1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach

277 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 277
Dung lượng 8,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng ngân hàng câu trắc nghiệm môn học Sinh lý sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, nâng cao chất lượng quá trình dạy học môn Si

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÙI QUANG HÙNG

XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÔN SINH LÝ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA

PHẠM NGỌC THẠCH

NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401

SKC 0 0 6 3 7 8

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10/2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÙI QUANG HÙNG

XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÔN SINH LÝ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA

PHẠM NGỌC THẠCH

NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401

Trang 3

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÙI QUANG HÙNG

XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÔN SINH LÝ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA

Trang 12

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:

Họ và tên: BÙI QUANG HÙNG Giới tính: Nam

Ngày, tháng, năm sinh: 08/12/1987 Nơi sinh: Bến Tre

Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: số 38 đường 4C, phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại cá nhân: 0902848547 E-mail: bqhungpnt@gmail.com

II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:

1 Trung học chuyên nghiệp:

Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian đào tạo từ 09/2005 đến 09/2007 Nơi học (trường, thành phố): Trung học Kỹ thuật Thực hành Việt Hàn

Ngành học: Điện Công nghiệp và Dân dụng

2 Đại học:

Hệ đào tạo: Vừa làm vừa học Thời gian đào tạo từ 11/2007 đến 05/2011 Nơi học (trường, thành phố): Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh Ngành học: Điện Công nghiệp

Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp: Thiết kế hệ thống điện, điều khiển lập trình nâng cao, chuyên đề tốt nghiệp ĐKC

Nơi bảo vệ đồ án, luận án hoặc thi tốt nghiệp: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC:

Thời gian Nơi công tác Công việc đảm nhiệm

05/2011-06/2015

Trường Đại học Y khoa Phạm

Từ 07/2015

đến nay

Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

Chuyên viên phòng Khảo thí

và Đảm bảo chất lượng đào tạo

Trang 13

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 10 năm 2019

(Ký tên và ghi rõ họ tên)

Bùi Quang Hùng

Trang 14

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn về những tri thức và những kinh nghiệm quý báu mà thầy đã chỉ dạy Cám ơn thầy đã tận tình hướng dẫn

em thực hiện chuyên đề và luận văn thạc sĩ này

Em xin cám ơn quý thầy cô trong Viện Sư phạm Kỹ thuật – Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh cùng quý thầy cô đã tham gia giảng dạy các môn thuộc chương trình cao học Ngành Giáo dục học cho khoá 2018 – 2020

Em xin các ơn các anh chị, các bạn trong lớp cao học Giáo dục học khoá

2018 – 2020 về những chia sẻ, đóng góp trong quá trình học tập

Em cũng xin cám ơn quý tập thể đồng nghiệp tại bộ môn Sinh lý và tập thể phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng đào tạo – Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch đã tạo điều kiện, tình tận giúp đỡ chia sẻ kiến thức giúp cho em hoàn thành luận văn

Với khả năng và thời gian có hạn, luận văn chắc chắn còn những thiếu sót nhất định, kính mong quý thầy, cô góp ý để đề tài em hoàn thiện hơn

Trang 15

TÓM TẮT

Lý do chọn đề tài: đã có nhiều đề tài về xây dựng ngân hàng câu trắc nghiệm khách quan cho môn học nhưng tại cơ quan chưa được thử nghiệm, áp dụng Xây dựng ngân hàng câu trắc nghiệm môn học Sinh lý là đang rất cần thiết Xây dựng ngân hàng câu trắc nghiệm môn học Sinh lý sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên, nâng cao chất lượng quá trình dạy học môn Sinh lý, giúp sinh viên tự rèn luyện nâng cao kiến thức của mình và góp

phần đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá của những môn học khác tại cơ quan

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: là xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra, đánh giá cho môn học Sinh lý tại Trường Đại học Y khoa

Phạm Ngọc Thạch

Phương pháp nghiên cứu: tìm hiểu cơ sở lý thuyết về khoa học đo lường

và đánh giá trong giáo dục, tìm hiểu cơ sở thực tiễn tại bộ môn Sinh lý, nội dung môn học và một số tài liệu có liên quan

Phương pháp thực nghiệm:

- Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn

- Chọn mẫu là sinh viên Y khoa học năm thứ 2

- Tổ chức thi thử trên máy tính

- Phân tích kết quả thi dựa trên phương pháp trắc nghiệm cổ điển

Kết quả nghiên cứu: Biên soạn được 600 câu hỏi trắc nghiệm khách quan

có 4 lựa chọn cho môn học Sinh lý Sau khi thử nghiệm số câu hỏi đạt tốt là

454 câu hỏi, có 79 câu hỏi cần chỉnh sửa và loại bỏ 67 câu hỏi kém chất lượng

Trang 16

ABSTRACT

The reason to choose a project: There are many projects on establishing objective multiple-choice questions, but there is no one to have not been tested and applied yet Establishing a multiple-choice question bank for Physiology is very necessary Establishing an objective multiple-choice question bank applied to the subject of Physiology; improving the assessment and evaluation quality of the student’s learning outcomes; improving the quality of the teaching method in Physiology; helping students to improve their knowledge and innovating of testing methods for other subjects

Project objective: To establish a multiple-choice question bank for Physiology at the Pham Ngoc Thach University of Medicine

Research methodology: Researching the theoretical basis of science measurement and evaluation testing in education, researching the reality at the Department of Physiology, the curriculum and some other references

Experimental methodology:

- To establish an objective multiple-choice question bank for 4 choices

- Sampling method: Second-year medical students

- To set up testing on the computers

- To analyzethe exam results based on the classicalmultiple-choice question testing methodology

Results obtained: Preparing 600 objective multiple-choice questions with 4 choices for Physiology After testing, there are 454 questions at a good level, there are 79 questions that need to be corrected and 67 questions at the bad level that need

to be removed

Trang 17

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa

Quyết định giao đề tài

Lý lịch khoa học i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Tóm tắt iv

Mục lục vi

Danh sách các chữ viết tắt x

Danh sách các hình xi

Danh sách các bảng xii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2

4.1 Khách thể nghiên cứu 2

4.2 Đối tượng nghiên cứu 2

5 Giả thuyết nghiên cứu 3

6 Phạm vi nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

7.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 3

7.2 Phương pháp thử nghiệm 3

7.3 Phương pháp thống kê toán học 3

7.4 Phương pháp chuyên gia 3

7.5 Phương pháp phỏng vấn 3

Trang 18

7.6 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm 3

8 Kế hoạch nghiên cứu 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu trắc nghiệm khách quan 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Tại Việt Nam 6

1.2 Một số khái niệm cơ bản 8

1.3 Trắc nghiệm khách quan là một phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 10

1.3.1 Chức năng của kiểm tra đánh giá 10

1.3.2 Mục đích của kiểm tra đánh giá 10

1.3.3 Các tiêu chuẩn của bài kiểm tra 11

1.3.4 Các nguyên tắc đánh giá 12

1.4 Các loại trắc nghiệm khách quan 12

1.4.1 Loại câu trắc nghiệm đúng – sai 13

1.4.2 Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn 15

1.4.3 Loại câu ghép đôi 18

1.4.4 Loại câu điền khuyết 19

1.5 Quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho môn học 21

1.5.1 Xác định mục tiêu học tập 22

1.5.2 Phân tích nội dung môn học 23

1.5.3 Thiết kế dàn bài trắc nghiệm môn học 24

1.5.4 Biên soạn các câu trắc nghiệm 25

1.5.5 Thử nghiệm các câu hỏi trắc nghiệm 26

1.5.6 Phân tích các câu hỏi trắc nghiệm 28

1.6 Phân tích độ khó, độ phân biệt, độ tin cậy, độ giá trị 28

1.6.1 Độ khó của câu trắc nghiệm 29

1.6.2 Độ phân biệt (phân cách) của câu trắc nghiệm 30

Trang 19

1.6.3 Độ tin cậy 31

1.6.4 Độ giá trị 33

Kết luận chương 1 35

Chương 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TẠI BỘ MÔN SINH LÝ 36

2.1 Giới thiệu Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, bộ môn Sinh lý 36

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Trường 36

2.1.2 Lịch sử sự hình thành và phát triển của bộ môn Sinh lý 38

2.2 Thực trạng vấn đề kiểm tra đánh giá tại bộ môn Sinh lý 39

2.2.1 Nhận thức các phương pháp kiểm tra, đánh giá 39

2.2.2 Quá trình tổ chức kiểm tra - đánh giá 40

2.2.3 Kế hoạch tổ chức các kỳ thi của bộ môn Sinh lý 41

2.2.4 Phân tích một số kỳ thi của bộ môn Sinh lý 44

2.2.5 Những bất cập trong soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm, kiểm tra đánh giá 44

2.3 Giới thiệu môn học Sinh lý 45

Kết luận chương 2 53

Chương 3 XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÔN SINH LÝ 54

3 1 Dàn bài trắc nghiệm môn học 55

3.2 Biên soạn câu hỏi trắc nghiệm 50

3.3 Tổ chức thi thử 56

3.3.1 Thiết kế dàn bài trắc nghiệm đề thi 56

3.3.2 Biên soạn các đề thi trắc nghiệm 57

3.3.3 Chọn mẫu và hình thức thi 60

3.4 Phân tích kết quả 63

3.5 Phân tích các câu hỏi chỉnh sửa 64

3.3.1 Phân tích các câu hỏi chỉnh sửa của học phần Sinh lý 1 65

3.3.2 Phân tích các câu hỏi chỉnh sửa của học phần Sinh lý 2 69

Kết luận chương 3 72

Trang 20

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

1 Đóng góp của đề tài 73

2 Đề xuất 74

2.1 Đối với nhà trường 74

2.2 Đối với các Bộ môn 74

2.3 Đối với giảng viên 74

3 Hướng phát triển 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 78

Phụ lục A Kết quả phân tích một số kỳ thi của môn Sinh lý trước khi xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm 79

Phụ lục B Danh sách các câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Sinh lý 95

Phụ lục C Hướng dẫn tạo kỳ thi mới bằng phần mềm BSC EXAM 213

Phụ lục D Kết quả phân tích câu hỏi các kỳ thi thử 223

Phụ lục E Danh sách các câu hỏi trắc nghiệm khách quan đã phân tích, chỉnh sửa trong ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Sinh lý 246

Trang 21

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ĐHYK : Đại học Y khoa KTĐG : Kiểm tra đánh giá TNKQ : Trắc nghiệm khách quan KQHT : Kết quả học tập

HPSL1 : Học phần Sinh lý 1 HPSL2 : Học phần Sinh lý 2 STT : Số thứ tự

Trang 22

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Trang Hình 3.1 Cấu trúc đề thi mẫu đưa vào phần mềm 60 Hình 3.2 Màn hình giám sát thí sinh 62 Hình 3.3 Màn hình thông tin thí sinh 62 Hình 3.4 Màn hình thí sinh làm bài 63 Hình 3.5 Màn hình thông tin kết quả thi 63

Trang 23

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang Bảng 1.1 Dạng cấu trúc dàn bài trắc nghiệm 25 Bảng 1.2 Bảng tính độ phân biệt D 30 Bảng 2.1 Bảng tỷ lệ sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá lý thuyết học

Trang 24

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi đất nước bước vào kỷ nguyên công nghệ thông tin và kinh tế tri thức như hiện nay thì cụm từ “chất lượng”, “khoảng cách”, “tốc độ”, “cơ hội” và “thách thức” luôn được nhắc đến Toàn cầu hóa - hội nhập kinh tế quốc tế như một xu thế khách quan, sự cạnh tranh về mọi mặt nói chung và về giáo dục nói riêng diễn ra ngày càng khốc liệt Điều này đặt ra cho nền giáo dục một sứ mệnh vô cùng quan trọng - đào tạo ra nguồn nhân lực mới trong kỷ nguyên mới Trong đó, chất lượng nguồn nhân lực chính là sức mạnh, là yếu tố cần và đủ để giúp nền kinh tế quốc gia bức phá và phát triển bền vững

Việc đào tạo nguồn nhân lực hướng tới các chuẩn trình độ quốc gia, khu vực và thế giới đang được toàn xã hội đặc biệt quan tâm nhằm đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tạo năng lực hòa nhập và cạnh tranh với thị trường lao động trong khu vực và quốc tế Do đó, giáo dục phải đổi mới, từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục Trong đó, đổi mới kiểm tra đánh giá là công cụ quan trọng và chủ yếu

Việc nâng cao công tác kiểm tra kiến thức một cách hệ thống và toàn diện, sẽ cung cấp cho người dạy những thông tin kịp thời và nhiều mặt về diễn biến của quá trình giảng dạy, về khả năng tiếp thu của người học Người dạy phải nghiên cứu đổi mới và phát triển các phương pháp đánh giá kết quả học tập đảm bảo tính khoa học, tính thống nhất, linh hoạt và khách quan Cần xây dựng công cụ đánh giá cho từng môn học, kiểm tra - đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho môn học Đánh giá xác thực năng lực của người học trước, trong và sau khi đào tạo nhằm góp phần đáp ứng nhu cầu xã hội về chuẩn đầu ra của giáo dục Bên cạnh đó phải kích thích tính tự khám phá, tự lĩnh hội và rèn luyện ở người học Chất lượng dạy - học được kiểm tra đánh giá bằng nhiều hình thức Trong các hình thức kiểm tra thì trắc nghiệm khách quan là hình thức đáp ứng được yêu cầu của kiểm tra đánh giá tại cơ quan mà người nghiên cứu đang công tác

Từ tình hình thực tế giảng dạy, học tập, kiểm tra đánh giá và đã có nhiều đề tài về xây dựng ngân hàng câu trắc nghiệm khách quan cho môn học nhưng tại cơ quan chưa được thử nghiệm, áp dụng Mặc khác, đối với sinh viên ngành Y, môn Sinh lý là môn học

tạo cơ sở để học những môn học tiếp theo Vì vậy, đề tài: “Xây dựng ngân hàng câu hỏi

Trang 25

trắc nghiệm môn Sinh lý tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch” là yêu cầu cấp

thiết trong giai đoạn hiện nay Qua đó góp phần nâng cao chất lượng cho hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên, nâng cao chất lượng quá trình dạy học môn học Sinh lý, từ đó giúp sinh viên có thể tự rèn luyện để nâng cao kiến thức của mình, tạo nền tảng cho những năm học kế tiếp, phát huy vai trò tự kiểm tra đánh giá của học sinh,

để từ đó định hướng quá trình dạy - học, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra, đánh giá cho môn học Sinh lý tại Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận, để xây dựng ngân hàng câu hỏi kiểm tra đánh giá cho môn học Sinh lý

- Phân tích thực trạng KTĐG tại bộ môn Sinh lý

- Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho môn học Sinh lý

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

- Quá trình dạy học của bộ môn Sinh lý

- Chương trình môn học Sinh lý

- Mục tiêu đào tạo môn học Sinh lý

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra, đánh giá cho môn học Sinh lý

5 Giả thuyết nghiên cứu

Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm như người nghiên cứu xây dựng phù hợp lý thuyết

trắc nghiệm và các câu hỏi có độ khó, độ phân biệt phù hợp

6 Phạm vi nghiên cứu

Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan có nhiều lựa chọn cho kiểm tra đánh giá phần lý thuyết môn học Sinh lý cho sinh viên Y đa khoa tại bộ môn Sinh lý - Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch trên cơ sở các câu hỏi trắc nghiệm của bộ môn

và biên soạn thêm cho phù hợp

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Trang 26

Các tài liệu trên sách, báo cáo khoa học, luận văn, luận án,… là cơ sở lý luận để xây dựng bộ đề kiểm tra đánh giá cho môn học Sinh lý; Chương trình đào tạo môn học Sinh lý; Các qui định về quy trình xây dựng bộ đề kiểm tra, đánh giá

7.2 Phương pháp thử nghiệm

Trao đổi với các giảng viên bộ môn; Thử nghiệm các câu hỏi trắc nghiệm cho phần lý thuyết trong điều kiện thực tế để xác định tính khả thi của bộ đề khi áp dụng vào thực tiễn đánh giá; Phân tích các câu trắc nghiệm để trên cơ sở đó tiến hành điều chỉnh cho phù hợp với các yêu cầu khi xây dựng câu trắc nghiệm

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Thống kê, tổng hợp các số liệu của quá trình nghiên cứu: khảo sát, thử nghiệm và lấy ý kiến chuyên gia Trên cơ sở đó, phân tích các câu hỏi trắc nghiệm, từ đó đánh giá, kết luận

hay điều chỉnh nội dung nghiên cứu

7.4 Phương pháp chuyên gia

Trao đổi, thu thập và tổng hợp ý kiến về nội dung chuyên môn, phương pháp xây dựng bộ đề kiểm tra đánh giá từ các chuyên gia và người học

7.5 Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn trao đổi với người dạy và ngưởi học để đánh giá về thực trạng KTĐG tại bộ

môn Sinh lý

7.6 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

Dựa trên các câu hỏi trắc nghiệm từ bộ môn, người nghiên cứu biên soạn cho phù hợp với ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

8 Kế hoạch nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài, người nghiên cứu tiến hành thực hiện qua các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Định hướng đề tài, thu thập tài liệu, nghiên cứu cơ sở lý luận của đề

tài.Viết cơ sở lý luận của đề tài, hoàn thành đề cương nghiên cứu

Giai đoạn 2: Phân tích chương trình môn học Sinh lý làm cơ sở để xây dựng ngân

hàng câu hỏi trắc nghiệm

Giai đoạn 3:

- Biên soạn ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

- Kiểm nghiệm và phân tích các câu hỏi trắc nghiệm

- Viết hoàn chỉnh luận văn

Trang 27

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG

NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM

1.1 Lịch sử nghiên cứu trắc nghiệm khách quan

1.1.1 Trên thế giới

Trắc nghiệm là một loại dụng cụ đo lường khả năng của người học, ở bất cứ cấp học nào, bất cứ môn học nào, trong lĩnh vực khoa học tự nhiên hay xã hội Cho đến hiện nay, ngoài loại trắc nghiệm “luận đề” có hai loại trắc nghiệm đã và đang được quan tâm trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo:

Trắc nghiệm chuẩn mực

Ở Đức: Khởi đầu vào năm 1879, Wichelm Weent thiết lập phòng thí nghiệm tâm

lý học tại Leipzig Đây là phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới, mở đầu cho phong trào nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm và sử dụng trắc nghiệm làm công cụ khảo sát tâm lý

Ở Mỹ: Năm 1890 nhà tâm lý học Hoa Kỳ Mac K Cattell đưa ra khái niệm trắc

nghiệm trí tuệ trong tác phẩm “Trắc nghiệm trí tuệ và đo lường”, từ đó trắc nghiệm được hiểu theo nghĩa rộng là dụng cụ, phương tiện, đo lường trong tâm lý Trắc nghiệm phát triển mạnh mẽ với nhiều trường phái tâm lý học [6]

Bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Acheevenment Test ra đời vào năm 1923 tại Mỹ Với việc đưa vào chấm trắc nghiệm bằng máy IBM năm 1935, việc thành lập Hội đồng quốc gia về Đo lường trong giáo dục vào thập niên 1950, sự ra đời hai tổ chức tư nhân Eduacation Testing Services năm 1947 và American College Testing năm 1959, hai tổ chức làm dịch vụ trắc nghiệm lớn thứ nhất và thứ nhì Hoa Kỳ, một ngành công nghiệp về trắc nghiệm đã hình thành [11]

Sau các loại trắc nghiệm trí thông minh, kỹ xảo, các trắc nghiệm về khả năng, sở thích, nhân cách,… đã không ngừng được phát triển và áp dụng một cách rộng rãi trong nhiều năm qua Ở Mỹ, từ đầu thế kỷ XIX, người ta đã dùng phương pháp trắc nghiệm chủ yếu để phát hiện năng khiếu, xu hướng nghề nghiệp của học sinh

Trang 28

Đến năm 1940, ở Hoa Kỳ đã xuất hiện nhiều hệ thống trắc nghiệm dùng để đánh giá thành tích học tập của học sinh Năm 1961, Hoa Kỳ đã có hơn 2000 chương trình trắc nghiệm chuẩn [7]

Ở Pháp: Sang đầu thế kỷ XX, trắc nghiệm phát triển mạnh mẽ với nhiều công

trình nghiên cứu Đặc biệt năm 1905 Binet và Simon (Pháp) phát minh loại trắc nghiệm

trí thông minh trẻ em [18]

Ở Liên Xô: Trong những năm 1926 – 1931, trắc nghiệm thành tích học tập đã

được sử dụng ở một số trường Một vài tài liệu trắc nghiệm được xuất bản, đặc biệt là tác phẩm trắc nghiệm (lý thuyết và thực hành) gồm 2 tập (1928) tập trung một số bài viết giới thiệu cả ưu nhược điểm của trắc nghiệm Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Viện Hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô chính thức nghiên cứu khả năng và tác dụng của trắc nghiệm [7]

Ở Miền Nam:

Ở nước ta, loại trắc nghiệm chuẩn mực thường được gọi là trắc nghiệm khách quan và chính thức được nghiên cứu áp dụng tại một số trường Trung học và Đại học ở

Miền Nam vào những năm đầu của thập niên 1960

Năm 1964, “Trung tâm Trắc nghiệm và Hướng dẫn” (một cơ quan đặc trách về trắc nghiệm) được thành lập Cơ quan này phổ biến nhiều tài liệu về trắc nghiệm [7]

Niên học 1965 – 1966, kỳ thi trung học đệ nhất các môn Sử, Địa, Công dân thi dưới hình thức trắc nghiệm [13]

Năm học 1973 – 1974, tất cả các môn học trong kỳ thi tú tài đều thi trắc nghiệm (dạng nhiều lựa chọn) [11]

Từ đầu năm 1994 khi Bộ Giáo dục và Đào tạo có những hoạt động cụ thể như tập huấn về trắc nghiệm, khuyến khích sử dụng phương pháp trắc nghiệm thì tại trường Đại

Trang 29

học Đà Lạt, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh,… đã sử dụng trắc nghiệm thành tích học tập trong các môn thi, kiểm tra

Đầu năm 1996, trắc nghiệm được sử dụng vào kỳ thi tuyển sinh ở trường Đại học

Đà Lạt dưới hai hình thức trắc nghiệm luận đề và trắc nghiệm khách quan [1]

Ngày 31/05/1997, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đã

có buổi tập huấn về trắc nghiệm và khuyến khích toàn bộ giáo viên sử dụng vào việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở một số môn học

Ở Miền Bắc:

Trần Bá Hoành là một trong những người tiên phong nghiên cứu trắc nghiệm khách quan từ đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX

Năm 1971, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục có bài giới thiệu về trắc nghiệm

Từ năm học 1975 đến 1993, hình thức trắc nghiệm được áp dụng trong thi kiểm tra thành tích học tập của học sinh nhưng không phổ biến rộng rãi, thường chỉ được áp dụng cho môn Ngoại ngữ

Cho đến nay, trắc nghiệm đã được giới thiệu và áp dụng rộng rãi trong các trường đại học, ở các trường phổ thông và trong các kì thi tuyển sinh

Ngoài ra còn có một số tác phẩm - tác giả nghiên cứu về trắc nghiệm thành tích học tập:

- Viết và phân tích trắc nghiệm giáo dục - tác giả Huỳnh Huynh

- Trắc nghiệm và đo lường thành tích học tập - tác giả Dương Thiệu Tống

- Trắc nghiệm - tác giả Châu Kim Lang

- Trắc nghiệm và ứng dụng - tác giả Lâm Quang Thiệp

Trắc nghiệm tiêu chí

Loại trắc nghiệm này cũng đã được đề cập đến từ năm 1972 Tuy nhiên cho đến hiện nay, trắc nghiệm tiêu chí hầu như vẫn chưa được các giáo viên quan tâm áp dụng Năm 1998, Nhà xuất bản Giáo dục đã cho ra mắt cuốn tài liệu “Trắc nghiệm tiêu chí” – Phương pháp thực hành của Dương Thiệu Tống Đây là cuốn tài liệu đầu tiên viết về loại trắc nghiệm này được biên soạn bằng tiếng Việt

1.2 Một số khái niệm cơ bản

Trắc nghiệm: là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời cho câu hỏi “Thành tích của cá nhân như thế nào, so sánh với những người khác hay so với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập được dự kiến” Trắc

Trang 30

nghiệm theo tiếng Anh là “thử”, “phép thử”, “sát hạch” Theo nghĩa chữ Hán, tác giả Dương Thiệu Tống đã giải thích: “trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” là “suy xét, chứng thực” [1]

Có khá nhiều định nghĩa về trắc nghiệm của các nhà Tâm lý học và Giáo dục học Trắc nghiệm là một trong những phương pháp, công cụ đo lường trong giáo dục đã, đang

và sẽ được các nhà giáo dục – đào tạo trên thế giới cũng như ở Việt Nam phát triển [8]

Trong Giáo trình “Đánh giá và đo lường kết quả học tập”, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã trích dẫn định nghĩa của Gronlund: “Trắc nghiệm là một công cụ hay một quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ mà cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể”

Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu “trắc nghiệm” là một công cụ được sử dụng

để đo lường thành tích đạt được của cá nhân trong một lĩnh vực học tập cụ thể nào đó Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá kết quả học tập hay năng lực của học sinh sau một khóa học, môn học hoặc một thời gian học,…

Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan Gọi là khách quan vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụ thuộc vào người chấm

Trắc nghiệm khách quan được biểu đạt bằng hệ thống các câu hỏi Người trả lời chọn một câu trả lời đúng nhất trong số các câu trả lời cho một câu hỏi Người chấm căn

cứ vào hệ thống cho điểm khách quan để đánh giá, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm

Tại các trường Đại học, bộ phận Khảo thí luôn có sẵn một hệ thống ngân hàng câu hỏi để sử dụng trong các kỳ thi, kỳ kiểm tra đánh chất lượng của học sinh sinh viên Tuy nhiên, để xây dựng một hệ thống ngân hàng câu hỏi hoàn chỉnh, chúng ta cẩn hiểu rõ bản chất và các yếu tố cấu thành của chúng Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng câu hỏi, phản ánh sự phát triển của khoa học trắc nghiệm Theo Ward và cộng sự ngân hàng câu hỏi là tập hợp những câu hỏi dưới dạng văn bản có thể dễ dàng truy cập để sử dụng khi xây dựng đề thi [17]

Theo McCallon và cộng sự, định nghĩa về ngân hàng câu hỏi là tập hợp những câu hỏi dưới dạng văn bản có thể dễ dàng truy cập để sử dụng khi xây dựng đề thi, thường được tin học hóa để dễ dàng lưu giữ và thuận tiện khi tạo ra các đề thi mới Mỗi câu hỏi được mã hóa theo từng lĩnh vực nội dung và mục tiêu giảng dạy, cũng như những dữ liệu

Trang 31

được thu thập qua thực nghiệm như những số đo về độ khó và độ phân cách của từng câu hỏi [3]

Nghiên cứu của Lâm Quang Thiệp thì ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được hiểu là tập hợp các câu hỏi trắc nghiệm với số lượng tương đối lớn, trong đó mỗi câu hỏi đã được định cỡ, tức là được gắn với các phần nội dung xác định và tham số xác định (độ khó, độ phân biệt) [2]

Như vậy xây dựng ngân hàng câu hỏi là tập hợp các câu hỏi trắc nghiệm với số lượng tương đối lớn, trong đó mỗi câu hỏi đã được định cỡ, tức là được gắn với các phần nội dung xác định và tham số xác định (độ khó, độ phân biệt) nhằm kiểm tra đánh giá kiến

thức và kỹ năng cần có để thực hiện các công việc của một ngành hoặc một nghề

Trang 32

1.3 Trắc nghiệm khách quan là một phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh

1.3.1 Chức năng của kiểm tra đánh giá

Chức năng so sánh: so sánh giữa mục đích yêu cầu đề ra với kết quả thực hiện

được Nếu không có kiểm tra đánh giá thì không có dữ kiện, số liệu xác thực để so sánh kết quả đạt được với mục đích yêu cầu

Chức năng phát hiện lệch lạc: việc kiểm tra sẽ phát hiện ra những mặt đã đạt được

và chưa đạt được mà môn học đề ra đối với học sinh, qua đó tìm được những khó khăn và trở ngại trong quá trình học tập Qua đó tìm được những nguyên nhân lệch lạc về phía người dạy cũng như người học, đề ra được những phương án giải quyết

Chức năng điều chỉnh: qua kiểm tra giáo viên tìm được những điều chỉnh cần thiết

trong quá trình giảng dạy sao cho thích hợp để loại trừ những lệch lạc, tháo gỡ những khó khăn, trở ngại, thúc đẩy quá trình chiếm lĩnh tri thức của người học [12]

1.3.2 Mục đích của kiểm tra đánh giá

Theo Trần Bá Hoành trong tài liệu “Đánh giá trong giáo dục” thì kiểm tra đánh giá

có mục đích:

- Đối với học sinh:

+ Giúp học sinh đào sâu kiến thức, hệ thống hóa khái quát hóa những kiến thức + Giúp học sinh phát hiện những lỗ hổng về tri thức và kịp thời bổ sung

+ Mức độ tri giác tích cực tự lực được nâng cao và rèn luyện được thói quen tìm hiểu sâu sắc tài liệu và giải quyết vấn đề phân tích

- Đối với giáo viên:

+ Thấy được tình hình học tập của từng học sinh cũng như cả lớp

+ Phát hiện được những nội dung giảng dạy thiếu sót cũng như các phương pháp giảng dạy chưa phù hợp để bổ sung và sửa đổi

- Đối với nhà trường, phụ huynh và các cơ quan giáo dục:

+ Dựa trên cơ sở của kiểm tra - đánh giá có thể theo dõi đánh giá quá trình giảng dạy của giáo viên và tình hình học tập của học sinh

+ Căn cứ vào đó mà bổ sung hoàn thiện và phát triển chương trình giảng dạy + Qua kiểm tra và đánh giá giúp cho phụ huynh biết rõ sự học tập của con em mình vì vậy mà có mối liên hệ giữa nhà trường và gia đình chặt chẽ hơn

1.3.3 Các tiêu chuẩn của bài kiểm tra

Trang 33

Có giá trị: Bài trắc nghiệm có giá trị khi nó đáp ứng được mục đích đề ra Nếu mục

đích nhằm đo lường trình độ tiếp thu khối lượng kiến thức của học sinh về một môn học thì những điểm số từ bài trắc nghiệm của học sinh phải phản ánh đúng khả năng lĩnh hội của học sinh về môn học ấy Một bài trắc nghiệm có giá trị phải đáp ứng đủ về: giá trị nội dung, giá trị chương trình, giá trị mục tiêu và giá trị tiên đoán

- Giá trị nội dung là mức độ bao quát toàn bộ được nội dung môn học, bài học

- Giá trị chương trình của bài trắc nghiệm khi các câu hỏi được phân bố đều khắp chương trình, không tập trung vào một số bài hay một số đề mục để nhằm ngăn ngừa tình trạng học tủ của học sinh

- Giá trị mục tiêu, bài trắc nghiệm có giá trị mục tiêu phải phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi, nhằm đánh giá đúng trình độ của học sinh

- Giá trị tiên đoán nói lên mối liên hệ giữa điểm số của bài trắc nghiệm với một tiêu chí khác căn cứ vào khả năng (thành quả học tập) ở thời điểm tương lai

Đáng tin cậy: Trắc nghiệm là một phép đo lường để biết được năng lực của đối

tượng được đo Tính chính xác của phép đo lường này rất quan trọng Độ tin cậy của bài trắc nghiệm chính là đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờ bài trắc nghiệm

Độ tin cậy của bài kiểm tra tùy thuộc vào 3 yếu tố:

- Vừa sức với trình độ học sinh, bài kiểm tra không quá khó hay quá dễ

- Các ảnh hưởng bên ngoài khi học sinh làm bài như quay cóp bài, bị nhiễu khi làm bài

- Sự khách quan của người chấm, để khắc phục yếu tố này giáo viên cần có thang điểm rất chi tiết

Dễ sử dụng: Bài kiểm tra phải soạn kỹ tránh những trở ngại khi học sinh làm bài,

bài kiểm tra có hướng dẫn rõ ràng, ghi thời gian làm bài, các điểm số và vấn đề tài liệu được sử dụng hay không (ghi cụ thể) Bài kiểm tra phải thực hiện sao cho việc chấm bài được dễ dàng, thang điểm chính xác để nâng cao mức tin cậy của bài kiểm tra Phải tiết kiệm thời gian và phương tiện vì tiêu chuẩn này làm ảnh hưởng đến tính chất tin cậy và

có giá trị

1.3.4 Các nguyên tắc đánh giá

Đánh giá phải khách quan: Trong mọi trường hợp giáo viên cũng không được có

ác cảm hay thiện cảm chen vào trong quá trình đánh giá mà đánh giá phải khách quan,

dựa vào kết quả mà người giáo viên thu được của học sinh

Trang 34

Đánh giá phải dựa vào mục tiêu dạy học: Dạy học nhằm mục đích gì thì khi

đánh giá giáo viên phải dựa vào mục đích đề ra ban đầu đó

Đánh giá phải toàn diện: Đánh giá không những chỉ chú trọng vào kiến thức của

học sinh mà cần cả về mọi mặt từ tư tưởng chính trị, tác phong, thái độ đến kiến thức khoa học, kỹ thuật

Đánh giá phải thường xuyên và có kế hoạch: Kiến thức, kỹ năng, thái độ cũng

như mọi hoạt động của con người đều có quá trình vận động và phát triển không ngừng, cho nên kết quả đánh giá chỉ có giá trị thực sự ngay trong thời điểm đánh giá Do đó đánh giá chính xác, phải thực hiện thường xuyên và có kế hoạch trong quá trình dạy học

Đánh giá phải nhằm cải tiến phương pháp giảng dạy, hoàn chỉnh chương trình học: Qua các kỳ kiểm tra cũng như thi, giáo viên cũng như các cơ quan giáo dục

tìm hiểu những tác nhân đưa đến kết quả, vạch ra những ưu điểm để phát huy, phát hiện những nhược điểm để sửa chữa, cải tiến phương pháp giảng dạy, sửa đổi chương trình học cho thích hợp với mục tiêu đào tạo

1.4 Các loại trắc nghiệm khách quan

Hiện nay, có nhiều tài liệu viết về trắc nghiệm đã đề cập một cách rất kỹ lưỡng về hình thức, cấu trúc, ưu, nhược điểm và nguyên tắc soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm khách quan Bốn hình thức câu hỏi trắc nghiệm thường được sử dụng nhiều nhất trong kiểm tra, đánh giá, đó là: loại câu trắc nghiệm đúng - sai, loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn, loại câu ghép đôi (hay đối chiếu cặp đôi) và loại câu điền khuyết

Trang 35

1.4.1 Loại câu trắc nghiệm đúng - sai

Loại câu trắc nghiệm đúng - sai được trình bày dưới dạng câu phát biểu và học sinh phải trả lời bằng cách lựa chọn Đúng hay Sai Câu trắc nghiệm đúng - sai thường có hai dạng:

- Dạng có thân chung: Câu hỏi gồm một phần thân chung và các ý trả lời Người

học phải xem xét các ý trả lời, so sánh với nội dung của phần thân chung để xác định câu nào đúng, câu nào sai

+ Phần thân chung: có thể là một cụm từ hoặc một vấn đề mang tính lý thuyết

+ Câu trả lời: thường có 5 câu cho phần thân chung, hoặc cũng có khi nhiều hơn Những câu trả lời có thể đúng, cũng có thể là sai, câu trả lời thường là những ý có liên quan trực tiếp và giúp làm rõ phần thân chung

Trắc nghiệm đúng/ sai dạng có thân chung thường có cấu trúc như sau:

Hãy đánh dấu (X) vào cột Đ (đúng) hoặc cột S (sai) phù hợp trong các ý sau đây:

Phần thân chung (là một cụm từ hoặc một vấn đề mang tính lý

Trang 36

Ví dụ: Hãy khoanh tròn vào chữ Đ (đúng) hoặc chữ S (sai) vào các câu thích hợp sau đây:

1) Khi lựa chọn phương pháp dạy học, giáo viên phải căn cứ

2) Để nhanh chóng chữa khỏi bệnh cho bệnh nhân nên dùng

Ở cả hai dạng trên của câu trắc nghiệm đúng - sai, đối với câu đúng phải là câu có toàn bộ nội dung phù hợp với tri thức khoa học Trong câu trắc nghiệm chỉ cần có một chi tiết không phù hợp với tri thức khoa học thì toàn bộ câu trắc nghiệm được đánh giá là sai

Ưu nhược điểm:

Quy tắc biên soạn

Trong các tài liệu: “Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá thành quả học tập”- Nguyễn Phụng Hoàng, Võ Thị Ngọc Lan; “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập”- Dương Thiệu Tống, các tác giả đã giới thiệu những quy tắc khi soạn thảo và sử dụng loại câu trắc nghiệm đúng - sai Có thể tổng hợp những nội dung cơ bản mà các tác giả đã đề cập khi viết câu trắc nghiệm đúng - sai như sau:

- Không chép nguyên văn những câu hỏi từ sách giáo khoa hoặc giáo trình, vì làm như vậy chỉ khuyến khích học thuộc lòng một cách máy móc;

Trang 37

- Nội dung các câu phát biểu phải được dựa trên cơ sở khoa học, tính đúng hay sai phải chắc chắn, không tùy thuộc vào quan niệm riêng của từng cá nhân;

- Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn tả một ý tưởng độc nhất, tránh những câu phức tạp, bao gồm quá nhiều chi tiết;

- Tránh dùng những từ tiết lộ kết quả Chẳng hạn những từ: “tất cả”, “không bao giờ”, “không một ai”, “không thể nào”, những từ này thường có ở những câu sai; những từ: “thường thường”, “đôi khi”, “một số”, “có khi”, bộc lộ một sự dè dặt nào đó, nên thường hay được sử dụng với các câu đúng Học sinh có nhiều kinh nghiệm có thể khám phá ra điều này một cách dễ dàng;

- Tránh dùng các câu ở thể phủ định, nhất là thể phủ định kép;

- Trong bài thi, số câu đúng và số câu sai nên gần bằng nhau

Cách cho điểm

Có hai phương pháp chấm điểm thường được áp dụng:

- Phương pháp thứ nhất là chấm mỗi câu trả lời đúng 1 điểm và không kể đến câu

làm sai hoặc không làm: Điểm số = Số câu đúng

- Phương pháp thứ hai là đếm số câu trả lời đúng và trừ đi số câu trả lời sai Công

thức tính điểm của bài thi là: Điểm số = Số câu đúng – Số câu sai

Phương pháp thứ hai thường được dùng nhiều hơn để tránh trường hợp học sinh đoán mò, làm tăng tính giá trị cho bài trắc nghiệm

1.4.2 Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn (đa phương án)

Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn gồm có hai phần: Phần “gốc” (còn gọi là phần thân chung) và phần “lựa chọn” (còn gọi là phần trả lời)

- Phần gốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất) Phần gốc cũng có

thể là hình vẽ, đồ thị Phần gốc phải tạo căn bản cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu trắc nghiệm muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp

- Phần lựa chọn gồm một số (thường là 4 hay 5) câu trả lời, trong đó có một câu

trả lời đúng hoặc đúng nhất Các câu trả lời còn lại đều là những “mồi nhử” hoặc câu

“nhiễu” có vẻ như hợp lý để buộc học sinh phải cân nhắc, lựa chọn [1]

Ví dụ: Ta có thể xác định một elip bằng:

A 2 tiêu điểm

B 1 tiêu điểm và 1 vòng chuẩn

Trang 38

C Vòng chính và tâm đối xứng của elip

D 4 đỉnh trên 2 trục đối xứng của elip

Ưu nhược điểm:

Ưu điểm:

- Để trả lời câu hỏi có nhiều lựa chọn, học sinh phải suy nghĩ để lựa chọn được câu trả lời đúng, tránh được những câu “nhiễu” chứ không chỉ sử dụng trí nhớ đơn thuần Như vậy câu hỏi có nhiều lựa chọn có thể kiểm tra được kiến thức ở mức cao hơn

- Có thể hỏi trên phương diện rộng của chương trình, do đó có thể làm tăng độ giá trị

- Chấm điểm rất nhanh, chính xác nên tiết kiệm được thời gian chấm bài

- Câu hỏi có nhiều lựa chọn thường có độ tin cậy cao nếu các câu trả lời “mồi nhử” không quá sơ hở để học sinh nhận biết một cách dễ dàng

Nhược điểm:

- Vì chỉ có một câu trả lời đúng trong số các câu trả lời nên nếu học sinh biết trước, học sinh sẽ không cần đọc các câu trả lời khác Trong trường hợp này, những câu

“mồi nhử” hay việc lựa chọn sẽ không có ý nghĩa

- Việc soạn thảo câu hỏi có nhiều lựa chọn mất rất nhiều thời gian Nhiều khi rất khó tìm được câu “mồi nhử” cho có vẻ hợp lý

- Vì khó biên soạn nên có khi các câu hỏi dễ tập trung vào những kiến thức không quan trọng và do đó sẽ làm giảm đi tính giá trị của câu hỏi

- Học sinh có sáng kiến có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn phương án đúng đã cho, nên họ có thể sẽ không thỏa mãn hay cảm thấy khó chịu

- Câu hỏi có nhiều lựa chọn không đo được khả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo

- Học sinh cần nhiều thời giờ để đọc câu hỏi và các câu trả lời

Quy tắc biên soạn

- Phần gốc của câu hỏi phải diễn đạt rõ ràng vấn đề để người trả lời hiểu được chính xác nội dung câu hỏi đề cập

- Phần gốc của câu hỏi nên mang chọn ý nghĩa và câu trả lời nên ngắn gọn

- Nên có 4 đến 5 phương án trả lời cho một câu hỏi, thống nhất trong một bài trắc nghiệm

- Không kết thúc phần gốc bằng các từ để lộ ý trả lời

Trang 39

- Tránh dùng phủ định trong phần gốc: những từ như “không”, “chẳng” tránh sử dụng trong câu hỏi

- Các câu trả lời để lựa chọn phải có vẻ hợp lý để học sinh buộc phải cân nhắc khi lựa chọn

- Độ dài của các câu trả lời phải gần như nhau Không nên viết câu trả lời đúng có khuynh hướng ngắn hơn hoặc dài hơn các câu trả lời khác

Cách cho điểm

Theo Nguyễn Đức Trí trong tài liệu Hội thảo “Hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề, đánh giá và cấp chứng chỉ”, với loại câu hỏi trắc nghiệm có nhiều lựa chọn, trong đó có một câu trả lời đúng, nếu chọn đúng đáp án thì được điểm số quy định (thông thường là 1 điểm cho mỗi câu chọn đúng), nếu chọn sai thì không được điểm

Trong tài liệu “Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá thành quả học tập”, các tác giả Nguyễn Phụng Hoàng và Võ Thị Ngọc Lan đã đưa ra công thức chấm điểm bài trắc nghiệm loại có nhiều lựa chọn như sau:

Điểm số = R -

1

K W

Trong đó: R là số câu trả lời đúng; W là số câu trả lời sai; K là số câu trả lời cho

sẵn để chọn trong mỗi câu hỏi

Hai cách thức cho điểm trên có sự khác nhau Cách cho điểm thứ nhất vẫn thường được các giáo viên sử dụng nhiều hơn trong quá trình giảng dạy Có thể vì điểm số của bài kiểm tra chỉ mang ý nghĩa thăm dò năng lực học sinh để từ đó giáo viên có thể đưa ra những điều chỉnh kịp thời giúp cho quá trình giảng dạy và học tập có hiệu quả hơn Cách cho điểm thứ hai đòi hỏi sự khắt khe hơn đối với học sinh khi làm bài thi Học sinh cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi chọn câu trả lời chứ không thể chọn một cách tùy tiện Tuy nhiên, khi áp dụng cách cho điểm nào giáo viên cần thông báo cho học sinh biết trước hoặc có lời chú thích trong bài thi về cách thức cho điểm Đó là sự định hướng cần thiết đối với học sinh trước khi làm bài thi

1.4.3 Loại ghép đôi (Đối chiếu cặp đôi)

Loại trắc nghiệm ghép đôi là một dạng đặc biệt của loại trắc nghiệm có nhiều lựa chọn Câu trắc nghiệm ghép đôi thường có hai bộ phận, đó là hai danh mục thông tin gồm những chữ, nhóm chữ hay câu Danh mục thứ nhất được gọi là tiền đề (thường là danh mục bên trái); danh mục thứ hai được gọi là danh mục trả lời (danh mục bên phải)

Trang 40

Người dự thi có nhiệm vụ làm phù hợp mỗi câu tiền đề bằng một ý trả lời đúng tương ứng

Ví dụ: Hãy tìm ở cột bên phải tên tác giả của mỗi tác phẩm liệt kê ở cột bên trái

1 Kép tư bền A Ngô Tất Tố

3 Thề non nước C Vũ Trọng Phụng

4 Gió đầu mùa D Trần Khánh Dư

5 Việc Làng E Nguyễn Công Hoan

Nhược điểm: Nếu danh sách trong mỗi danh mục quá dài, sẽ tốn thời gian để biên

soạn Mặt khác học sinh sẽ mất nhiều thời gian để đọc cả bản danh mục nhiều lần mới có thể trả lời được Nếu ít câu quá, học sinh dễ đoán ra

Quy tắc biên soạn

- Sử dụng một số lượng hợp lý các tiền đề và các ý trả lời: Đa số các chuyên gia tán thành với con số tối thiểu là 5 cho mỗi danh mục Ít câu quá làm cho học sinh dễ đoán

ra, nhiều câu quá đòi hỏi học sinh phải đọc bản danh mục quá nhiều lần mới có thể trả lời được

- Các tiền đề và các ý trả lời trong một danh mục phải đồng nhất Ví dụ: Nếu một danh mục là công cụ thì tất cả các câu trong danh mục là công cụ, chứ không được là danh mục bao gồm cả vật liệu và công cụ

- Số ý lựa chọn trong danh mục trả lời nhiều hơn số tiền đề Một cách khác có hiệu quả là cho phép một ý trả lời được sử dụng nhiều hơn một lần (áp dụng với câu trắc nghiệm thi trên giấy)

- Các tiền đề có thể dài nhưng câu trả lời phải ngắn gọn Thông thường người dự thi đọc tiền đề trước sau đó mới xem đến danh mục các câu trả lời Nếu câu trả lời quá dài thì người dự thi có thể bị lẫn lộn

Cách cho điểm

Ngày đăng: 02/12/2021, 09:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Dạng cấu trúc dàn bài trắc nghiệm - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 1.1. Dạng cấu trúc dàn bài trắc nghiệm (Trang 45)
Bảng 1.2. Bảng tính độ phân biệt D - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 1.2. Bảng tính độ phân biệt D (Trang 50)
Bảng 2.2.  Bảng tỷ lệ sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá lý thuyết học - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 2.2. Bảng tỷ lệ sử dụng các phương pháp kiểm tra đánh giá lý thuyết học (Trang 59)
Bảng 2.3. Kế hoạch thi mẫu môn học Sinh lý - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 2.3. Kế hoạch thi mẫu môn học Sinh lý (Trang 62)
Bảng 2.4. Danh sách giám thị coi thi môn học Sinh lý - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 2.4. Danh sách giám thị coi thi môn học Sinh lý (Trang 62)
Bảng 2.5. Kết quả phân tích đánh giá 4 đề thi của bộ môn Sinh lý - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 2.5. Kết quả phân tích đánh giá 4 đề thi của bộ môn Sinh lý (Trang 64)
Hình thức tổ chức dạy học - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Hình th ức tổ chức dạy học (Trang 66)
Bảng 3.1. Dàn bài trắc nghiệm học phần Sinh lý 1 - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 3.1. Dàn bài trắc nghiệm học phần Sinh lý 1 (Trang 74)
Bảng 3.3. Bảng tổng hợp các đề thi trắc nghiệm - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 3.3. Bảng tổng hợp các đề thi trắc nghiệm (Trang 75)
Bảng 3.4. Dàn bài trắc nghiệm đề thi học phần Sinh lý 1 - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 3.4. Dàn bài trắc nghiệm đề thi học phần Sinh lý 1 (Trang 76)
Bảng 3.5. Dàn bài trắc nghiệm đề thi học phần Sinh lý 2 - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 3.5. Dàn bài trắc nghiệm đề thi học phần Sinh lý 2 (Trang 77)
Hình 3.1. Cấu trúc đề thi mẫu đưa vào phần mềm - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Hình 3.1. Cấu trúc đề thi mẫu đưa vào phần mềm (Trang 80)
Bảng 3.7. Chi tiết kế hoạch thi học phần Sinh lý 2 - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 3.7. Chi tiết kế hoạch thi học phần Sinh lý 2 (Trang 81)
Bảng 3. 6. Chi tiết kế hoạch thi học phần Sinh lý 1 - (Luận văn thạc sĩ) xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn sinh lý tại trường đại học y khoa phạm ngọc thach
Bảng 3. 6. Chi tiết kế hoạch thi học phần Sinh lý 1 (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w