quát không chỉ nổi danh là “văn hay chữ tốt” như đương thời truyền tụng

“Thần Siêu, thánh Quát”, “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán” mà còn nổi tiếng là

người cương trực, quý trọng tài năng, có bản lĩnh, sống có lý tưởng và dám đương

đầu với cường quyền Con người ấy đã từng chịu cực hình tra tấn trong gần ba năm

chỉ vì khi làm sơ khảo ở trường thi Thừa Thiên đã dùng muội đèn chữa những chỗ

phạm trường quy trong 24 quyển thi đáng được lấy đỗ Và cũng chính con người

ấy đã cứng cỏi đứng lên tham gia lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Mĩ Lương chống lại

triều đình nhà Nguyễn hèn yếu, lạc hậu để rồi hi sinh trong một trận đánh Con

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 22

người vừa tài hoa nghệ sĩ vừa cứng cỏi anh hùng, vừa là nhà nho uyên bác vừa là

lãnh tụ nông dân khởi nghĩa như Cao Chu Thần, trong lịch sử nước ta, quả thật

không nhiều Chẳng phải thế mà Nguyễn Tuân đã chọn làm nguyên mẫu để xây

dựng nên hình tượng Huấn Cao

Tuy nhiên, Cao Bá Quát chỉ là một điểm tựa, một “chất liệu văn học” để Nguyễn Tuân xây dựng nên nhân vật của mình Phần hư cấu, sáng tạo của nhà văn

vẫn là chủ yếu bởi Huấn Cao đã xuất hiện trong tác phẩm theo đúng lý tưởng thẩm

mĩ và quan niệm nghệ thuật của tác giả Và đây mới chính là điểm mấu chốt tạo

nên một hình tượng Huấn Cao đặc sắc, đọng lại được nhiều ấn tượng tốt đẹp trong

lòng bạn đọc nhiều thế hệ

● Huấn Cao – người nghệ sĩ tài hoa trong nghệ thuật thư pháp, người kết tinh vẻ đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc và tấm lòng yêu nước mang màu

sắc riêng của nhà văn

Trong truyện Chữ người tử tù, Huấn Cao nổi lên là một nghệ sĩ tài hoa hiếm

có trong nghệ thuật thư pháp Ngay từ đoạn văn mở đầu tác phẩm, thông qua một

đối thoại ngắn giữa quản ngục và thầy thơ lại, nhà văn đã “gieo” trên trang văn một

lời giới thiệu không thể thuyết phục hơn về tài năng của con người này Đó là “cái

người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp” Đây

không phải là lời ngợi khen của một người mà là lời của người dân cả một tỉnh, tức

là tài năng của ông Huấn từ lâu đã được công chúng rộng rãi thừa nhận Tuy nhiên,

với riêng ngục quan, tên tuổi và tài nghệ của “người đứng đầu bọn phản nghịch” ấy

còn nhiều hơn thế Không biết từ nguồn nào và từ bao giờ, viên quan coi ngục này

đã biết “cái tài viết chữ tốt” của Huấn Cao : “Chữ của ông Huấn Cao đẹp lắm,

vuông lắm” Và cũng đã từ rất lâu rồi, nhưng chưa bao giờ có dịp được nói ra, “cái

sở nguyện của viên quan coi ngục này là có một ngày kia được treo ở nhà riêng

mình một đôi câu đối do chính tay ông Huấn Cao viết… Có được chữ của ông

Huấn mà treo là có một báu vật trên đời” Về phía chủ quan, mong muốn ấy của

quản ngục xuất phát từ thú chơi chữ của ông ta Nhưng về phía khách quan, chữ

của Huấn Cao phải đẹp lắm, quý lắm, phải là “báu vật” hiếm có trên đời mới có

thể khiến viên quan coi ngục lần đầu tiên có cái nhìn “hiền lành” và tỏ rõ thái độ

“kiêng nể” với sáu người tù mà thực chất chỉ là Huấn Cao Đặc biệt, quản ngục sẵn

sàng “biệt đãi” ông Huấn – điều mà cả ông ta và bất cứ ai cũng thừa hiểu là hành

động phạm pháp, thậm chí bị quy vào tội đồng lõa với tội phạm Với tội danh này,

nặng thì bị xử tử giống như những phạm nhân kia, nhẹ thì mất nghiệp, khuynh gia

bại sản Điều ấy, một người đại diện cho pháp luật như quản ngục không thể không

hiểu Nhưng cái gì đã khiến ngục quan nhẫn nại, hạ mình, dám đánh đổi cả sự

nghiệp, thậm chí cả tính mạng của mình đến như vậy ? Rốt cuộc chỉ có một điều

cốt lõi, ấy là chữ của Huấn Cao – một “vật báu trên đời” và vì thế với những người

có thú chơi chữ như quản ngục thì được treo chữ của ông Huấn là một trong những

sự mãn nguyện lớn nhất trong cuộc đời Có thể khẳng định, Nguyễn Tuân đã thành

công khi miêu tả tài viết chữ của Huấn Cao Cái giỏi của nhà văn là không có một

từ nào miêu tả cụ thể về những chữ mà Huấn Cao đã viết, kể cả ở cảnh cho chữ

cuối cùng, thế mà ấn tượng về tài năng của Huấn Cao, về người tử tù có phẩm chất

nghệ sĩ, có tài nghệ hơn người vẫn đậm sâu trong lòng bạn đọc Giống như thủ

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 23

pháp “vẽ mây nảy trăng” thường thấy trong thơ, phương thức miêu tả gián tiếp của

nhà văn đã có được hiệu quả nghệ thuật rõ nét trong trường hợp này

Với những gì đã viết về Huấn Cao, nhất là qua thái độ, lời nói của nhân vật quản ngục, thơ lại, Nguyễn Tuân không hề giấu giếm thái độ say mê, cảm phục của

mình đối với những người như ông Huấn Đó là người “kết tinh” và tỏa sáng một

trong những vẻ đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc Vẻ đẹp ấy, ở thời đại

Nguyễn Tuân, lại đang có nguy cơ mai một, rất dễ thuộc về “một thời” đã qua nay

chỉ còn “vang bóng” Do đó, sáng tạo hình tượng Huấn Cao có thể xem là một

phương thức nghệ thuật đắc dụng để nhà văn kín đáo thể hiện tình cảm yêu mến,

trân trọng của mình đối với những giá trị văn hoá cổ truyền của đất nước Đây

chính là tinh thần dân tộc, là lòng yêu nước mang nét đặc trưng riêng của nhà văn

Không phải ngẫu nhiên, nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh – chuyên gia

nghiên cứu về Nguyễn Tuân đã từng đánh giá khái quát : “Nguyễn Tuân là một trí

thức giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Lòng yêu nước của ông có màu sắc

riêng : gắn liền với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc”

● Huấn Cao – người nghệ sĩ có “thiên lương” trong sáng, có cách ứng xử cao thượng và đầy tinh thần văn hóa

Trong cuộc sống và nhất là trong nghệ thuật, tài năng không phải là thứ mà tạo hóa hay xã hội muốn có hoặc có thể ban phát cho tất thảy mọi người Người có

tài năng, năng khiếu nghệ thuật vốn đã không nhiều trong cuộc sống thì người vừa

có tài vừa có tâm lại càng hiếm nữa Mấy trăm năm trước, thi hào Nguyễn Du đã

viết : “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” Chính cái “tâm” sẽ làm cho cái tài được

cất cánh cao hơn nữa, tỏa sáng hơn nữa Trong Chữ người tử tù, Huấn Cao đâu chỉ

có tài viết chữ mà còn có đạo đức và văn hóa của một người nghệ sĩ thư pháp, một

nhân cách cao thượng trong đời sống

Đạo đức của Huấn Cao thể hiện trước tiên ở lòng tự trọng, ở chỗ biết giữ lấy cái tài, biết trân trọng tài năng đích thực của mình và biết dùng nó đúng lúc đúng

chỗ Con người ấy “nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình viết

câu đối bao giờ” Cả đời Huấn Cao cho đến trước khi cho chữ viên quản ngục mới

chỉ “viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường” cho “ba người bạn thân”

Trong bất cứ hoàn cảnh nào, Huấn Cao cũng giữ trọn “thiên lương” của mình Khi

chưa hiểu con người của quản ngục, Huấn Cao không hề tỏ ra sợ hãi, càng không

vì cái “uy vũ” đó để phải quỳ xuống viết chữ Ông cũng không tỏ ra mềm lòng,

thỏa hiệp, nhún mình viết câu đối trước sự “biệt đãi” của ngục quan Ngay cả khi

đã hiểu rõ con người của quản ngục và đã cho chữ viên quan này thì điều mà Huấn

Cao khuyên bảo, mong muốn ở ngục quan là “giữ thiên lương cho lành vững”,

đừng để “nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi” Đó đích thực là một tâm hồn

trong sáng, cao đẹp, một biểu tượng của “thiên lương” lành vững mà thời đại nào

cũng cần

Cái tâm của Huấn Cao không chỉ hiện ra ở đạo đức của người nghệ sĩ mà còn bộc lộ ở cách ứng xử cao thượng và đầy tinh thần văn hóa Đọc tác phẩm, ai

cũng thấy Huấn Cao đã phản ứng dữ dội như thế nào trước hành động muốn “biệt

đãi” ông của quản ngục Nhưng đấy là khi ông chưa thực sự hiểu được bản chất

của con người này Đến khi đã hiểu được con người bên trong của ngục quan, khi

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 24

đã “cảm” được “cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài” của viên quan coi ngục thì Huấn

Cao đã nhanh chóng bỏ qua những nghi kị trước đó, vui vẻ tự nguyện cho chữ Lời

của Huấn Cao : “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” đã bộc lộ

lẽ sống của ông : sống là phải xứng đáng với những tấm lòng tri kỉ, phụ tấm lòng

cao đẹp của người khác là không thể tha thứ Rõ ràng, đối với những người biết

quý trọng cái tài, cái đẹp trên đời, Huấn Cao đâu có nề hà, đã không biết thì thôi

chứ biết thì nhất định không “phụ tấm lòng trong thiên hạ” Đấy chính là lẽ sống

cao đẹp, là cách xử thể tràn đầy tinh thần văn hóa ở Huấn Cao, cũng là bài học về

đạo lý, lẽ sống cho mỗi người trên đời Xem ra, chuyện xin chữ - cho chữ ở đây

không còn là thú chơi nữa mà là chuyện của lẽ sống và đạo đức của con người

trong cuộc sống

● Huấn Cao – người anh hùng dũng liệt, có bản lĩnh, lý tưởng, có khí phách hiên ngang, bất khuất

Không giống như nhiều nhân vật tài hoa, tài tử khác trong Vang bóng một

thời, Huấn Cao có hai con người trong một con người : con người tài hoa nghệ sĩ

với cái tâm trong sáng và con nguời anh hùng dũng liệt, có khí phách hiên ngang

Đấy là một người dám chống lại triều đình mục ruỗng mà ông căm ghét Thái độ

này không thay đổi kể cả khi ông nhận được thông báo sẽ bị giải vào Kinh để chịu

án tử hình Là kẻ chiến bại nhưng Huấn Cao không hề đánh mất khí phách của

mình Ngay từ đầu tác phẩm, điều đó đã được thể hiện qua hành động “rỗ gông”

Huấn Cao đã bất chấp lời doạ dẫm của tên lính áp giải, “lạnh lùng chúc mũi gông

nặng, khom mình thúc mạnh đầu thang gông xuống thềm đá tảng đánh thuỳnh một

cái” Cũng chính con người ấy đã “thản nhiên nhận rượu thịt” coi như “việc vẫn

làm trong cái hứng sinh bình”, thậm chí còn “cố ý làm ra khinh bạc đến điều” đối

với viên quản ngục mà không hề sợ “một trận lôi đình báo thù và những thủ đoạn

tàn bạo của quan ngục bị sỉ nhục” Ngay cả khi được tin “ngày mai, tinh mơ” sẽ

“về kinh chịu án tử hình”, Huấn Cao cũng chỉ “lặng nghĩ một lát rồi mỉm cười”

Rõ ràng, Huấn Cao có phong độ của một trang anh hùng dũng liệt, có khí phách

hiên ngang của kẻ “chọc trời quấy nước” trên đầu “chẳng còn biết có ai nữa” (như

chính quản ngục đã phải thừa nhận), có cái khí khái của đấng nam nhi coi cái chết

“nhẹ tựa hồng mao”

● Hình tượng Huấn Cao tỏa sáng trong cảnh cho chữ

Huấn Cao đúng là một nhân vật đặc biệt của Nguyễn Tuân Ở con người này

có sự hội tụ của ba phẩm chất, cũng là ba vẻ đẹp đáng trân trọng của con người :

“tài” – “tâm” – “dũng” Ba vẻ đẹp ấy hòa quyện với nhau và tỏa sáng rực rỡ trong

cái đêm Huấn Cao cho chữ quản ngục

Điểm hội tụ của tài năng nghệ sĩ và khí phách nghĩa sĩ của Huấn Cao trước hết là ở tư thế Tuy phải bó buộc trong hình hài của một phạm nhân: “cổ đeo gông,

chân vướng xiềng” nhưng Huấn Cao vẫn có cái tư thế của một người nghệ sĩ thư

pháp Con người ấy đang dồn tinh lực để viết nên những “dòng chữ cuối cùng” cho

đời – những dòng chữ “nói lên cái hoài bão tung hoành của một đời con người”

Tương phản với hình ảnh Huấn Cao là hình ảnh của ngục quan và thơ lại - những

kẻ đại diện cho uy quyền, pháp luật đương thời, nắm trong tay quyền sinh, quyền

sát nhưng lại đang “khúm núm”, “run run” trước từng nét chữ của Huấn Cao

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 25

Chính sự tương phản này đã gián tiếp khắc họa cái hiên ngang, khí phách của

người tử tù Đồng thời cho thấy trong khoảnh khắc này, tại chính gian nhà ngục

này không phải cái ác, cái xấu đang làm chủ mà chính là cái đẹp, cái tài của người

nghệ sĩ đang tỏa sáng, hùng tâm, tráng chí của người anh hùng đang được tôn vinh

Như mọi dòng sông đều chảy về biển, ở Huấn Cao, nơi hội lưu của thiên lương trong sáng và nhân cách con người viết hoa – CON NGƯỜI dừng lại ở một

lời khuyên chí tình dành cho quản ngục : “Ở đây lẫn lộn Ta khuyên thầy Quản nên

thay chốn ở đi Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét

vuông tươi tắn […] Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy

hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây, khó

giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện

đi” Lời khuyên này giống như một di huấn – di huấn của người nghệ sĩ truyền lại

cho đời và hậu thế : muốn chơi chữ thì trước hết phải giữ lấy “thiên lương” Chữ

nghĩa và “thiên lương” không thể chung sống với cái ác, cái xấu, đừng để những

cái cao quý ấy bị hoen ố, bị mất đi ở chốn ngục tù đen tối tàn bạo Trong “di huấn”

của người tử tù tài hoa nghệ sĩ, lời nói sau đây ngỡ như lời nói thông thường, vậy

mà xem ra cũng đầy ngụ ý, đầy sức gợi : “Thoi mực, thầy mua ở đâu mà tốt và

thơm quá Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không? ” Đây đâu phải chỉ

là lời khen tặng của Huấn Cao dành cho ngục quan – kẻ không chỉ có “sở nguyện

cao quý” mà còn rất “chịu chơi”; đó cũng chẳng hoàn toàn là lời gợi nhắc của

Huấn Cao với quản ngục, rằng : cần phải biết cảm nhận mùi thơm của mực, của

chữ nghĩa, mà thâm ý sâu xa trong câu nói ấy là : Phải biết nhận ra trong mực,

trong chữ cái “hương vị của thiên lương” Cái gốc của chữ, xét cho cùng, là “thiên

lương” đó thôi Chơi chữ không chỉ là chuyện chữ nghĩa mà trên hết đó là chuyện

về cách sống, chuyện văn hoá, là đạo làm người chân chính của bậc quân tử Ta

hiểu vì sao trước những lời nói và lời khuyên chí tình này của ông Huấn, ngục

quan đã “cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt

rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” ” Có thể

khẳng định, chính nhân cách cao thượng và cách hành xử đầy tinh thần trượng

nghĩa, văn hóa của Huấn Cao đã khiến ngục quan thực sự cảm phục Đó cũng là

chiến thắng của cái đẹp, cái thiện, của “thiên lương”, là sự chứng thực hùng hồn

cho một chân lý : giữa nơi tưởng như chỉ có thể tồn tại cái ác, cái xấu, tài năng và

phẩm giá cao cả của con người vẫn tìm thấy không gian, thời gian để sinh tồn và

tỏa sáng Không gian ấy, dù chỉ là một nhà ngục tăm tối, bẩn thỉu Thời gian ấy, dù

chỉ là khoảnh khắc cuối trong cuộc đời một con người Đấy là gì nếu như không

phải là lí tưởng thẩm mĩ, là niềm tin mãnh liệt của nhà văn vào những điều tốt đẹp

trên đời

● Nghệ thuật

Như ta đã biết, xây dựng hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã dựa vào nguyên mẫu là Chu thần Cao Bá Quát Trong thực tế lịch sử, “thánh Quát” đã bỏ

mình nơi chiến địa trong cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến Nhưng

với Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã “kéo dài cuộc đời Cao Bá Quát” bằng cuộc gặp gỡ

thú vị giữa người tử tù có tài viết chữ đẹp với viên quản ngục – kẻ đại diện pháp

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 26

luật đương thời nhưng khát khao ánh sáng chữ nghĩa Sáng tạo này là chỗ nhà văn

gửi gắm lí tưởng thẩm mĩ và quan điểm nghệ thuật của mình

Đọc truyện Chữ người tử tù, có thể thấy Nguyễn Tuân đã sử dung bút pháp

lãng mạn, lí tưởng hóa để miêu tả hình tượng Huấn Cao Đó là người có vẻ đẹp

toàn diện : vẻ đẹp của tài năng – vẻ đẹp của tâm hồn – vẻ đẹp của khí phách Vẻ

đẹp ấy hiện lên lồng lộng trên nền tăm tối của ngục tù và trong sự kính nể, tôn vinh

của những kẻ đại diện cho luật pháp đương thời Hình ảnh Huấn Cao gắn liền với

cái đẹp, với ánh sáng và cái thiện Những cái đó cũng bật nổi trong ưu thế và sự lấn

át cái xấu, bóng tối và cái ác Đó là những biểu hiện khác nhau của thủ pháp tương

phản – thủ pháp đã được sử dụng rất hiệu quả trong tác phẩm

Cũng như nhiều sáng tác khác, ngôn ngữ miêu tả của Nguyễn Tuân trong Chữ

người tử tù rất đậm chất “điện ảnh” Nhiều đoạn như những thước phim quay

chậm, sắc nét, chậm rãi, hiển hiện từng nét cảnh vật, từng hành động của nhân vật

Ngôn ngữ miêu tả nhân vật Huấn Cao cũng thế Những đoạn tả ông Huấn như

đoạn “rỗ gông”, đoạn “cho chữ”… đều có thể coi là những “thước phim ngắn” về

nhân vật này Từng hành động, điệu bộ, cử chỉ của Huấn Cao cứ dần dần, chậm rãi

hiện ra qua lớp ngôn từ vừa cổ kính vừa hiện đại của nhà văn

● Kết luận

Tóm lại, Huấn Cao là một trong những hình tượng nhân vật đẹp nhất của nhà văn Nguyễn Tuân Hình tượng này thể hiện khá rõ quan niệm thẩm mĩ của nhà văn

: cái Đẹp phải là sự kết hợp giữa cái tâm và cái tài Gốc của cái đẹp cũng như cái

gốc của chữ nghĩa chính là “thiên lương” Cái đẹp, dù trong hoàn cảnh nào, cũng

sẽ luôn vươn lên và tỏa sáng Nó không chấp nhận sống chung với cái ác, cái xấu

Cái đẹp chân chính có sức mạnh cảm hóa con người Qua tư tưởng nghệ thuật về

cái Đẹp, nhà văn thiết tha gửi đến bạn đọc thông điệp : dù trong bất cứ hoàn cảnh

nào cũng phải sống đẹp, phải giữ gìn “thiên lương” cho lành vững Mà sống đẹp

không thể không gắn liền với cách ứng xử văn hóa, một trong những cách ứng xử

ấy là thái độ tôn trọng tài năng và phẩm giá của con người Biết “biệt nhỡn liên tài”

cũng chính là biết sống một cách nhân văn và đầy tinh thần văn hóa

5 Nhân vật viên quản ngục

● Viên quản ng c trong tình huống truyện

Cũng giống như Huấn Cao, nhân vật viên quản ngục được nhà văn xây dựng

từ tình huống độc đáo của truyện Đó là cuộc gặp gỡ khác thường của hai con

người khác thường : viên quản ngục - kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối nhưng lại rất

khát khao ánh sáng của chữ nghĩa với Huấn Cao – người tử tù có tài viết chữ đẹp

nổi tiếng Lẽ ra đây phải là cuộc hội ngộ tương đắc của những kẻ biệt nhỡn liên tài,

của hai tâm hồn nghệ sĩ yêu cái đẹp Nhưng thật oái oăm, họ lại phải gặp nhau giữa

chốn ngục tù và trong một tình thế éo le : cuộc chạm trán giữa một tên “đại

nghịch”, cầm đầu cuộc nổi loạn đang đợi ngày ra pháp trường với kẻ đại diện cho

trật tự xã hội đương thời Như thế, trên bình diện nghệ thuật họ là tri âm, tri kỉ

Trên bình diện xã hội, họ là những kẻ đối địch nhau Hơn nữa, ở một khía cạnh

khác đây còn là sự đối mặt giữa hai loại nhà tù, hai kiểu tù nhân: một người tự do

về nhân thân nhưng bị cầm tù về nhân cách, người kia luôn tự do về nhân cách

nhưng lại bị cầm tù về nhân thân Chọn lựa một tình huống như vậy, Nguyễn Tuân

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 27

đã đặt quản ngục trước một sự lựa chọn có tính xung đột: Hoặc làm tròn bổn phận

một viên quan thì phải chà đạp lên tấc lòng tri kỉ Hoặc muốn trọn đạo tri kỉ thì

phản lại bổn phận nhà nước của một viên quan- nghĩa là phải bất chấp những phép

tắc, trật tự xã hội Quản ngục sẽ hành động theo hướng nào? Ẩn số sẽ được nhà

ngục quan không thể không chịu những tác động của cái cảnh sống ấy Việc phải

sống “giữa một đống cặn bã”, “phải ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt” đã khiến viên

quan coi ngục này ít nhiều bị nhiễm những thói xấu thông thường của chốn tù ngục

dù trong tác phẩm điều đó hiện ra một cách kín đáo Đấy là “cặp mắt hiền lành”

“trái với phong tục nhận tù mọi ngày”; là “những mánh khóe hành hạ thường lệ” -

những “chiêu” lừa lọc, những thủ đoạn dọa dẫm, những “đòn đánh phủ đầu”…

những cái vẫn thường được quản ngục cho thi hành tại cái nhà ngục này và đã

thành thói quen đến mức bọn lính hết sức ngạc nhiên khi không thấy ngục quan

cho áp dụng với Huấn Cao và “năm bạn đồng chí của ông” Chính sự bất thường

trong cách đối xử với Huấn Cao của ngục quan đã cho thấy cái thông thường trong

cách hành xử “bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc” ở viên quản ngục và cả cái nhà tù này

Thái độ “ngạc nhiên”, “nhìn nhau và không hiểu” của bọn lính trước cách ứng xử

trái với lẽ thường của ngục quan là bằng chứng về những tác động tiêu cực của

chốn ngục tù “cặn bã” đối với tính cách của viên quan coi ngục này Nói cách

khác, trên bình diện nghề nghiệp, tính cách viên quản ngục đã ít nhiều bị cái hoàn

cảnh sống và làm việc của mình chi phối

Tuy nhiên, Nguyễn Tuân không dành nhiều tâm sức để miêu tả cụ thể những biểu hiện tiêu cực của ngục quan trong công việc quản lao tù hằng ngày mà ông tập

trung làm hiện lên đời sống nội tâm bên trong và bản chất thật của nhân vật Theo

cách miêu tả đầy sức ám gợi của nhà văn thì quản ngục là “một thanh âm trong

trẻo chen giữa vào một bản đàn mà nhạc luật đều hồn độn xô bồ” Đó là người có

“tính cách dịu dàng và lòng biết giá người”, một “người thẳng thắn” nhưng “phải

ăn đời ở kiếp với lũ quay quắt” Nghĩa là quản ngục đã lầm đường khi chọn nghề

nghiệp cho mình Bản chất con người thật của ông ta đúng ra phải ở một chỗ nào

khác thanh cao hơn, chứ không phải ở chốn này Đã không dưới một lần quản ngục

suy nghĩ, trăn trở về bi kịch chọn sai nghề của bản thân : “Có lẽ lão bát này cũng là

một người khá đây Có lẽ hắn cũng như mình, chọn nhầm nghề mất rồi, một kẻ biết

tiếc, biết trọng người có tài, hẳn không phải là kẻ xấu hay vô tình” Lời than thở,

bộc bạch ấy đã cho thấy một sự thật : quản ngục vẫn chưa hoàn toàn đánh mất

mình, ở ông ta vẫn còn giữ được những vẻ đẹp thiên lương trong sáng

Có thể nói, là quản ngục nhưng ông ta cũng chính là tù nhân chung thân của

cái nhà ngục do chính ông đang cai quản Cái danh, cái lợi, trách nhiệm, bổn phận

của một ông ngục quan là những thứ gông cùm, xiềng xích vô hình xiết chặt tâm

hồn quản ngục suốt đời “Lũ người quay quắt”, “cái đống cặn bã” bao quanh ông

chẳng khác gì nơi buồng tối giam tử tù Tuy nhiên, nhân vật quản ngục không chỉ

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 28

là kẻ thi hành phận sự Những chi tiết khắc họa đời sống nội tâm của quản ngục

với khuôn mặt tỏ rõ sự “nghĩ ngợi đăm chiêu” , “băn khoăn bóp thái dương”,

“những đường nhăn nheo của một bộ mặt tư lự giờ biến mất hẳn Ở đấy, giờ chỉ

còn là mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ” cho thấy viên quan “cai

tù” này không giống với bất cứ một tên “cai tù” nào trong bộ máy thống trị đương

thời Ẩn sâu trong cái vỏ bọc “cai ngục”, đằng sau những “mánh khóe hành hạ

thường lệ” còn có một quản ngục với những khoảnh khắc tâm hồn thánh thiện,

thanh khiết, dịu êm như mặt nước ao xuân

● Viên quản ng c – người có “sở nguyện cao quý”, biết “biệt nh n liên tài”

Là một người làm nghề coi ngục, là công cụ trấn áp của bộ máy thống trị đương thời, nhưng viên quản ngục lại có một thú chơi tao nhã : chơi chữ Đó là

một con người có tâm hồn nghệ sĩ Ngay từ khi còn trẻ, khi mới “biết đọc vỡ nghĩa

sách thánh hiền”, quản ngục đã có cái sở nguyện “một ngày kia được treo ở riêng

nhà mình một đôi câu đối do tay ông Huấn Cao viết” “Có được chữ của ông Huấn

mà treo là có một vật báu trong đời” Quản ngục sẵn sàng “biệt đãi” ông Huấn –

điều mà cả ông ta và bất cứ ai cũng thừa hiểu là hành động phạm pháp, thậm chí bị

quy vào tội đồng lõa với tội phạm Với tội danh này, nặng thì bị xử tử giống như

những phạm nhân kia, nhẹ thì mất nghiệp, khuynh gia bại sản Nhưng điều gì đã

khiến ngục quan nhẫn nại, hạ mình, dám đánh đổi cả sự nghiệp, thậm chí cả tính

mạng của mình đến như vậy ? Rốt cuộc chỉ có một điều cốt lõi, ấy là chữ của Huấn

Cao - “vật báu trên đời” Cũng chính vì điều này mà trong những ngày ngắn ngủi

khi ông Huấn bị tam giam trong ngục, quản ngục luôn sống trong tình trạng vô

cùng căng thẳng Y thừa biết rằng tính ông Huấn Cao vốn khoảnh “trừ chỗ tri kỉ,

ông ít chịu cho chữ” Viên quản ngục luôn sống trong sự dằn vặt, nỗi khổ tâm, lo

lắng vì mai mốt “ông Huấn bị hành hình mà không kịp xin được mấy chữ thì ân

hận suốt đời” Những tâm trạng ấy của quản ngục cho thấy cái sở nguyện chơi chữ

của ông không chỉ dừng lại ở sự thỏa mãn sở thích cá nhân mà quan trọng hơn đó

là một con người biết trân trọng những giá trị văn hóa của dân tộc

Là người có “sở nguyện cao quý” quản ngục cũng đồng thời là kẻ biết quý trọng người tài hoa khí phách, “biệt nhỡn liên tài” Chưa gặp Huấn Cao lần nào

nhưng lòng ông đã một mực kính phục Rồi khi nhận tù, trái hẳn với ngày thường,

y nhìn tù nhân với con mắt “hiền lành”, “lòng kiêng nể” Sự biệt đãi của quản ngục

đối với Huấn Cao là một hành động xuất phát từ lòng say mê cái đẹp và mến trọng

khí khách Ngục quan đã tự hạ mình xuống trước người tử tù Tiếp cận với tử tù,

ngục quan chân thành ngỏ ý : “Ngài có cần thêm gì nữa xin cho biết Tôi sẽ cố

gắng chu tất…” Bị tử tù nặng lời “Ngươi đừng bao giờ đặt chân vào đây” với thái

độ “khinh bạc đến điều” ngục quan nhẫn nhục chấp nhận mà không hề oán thù,

không giở trò tiểu nhân thị oai Y chỉ lễ phép rút lui ra với một câu “xin lĩnh ý” Y

cũng thừa hiểu rằng Huấn Cao là người “chọc trời quấy nước, đến trên đầu người

ta, người ta cũng chẳng cần biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ

tiểu lại giữ tù” Rõ ràng, quản ngục là một người rất biết “giá người”, biết trọng

người ngay Đó là biết mình biết ta, hiểu đời hiểu người, biết nhận ra đâu là cái tài,

cái đẹp đích thực Và đặc biệt ngục quan biết trân trọng, nâng niu những người tài,

những cái đẹp mà y biết là “có một không hai” trên đời Từ đây, có thể nói, ngục

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 29

quan không “lớn” vì uy quyền mà “đẹp” ở nhân cách, ở tâm thế của một kẻ sĩ biết

đọc vỡ nghĩa sách thánh hiền

Vẻ đẹp của ngục quan (cũng như Huấn Cao) một lần nữa được tỏa sáng trong cảnh cho chữ Nhân cách và sở nguyện cao đẹp của quản ngục cuối cùng cũng đã

được Huấn Cao thấu hiểu, chia sẻ và trân trọng Trước khi ra pháp trường, qua lời

của viên thơ lại, Huấn Cao đã nói : “Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các

ngươi Nào ta có biết đâu một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích

cao quý như vậy Thiếu chút nữa, ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” Trước

lời khuyên chân thành của Huấn Cao, quản ngục đã khúm núm vái lạy, nhỏ dòng

nước mắt nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” Cái vái lạy và dòng nước

mắt đã không làm cho quản ngục trở nên nhỏ bé, đê hèn mà ngược lại làm cho hình

tượng này trở nên đẹp hơn về nhân cách Theo GS Nguyễn Đăng Mạnh “Chính

Cao Chu Thần, nguyên mẫu của nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù, có một

câu thơ thật đẹp, thật sang: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (Một đời chỉ biết cúi

đầu vái lạy hoa mai) Cái cúi đầu của thầy quản ngục vái lạy Huấn Cao chính là

cái cúi đầu của Cao Bá Quát trước hoa mai vậy’’

Có thể nói, diến biến nội tâm hành động và cách ứng xử của viên quản ngục cho thấy quản ngục là một người có nhân cách đẹp, là “một tấm lòng trong thiên

hạ”, xứng đáng là tri âm, tri kỉ với Huấn Cao Đó đích thị là “một thanh âm trong

trẻo chen lẫn một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn độn xô bồ” Quản ngục là một con

người biết giữ “thiên lương”, biết trân trọng giá trị văn hóa, tài năng, là người có

tâm hồn nghệ sĩ, không có tài nhưng yêu tài, không sáng tạo ra cái đẹp nhưng biết

yêu và trân trọng cái đẹp Quản ngục đúng là một nhân vật của Nguyễn Tuân

6 Cảnh cho chữ

Có những tác phẩm văn chương khiến ta sững sờ trước cái đẹp, trước tài năng Có những đoạn văn làm ta ngạc nhiên trước một nhân cách cao cả, một bút

pháp tinh luyện Đoạn văn tả cảnh cho chữ trong nhà giam ở cuối thiên truyện Chữ

người tử tù của Nguyễn Tuân là một trong số những trường hợp như thế

● Cảnh cho chữ - chặng “mở nút” trên dòng kịch tính của truyện

Cốt truyện của Chữ người tử tù được xây dựng trên một cuộc gặp gỡ khác

thường của hai con người cũng thật khác thường Là kẻ đại diện cho bạo lực tăm

tăm tối, quản ngục lại rất khát khao ánh sáng của chữ nghĩa Kẻ ấy đã gặp được

một người viết chữ nổi tiếng mà mình vốn nghe danh, vốn tôn kính lâu nay Lẽ ra

đây phải là một cuộc hội ngộ tương đắc giữa những kẻ biệt nhỡn liên tài Song,

thật oái oăm, hai nhân cách khác thường này lại gặp nhau nơi nhà ngục và cuộc

gặp gỡ ấy trở thành cuộc chạm trán giữa một người tử tù và một viên quan coi

ngục Huấn Cao càng lạnh lùng, càng tỏ ra bất cần thì viên quản ngục lại càng cháy

bỏng cái sở nguyện được chữ “Có được chữ ông Huấn mà treo là có một vật báu

trên đời” Bởi tâm niệm ấy, ông ta thêm nhún nhường, nhã nhặn ngay cả khi bị

Huấn Cao xua đuổi Nguyễn Tuân thật khéo tạo tình huống kịch và nhanh chóng

đẩy nó đến cao trào Nút kịch được thắt lại ở chi tiết quản ngục bỗng nhận được

công văn khẩn của quan Hình bộ thượng thư giữa một buổi chiều lạnh Ngày mai,

sớm tinh mơ, sẽ có người đến lĩnh tù Pháp trường lập ở trong Kinh Đến đây,

người đọc băn khoăn trước các câu hỏi: Liệu cho đến khi từ giã cõi đời, Huấn Cao

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 30

có hiểu được tấm lòng tốt của quản ngục hay không? Cái ước nguyện thiết tha,

chính đáng của quản ngục có được Huấn Cao chấp thuận chăng? Đặt trong dòng

cốt truyện, trong kết cấu của tác phẩm, cảnh cho chữ trong nhà giam có vai trò “cởi

nút”, giải tỏa Từ đây, nổi bật lên vẻ đẹp kì vĩ của các nhân vật, nổi bật lên lí tưởng

thẩm mĩ của người nghệ sĩ Nguyễn Tuân

● Cảnh cho chữ - “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”

Nhà văn đã gọi cảnh cho chữ là “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có” Quả

là như vậy, không gian cho chữ “xưa nay chưa từng có” Đã bao giờ cảnh cho chữ

“bày ra trong một buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi

phân chuột, phân gián” chưa ? Đã bao giờ ánh sáng để viết chữ tỏa ra từ một bó

đuốc tẩm dầu, khói bốc mù mịt khiến mọi người dụi mắt lia lịa ? Chắc chắn là

cũng chưa Nhưng vào cái đêm khuya hôm ấy, trong trại giam tỉnh Sơn đã diễn ra

một sự kiện đáng ghi tạc trọn đời đối với ba tấm lòng cao cả trong thiên hạ : cho

chữ - xin chữ thánh hiền

Trong thời gian, không gian, ánh sáng xưa nay chưa từng có ấy, tư thế của những con người cho chữ và nhận chữ cũng “xưa nay chưa từng có” Người cho

chữ “cổ” vẫn “đeo ngông, “chân” vẫn “vướng xiềng” nhưng tư thế thì hiên ngang,

hành động thì nghĩa hiệp, đang phóng bút sáng tạo ra cái đẹp cho đời Tương phản

với tư thế, hành động của người tử tù, viên quản ngục – kẻ đầy uy quyền ở cái nhà

lao ấy – lại đang “khúm núm” cất những đồng tiền kẽm còn thầy thơ lại – kẻ có lẽ

chỉ dưới một người, trên nhiều người ở cái nhà ngục ấy – thì “run run bưng chậu

mực” Cả hai người này đang xúc động, trân trọng và đầy ngưỡng mộ trước hành

động cao cả của Huấn Cao

Hoàn cảnh cho chữ, tư thế của những con người cho chữ và nhận chữ “xưa nay chưa từng có” nêu trên đã làm nổi bật tính chất “chưa từng có” của cuộc gặp

gỡ này Đây là lần đầu tiên, nhưng thật đau xót – cũng là lần cuối cùng, ba con

người này đồng thời gặp nhau với con người thật của mình Rất nhiều lần trước họ

chỉ gặp nhau tay đôi (theo từng cặp) Gặp nhau mà đâu đã thực hiểu lòng nhau

Gặp nhau theo con người chức phận Nhà nước, con người nghĩa vụ Giờ đây, Huấn

Cao ở cương vị người cho chữ, người truyền dạy Quản ngục được ở vị trí người

nhận chữ, được thỏa mãn ước nguyện của mình bấy lâu nay Đâu còn kẻ tử tù Đâu

còn quan cai ngục Lúc này chỉ có những tấm lòng biệt nhỡn liên tài đang rung

cảm với những nét chữ vuông vắn trên tấm lụa trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ

● Cảnh cho chữ - nơi kết tinh tư tưởng và tài năng nghệ thuật của Nguyễn Tuân

Toàn bộ đoạn văn tả cảnh ông Huấn Cao cho chữ toát lên vẻ đẹp của những tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”, của cách hành xử cao thượng, đầy tinh thần văn hóa

Phân tích đoạn văn này, có người cho rằng ở đây đã diễn ra một sự thay bậc đổi

ngôi Thật ra, đó chỉ là nhìn trên bề mặt hình thức Suốt từ đầu truyện tới lúc này,

tuy là một kẻ tử tù đấy nhưng Huấn Cao có bao giờ chịu ở “bậc dưới” và quản

ngục cũng đâu đặt mình ở “ngôi trên” bao giờ Nhấn mạnh sự thay bậc đổi ngôi

nghĩa là muốn khẳng định tính đột biến, đột xuất của cảnh tượng cho chữ Kì thực,

đây là bước nhảy vọt về chất đã có quá trình tích lũy về lượng Nó là bước hội ngộ

tất yếu và đẹp đẽ nhất giữa những kẻ biệt nhỡn liên tài Hãy chú ý tới cái điệu bộ,

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 31

cử chỉ của ông Huấn trước khi cất lời khuyên quản ngục: Huấn Cao “đỡ viên quản

ngục đứng thẳng người dậy” rồi mới “đĩnh đạc bảo” Rõ ràng, ông Huấn không

muốn hạ thấp quản ngục và tôn lên vị thế của bản thân Trái lại, đỡ viên quản ngục

dậy, Huấn Cao đã tạo ra cái thế bình đẳng trong quan hệ của những tấm lòng yêu

cái đẹp Đấy là thái độ tôn trọng, yêu mến những người biết yêu cái tài, mến cái

đẹp của Huấn Cao Và hãy chú ý giọng điệu của Huấn Cao nữa khi ông cất lời dặn

dò viên quản ngục : “Ta khuyên thầy quản nên thay chốn ở đi… Tôi bảo thực

đấy…” Đó đâu giống cái giọng kẻ cả một đấng bề trên đang dạy bảo mà đúng hơn

là cử chỉ, lời lẽ của một tấm lòng bè bạn, của những tri âm, tri kỉ, hiểu rõ tấm chân

tình và bản chất con người của nhau

Lời Huấn Cao khuyên quản ngục hay chính là lời nghệ sĩ Nguyễn Tuân muốn

nhắn tới người đời lúc bấy giờ : “Ở đây lẫn lộn Ta khuyên thầy Quản nên thay

chốn ở đi Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét

vuông tươi tắn […] Tôi bảo thực đấy, thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở, thầy

hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ Ở đây, khó

giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cả đời lương thiện

đi” Muốn chơi chữ, phải giữ lấy thiên lương Trong môi trường của cái ác, cái đẹp

khó thể tồn tại vững bền Chữ nghĩa và thiên lương không thể chung sống với lũ

người quay quắt nơi chốn ngục tù đen tối tàn bạo “Thoi mực, kiếm được ở đâu tốt

và thơm lắm Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không? ” Lời nói này

của Huấn Cao đầy ngụ ý, đầy sức gợi Mấy người thưởng thức được mùi thơm của

mực ? Hãy biết tìm trong mực, trong chữ hương vị của thiên lương Cái gốc của

chữ nghĩa chính là thiên lương đó thôi Cho đến khi sắp từ giã cõi đời, Huấn Cao

càng thiết tha mong ước những người còn sống hãy sáng ra lẽ ấy

Huấn Cao chết nhưng chữ Huấn Cao còn Hành động và lời dạy của Huấn Cao đã cảm hóa được viên quản ngục Chi tiết kết thúc cảnh cho chữ càng gợi

không khí lắng đọng, thiêng liêng làm sao: “Ba người nhìn bức châm, rồi lại nhìn

nhau Ngục quan cảm động, vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng

nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” Đã

một lần trước, viên quản ngục nhã nhặn “xin lĩnh ý” khi bị Huấn Cao lạnh lung

đuổi khỏi buồng giam Nhưng đó là lần nhẫn nhục, lần cam chịu Lần bái lĩnh này

là kết quả của sự bừng tỉnh, sự giác ngộ Chiến thắng đã thuộc về cái đẹp, cái cao

thượng Ngay giữa nơi tưởng chỉ có thể tồn tại cái xấu, cái ác, cái tài năng và nhân

cách cao cả của con người vẫn có thể tìm thấy không gian, thời gian để tồn tại và

chiến thắng Không gian ấy, dù chỉ là một nhà ngục tử tù Thời gian ấy, dù chỉ là

đêm cuối trong cuộc đời một con người Đó chính là lí tưởng thẩm mĩ, là niềm tin

đáng quí của người nghệ sĩ Nguyễn Tuân trong hoàn cảnh xã hội đen tối, tù túng

thời bấy giờ

Cảnh tượng cho chữ cuối thiên truyện “Chữ người tử tù” là một kết thúc có hậu Nó giúp người đọc thêm yêu mến một nét đẹp trong truyền thống văn hóa của

dân tộc Nó giáo dục cách ứng xử văn hóa, thái độ tôn trọng tài năng Nó gieo vào

lòng ta một niềm tin vào sự bất diệt của thiên lương… Nhưng kết thúc có hậu, có

tính tất yếu mà vẫn chứa đựng sự bất ngờ Cái cảm giác thỏa mãn mà đoạn văn

đem lại cho ta không chút dễ dàng Đó là kết quả của sự chờ đợi, của những âu lo,

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 32

hồi hộp Nó như sự bừng sáng, bừng ngộ để bỗng thêm khâm phục, ngỡ ngàng

Đoạn văn là đỉnh điểm sáng tạo xuất sắc của Nguyễn Tuân ở Chữ người tử tù,

khiến ta “bái lĩnh” vẻ đẹp của một tư tưởng, tài hoa của một nghệ sĩ

Đánh giá về đoạn văn tả cảnh ông Huấn Cao cho chữ, nhiều nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng đó là một đoạn văn rất giàu “chất điện ảnh” Đoạn văn

giống như một thước phim ngắn, chậm rãi Cứ sau mỗi câu văn, từng hình ảnh của

sự vật, từng động tác của con người lại hiện ra một cách rõ ràng và sống động, cứ

như thể ta đang xem một đoạn phim trong rạp chiếu bóng : “…trong một buồng tối

chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián [ ]

Trong không khí khói toả như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm

dầu rọi lên ba cái đầu người đang chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn

lần hồ Một người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm

lụa trắng tinh căng trên mảnh ván…” Sự xuất hiện của từng sự vật, hình ảnh con

người trong “thước phim” này dường như cũng đã được người “đạo diễn Nguyễn

Tuân” cố ý sắp xếp theo chiều hướng đi từ bóng tối đến ánh sáng - cảnh cho chữ

bắt đầu được đặc tả bởi sự bao phủ của bóng tối nhà lao… rồi dần dần nhen lên và

rực rỡ ánh sáng; và từ hôi hám, nhơ bẩn đến mùi thơm và cái đẹp : cảnh Huấn Cao

cho chữ hiện ra trong một buồng tối “bừa bãi phân chuột, phân gián” để rồi khép

lại với chi tiết “mùi thơm của chậu mực bốc lên” và những con chữ được sinh

thành Mỗi nét chữ hiện hình là cái đẹp nảy sinh Cùng với nghệ thuật dựng cảnh,

dựng người thủ pháp tương phản cũng được nhà văn sử dụng một cách triệt để và

hiệu quả Sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối; giữa cái hỗn độn, xô bồ, nhơ bẩn

của cảnh nhà giam với cái thanh khiết, cao cả của nền lụa trắng, nét chữ đẹp đẽ;

giữa kẻ tử tù đang ban phát cái đẹp và cái thiện với viên quan coi ngục đang khúm

núm, lĩnh hội, vái lạy Tất cả đã làm nổi bật hình ảnh Huấn Cao, khẳng định sự

chiến thắng ánh sáng đối với bóng tối, cái đẹp đối với cái xấu xa, nhơ bẩn, cái

thiện đối với cái ác

B PHẦN 2 : MỘT SỐ ĐỀ LUYỆN TẬP

I Câu hỏi tái hiện

1 Tình huống truyện Chữ người tử tù là gì ? Tính chất éo le của tình huống

truyện thể hiện ở đâu ? Tình huống này có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện

tính cách nhân vật và chủ đề thiên truyện ?

Trong Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã tập trung khắc họa vẻ đẹp của hình

tượng Huấn Cao Vẻ đẹp ấy là hài hòa của ba phương diện : tài hoa nghệ sĩ (tài viết

chữ đẹp) – nhân cách trong sáng, cao cả (thiên lương lành vững, biệt nhỡn liên tài)

– khí phách hiên ngang (một trang anh hùng dũng liệt) Đây là vẻ đẹp lãng mạn, vẻ

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 33

đẹp được lí tưởng hóa và được thể hiện một cách khác thường trong hoàn cảnh

tưởng chừng như không thể nào xảy ra được

Qua hình tượng nhân vật Huấn Cao, nhà văn bộc lộ quan niệm của mình về cái Đẹp : cái Đẹp phải là sự kết hợp giữa cái tâm và cái tài Gốc của cái đẹp cũng

như cái gốc của chữ nghĩa chính là “thiên lương” Sứ mệnh của cái đẹp là phải làm

cho cuộc sống này đẹp lên, nhân văn, nhân ái hơn Cũng qua nhân vật Huấn Cao,

nhà văn thiết tha gửi đến bạn đọc thông điệp : dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng

phải sống đẹp, phải giữ gìn “thiên lương” cho lành vững Mà sống đẹp không thể

không gắn liền với cách ứng xử văn hóa, một thái độ tôn trọng tài năng và phẩm

giá của con người

3 Cảnh cho chữ được tác giả gọi là cảnh tượng gì ? Vì sao lại gọi như thế ? Nêu ý nghĩa và vẻ đẹp của cảnh tượng này

Cảnh cho chữ được tác giả gọi là cảnh tượng xưa nay chưa từng có Sở dĩ

như vậy là vì : hoàn cảnh, địa điểm cho chữ “xưa nay chưa từng có” - việc cho chữ

thường chỉ diễn ra ở những nơi như thư phòng, còn ở đây nó diễn ra trong một gian

ngục thất tăm tối, hôi hám, bẩn thỉu, lại là nơi ngự trị của cái ác, cái xấu, của

những thứ thù địch với cái đẹp ; tư thế của những người cho chữ, nhận chữ cũng

“xưa nay chưa từng có” : kẻ có quyền hành thì không có “quyền uy”, “uy quyền”

thuộc về Huấn Cao - kẻ đang bị tước đi mọi thứ quyền Người nắm quyền sinh

quyền sát thì khúm núm, sợ sệt trong khi kẻ tử tù thì ung dung đường bệ Kẻ có

chức năng giáo dục tội phạm thì đang được tội phạm “giáo dục”

Cảnh tượng này đã được nhà văn miêu tả giống như một thước phim quay chậm mà chiều hướng vận động của nó là từ bóng tối đến ánh sáng - cảnh cho chữ

bắt đầu được đặc tả bởi sự bao phủ của bóng tối nhà lao rồi dần dần nhen lên và

rực rỡ ánh sáng; từ hôi hám, nhơ bẩn đến cái đẹp - cảnh Huấn Cao cho chữ hiện

dần lên trên nền ánh sáng của bó đuốc tẩm dầu Mỗi nét chữ hiện hình là cái đẹp

nảy sinh

Qua cảnh tượng này, nhà văn thể hiện niềm tin và sự khẳng định của mình

về chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp đối với cái xấu, của cái

thiện đối với cái ác Vẻ đẹp của đoạn văn tả cảnh cho chữ chính là vẻ đẹp tỏa sáng

của cái thiện, cái đẹp và nhân cách cao cả của con người

4 Nêu đặc sắc nghệ thuật của truyện Chữ người tử tù

Chữ người tử tù là một tuyện ngắn Mà trong nghệ thuật truyện ngắn, việc xây

dựng tình huống truyện là rất quan trọng Trong tác phẩm này, nhà văn đã xây

dựng được một tình huống đặc biệt, đó là cuộc gặp gỡ khác thường của hai con

người khác thường : viên quản ngục - kẻ đại diện cho bạo lực tăm tối nhưng lại rất

khát khao ánh sáng của chữ nghĩa với Huấn Cao – người tử tù có tài viết chữ đẹp

nổi tiếng Lẽ ra đây phải là cuộc hội ngộ tương đắc của những kẻ biệt nhỡn liên tài,

của hai tâm hồn nghệ sĩ yêu cái đẹp Nhưng thật oái oăm, họ lại phải gặp nhau giữa

chốn ngục tù và trong một tình thế éo le : cuộc chạm trán giữa một tên “đại

nghịch”, cầm đầu cuộc nổi loạn đang đợi ngày ra pháp trường với kẻ đại diện cho

trật tự xã hội đương thời Tình huống truyện này chẳng những đã góp phần làm nổi

rõ tính cách của Huấn Cao - một người tài hoa, hiên ngang, bất khuất trước cái ác,

cái xấu nhưng mềm lòng trước cái thiện; tính cách của viên quản ngục - người biết

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 34

“biệt nhỡn liên tài”, là một “thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà

nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”, mà còn ít nhiều làm bật sáng chủ đề tác phẩm : ngợi

ca cái tài, cái đẹp, cái “thiên lương”

Thành công của thiên truyện còn thể hiện ở nghệ thuật xây dựng nhân vật

Nguyễn Tuân đã sử dụng hiệu quả bút pháp lãng mạn, đặc biệt là thủ pháp tương

phản để khắc họa và làm nổi bật chân dung, tính cách nhân vật

Ngôn ngữ truyện giàu giá trị tạo hình Nhịp điệu câu văn chậm rãi gợi liên tưởng đến một đoạn phim quay chậm Từng hình ảnh, từng động tác hiện dần lên

dưới ngòi bút “đậm chất điện ảnh” của nhà văn : “Trong không khí khói toả như

đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người

đang chăm chú trên một tấm lụa bạch… Một người tù cổ đeo gông, chân vướng

xiềng, đang đậm tô nét chữ trên tấm lụa trắng tinh căng trên mảnh ván”

Không khí cổ xưa “vang bóng một thời” cũng được “phục chế” thành công trong truyện qua hàng loạt các yếu tố, từ cảnh vật (cảnh nhà ngục, cảnh cho chữ),

chi tiết, hình ảnh (góc án thư nơi làm việc của quản ngục), nhân vật (ngục quan,

thơ lại, bọn lính ngục), đến từ ngữ (phiến trát, thầy bát, hèo hoa, đĩa dầu sở, thủ

xướng, biệt nhỡn, hình bộ thượng thư )

II Đề tự luận

1 Kiểu đề 1 : Cảm nhận/phân tích nhân vật

- Cảm nhận của anh (chị) về nhân vật Huấn Cao

- Cảm nhận về viên quản ngục

2 Kiểu đề 2 : Phân tích một vấn đề trong tác phẩm

- Phân tích tình huống truyện

- Phân tích đặc sắc nghệ thuật của truyện

- Phân tích cảnh cho chữ

3 Kiểu đề 3 : so sánh Cảm nhận của anh (chị) về nhân vật Huấn Cao và nhân vật ông lái đò

● Giới thiệu khái quát về hai tác phẩm và nhân vật

● Đều là nhân vật tài hoa nghệ sĩ của Nguyễn Tuân, thể hiện lối tiếp cận và miêu tả con người ở bình diện văn hóa thẩm mĩ

- Huấn Cao, tài viết chữ

- Ông lái đò, tay lái ra hoa

● Nhưng quan niệm nghệ thuật về con người của Nguyễn Tuân đã có sự đổi khác

- Trước Cách mạng : con người đặc tuyển

- Sau Cách mạng : mở rộng tới những người dân lao động

● Đều là nhân vật mang đậm dấu ấn cá tính và phong cách Nguyễn Tuân : không ưa cái bằng phẳng, nhạt nhẽo, thích những cá tính mạnh mẽ, phi thường

- Huấn Cao vừa là nhà nho tài tử vừa là trang anh hùng dũng liệt, khí phách ngang tàng

- Ông lái đò vừa là người lao động bình dị vừa là vị tướng anh hùng trên chiến trường sông nước

● Đều được khắc họa bằng thứ ngôn ngữ giàu hình ảnh, với những đoạn văn miêu tả giàu chất điện ảnh

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 35

● Hai nhân vật này thể hiện sự kế thừa và đổi mới trong phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân

HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA

Trang 36

kể cho sự phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại Vũ Trọng Phụng viết nhiều

thể loại, song đặc biệt thành công ở phóng sự và tiểu thuyết, ông được coi là ông

vua phóng sự đất Bắc, có những tiểu thuyết được coi là kiệt tác

2 Tác phẩm

- Tiểu thuyết Số đỏ (1936): được coi là kiệt tác trào phúng của văn xuôi Việt

Nam hiện đại Thông

qua hình tượng Xuân Tóc Đỏ, một tên lưu manh vô học nhanh chóng leo lên tột đỉnh vinh quang, tác phẩm đã phơi bày sự thối nát của xã hội tư sản thành thị

Việt Nam đầ u thế kỉ XX khi đua đòi theo lối sống văn minh lố lăng, đồi bại, chà

đạp lên đạo đức, phong hóa truyền thống, hủy hoại nhân cách con người

- Đoạn trích thuộc chương XV của Số Đỏ, với nhan đề: Hạnh phúc của một

tang gia- Văn Minh nữa cũng nói vào - Một đám ma gương mẫu Thông qua mâu

thuẫn trào phúng và những chân dung biếm họa của một đám ma gương mẫu, Vũ

Trọng Phụng đã phê phán mạnh mẽ, sâu sắc bản chất lố lăng, đồi bại của xã hội

thượng lưu thành thị Việt Nam trước 1945

Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX Tiêu biểu cho nghệ thuật trào lộng, châm

biếm sâu cay của ông có thể kể đến tiểu thuyết “ Số đỏ” – cuốn tiểu thuyết mà mỗi

chương truyện sinh động, sắc sảo, nhạy bén như một thiên phóng sự Đoạn trích “

Hạnh phúc của một tang gia” ( thuộc chương XV của tác phảm “Số đỏ”) là đoạn

trích tiêu biểu cho nghệ thuật trào phúng sắc sảo của Vũ Trọng Phụng trong tác

phẩm này

“ Nghệ thuật trào phúng” là nghệ thuật tạo tiếng cười mang ý nghĩa đả kích,

lên án, vạch trần bản chất xấu xa của đối tượng Tiếng cười chỉ xuất hiện khi phát

hiện ra những mâu thuẫn trái với tự nhiên rồi phóng đại lên để gây cười Trong

đoạn trích, nghệ thuật trào phúng được thể hiện qua cách xây dựng mâu thuẫn trào

phúng, tình huống trào phúng, mô tả chân dung trào phúng, cảnh trào phúng và

giọng điệu, ngôn từ

Mâu thuẫn trào phúng được thể hiện trước hết ở nhan đề chứa đựng nghịch lí : “ Hạnh phúc của một tang gia” “Hạnh phúc” là trạng thái thỏa mãn, thoải mái

về tinh thần khi được đáp ứng một nhu cầu nào đó trong cuộc sống “ Tang gia” là

gia đình có tang, có người thân mất đi, nghĩa là có sự mất mát về người Theo Vũ

Trọng Phụng, tang gia tuy có mất mát về người ( cụ cố Tổ) song bù lại nó đem lại

rất nhiều lợi lộc về tiền bạc và danh tiếng Cách lí giải này sẽ là lời hé mở về mở

bản chất của tầng lớp thượng lưu trong xã hội: chỉ quan tâm đến danh lợi mà bất

chấp đạo lí tình nghĩa Không dừng lại ở nhan đề, mâu thuẫn trào phúng sẽ được

triển khai trong toàn bộ chương truyện và được tăng dần về mức độ, phóng đại

niềm hạnh phúc Ban đầu là niềm hạnh phúc của các thành viên trong gia đình, sau

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 37

đó là hạnh phúc được tràn ra cả ngoài xã hội Cái chết cụ cố Tổ ban phát niềm

hạnh phúc cho tất cả các thành viên trong và ngoài gia đình

Tình huống trào phúng được lựa chọn là một tình huống đạo đức: tác giả dùng cái chết của người thân làm phép thử độ sáng của đạo hiếu trong gia đình,

dùng cái chết đồng loại làm phép thử độ sáng của tình người và tính người Để

triển khai tình huống, Vũ Trọng Phụng đã tập hợp và miêu tả những tâm trạng,

hành vi, cách ứng xử, thái độ hoàn toàn trái với chuẩn mực đạo đứ thông thường

Đó là tang gia song không ai nghĩ đến người chết và việc báo hiếu Mỗi người đều

có mối quan tâm riêng nhưng đều hướng đến hai chữ danh lợi thu được từ cái chết

ấy Đó là tang gia song không ai đau buồn, thương tiếc Nếu có đau buồn, thương

tiếc cũng chỉ là cái mặt nạ, là màn kịch được dựng lên để che đậy những nhu cầu,

mưu đồ, toan tính Ẩn sau lớp mạt nạ là niềm vui thực sự của cả người thân trong

gia đình và những người ngoài gia đình Niềm vui ấy khiến đám tang có xu hướng

trở thành đám hội tưng bừng, náo nhiệt

Đám ma thật to, to đến nước "có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng" Người ta đã lợi dụng đám ma đến mức cao nhất

để khoe giàu khoe sang và khoe lòng hiếu thảo giả vờ của mình! Nếu như mong

muốn của tất cả đám con cháu của người chết kia là, trong đám ma này, đưa sự giả

dối, bịp bợm đồng thời cũng là sự tàn nhẫn, bất nhân, đểu giả của mình lên đến

mức hoàn toàn, thì quả thật chúng đã đạt được một cách trọn vẹn, xuất sắc

Trong nghệ thuật biếm họa, chỉ với đôi ba nét, người họa sĩ tóm được thần thái của đối tượng trào phúng, lột tả được mâu thuẫn, phơi bày được bản chất của

con người xấu xa để tạo tiếng cười đấy chất trí tuệ, có sức công phá lớn Lần lượt

các chân dung biếm họa hiện lên dưới ngòi bút như có thần của Vũ Trọng Phụng

Đó là cụ cố Hồng – con trai cả của người chết.Với vị trí này, trách nhiệm của ông là lo ma chay của cha mình cho chu tất nhưng những hành động cụ thể của

ông lại hoàn toàn trái ngược Ông nằm dài, hút thuốc phiện và mơ màng theo khói

thuốc Ông nghĩ đến việc cưới chạy cho cô con gái Tuyết nhưng lại đùn đẩy việc

cưới xin cho vợ Cái danh mà ông mơ ước và tô vẽ là gia thế của một gia đình nề

nếp, gia phong, danh gia vọng tộc Vì thế ông đã tỏ ra già cả dù chưa đến 60 để

được gọi là “ cụ Cố” Ông sẵn sàng mùa hè mặc áo bông, trả nhầm tiền xe để

chứng minh mình lẩm cẩm; luôn gắt gỏng để chứng tỏ mình già cả, ốm yếu Nghĩ

đến cái chết của bố mình, ông sung sướng đến độ đê mê nên “ đã nhắm nghiền mắt

lại để mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa

khóc mếu, để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia

kìa!” và khen “ một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế”… Tấm lòng của

người con trơ như khúc gỗ, vô cảm trước cái chết của người cha Vai trò và tình

cảm của một đứa con trong ông đã chết bởi ông chỉ nghĩ đến cái gậy mà thôi!

Ông Văn Minh là đứa cháu đích tôn, là “ nhà cải cách xã hội” danh giá thì sung sướng tột đỉnh vì “ Thế là từ nay mà đi, cái chúc thư kia sẽ đi vào thời kì

thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa” Mọi hành động của ông đều

đối lập với trách nhiệm và tình cảm của một người cháu Ông mời luật sư đến

chứng kiến cái chết của ông nội để đảm bảo tính pháp lí của chúc thư Ông còn

nghĩ đến cách đối xử với Xuân Tóc Đỏ mà thực chất là tìm cách bịt miệng vì Xuân

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 38

Tóc Đỏ biết những bí mật tày đình của ông Ông quan niệm tội bôi nhọ danh dự

của người thân trong gia đình là tội nhỏ và tội làm chết người thân trong gia đình

mới là cái ơn lớn Để trả cái ơn to lớn ấy, ông đã dùng hạnh phúc trăm năm của cô

em gái lá ngọc cành vàng để trả ơn cho một kẻ vô học Ở ông tồn tại sự mâu thuẫn

giữa cái bên ngoài là vẻ mặt “đăm đăm chiêu chiêu” của cái bối rối lo lắng rất hợp

thời trang nhà có tang với cái bên trong là việc nghĩ cách đối xử với người đã

mang đến cái “ ơn to” cho gia đình

Cô Tuyết, cô cháu gái giữ gìn nửa chữ trinh, mới chỉ hư hỏng được một nửa

Mặt cô phảng phất vẻ buồn lãng mạn vì nhớ nhung nhân tình chứ không phải xót

thương ông nội Đám tang mang đến niềm hạnh phúc cho cô vì cô được mặc bộ y

phục “ Ngây thơ” để chứng tỏ phẩm giá mới chỉ đánh mất nửa chữ trinh Bộ y

phục nửa kín nửa hở làm cho các ông tai to mặt lớn bạn của cụ cố Hồng cảm động

thực sự, còn hơn cả “ những khi nghe tiếng kèn Xuân nữ ai oán, não nùng”

Cậu tú Tân thì “cứ điên người lên vì cậu đã sẵn sang mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến” Ông nội chết là dịp để cậu trỏ tài đạo diễn, chụp

ảnh trong dịp đám tang Cậu tỏ ra là một tài tử chụp ảnh, những chiếc máy ảnh

được chuẩn bị từ lâu nay sẽ có dịp dung đến Cậu và bạn hữu của cậu rầm rộ nhảy

lên những ngôi mộ khác nhau để chụp ảnh ở những khoảnh khác nhau Cậu đạo

diễn mọi người gục đầu, cong lưng, khóc rồi đóng kịch xót thương cho đúng

không khí đám tang

Ông Phán mọc sừng là con rể của cụ cố Hồng Ông sung sướng vì “ không ngờ ràng giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông lại đến như thế’, nó có giá đến

“ vài nghìn đòng” Đông Dương Ông trù tính ngay một cuộc doanh thương với

Xuân Tóc Đỏ để nhân cái số vốn ấy lên Là một diễn viên đại tài, ông Phán đã

hoàn thành xuất sắc màn kịch vờ tỏ ra khóc thương Trong đám tang ông vợ, ông

mặc cái khăn trắng to tướng, áo thụng trắng lòe xòe và khóc mãi không thôi Ngay

cả Xuân Tóc Đỏ- kẻ chuyên đi lừa đảo người khác cũng bị ông lừa Tưởng ràng

ông khóc đến lả oặt người đi nên đã đưa tay ra đỡ, nhưng đến khi ông Phán dúi

vào tay tờ 5 đồng gấp tư hắn mới hiểu ra bộ mặt thật tham lam đến mức tình người

khô héo, trái tim vô cảm và thậm chí là việc bán rẻ cả danh dự bản thân Ngay

trước mặt cha vợ, trước linh hồn ông vợ, ông ta vẫn thản nhiên hoàn thành công

việc thanh toán tiền để chuẩn bị chuyển nốt sang công việc toan tính khác

Không chỉ khắc học chân dung châm biếm cá nhân, tác giả còn khắc họa hình tượng đám đông Những tốp người đó là nhóm các vị quan chức cao cấp thì long

trọng gắn lên ngực đủ các thứ huy chương: “ Bắc Đẩu bội tinh, Long bội tinh, :

đủ các thứ màu sắc và kiểu râu ria trên cằm “ hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc

hung hung, hoặc lún phún hoăc rầm rạm, loăn quoăn ” Các vị đi cạnh linh cữu bị

kích động, bởi “ làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực

Tuyết” Nhóm đông đảo nhất gồm toàn “ giai thanh gái lịch, nên họ chim nhau,

cười tình với nhau, bình phẩm với nhau, chê bai nhau, ghen tuông hẹn hò nhau,

bằng những vẻ mặt buồn râu của những người đi đưa ma” Đám tang là cơ hội để

tất cả mọi người không phân biệt già trẻ, gái trai thỏa mãn cái sung sướng, hạnh

phúc của mình

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 39

Cảnh trào phúng là những cảnh tượng trái với lẽ thông thường, tập trung rất

nhiều điều trái với thuần phong mĩ tục được phóng đại lên để gây cười Cảnh đưa

tang là một cảnh trào phúng vì bề ngoài là đám tang nhưng thực chất lại mang tính

chất đám hội, đám rước Được tổ chức pha tạp, đám tang có cả âm thanh thuộc về

nghi thức tang lễ và âm thanh không thuộc nghi thức tang lễ song cảm giác chung

là nhốn nháo, ầm ĩ Âm thanh thuộc tang lễ đó là tiếng kèn pha tạp, lẫn lộn cả kèn

ta, tàu và Tây; tiếng khóc “ Hứt! Hứt! Hứt!.” của Phán mọc sừng- một thứ âm

thanh lạ lùng sẽ khiến người khác bật cười vì ngạc nhiên.Thực chất đây là hành vi

ngụy trang che đậy cho mục đích thực sự của ông Âm thanh không thuộc tang lễ

là tiếng cãi cọ, chê trách nhau của đám người trong nhà Tiếng cái cọ này sẽ phơi

bày những mâu thuẫn ngấm ngầm dù luôn được dàn xếp trong vẻ ngoài êm đẹp

Đó còn là tiếng trêu chọc, đùa cợt thô lỗ, tục tĩu của đám “ giai thanh gái lịch”

càng bộc lộ rõ sự tồi tệ, vô liêm xỉ tầng lớp thượng lưu Hình ảnh trong đám tang

có hình ảnh thuộc nghi lễ và không liên quan đến tang lễ song đều tạo ấn tượng về

sự phô trương đầy kệch cỡm Hình ảnh thuộc nghi lễ thông thường là vòng hoa,

câu đối và người đưa tang nhưng nó xuất hiện với số lượng khổng lồ là 300 vòng

hoa, 300 câu đối và mấy trăm người đi đưa Nó cho thấy sức ảnh hưởng và mối

quan hệ rộng rãi của gia đinh Đó còn là y phục tang lễ tân thời do tiệm may Âu

hóa thiết kế đã biến đám tang thành một cuộc trình diễn mốt để quảng cáo sản

phẩm với mục đích kinh doanh Hình ảnh thuộc nghi lễ là kiệu bát cống, lợn quay

đi lọng; bộ y phục “ Ngây thơ” của cô Tuyết cùng những huân chương của các bạn

cụ Cố Một hình ảnh ấn tượng nhất với người đọc chính là tờ 5 đồng được gấp tư,

thể hiện sự chuẩn bị chu đáo để hoàn thiện phần còn lại của bản hợp đồng Nó cho

thấy bản chất bỉ ổi và cũng là lời kết đầy chua chát về một xã hội vì tiền, chạy theo

đồng tiền mà quên đi tình nghĩa

Giọng điệu mỉa mai, chua chát là giọng điệu bao trùm chương truyện Có những câu văn tưởng như là giọng trần thuật khách quan bình thản “ Đám cứ đi”

nhưng khi nhắc đến hai lần nó đã mang ý nghĩa mỉa mai châm biếm đám ma thật

to, thiên hạ tha hồ ngắm thật kĩ cái giả dối, vô nhân đạo của đám người ấy “ Đám

cứ đi” nghĩa là sự vô liêm sỉ không khép lại mà kéo dài tưởng như vô tận, nó kéo

theo cái xác chết đến tận huyệt miệng Về ngôn từ, tác giả đã sử dụng những kết

hợp từ độc đáo trong các câu văn để tạo nên tiếng cười hài hước như “ vẻ buồn

lãng mạn đúng mốt”, “chưa đánh mất cả chữ trinh”; những so sánh gây cười như “

Tuyết như bị kim châm vào lòng vì không thấy bạn giai đâu cả”

Tất cả những đặc điểm trên đã góp phần làm nên giá trị của nghệ thuật trào phúng Võ Trọng Phụng Bằng tiếng cười mang ý nghĩa dả kích phê phán, nhà văn

đã vạch trần bản chất xấu xa của xã hội thượng lưu tư sản thành thị đương thời Đó

là một xã hội băng hoại đạo đức, khô héo tình người, chạy theo lối sống văn minh

rởm, vô cùng đồi bại, lố lăng Đằng sau tiếng cười không phải niềm vui mà là nỗi

đau đời , là khao khát đổi thay, muốn chôn vùi xã hội ấy Qua đó thể hiện tấm lòng

tốt đẹp, mong muốn con người tránh được sự suy đồi về đạo đức do xã hội bất

lương tác động Quan trọng hơn cả, nghệ thuật tào phúng đã thể hiện tài năng,

phong cách riêng của Vũ Trọng Phụng

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 40

Ngòi bút trào phúng của Vũ Trọng Phụng sắc bén đến lạnh lùng Đằng sau những lời nói như đùa, sự thật của xã hội thượng lưu thành thị buổi Âu hóa dưới

chế độ thực dân nửa phong kiến cứ hiện lên rõ mồn một, trên đó nổi lên hai sự

thực khắc nghiệt: sự tàn nhẫn, vô nhân đạo và sự giả dối, bịp bợm Vũ Trọng

Phụng đã đứng về phía nhân dân mà phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối và sự lố

lăng, đồi bại của xã hội thượng lưu ở thành thị những năm trước Cách mạng tháng

Tám 1945

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Ngày đăng: 02/12/2021, 15:19

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w