LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong quá trình thay đổi toàn cầu hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đang nỗ lực nâng cao năng lực nghiên cứu, sáng tạo tri thức trong các bối cảnh kinh tế xã hộ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN QUỐC ĐẠT
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ GIẢNG DẠY, NGHIÊN CỨU TRẺ
Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401
S K C 0 0 6 6 5 2
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN QUỐC ĐẠT
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGUYỄN QUỐC ĐẠT
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ GIẢNG DẠY, NGHIÊN CỨU TRẺ
Trang 11LÝ LỊCH KHOA HỌC
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ & tên: Nguyễn Quốc Đạt Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 27/01/1984 Nơi sinh: Thanh Hóa
Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: 99 Man Thiện, phường Hiệp Phú, quận 9, TP.HCM
Điện thoại cơ quan: 0932454589 Điện thoại nhà riêng:
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:
1 Trung học phổ thông:
Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian đào tạo từ tháng 9/1998 đến tháng 6/2001 Nơi học (trường, thành phố): trường PTTH Lý Thường Kiệt, Thành Phố Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa
2 Đại học:
Hệ đào tạo: Chính quy Đại học Bách Khoa HN (ĐT-VT) Thời gian đào tạo từ tháng 09/2002 đến tháng 6/2006, Đại học Trà Vinh từ tháng 9/2012 đến tháng 6/2015 (CNTT)
Trang 12III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC:
9/2006 đến 9/2010 Tổng công ty viễn thông Quân
đội Viettel Quản lý bảo hành 9/2011 đến nay Học viện chính trị khu vực 2 Ứng dụng CNTT trong giảng
dạy và NCKH
Trang 13LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 5năm 2020
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Quốc Đạt
Trang 14CẢM TẠ
Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn, giảng viên hướng dẫn, đã tận tình giúp đỡ tôi về kiến thức, kỹ năng, phương pháp nghiên cứu cũng như hỗ trợ chỉnh sửa những thiếu sót của tôi trong quá trình làm luận văn
Để có được kết quả nghiên cứu về luận văn này tôi đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các quý thầy, cô GV, NCV đặc biệt là các GV, NCV trẻ tham gia giảng dạy và NCKH ở Học viện Chính trị khu vực 2, sự quan tâm tạo điều kiện của Ban Giám đốc, sự nhiệt tình cung cấp thông tin số liệu của các đơn vị Khoa/Phòng/Ban Tôi xin ghi nhận và trân trọng cảm ơn những sự giúp đỡ này
Tôi cũng xin cám ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn thường xuyên quan tâm, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn, nhưng
do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến góp ý, chỉ dẫn, đánh giá của Quý thầy cô và tất cả bạn bè, đồng nghiệp
Trang 15TÓM TẮT
Trong quá trình thay đổi toàn cầu hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đang
nỗ lực nâng cao năng lực nghiên cứu, sáng tạo tri thức trong các bối cảnh kinh tế xã hội và văn phát triển mạnh mẽ của giáo dục bậc cao trong các thập niên qua, sự đa dạng trong các hình thức sở hữu và trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu đã tạo ra một sự cạnh tranh giữa các trường đại học với nhau ở tất cả các phạm vi, toàn cầu hay địa phương, khu vực hay trong mỗi quốc gia
Để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học, phát huy hơn nữa những lợi thế và tiềm năng của đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên Học viện Chính trị khu vực 2, đưa nghiên cứu khoa học trở thành một nhiệm vụ quan trọng, chủ lực góp phần thúc đẩy chất lượng đào tạo, nâng cao vị thế của Học viện, cần có những nghiên cứu đánh giá khách quan về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ giảng viên, nghiên cứu viên tại Học viện 2, đặc biệt là cán bộ giảng viên, nghiên cứu viên trẻ Do đó, tôi chọn vấn đề “Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2” góp phần nâng chất cao chấtlượng NCKH của cán bộ GV, NCV trẻ ở Học viện 2
Để làm rõ cơ sở lý luận về năng lực NCKH, đề tài đã khái quát hóa các nghiên cứu về cá thành phần NCKH trên thế giới và ở Việt Nam, tìm hiểu và xác định các khái niệm liên quan đến đề tài, mục tiêu, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực NCKH Từ đó tiến hành việc khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2 Kết quả cho thấy:
- Ngoài những mặt đạt được các GV, NCV trẻ còn gặp phải một số hạn chế, mà nguyên nhân chủ quan xuất phát từ chính GV, NCV
- Có nhiều GV, NCV trẻ thiếu kiến thức về ngoại ngữ chuyên ngành, khả năng đọc hiểu các tài liệu nghiên cứu khoa học xuất bản trên thế giới cũng như khả năng trình bày và phản biện bài nghiên cứu chưacao
- Nhiều GV, NCV trẻ hiện nay còn hạn chế về nghiên cứu định lượng, phân tích
Trang 16xử lý số liệu bằng các phầnmềm
Theo phân tích kết quả khảo sát thực trạng, những mặt hạn chế mà GV, NCV trẻở Học viện Chính trị khu vực 2 đang gặp phải hiện nay còn có những vấn đề khách quan:
- Chính sách đào tạo, bồi dưỡng về các năng lực nghiên cứu khoa học còn nhiều hạn chế
- Chính sách khen thưởng nghiên cứu khoa học đối với GV, NCV trẻ hiện tại chưa tạo được động lực cho GV, NCV trẻ tham giaNCKH
- Chính sách về định mức bắt buộc đối với GV, NCV trẻ về giảng dạy và học tập như hiện nay chưa tạo điều kiện để họ phát huy tối đa năng lựcNCKH
- Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị còn thiết thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc nghiên cứu củaGV, NCV trẻ
và phát triển đạt kết quả cao cả về số lượng và chất lượng
Thực hiện các giải pháp trên phải đồng bộ, phù hợp, hiệu quả cụ thể là phải phát triển được tư duy sáng tạo, khơi dạy đam mê cho các nhà nghiên cứu Bồi dưỡng có mục đính nhằm tạo ra được những nhà nghiên cứu hội đủ ba nhân tố cơ bản là kiến thức, kỹ năng và thái đội Mỗi người sau khi đào tạo, bồi dưỡng đều nâng cao được trí tuệ lẫn đức độ, điều này không chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học mà còn góp phần xây dựng xã hội phát triển ngày một tốt hơn
Trang 17ABSTRACT
In the current global change process, countries all over the world are striving to improve their research capacity and knowledge creation in the context of strong socio-economic development and development of higher education Over the past decades, the diversity in ownership forms and in training and research activities has created a competition between universities in all scopes, global or local or regional,
or in each country
To develop the capacity of scientific research, to further promote the advantages and potential of lecturers and researchers of Region 2 Political Academy, to make scientific research an important task To contribute to training quality and to enhance the position of the Institute, there should be objective evaluation studies on the development of scientific research capacity of lecturers and researchers at Academy
2, especially young lecturers and researchers Therefore, I choose the issue of
"Developing scientific research capacity for young teaching and researching staff in the Political Academy Region 2" contributing to improving the quality of scientific research of faculty and staff children at Academy 2
To clarify the theoretical basis for scientific research capacity, the thesis generalized researches on scientific research components in the world and in Vietnam, explored and identified concepts related to the topic and objectives, content and factors affecting scientific research capacity Since then conducting the survey, analysis and evaluation of the status of scientific research capacity for teaching staff and young researchers at the Regional Political Academy 2 The results show that:
- In addition to the achievements of the teachers, young students also face a number of limitations, which are subjective reasons stemming from the teachers and students themselves
- There are many young teachers and students who lack specialized knowledge
of foreign languages, the ability to read and understand scientific papers published in the world as well as the ability to present and review research articles is not high
Trang 18- Many young teachers and researchers are still limited in quantitative research, analysis and data processing by software
According to the analysis of the actual situation survey results, the limitations that teachers, young students in the Political Academy Region 2 are facing today still have objective issues:
- The policy of training and retraining on scientific research capacities is still limited
- The policy of rewarding scientific research for teachers, young students currently has not created a motivation for teachers, young students to participate in scientific research
- Policies on compulsory norms for teachers and young students on teaching and learning today do not create favorable conditions for them to maximize their scientific research capacity
- Conditions of facilities, equipment are still inadequate, not meeting the requirements of the research of young teachers and students
Solution:
- Solutions on mechanisms and policies to create motivation for scientific research for young teachers and students
- Strengthening training and fostering solutions for scientific research capacity
is an effective solution for the research process because of its suitability and ease of implementation
- At present, the process of assessing the applicability of the solutions proposed
in the research is an essential activity to help post-research and development research projects achieve high results in both quantity and quality amount
The implementation of the above solutions must be synchronous, appropriate and effective, especially to develop creative thinking and arouse passion for researchers The purpose of fostering is to create researchers who meet the three basic elements of knowledge, skill and attitude Each person, after training and retraining,
Trang 19improves both intellect and virtue, which not only serves scientific research but also contributes to building a better and developing society
Trang 20MỤC LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
LÝ LỊCH KHOA HỌC i
LỜI CAM ĐOAN iii
CẢM TẠ iv
TÓM TẮT v
ABSTRACT vii
MỤC LỤC x
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT xiv
DANH SÁCH CÁC HÌNH xv
DANH SÁCH CÁC BẢNG xvi
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
6 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 4
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 5
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu về năng lực nghiên cứu khoa học 6
1.1.1 Ở nước ngoài 6
1.1.2 Ở trong nước 8
1.2 Lý luận về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học 10
1.2.1 Năng lực nghiên cứu khoa học 10
Trang 211.2.1.1 Khái niệm năng lực 10
1.2.1.2 Khái niệm năng lực nghiên cứu khoa học 10
1.2.1.3 Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học 11
1.2.1.4 Cấu trúc năng lực NCKH 13
1.2.1.5 Hệ thống các năng lực nghiên cứu khoa học 17
1.2.1.6 Tiêu chí đánh giá năng nghiên cứu khoa học 18
1.2.1.7 Các yếu tố năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên 25
1.2.1.8 Đánh giá năng lực NCKH 26
1.2.2 Phát triển triển năng lực nghiên cứu khoa học 30
1.2.2.1 Khái niệm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học 30
1.2.2.2 Các yếu tố tác động đến việc phát triển năng lực nghiên cứu khoa học 31
1.2.3 Vai trò của phát triển nghiên cứu khoa học 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 40 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ GIẢNG DẠY, NGHIÊN CỨU TRẺ Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC 2 42 2.1 Tổng quan về Học viện Chính trị khu vực 2 42
2.2 Tổng quan về hoạt động nghiên cứu khoa học ở Học viện chính trị khu vực 2 43 2.2.1 Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học 45
2.2.2 Về điều kiện cơ sở vật chất phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học 46
2.2.3 Quy trình tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học 46
2.2.4 Liên kết nghiên cứu khoa học với các cơ quan nhà nước và các tổ chức Chính trị, xã hội 47
2.3 Thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện chính trị khu vực 2 48
2.3.1 Mô tả mẫu phiếu điều tra 48
2.3.2 Thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện chính trị khu vực 2 49
2.3.2.1 Nhận thức của GV, NCV về NCKH 49
Trang 222.3.2.2 Năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu 53 2.3.2.3 Năng lực lập đề cương và bảo vệ đề cương nghiên cứu 54 2.3.2.4 Năng lực tổng hợp, phân tích tài liệu nghiên cứu 54 2.3.2.5 Năng lực điều tra, thu thập thông tin nghiêncứu 55 2.3.2.6 Năng lực xử lý thông tin nghiên cứu 56 2.3.2.7 Năng lực trình bày kết quả nghiên cứu 57
2.4 Nhu cầu phát triển năng lực NCKH của GV, NCV trẻ 58
2.4.1 Nhu cầu bồi dưỡng 58 2.4.2 Nhu cầu về cơ chế chính sách, môi trường 64
2.5 Đánh giá chung về năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ tại Học viện Chính trị khu vực 2 72
2.5.1 Điểm mạnh 72 2.5.2 Điểm yếu 73 2.5.3 Cơ hội 74 2.4.4 Thách thức 76
Trang 233.2 Các nhóm giải pháp nhằm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ tại Học viện Chính trị khu vực 2 89
3.2.1 Nhóm giải pháp về bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu trẻ 90 3.2.2 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách nhằm tạo động lực nghiên cứu khoa học cho GV, NCV trẻ 94
Trang 248 GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
9 KHKT&CN Khoa học kỹ thuật và công nghệ
13 NCKHGD Nghiên cứu khoa học giáo dục
14 NL NCKH Năng lực nghiên cứu khoa học
Trang 25DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.1: Cấu trúc năng lực nghiên cứu khoa học 14 Hình 1.2: Các yếu tố tác động đến việc phát triểnnăng lực NCKH 31 Hình 2.1: Khảo sát GV, NCV trẻ nhận thức về tầm quan trọng trong giảng dạy và NCKH 50 Hình 2.2: Khảo sát GV, NCV trẻ về sử dụng ngôn ngữ để NCKH 50 Hình 2.3: Bồi dưỡng nghiên cứu khoa học 59 Hình 2.4: Thời gian bồi dưỡng nghiên cứu khoa học 60 Hình 2.5: Hình thức bồi dưỡng nghiên cứu khoa học 61 Hình 2.6: Tổ chức bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học 611 Hình 2.7: Phạm vi bồi dưỡng nghiên cứu khoa học 62 Hình 2.8: Kế hoạch bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học 62 Hình 2.9: Nội dung mong muốn được bồi dưỡng 63 Hình 2.10: Đổi mới cơ chế chính sách theo hướng khuyến khích NCKH 64 Hình 2.11: Mức độ ảnh hưởng của chính sách đối phát triến năng lực NCKH của giảng viên 65
Trang 26DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Năng lực nghiên cứu khoa học 18 Bảng 1.2: Tiêu chí đánh giá năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu 199 Bảng 1.3: Tiêu chí đánh giá năng lực lập đề cương nghiên cứu 20 Bảng 1.4: Tiêu chí đánh giá năng lực tổng hợp, phân tích tài liệu 21 Bảng 1.5: Tiêu chí đánh giá năng lực xây dựng bộ công cụ khảo sát thu thập thông tin 22 Bảng 1.6: Tiêu chí đánh giá năng lực xử lý thông tin khảo sát nghiên cứu 23 Bảng 2.1: Công bố hoạt động nghiên cứu trong nước 2014-2018 44 Bảng 2.2: Đánh giá của GV, NCV trẻ về quy trình tổ chức NCKH 47 Bảng 2.3: Tỷ lệ giới tính 48 Bảng 2.4: Tỷ lệ trình độ học vị 49 Bảng 2.5: Kết quả khảo sát về mức độ quan trọng của năng lực NCKH ở GV, NCV trẻ 51 Bảng 2.6: Kết quả khảo sát về các lý do để GV, NCV tham gia NCKH 5151 Bảng 2.7: Kết quả khảo sát về những điều kiện ảnh hưởng đến quá trình NCKH 52 Bảng 2.8: Bảng kết quả khảo sát về năng lực phát hiện vấn đề nghiên cứu 53 Bảng 2.9: Bảng kết quả khảo sát về năng lực lập đề cương và bảo vệ đề cương nghiên cứu 54 Bảng 2.10: Bảng kết quả khảo sát về năng lực tổng hợp, phân tích tài liệu nghiên cứu 55 Bảng 2.11: Bảng kết quả khảo sát về năng lực điều tra, thu thập thông tin nghiên cứu 56 Bảng 2.12: Bảng kết quả khảo sát về năng lực xử lý thông tin nghiên cứu 56 Bảng 2.13: Bảng kết quả khảo sát về năng lực trình bày kết quả nghiên cứu 57 Bảng 2.14: Bảng tổng hợp nhu cầu bồi dưỡng năng lực NCKH của GV, NCV trẻ 58 Bảng 2.15: Bảng tổng hợp nhu cầu về cơ chế chính sách, môi trường 64
Trang 27MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong quá trình thay đổi toàn cầu hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều đang
nỗ lực nâng cao năng lực nghiên cứu, sáng tạo tri thức trong các bối cảnh kinh tế xã hội và văn phát triển mạnh mẽ của giáo dục bậc cao trong các thập niên qua, sự đa dạng trong các hình thức sở hữu và trong các hoạt động đào tạo, nghiên cứu đã tạo ra một sự cạnh tranh giữa các trường đại học với nhau ở tất cả các phạm vi, toàn cầu hay địa phương, khu vực hay trong mỗi quốc gia Đa số các trường đại học, học viện
ở các nước tiên tiến đều đề xuất và cố gắng thực hiện tốt ba chức năng cơ bản của trường đại học như: nghiên cứu để sáng tạo tri thức, giảng dạy để truyền bá tri thức
và cung cấp dịch vụ để phụng sự xã hội Để định vị cao hơn và tạo sự khác biệt, các trường đại học lớn ở các nước đang phát triển đều mong muốn hướng tới để được xem như là một trường đại học nghiên cứu (hoặc định hướng nghiên cứu) nhằm đạt được một “đẳng cấp quốc tế”
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đề ra 9 nhiệm vụ, giải pháp trong đó có nhiệm vụ,
giải pháp “Tiếp tục sắp xếp, điều chỉnh mạng lưới các trường đại học (ĐH), cao đẳng (CĐ) và các viện nghiên cứu theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học (NCKH)” Thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học, đội ngũ giảng viên, nghiên
cứu viên phải không ngừng tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của mình
Học viện Chính trị khu vực 2 hiện có 03 phó giáo sư, 35 tiến sĩ, 96 thạc sĩ và gần 100 cử nhân (Thống kê Ban Tổ chức - Cán bộ) Số cán bộ có học hàm, học vị cao tập trung chủ yếu ở khối giảng dạy và nghiên cứu Về cơ bản, đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu hiện nay của Học viện đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đào tạo chương trình cao cấp lý luận
Tuy nhiên, hiện nay, các giảng viên đều được biết đến nhiều nhất ở vai trò nhà giáo, vai trò nhà nghiên cứu thường lu mờ hơn trong khi vai trò cung ứng dịch vụ chỉ
Trang 28dựa vào kiến thức chuyên môn chuyên ngành mà họ đã được đào tạo khi học đại học
và sau đại học, chứ chưa xuất phát nhiều từ các kết quả nghiên cứu trong quá trình làm việc, đội ngũ cán bộ giảng viên, nghiên cứu viên Học viện 2 tham gia nghiên cứu khoa học còn rất nhiều hạn chế: nhiều giảng viên, nghiên cứu viên còn thụ động, thiếu tích cực trong việc tham gia nghiên cứu khoa học, sự tham gia của những người này chủ yếu nhằm mục đích là để đủ điểm khoa học khi xét thi đua; đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên tham gia nghiên cứu khoa học tuy có đông, nhưng có nhiều giảng viên, nghiên cứu viên còn ít kinh nghiệm trong khi đội ngũ có kinh nghiệm đang có dấu hiệu thiếu tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, điều này làm cho những công trình có chất lượng và khả năng ứng dụng thực tiễn không nhiều; thực tiễn cho thấy nhiều giảng viên, nghiên cứu viên chưa có khả năng sử dụng ngoại ngữ để khai thác các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học; nhiều giảng viên khi tham gia nghiên cứu khoa học chưa nhuần nhuyễn về phương pháp nghiên cứu, về kỹ năng xử lý số liệu, do đó khi sử lý các số liệu điều tra hầu hết phải thuê và phụ thuộc khá nhiều và các đối tác bên ngoài khác; v.v…
Từ đó, để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học, phát huy hơn nữa những lợi thế và tiềm năng của đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên Học viện Chính trị khu vực
2, đưa nghiên cứu khoa học trở thành một nhiệm vụ quan trọng, chủ lực góp phần thúc đẩy chất lượng đào tạo, nâng cao vị thế của Học viện, cần có những nghiên cứu đánh giá khách quan về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ GV, NCV Đặc biệt là cán bộ GV, NCV trẻ tại Học viện 2 Do đó, tác giả chọn đề tài
“Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2” làm công trình tốt nghiệp thạc sĩ của mình
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài khảo sát và đánh giá năng lực NCKH của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ tại Học viện Chính trị khu vực Trên cơ sở đó, kiến nghị, đề xuất một
số giải pháp nhằm phát triển năng lực NCKH cho đội ngũ giảng viên, nghiên cứu trẻ, góp phần đáp ứng nhu cầu NCKH ngày càng cao của Học viện Chính trị khu vực 2
Trang 29Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
(i) Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học;
(ii) Đánh giá thực trạng phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2;
(iii) Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, người nghiên cứu thực hiện các nhiệm
vụ sau:
Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực nghiên cứu khoa học của
đội ngũ cán bộ GV, NCV trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2
Nhiệm vụ 2: Đánh gía thực trạng về công tác nghiên cứu khoa học của GV,
NCV trẻ tại Học viện Chính trị khu vực 2
Nhiệm vụ 3: Đề xuất các giải pháp tác động cơ bản nhằm nâng cao năng lực
nghiên cứu khoa học của đội ngũ GV, NCV trẻ Khảo nghiệm theo ý kiến chuyên gia
để minh chứng tính khả thi của các giải pháp, nhằm nâng cao chất lượng công tác, nghiên cứu khoa học ở Học viện Chính trị khu vực 2
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Năng lực NCKH của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2 có độ tuổi từ 23 tới 40 tuổi
Khách thể nghiên cứu
- Trưởng ban quản lý khoa học, Phó giám đốc học viện
- Đội ngũ giảng viên trẻ, nghiên cứu viên trẻ tại học viện
Trang 306 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Hiện nay năng lực nghiên cứu khoa học ở Học viện Chính trị khu vực 2 còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu đối với cán bộ giảng viên, nghiên cứu viên giảng dạy ở Học viện.Nếu Học viện triển khai các giải pháp như người nghiên cứu đề xuất ở chương 3, sẽ góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của cán
bộ GV, NCV trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện bởi hai phương pháp cơ bản:
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp lý thuyết nền nhằm khảo cứu tài liệu là các công trình nghiên cứu có liên quan đăng tải trên các sách, báo chuyên ngành, tạp chí khoa học chuyên ngành, các hội thảo nhằm tìm ra khung phân tích cho luận văn Phương pháp này được sử dụng với tổng hợp các phương pháp như:
- Phương pháp logic, lịch sử;
- Phương pháp trừu tượng hóa;
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra:
+ Điều tra bằng phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn trực tiếp các lãnh đạo giảng viên, nghiên cứu viên có kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và NCKH, qua đó nắm bắt đầy đủ những thông tin cần thiết cho nội dung nghiên cứu
+ Điều tra bằng phiếu hỏi:
Sử dụng phiếu thăm dò ý kiến cán bộ quản lý giảng viên, nghiên cứu viên của Học viện Chính trị khu vực 2
- Phương pháp chuyên gia: Để góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn
của luận văn, phương pháp chuyên gia được áp dụng nhằm thông qua khảo nghiệm các biện pháp đề xuất nâng cao hiệu quả công tác NCKH trong nhà trường
Trang 318 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành ba chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học
+ Chương 2: Năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ ở Học viện Chính trị khu vực 2
+ Chương 3: Giải pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ cán
bộ giảng dạy, nghiên cứu trẻ tại Học viện Chính trị khu vực 2
Trang 32CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1 Lịch sử nghiên cứu về năng lực nghiên cứu khoa học
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng đã đề ra 9 nhiệm vụ, giải pháp trong đó có nhiệm
vụ, giải pháp “Tiếp tục sắp xếp, điều chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng
và các viện nghiên cứu theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học” [1] Thông
qua hoạt động NCKH, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên phải không ngừng tự học,
tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn của mình
NCKH của giảng viên, nghiên cứu viên là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình đào tạo ở các trường cao đẳng, đại học, học viện Đây cũng là hình thức tổ chức dạy học đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo của nhà trường Chính vì thế, việc tổ chức, rèn luyện cho giảng viên, nghiên cứu viên đặc biệt là giảng viên, nghiên cứu trẻ kỹ năng hoạt động NCKH đã trở thành vấn đề cấp thiết thu hút
sự quan tâm của nhiều nhà khoa học giáo dục trong và ngoài nước
1.1.1 Ở nước ngoài
Nghiên cứu khoa học của giảng viên trong trường đại học là một trong những nhiệm vụ bắt buộc đối với từng giảng viên (giảng dạy; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; tham gia công tác quản lý đào tạo, quản lý hoạt động khoa học và công nghệ; nhiệm vụ học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ và các nhiệm vụ cụ thể khác cho từng chức danh giảng viên) Nghiên cứu khoa học được cụ thể hóa trong luật khoa học và công nghệ năm (2013), trong các văn bản dưới luật của Nhà nước
như: Thông tư số 24/2015 của Bộ giáo dục và đào tạo về quy định chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục đại học[2], các cơ quan nghiên cứu khoa học,…Hoạt động nghiên
cứu khoa học trong trường đại học là hoạt động được xã hội và các nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng làm thế nào để phát triển năng lực nghiên cứu của giảng viên, đây
Trang 33chính là vấn đề cấp bách cho hoạt động nghiên cứu các khoa học hiện nay Theo người nghiên cứu tìm hiểu, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên và cũng đã có rất nhiều đề tài, luận văn, báo cáo khoa học phân tích đánh giá, nhận định theo nhiều góc độ khác nhau từ các nhà nghiên cứu ở các nước trên thế giới, cụ thể:
Donald và Anne cho rằng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên không chỉ phụ thuộc vào khả năng và ý chí của người làm nghiên cứu mà còn phụ thuộc vào bản chất của các tổ chức và các hệ thống mà tổ chức vận hành (Donald
& and Anne, 2015).[3]
Emmanuel nghiên cứu về năng lực nghiên cứu khoa học của giảng về chính sách thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học củ giảng viên, khuyến khích ngườihọc tốt hơn, cách xây dựng mô hình để phát triển kỹ năng nghiên cứu của giảng viên và thực nghiệm của mình để giải quyết các vấn đề, cách thay đổi mô hình để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên như: giao quyền giải quyết vấn đề cho
bộ phận chuyên trách, có chương trình huấn luyện các kỹ năng để phát triển nghiên cứu, đào tạo cho những người học giả cao cấp để nâng cao năng lực hướng dẫn người nghiên cứu Bên cạnh đó, Emmanuel còn cho rằng đổi mới chính sách của Trường để phát triển năng lực của giảng viên (Emmanuel,2015).[4]
Với tác phẩm “Scientific Research Competencies of Prospective Teachers anh their Attitudes toward Scientific Research”, Hasan Huseyin Sahan và Rukiye (2015)
đã xác định được năng lực nghiên cứu khoa học giáo viên tương lai, xác định mức độ ảnh hưởng của thái độ giáo viên tương lai tới nghiên cứu khoa học[5] Phương pháp nghiên cứu khoa học về kỹ năng nghiên cứu của họ, thái độ đối với nghiên cứu Nghiên cứu này có hai chiều: Là một nghiên cứu mô tả nhờ xác định các kỹ năng nghiên cứu và thái độ giáo viên tiềm năng đối với nghiên cứu, là một nghiên cứu thực nghiệm nhờ xác định ảnh hưởng của khoa học phương pháp nghiên cứu khóa học về
kỹ năng giáo viên tương lai và thái độ của họ đối với nghiên cứu Tác giả cũng đề xuất cho nghiên cứu tiếp theo về vấn đề chính sách nghiên cứu khoa học của nhà trường phát triển sẽ giúp phát triển kỹ năng nghiên cứu khoa học như thế nào
Trang 341.1.2 Ở trong nước
Có khá nhiều bài viết được đăng trên báo và tạp chí về chủ đề NCKH, tuy nhiên trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi quan tâm đến hai nội dung có liên quan là
lý luận về NCKHvàhoạt động NCKH của giảng viên, nghiên cứu viên
Đánh giá năng lực NCKH không phải là vấn dề mới trong lý luận và thực tiễn đào tạo đại học ở Việt Nam Phải thừa nhận rằng vấn đề trên đã được tìm hiểu và nghiên cứu từ rất sớm, vì vậy đã có rất nhiều quan điểm, tư tưởng, công trình nghiên cứu về NCKH và năng lực NCKH ở các khía cạnh khác nhau Các nghiên cứu theo hướng học thuật thường được bắt nguồn từ những nghiên cứu trước đó trên thế giới
và được thể hiện cụ thể trong các giáo trình, tài kiệu tham khảo, kỹ băng mềm cho các nhà nghiên cứu Trong đó, các giáo trình về phương pháp luận NCKH của những nhà khoa học hàng đầu Việt Nam cũng đã thể hiện rất rõ năng lực cần thiết của một nhà nghiên cứu Trong giáo trình của Vũ Cao Đàm, Nguyễn Văn Lê, Lê Huy Bá… các khái niệm NCKH, các phương pháp tiếp cận trong NCKH, các bước NCKH, cách thu thập và đọc tài liệu, các bước hình thành một đề tài nghiên cứu, cách xây dựng giả thuyết, chọn một đề tài nghiên cứu, phương pháp thu thập thông tin, thu thập số liệu, xử lý số liệu trong nghiên cứu, cách biểu diễn dữ liệu kết quả nghiên cứu, viết báo cáo khoa học… đều đã được phân tích một cách rất chi tiết và sâu sắc Đặc biệt
là trong năm 2014, tác giả Nguyễn Văn Tuấn đã viết cuốn sách “Từ nghiên cứu đến công bố kỹ năng mềm cho nhà khoa học” [6], cuốn sách đã giới thiệu những kỹ năng mềm cho nhà khoa học, trong đó có các kỹ năng viết một bài báo khoa học, cách trình bày báo cáo, kỹ năng viết đề cương NCKH, văn phong khoa học… đã được thể hiện qua hai thứ tiếng Việt – Anh
Ở khía cạnh năng lực, các nhà nghiên cứu giáo dục và tâm lý cũng đã đưa ra nhiều quan điểm và cách phân chia thang năng lực khác nhau Đáng chú ý là thang
đo năng lực của Bloom (nhận thức, thái độ và kỹ năng) Thang đo này cũng đã được phát triển bởi nhiều nhà nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trong đánh giá kết quả học tập và đánh giá năng lực Hình thức đánh giá năng lực thường là các bài kiểm tra khảo sát như kiểm tra kỹ năng, kiến thức, trắc nghiệm
Trang 35Vũ Cao Đàm và cộng sự (2006) với đề tài về “Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội” [7] đã chỉ ra rằng nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên cần phải khắc phục sự chia cắt đào tạo và nghiên cứu khoa học, tổ chức lại hệ thống sao cho giảng viên cũng đồng thời là nhà nghiên cứu; khuyến khích khoa học sáng tạo, mở đường cho giảng viên đại học trở thành một nghiên cứu viên khoa học; trường đại học nhanh chóng thoát ra khỏi hệ thống giáo dục kinh viện Ngoài ra, muốn nâng cao năng lực nghiên cứu thì phải bắt đầu từ sinh viên, cần trang bị cho sinh viên kiến thức về phương pháp luận nghiên cứu khoa học để khi ra trường dù có cơ hội nghiên cứu hay không cũng có thể giúp cho họ phương pháp học tập theo phong cách nghiên cứu khoa học
Đề tài “nghiên cứu giải pháp phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho đội ngũ giáo viên dạy nghề trường cao đẳng nghề Cần Thơ” của tác giả Lê Thị Thơ (2009)
đã đánh giá thực trạng năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên trường cao đẳng nghề Cần Thơ và xác định ba nhóm giải pháp góp phần cho việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học đó là: (i) Bản thân người giáo viên, (ii) quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học, (iii) nhóm chính sách.[8]
Đến năm 2016, tác giả Lê Thị Thơ lại tiếp tục phát triển đề tài “Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học – công nghệ cho giảng viên Cao Đẳng Nghề Vùng đồng bằng sông Cửu Long” qua việc tìm hiểu, xác định năng lực nghiên cứu, xác định các
hệ thống năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên cao đẳng nghề để có được mô hình tổ chức bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên cao đẳng nghề.[9]
Đào Thị Oanh và cộng sự (2014) xác định năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học sư phạm biểu hiện ở 3 mặt chính thông qua đề tài “Năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục của giảng viên đại học sư phạm” Ba mặt đó là kỹ năng nghiên cứu, kinh nghiệm nghiên cứu và kỹ năng phổ biến/ứng dụng, đây cũng là cơ sở để tác giả đưa ra giải pháp nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giảng viên.[10] Khái niệm nội dung bồi dưỡng năng lực được xác định trong đề tài “Bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học của học viên đào tạo giảng viên ở các họcviện trường
Trang 36sĩ quan quân đội giai đoạn hiện nay” (Nguyễn Văn Tượng, 2016) Theo đó bồi dưỡng năng lực là tổng thể các hoạt động của chủ thể, tác động trực tiếp vào nhận thức, hành
vi và hoạt động học tập, rèn luyện của học viên đào tạo giảng viên,nhằm nâng cao tri thức tổng hợp, trình độ tư duy, kỹ năng, kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập.[11]
Năm 2014, Trần Thanh Ái cho ra đời tác phẩm nghiên cứu “Cần phải làm gì để phát triển năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục” Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tác giả đã rút ra một số giải pháp cho việc phát triển năng lực như: khuyến khích các tiến sĩ làm nghiên cứu khoa học, tăng cường gửi giảng viên đi đào tạo tiến sĩ, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho giảng viên, tăng cường tập huấn phương pháp nghiên cứu cho giảng viên trẻ, cải tiến cơ chế đánh giá khoa học theo chuẩn mực quốc tế, cải tiến nội dung giảng dạy môn phương pháp nghiên cứu khoa học.[12]
1.2 Lý luận về phát triển năng lực nghiên cứu khoa học
1.2.1 Năng lực nghiên cứu khoa học
1.2.1.1 Khái niệm năng lực
Nguyễn Văn Cường (2014), năng lực được định nghĩa “là một thuộc tính tâm
lý phước hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm”.[13]
Theo john Erpenbeck (1998), năng lực là cơ sở để phát triển tri thức, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi gía trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được thực hiên quá qua chủ định Năng lực là khả năng bao gồm kiến thức, kỹ năng
và thái độ thực hiện nhiệm vụ một cách thành công theo chuẩn xác.[14]
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, năng lực được hiểu là điều kiện đủ để làm một việc gì đó: Năng lực tư duy của con người là khả năng để thực hiện tốt một công việc:
có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức
Tóm lại năng lực là khả năng về kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết của cá nhân để thực hiện công việc hiệu quả theo mục tiêu đặt ra
1.2.1.2 Khái niệm năng lực nghiên cứu khoa học
Boerma Josefine (2011), cho rằng năng lực là khả năng về nghiên cứu bao gồm
Trang 37phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật nghiên cứu, kết cấu nghiên cứu và khả năng thực hiện nghiên cứu khoa học.[15]
Theo Vũ Cao Đàm và cộng sự (2006), thì “năng lực nghiên cứu khoa học là sự thành thạo về kỹ năng hình thành và chứng minh luận điểm (tư tưởng) khoa học, tạo
ra được kết quả thỏa mãn yêu cầu của mục tiêu nghiên cứu”
Trần Thanh Ái (2014), tiếp cận theo hướng năng lực nghiên cứu khoa học chung thì năng lực nghiên cứu khoa học bao gồm 3 thành tố chủ yếu cấu thành: kiến thức,
Theo Trần Thanh Ái (2014) năng lực của người nghiên cứu gồm ba yếu tố cấu thành: Kiến thức, kỹ năng và thái độ của người nghiên cứu
Năng lực nghiên cứu được định nghĩa bởi Emmanuel năm 2015 Emmanuel cho rằng nó chính là khả năng cho phép người nghiên cứu khám phá thông tin mới, là kết quả của cuộc đấu tranh có hệ thống (Emmanuel, 2015)
Từ tìm hiểu khái niệm về năng lực nghiên cứu khoa học của các tác giả trên,
quan điểm của tác giả trong luận văn này năng lực nghiên cứu khoa học được hiểu là khả năng thực hiện có kết quả công trình nghiên cứu khoa học, thể hiện qua cách vận dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm thực tiễn vào tổ chức triển khai và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào nâng cao thực xã hội
1.2.1.3 Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học
Donald McIntyre và Anne McIntyre cho rằng năng lực nghiên cứu không phải
là bao nhiêu nghiên cứu được hoàn thành mà là bao nhiêu nghiên cứu có thể được hoàn thành Như vậy, rõ ràng năng lực nghiên cứu khoa học không phải đếm trên đầu sản phẩm mà là cách làm và hoàn thành nó (Donald & and Anne, 2015)
Trang 38Theo Nguyễn Viết sự (2007), năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học gồm các năng lực thể hiện trong kiến thức, kỹ năng và thái độ trong việc thực hiện các đề tài tại trường hoặc đơn vị liên kết [16]
Trong đề tài này năng lực nghiên cứu khoa học được định nghĩa cụ thể như sau
“ Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học là khả năng thực hiện có kết quả một công trình nghiên cứu khoa học, thể hiện ở sự vận dụng các kiến thức, kỹ năng, thái độ để nghiên cứu đạt kết quả cao.”
Đặc điểm năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên:
Từ khái niệm năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên đã được trình bày ở phần 1.2.3, có thể thấy được đặc điểm của năng lực nghiên cứu khoa học là:
- Năng lực được hình thành và biểu hiện trong hoạt động nghiên cứu khoa học của cá nhân, càng nghiên cứu nhiều thì năng lực càng được nâng cao
- Phải có một kiến thức chuyên ngành nhất định thì mới có thể làm nghiên cứu
- Có tính độc lập và tư duy sáng tạo
- Nhạy bén trong nắm bắt các thông tin và có hoài nghi trong nghiên cứu
- Năng lực nghiên cứu khoa học có sự phối hợp chặt chẽ về kiến thức, kỹ năng
và thái độ để thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học
+ Năng lực nghiên cứu của giảng viên Đại học bao gồm:
- Năng lực xác định vấn đề nghiên cứu: với năng lực này, giảng viên cần biết phân tích hiện thực khách quan, hình thành ý tưởng nghiên cứu: Có kỹ năng quan sát, phân tích, tổng hợp thực tiễn, phát hiện các vấn đề cần quan tâm giải quyết, chọn lựa vấn đề cấp thiết cần giải quyết, hình thành ý tưởng nghiên cứu Đồng thời triển khai
ý tưởng nghiên cứu thành một đề tài nghiên cứu: Có kỹ năng thực hiện ý tưởng bằng một quy trình cụ thể, trước hết là biến ý tưởng thành một vấn đề cần giải quyết, một câu hỏi cụ thể cần phải trả lời
- Năng lực lập kế hoạch nghiên cứu: Với tiêu chuẩn này, giảng viên cần có kiến thức và kỹ năng xây dựng đề cương sơ bộ và đề cương chi tiết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ (bao gồm cả đề cương nội dung, dự toán kinh phí và kế hoạch nghiên cứu cụ thể) Và phải biết lập kế hoạch nghiên cứu: Có kỹ năng lập kế hoạch
Trang 39tổng thể và từng giai đoạn của quá trình nghiên cứu
- Năng lực tổ chức nghiên cứu: tổ chức hoạt động nghiên cứu tức là có kiểu biết
kỹ năng tập hợp lực lượng liên ngành trong nghiên cứu, phát huy tổng hợp các nguồn lực chủ quan và khách quan trong nghiên cứu Đồng thời biết vận dụng các cơ sở khoa học hợp lý Có kiến thức vững vàng về các cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc nghiên cứu, có kỹ năng cập nhật và vận dụng các kiến thức hiện đại vào quá trình nghiên cứu Ngoài ra cần biết sử dụng các phương pháp và phương tiện nghiên cứu
Có kỹ năng sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của đề tài, tích cực sử dụng các phương pháp nghiên cứu tiên tiến, kết hợp các phương pháp nghiên cứu truyền thống và hiện đại một cách có hiệu quả Sử dụng có hiệu quả các thiết bị kỹ thuật và phương tiện nghiên cứu hiện đại Mặt khác phải có phương pháp, kỹ năng quản lý hồ
sơ nghiên cứu và thông tin khoa học Tức là có hiểu biết và kỹ năng quản lý và thông tin từng phần kết quả trong quá trình nghiên cứu; quản lý khoa học và đúng quy định
hồ sơ nghiên cứu
- Năng lực tổng kết kết quả nghiên cứu và thông tin khoa học: tổng kết kết quả nghiên cứu tức là có kiến thức và kỹ năng tổng hợp kết quả nghiên cứu, tự đánh giá kết quả nghiên cứu, viết báo cáo tổng kết và báo cáo tóm tắt đề tài nghiên cứu khoa học Tiếp đến là công bố kết quả nghiên cứu: Viết được các bài báo khoa học để đăng Tạp chí hoặc tham dự hội nghị khoa học; sử dụng được nhiều hình thức hợp lý khác nhau để công bố kết quả nghiên cứu, triển khai thực hiện kết quả đề tài
1.2.1.4 Cấu trúc năng lực NCKH
Theo Vũ Cao Đàm, năng lực nghiên cứu thể hiện ở trình độ hiểu biết và kỹ năng của người nghiên cứu, năng lực gồm có năng lực dặt giả thuyết của người nghiên cứu, cách tiếp cận và các phương pháp cụ thể thu thập và xử lý thông tin để chứng minh giả thuyết đặt ra Năng lực nghiên cứu luôn được nâng cao sau một giai đoạn nghiên cứu nói chung và một đề tài, chương trình nghiên cứu cụ thể
Theo Nguyễn Xuân Qui, năng lực NCKH gồm ba yếu tố cấu thành: kiến thức,
kỹ năng và thái độ [17, tr.146]
Trang 40Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau ta có thể tóm lại năng lực NCKH được cấu thành bởi các yếu tố như sau:
Hình 1.1: Cấu trúc năng lực nghiên cứu khoa học
Kiến thức:
- Kiến thức khoa học chuyên ngành:
Để có thể tiến hành một NCKH, các cá nhân phải có đủ kiến thức về chuyên ngành của mình Trên nguyên tắc, người có bằng cấp càng cao thì kiến thức chuyên ngành càng phong phú Trong hệ thống đào tạo của các quốc gia, tiến sĩ là bằng cấp cao nhất; nó chứng nhận năng lực tối thiểu mà người có bằng đã đạt được để tổ chức các NCKH độc lập Tuy nhiên thực tế cho thấy rằng không thiếu những nhà nghiên cứu có nhiều đóng góp khoa học quan trọng nhưng không có được bằng cấp cao, và trong chiều ngược lại, cũng có không ít người bằng cấp cao nhất nhưng vẫn không có
đủ năng lực nghiên cứu Vì thế, tiêu chí bằng cấp cũng chỉ là một trong số nhiều điều kiện cần thiết ban đầu mà thôi Để có thể làm NCKH, trình độ khoa học chuyên ngành của người nghiên cứu phải đủ để xác định những vấn đề còn bỏ ngỏ chưa có lời đáp khoa học thỏa đáng Trình độ chuyên môn của nhà nghiên cứu chưa cao sẽ khiến họ xác định vấn đề nghiên cứu không phù hợp, và do đó, nghiên cứu của họ không có giá trị Khoa học hiện đại đuợc xây dựng trên quan niệm cho rằng kiến thức khoa học chỉ là tạm thời, và nó không ngừng phát triển, từ ít đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp Sự phát triển đó chủ yếu là thông qua con đường NCKH, Vì mục tiêu của NCKH
là sản sinh ra kiến thức mới Vì thế, nhà khoa học phải có đủ kiến thức để phát hiện
ra ranh giới giữa “cái đã biết” của khoa học và cái chưa biết Để đạt được điều này, mỗi cá nhân phải tự học để bổ xung kiến thức khoa học chuyên ngành Vì thế, NCKH luôn bắt đầu bằng tự học, tự đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn