Hồ sơ vụ án hành chính kiện quyết định hành chính của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội về đất nông nghiệp A. MỞ ĐẦU Giải quyết vụ việc hành chính là trình tự, thủ tục do cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật. Luật tố tụng hành chính 2015 là văn bản pháp lý điều chỉnh quá trình giải quyết vụ việc hành chính. Xuất phát từ bản chất của vụ án hành chính nên việc giải quyết là quá trình khó khăn, phức tạp. Nhằm đảm bảo hoạt động giải quyết vụ việc hành chính có căn cứ, đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, hoạt động kiểm sát giải quyết vụ việc hành chính giữ vai trò vai trọng. Với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân, một tỏng những nhiệm vụ quan trọng đó là kiểm sát giải quyết vụ việc hành chính. Trong bài tập nhóm này, chúng em xin trình bày một số kỹ năng kiểm sát của Kiểm sát viên với vụ án hành chính cụ thể. B. NỘI DUNG I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN Người khởi kiện: Nguyễn Công Khoa, sinh năm 1951. Địa chỉ: Đội 8 xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Đỗ Mạnh Linh và ông Nguyễn Văn Thái, Luật sư công ty luật TNHH BROSS và cộng sự, Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội. Người bị khởi kiện: Ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch UBND thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Trụ sở UBND Thành phố Hà Nội, số 2 Lê Lai, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc Hùng, chức vụ: Phó chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội. Nội dung khởi kiện: Nguyễn Công Khoa, sinh năm 1951. Địa chỉ: Đội 8 xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại số 4273QĐ UBND ngày 1172013 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội. Nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại số 4273QĐ UBND ngày 1172013 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội như sau: Đồng ý với quyết định số 2898QĐ – UBND ngày 26072010 của chủ tịch UBND huyện Hoài Đức giải quyết khiếu nại liên quan đến 637 m2 đất nông nghiệp tại thửa đất số 162, tờ bản đồ số 320 – C II năm 1990 xã Cát Quế, huyện Hoài Đức. Không đồng ý với quyết định khởi kiện của cơ quan có thẩm quyền, ngày 15122015 ông Khoa làm đơn khởi kiện vụ án hành chính lên TAND thành phố Hà Nội và cái tài liệu chứng cứ kèm theo.
Trang 1ĐỀ TÀI: Nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính
Kiện quyết dịnh hành chính NKK: Nguyễn Công Khoa NBK: Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội
A MỞ ĐẦU
Giải quyết vụ việc hành chính là trình tự, thủ tục do cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật Luật tố tụng hành chính 2015 là văn bản pháp lý điều chỉnh quá trình giải quyết vụ việc hành chính Xuất phát từ bản chất của vụ án hành chính nên việc giải quyết là quá trình khó khăn, phức tạp Nhằm đảm bảo hoạt động giải quyết vụ việc hành chính có căn cứ, đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên đương sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, hoạt động kiểm sát giải quyết vụ việc hành chính giữ vai trò vai trọng Với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân, một tỏng những nhiệm vụ quan trọng đó là kiểm sát giải quyết vụ việc hành chính Trong bài tập nhóm này, chúng em xin trình bày một số kỹ năng kiểm sát của Kiểm sát viên với vụ án hành chính cụ thể
Trang 2B NỘI DUNG
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
Người khởi kiện: Nguyễn Công Khoa, sinh năm 1951 Địa chỉ: Đội 8 xã
Cát Quế, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Ông Đỗ Mạnh Linh và ông Nguyễn Văn Thái, Luật sư công ty luật TNHH BROSS và cộng sự, Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội
Người bị khởi kiện: Ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch UBND thành phố
Hà Nội Địa chỉ: Trụ sở UBND Thành phố Hà Nội, số 2 Lê Lai, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc Hùng, chức vụ: Phó chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội
Nội dung khởi kiện: Nguyễn Công Khoa, sinh năm 1951 Địa chỉ: Đội 8
xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại số 4273/QĐ- UBND ngày 11/7/2013 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại số 4273/QĐ- UBND ngày 11/7/2013 của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội như sau: Đồng ý với quyết định số 2898/QĐ – UBND ngày 26/07/2010 của chủ tịch UBND huyện Hoài Đức giải quyết khiếu nại liên quan đến 637 m2 đất nông nghiệp tại thửa đất số 162, tờ bản đồ số 320 – C- II năm 1990 xã Cát Quế, huyện Hoài Đức
Trang 315/12/2015 ông Khoa làm đơn khởi kiện vụ án hành chính lên TAND thành phố
Hà Nội và cái tài liệu chứng cứ kèm theo
II TRÍCH CỨU HỒ SƠ VỤ ÁN
Tập trích cứu hồ sơ vụ án kèm theo
III CÁC CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH
CHÍNH
1 Kiểm sát thủ tục giải quyết vụ án của Tòa án
1.1 Kiểm sát thông báo thụ lí
Tờ số 03: Thông báo thụ lý vụ án số 16/TBTL – HCST ngày 17/3/2016
của TAND thành phố Hà Nội.
Nội dung kiểm sát:
Về hình thức văn bản: Không đúng và đầy đủ theo quy định của bộ luật tố
tụng hình chính Các quyết định tố tụng của Tòa án cũng như Viện kiểm sát không có sự thống nhất cách ghi tên vụ án được thụ lý, có đến 3 cách ghi: VAHCST số 16/HCST, số 16/2016/HCST, số 16/2016/TLPT-HC Do đó, cần có
sự thống nhất việc ghi tên vụ án Đối với các lỗi liên quan đến hình thức văn bản, Kiểm sát viên được phân công cần tập hợp vi phạm, báo cáo Lãnh đạo viện yêu cầu Tòa án khắc phục vi phạm
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án trên thuộc những trường hợp khiếu
kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án (Điều 30 BLTTHC 2015) cụ thể đây là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền trong cơ quan hành
Trang 4chính nhà nước cụ thể là chủ tịch UBND thành phố Hà Nội; Thuộc thẩm quyền
của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố (khoản 3 Điều 32 BLTTHC 2015) là Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội Như vậy, thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết vụ án trên là đúng pháp luật
Về thời hạn gởi văn bản thông báo thụ lý: Hoạt động gửi quyết định này Tòa
án phải gửi thông báo cho viện kiểm sát và cho đương sự, do không có biên bản giao nhận thông báo nên không kiểm sát được
Về nội dung thông báo thụ lý: Xác định tư cách người bị kiện không đúng
với nội dung vụ án: Trong thông báo thụ lý tại mục người bị kiện ghi “Ủy ban
nhân dân thành phố Hà Nội” là không đúng bởi lẽ, theo nội dung đơn khởi kiện của ông Nguyễn Công Khoa và quy định pháp luật tại Điều 3, Điều 116 Luật TTHC 2015; Điều 1, Điều 2 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Tố tụng hành chính việc xác định tư cách người
bị khởi kiện phải là chủ tịch UBND thành phố Hà Nội do đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính (quyết định giải quyết khiếu nại lần 2) thuộc thẩm quyền của chủ tịch UBND tỉnh cho nên đây là người bị khởi kiện ở đây phải là chủ tịch UNND tỉnh là ông Nguyễn Đức Chung
Thiếu vấn đề mà người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết so với đơn
khởi kiện: “Hủy một phần quyết định 2898 của huyện Hoài Đức ngày 26/7/2010
đối với việc khẳng định cho UBND xã Cát Quế quản lý 637m2 đất tại thửa 162
tờ bản đồ 320 CII bản đồ xã Cát Quế”.
Trang 5Thiếu tài liệu, chứng cứ mà người khởi kiện nộp kèm đơn khởi kiện: Quyết định 2672 QĐ-KN ngày 21/10/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố
Hà Nội
Các vi phạm khác:
Vi phạm về hoạt động tống đạt, gửi văn bản giao nhận về thông báo thu lý của đương sự và viện kiểm sát
Thiếu quyết định phân công thẩm phán xử lý đơn khởi kiện và giải quyết
vụ án hành chính
Vụ án đã hết thời hiệu khởi kiện, bởi vì: Ngày người khởi kiện nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần 2: ngày 23/7/2013; Ngày người khởi kiện nộp đơn khởi kiện: 15/12/2015 Có thể thấy, từ ngày người khởi kiện nhận được quyết định giải quyết khiếu nại cho đến ngày người khởi kiện nộp đơn khởi kiện
là 2 năm 3 tháng 22 ngày Mà theo quy định tại Điều 104 luật TTHC 2010 thì
“Thời hiệu khởi kiện là 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính” Như vậy, người khởi kiện nộp đơn khởi kiện khi đã hết thời hiệu khởi kiện Bên cạnh đó, hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc người khởi kiện nộp đơn khởi kiện quá thời hiệu khởi kiện là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan Do đó, việc TAND thành phố Hà Nội thụ
lý vụ án là sai Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 109 Luật tố tụng hành chính 2010 thì trong trường hợp này, Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện Luật TTHC 2015 đã bỏ quy định trả lại đơn khởi kiện đối với trường hợp hết thời
Trang 6hiệu khởi kiện Theo Luật TTHC 2015 khi nhận các đơn khởi kiện vụ án hành chính đã hết thời hiệu Tòa án vẫn tiến hành thụ lý, sau đó tùy trường hợp mà Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 143 Luật TTHC 2015 hoặc tiếp tục giải quyết vụ án nếu có căn cứ để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 157 BLDS 2015 Đối với vụ
án này không xuất hiện căn cứ theo quy định tại 157 BLDS 2015, do đó, trong trường hợp này Kiểm sát viên được phân công phải báo cáo lãnh đạo Viện yêu cầu Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án
1.2 Kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính
Tờ số 05 - QĐ tạm đình chỉ giải quyết vụ án ngày 28/9/2016
Nôi dung kiểm sát:
Về hình thức quyết định: theo mẫu số 11 – HC về mẫu của quyết định tạm
đình chỉ giải quyết vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử nghị quyết số 02/2017 NQ-HDTP biểu mẫu trong tố tụng hành chính Về số của quyết định, phải ghi là:
“11/2016/QĐST-HC” chứ không phải là 11/2016/QĐST-TĐC
Về thời gian ra quyết định: Vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ
án trên (Điều 130) Ngày thụ lý vụ án là ngày 16/3/2016, thời hạn chuẩn bị xét
xử đối với vụ án trên là 4 tháng Ngày ban hành tạm đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 11/2016/QĐST – TĐC là ngày 28/9/2016 do vậy số ngày
mà thẩm phán đã được phân công vi phạm là: 2 tháng 12 ngày
Trang 7Về căn cứ ban hành quyết định: thiếu khoản 5 điều 38, Điều 145, thừa
Điều 165, 206 Luật TTHC
Về nội dung của quyết định tạm đình chỉ: Căn cứ áp dụng tạm đình chỉ là
có không có căn cứ bởi lẽ, trong tài liệu của hồ sơ không có văn bản nào thể hiện sự vắng mặt của một trong các bên đương sự vì lý do chính đáng cho nên việc ban hành quyết định này là không có căn cứ vào trái pháp luật
Các vi phạm khác:
Không ghi trích yếu vụ án Cần bổ sung: về “Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại lần 2”
Không ghi tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Không ghi quyền kháng nghị của Viện kiểm sát đối với quyết định này Do
đó, tại mục 4 của quyết định phải ghi là: “Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định này hoặc kể từ ngày Quyết định này được niêm yết công khai theo quy định của Luật tố tụng hành chính”
1.3 Kiểm sát quyết định tiếp tục giải quyết vụ án
Tờ số 06: Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án ngày 11/10/2016
Nội dung kiểm sát:
Trang 8Về hình thức của quyết định: Theo mẫu 12 –HC về mẫu quyết định tiếp tục
giải quyết vụ án Thiếu căn cứ khoản 5 Điều 38, Điều 145 của Luật tố tụng hành chính Thiếu phần trích yếu vụ án và Tại phần chữ kí của Thẩm phán chưa được đóng dấu
Về căn cứ ban hành quyết định: Thiếu căn cứ khoản 5 Điều 38, Điều 145
của Luật tố tụng hành chính
Về nội dung của quyết định tiếp tục vụ án: Căn cứ tiếp tục giải quyết vụ án
chưa nêu rõ quy định tại điểm nào, khoản nào, điều nào của Luật tố tụng hành chính Trong quyết định chưa đầy đủ nội dung ví dụ: chưa có thông tin của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Các vi phạm khác:
Không ghi “Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay”
Không có đóng dấu của TAND thành phố Hà Nội
1.4 Kiểm sát quyết định đưa vụ án ra xét
Tờ số 09: Quyết định đưa vụ án hành chính ra xét xử ngày 5/6/2017 của TANDTP Hà Nội
Nội dung kiểm sát:
Về hình thức của quyết định: theo mẫu 16 –HC về mẫu quyết định đưa vụ án
ra xét xử xét xử của nghị quyết số 02/2017 NQ-HDTP biểu mẫu trong tố tụng
Trang 9hành chính Phải ghi là 13/2017/QĐXXST-HC chứ không phải là 13/2017/QĐST-HC
Về thời điểm ban hành quyết định: Vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử đối với
vụ án trên Ngày ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án là ngày 28/9/2016, sau khi có quyết định tiếp tục giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại từ đầu như vậy thời hạn chuẩn bị xét xử đối với vụ án trên là
4 tháng tức là đến ngày 28/1/2017 Ngày ban hành quyết định đưa vụ án ra xét
xử sơ thẩm số 13/2017/QĐST- HC là ngày 05/6/2017 do vậy số ngày mà thẩm phán đã được phân công vi phạm là: 4 tháng 7 ngày.
Về nội dung của quyết định: không đúng và đầy đủ theo quy định pháp
luật cụ thể như sau: chữ viết tắt của quyết định này là QĐST-HC, trong khi theo mẫu thì phải là QĐXXST-HC; Thiếu thẩm phán dự khuyết, thứ tự chưa theo mẫu…
Về căn cứ ban hành quyết định: thiếu các điều 38, 130, 131 của Luật tố
tụng hành chính
Các vi phạm khác:
Không ghi trích yếu vụ án: về “khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại lần 2”
Về người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Theo văn bản giải đáp một số vấn đề về tố tụng hành chính, tố tụng dân sự
số 02/GĐ-TANDTC ngày 19/9/2016, tại mục 6: “Theo quy định tại khoản 3 và
Trang 10khoản 5 Điều 60 Luật tố tụng hành chính năm 2015, trường hợp người bị kiện là
Ủy ban nhân dân hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân chỉ được ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân đại diện, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân không được ủy quyền lại cho người thứ ba tham gia tố tụng” Do
đó, trong trường hợp này, chỉ có Phó Chủ tịch UBND huyện Hoài Đức mới có thể là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Hồ Trung Nghĩa là Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hoài Đức không thể làm người đại diện theo ủy quyền Cần sửa mục người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Không có đóng dấu của TAND thành phố Hà Nội
1.5 Kiểm sát quyết định hoãn phiên tòa
Tờ số 10: Quyết định hoãn phiên tòa hành chính sơ thẩm của TANDTPHN ngày 20/6/2017
Nội dung kiểm sát:
Về hình thức của quyết định: mẫu số 18 - HC Nghị quyết 02/2018 Ghi sai
số quyết định, phải là: “08/2017/QĐ-HCST” chứ không phải là “08/QĐ-HCST”
Về thời hạn hoãn phiên tòa: đúng pháp luật.
Về thời hạn gửi quyết định: đúng pháp luật.
Về thẩm quyền ký quyết định: đúng theo quy định.
Trang 11Về nội dung của quyết định hoãn phiên tòa: Việc Tòa án ra quyết định
hoãn phiên tòa với căn cứ Điều 157 “Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất,
đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt” Trong toàn bộ hồ sơ vụ án không có văn bản nào thể hiện sự vắng
mặt của các đương sự và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có mặt tại phiên tòa Nên nội dung này khó kiểm sát
Căn cứ ban hành quyết định: không đúng với quy định pháp luật như phân tích trên
Xác định sai người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (như đã phân tích ở trên)
1.6 Một số văn bản khác của tòa án
Được trình bày ở phần trích lục hồ sơ vụ án (kèm theo)
2 Đường lối giải quyết vụ án trên
Theo hồ sơ vụ án, thời hiệu khởi kiện đã hết Như đã phân tích ở trên, đường lối giải quyết vụ án là: ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VU ÁN
Bởi vì: Ngày người khởi kiện nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần 2: ngày 23/7/2013; Ngày người khởi kiện nộp đơn khởi kiện: 15/12/2015 Có thể thấy, từ ngày người khởi kiện nhận được quyết định giải quyết khiếu nại cho đến ngày người khởi kiện nộp đơn khởi kiện là 2 năm 3 tháng 22 ngày Mà theo
Trang 12quy định tại Điều 104 luật TTHC 2010 thì “Thời hiệu khởi kiện là 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính” Như vậy, người khởi kiện nộp đơn khởi kiện khi đã hết thời hiệu khởi kiện Bên cạnh đó, hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc người khởi kiện nộp đơn khởi kiện quá thời hiệu khởi kiện là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan Do đó, việc TAND thành phố Hà Nội thụ lý vụ án là sai Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 109 Luật tố tụng hành chính 2010 thì trong trường hợp này, Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện
Luật TTHC 2015 đã bỏ quy định trả lại đơn khởi kiện đối với trường hợp hết thời hiệu khởi kiện Theo Luật TTHC 2015 khi nhận các đơn khởi kiện vụ án hành chính đã hết thời hiệu Tòa án vẫn tiến hành thụ lý, sau đó tùy trường hợp
mà Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 143 Luật TTHC 2015 hoặc tiếp tục giải quyết vụ án nếu có căn cứ
để bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 157 BLDS 2015 Đối với vụ án này không xuất hiện căn cứ theo quy định tại 157 BLDS 2015, do đó, trong trường hợp này Kiểm sát viên được phân công phải báo cáo lãnh đạo Viện yêu cầu Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án
Giả sử, trong vụ án trên, đương sự khởi kiện hợp pháp (còn thời hiệu khởi kiện) Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, đường lối giải quyết như sau:
Chấp nhận đơn khởi kiện của người khởi kiện – Ông Nguyễn Công Khoa, yêu cầu chủ tịch UBND thành phố Hà Nội hủy bỏ một phần quyết định giải
Trang 13mà UBND huyện Hoài Đức và UBND thành phố Hà Nội chưa xác minh làm rõ nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất nên đã giải quyết chưa đúng Đồng thời, có nhiều sai sót trong quá trình quản lí hành chính về đất đai, cụ thể như sau:
Thứ nhất, xét về nguồn gốc của thửa đất tranh chấp Về phần đất được thừa kế: thửa đất số 162 tờ bản đồ số 320-C-II của ông Nguyễn Công Thu được
UBHC tỉnh Hà Đông cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu và quyền sử dụng đất ngày 20/7/1956 có diện tích 1.608 m2 Năm 1978, UBND xã Cát Quế thực hiện chính sách quản lý đất đai theo Quyết định số 427QĐ/XDCB ngày 9/9/1976 của UBND tỉnh Hà Sơn Bình nên đã quản lý 758 m2 đất trong số diện tích 1.608 m nêu trên Còn lại 850 m2 đất, chính quyền địa phương xã Cát Quế giao cho ông Nguyễn Công Ba quản lý, sử dụng liên tục lúc còn sống và đến năm 1994 ông
Nguyễn Công Khoa quản lý cho đến thời điểm hiện nay Về phần đất được
giao: Diện tích đất tại thửa 162 được giao cho gia đình ông Nguyễn Công Khoa
bao gồm: (i) Diện tích 168 m2 UBND xã Cát Quế cấp cho gia đình ông Nguyễn Công Khoa năm 1986, (ii) Diện tích đất nông nghiệp giao theo tiêu chuẩn năm
1992 khi thực hiện Quyết định số 250/QĐUB ngày 3/8/1992 của UBND tỉnh Hà
Tây là 1.010 m2.Về diện tích được giao thêm: Đối với diện tích đất 850 m2 đất
chính quyền xã Cát Quế giao cho ông Nguyễn Công Ba quản lý và ghi nhận tại
sổ mục kê ruộng đất, bao gồm: (i) 360 m2 đất ở có nguồn gốc là ông Nguyễn Công Thu mất, ông Nguyễn Công Thu được công nhận sử dụng sau khi thực hiện chính sách giải phóng lòng sông năm 1978, đến năm 1994 ông Ba mất nên ông Khoa tiếp tục sử dụng; (ii) diện tích 490 m2 đất nông nghiệp được ghi nhận