Nhằm góp phần cải thiện hiệu quả việc đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhà trường theo hướng giáo dục toàn diện cho HS, giúp HS lĩnh hội tốt kiến thức, nâng cao chất lượng học tập và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHẠM NGỌC VÀNG
DẠY HỌC THEO DỰ ÁN PHẦN KỸ THUẬT ĐIỆN MÔN CÔNG NGHỆ 8 TẠI HỆ THỐNG TRƯỜNG QUỐC TẾ CANADA
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC – 8140101
Tp Hồ Chí Minh, tháng 05/2020
S K C 0 0 6 7 1 1
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
PHẦN KỸ THUẬT ĐIỆN MÔN CÔNG NGHỆ 8
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC – 8140101
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHẠM NGỌC VÀNG
DẠY HỌC THEO DỰ ÁN PHẦN KỸ THUẬT ĐIỆN MÔN CÔNG NGHỆ 8 TẠI HỆ THỐNG TRƯỜNG QUỐC TẾ CANADA
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC – 8140101
Hướng dẫn khoa học:
TS Phan Gia Anh Vũ
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 5/2020
Trang 6‘
Trang 12LÝ LỊCH KHOA HỌC
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ & tên: PHẠM NGỌC VÀNG Giới tính: Nữ
Ngày, tháng, năm sinh: 15/04/1993 Nơi sinh: Long An
Quê quán: Đông Thạnh, Cần Giuộc, Long An Dân tộc: Kinh
Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: Đông Thạnh, Cần Giuộc, Long An
Điện thoại cơ quan: 0939784025 Điện thoại nhà riêng: 0939784025 E-mail: phamngoc.sk@gmail.com
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:
1 Trung học chuyên nghiệp:
Hệ đào tạo: Thời gian đào tạo từ ……/…… đến ……/……
Nơi học (trường, thành phố): Ngành học:
2 Đại học:
Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian đào tạo từ 9/ 2011 đến 9/ 2015
Nơi học (trường, thành phố): Trường ĐH Nông Lâm TPHCM, TP Hồ Chí Minh
Ngành học: Sư phạm kỹ thuật công nông nghiệp
Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp:
Ngày & nơi bảo vệ đồ án, luận án hoặc thi tốt nghiệp:
Người hướng dẫn:
III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐH:
Thời gian Nơi công tác Công việc đảm nhiệm
2015-2017 Công tác tại trường Quốc tế Á Châu Giáo viên giảng dạy bộ môn công
Trang 13LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2020
(Ký tên và ghi rõ họ tên)
Phạm Ngọc Vàng
Trang 14LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy TS Phan Gia Anh Vũ người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Giáo dục học và khoa sau đại học Đại học Sư phạm kỹ thuật TP Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn Xin chân thành bày tỏ lòng biết
ơn đến hệ thống trường Quốc tế Canada đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện
đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
TP Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2020
Học viên thực hiện
Phạm Ngọc Vàng
Trang 15TÓM TẮT
Xu hướng hội nhập quốc tế và yêu cầu phát triển đất nước đòi hỏi phải có một lực lượng lao động có năng lực Những con người lao động mới vừa có kiến thức về chuyên môn, thành thạo các kỹ năng, có niềm đam mê nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn Chính vì vậy việc đổi mới về nội dung, chương trình và phương pháp của dạy học nói chung, dạy học công nghệ nói riêng là bắt buộc để phù hợp và đáp ứng các yêu cầu trên Do
đó, việc đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề rất cần thiết trong nền giáo dục Chính vì
vậy, người nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài “Dạy học theo dự án phần kỹ thuật điện môn công nghệ 8 tại hệ thống trường Quốc tế Canada” nhằm hình thành người học những
kỹ năng: kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin, kỹ năng tự học tự nghiên cứu, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin là cần thiết Cấu trúc luận văn gồm những phần chính
Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án trong chương trình CN 8
Chương 2: Thực trạng về tổ chức dạy học môn công nghệ 8 tại hệ thống trường Quốc
Trang 16ABSTRACT
International integration trends and development requirements of the country require
a competent workforce The new workers have just professional knowledge, skills, have a passion for research and application of science and technology in practice Therefore, the innovation in the content, curriculum and methods of teaching in general and technology teaching in particular is imperative to conform and meet the above requirements Therefore, innovating teaching methods is a very necessary issue in education Therefore, the
researcher carried out the project "Teaching under the project of electrical engineering technology section 8 at Canadian International School System" in order to form learners
skills: creative thinking skills , skills of searching and processing information, self-study skills, teamwork skills, skills of using information technology are necessary The thesis structure consists of main parts
Chapter 1: Rationale for project-based teaching in technology subject of grade 8 Chapter 2: Current situation of organization of teaching technology subject 8 at Canadian International School system
Chapter 3: Organizing teaching project under electrical engineering part in technology program 8 at Canadian international school system
With this topic, the researcher boldly proposed to apply the project to teach technology in the Canadian international school system and received the support, agreement and support of school leaders and teachers in the project nest as well as the students Experimental results show that when applying project teaching to help students acquire knowledge more actively and remember that knowledge longer, the results of test results show that the experimental class has the results more satisfactory results From the empirical results, it is necessary to conduct more deeply and broadly the project teaching activities for chapters, other parts of the secondary technology program and for other areas
Trang 17MỤC LỤC
TRANG TỰA
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI
LÝ LỊCH KHOA HỌC i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT iv
MỤC LỤC vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT x
DANH MỤC CÁC BẢNG xi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ - HÌNH xiii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5 Giả thuyết nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Đóng góp của luận văn 5
9 Cấu trúc của luận văn 5
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHỆ 8 6
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước 6
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 9
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 12
1.2.1 Dạy học 12
1.2.2 Dạy học theo dự án 12
1.3 Nội dung của phương pháp DHTDA 20
1.3.1 Bộ câu hỏi định hướng trong phương pháp DHTDA 20
1.3.2 Thiết kế ý tưởng cho dự án trong phương pháp DHTDA 21
TRANG
Trang 181.3.3 Hồ sơ bài dạy trong phương pháp DHTDA 23
1.4 So sánh phương pháp DHTDA và dạy học truyền thống 26
1.5 Kiểm tra đánh giá trong dạy học theo dự án 29
1.6 Một số phương pháp dạy học và kỹ thuật được sử dụng trong DHTDA 31
1.6.1 Phương pháp thuyết trình 31
1.6.2 Phương pháp đàm thoại 32
1.6.3 Phương pháp thảo luận nhóm 34
1.6.4 Kỹ thuật động não ( Công não) 35
1.6.5 Kỹ thuật khăn trải bàn 36
1.6.6 Kỹ thuật đặt câu hỏi 5W1H 37
1.6.7 Sơ đồ tư duy ( Lược đồ tư duy) 37
1.7 Đặc điểm về tâm lý của HS THCS 39
1.7.1 Đặc điểm về sự phát triển thể chất 40
1.7.2 Điều kiện sống và hoạt động 41
1.7.3 Đăc điểm của hoạt động học tập trong trường THCS 43
1.7.4 Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ của lứa tuổi học sinh THCS 44
1.8 Định hướng khoa học của việc tổ chức DHTDA môn công nghệ 8 tại hệ thống trường quốc tế Canada 45
1.8.1 Tính khoa học 45
1.8.2 Tính thực tiễn 46
1.8.3 Phát triển toàn diện học sinh 46
1.8.4 Kết hợp lý thuyết và thực hành 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 48
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN CÔNG NGHỆ 8 TẠI HỆ THỐNG TRƯỜNG QUỐC TẾ CANADA 49
2.1 Một vài nét khái quát về hệ thống trường quốc tế Canada 49
2.2 Giới thiệu môn công nghệ 8 52
2.2.1 Đặc điểm chung của môn công nghệ 8 52
2.2.2 Vị trí của môn công nghệ 8 ở trường trung học hiện nay 52
2.2.3 Mục tiêu chung của môn Công Nghệ 8 53
2.2.4 Giới thiệu chương trình khung môn công nghệ lớp 8 56
2.3 Thực trạng dạy học môn công nghệ 8 tại hệ thống trường quốc tế Canada 59
2.3.1 Thực trạng hoạt động học môn công nghệ 8 của học sinh trường quốc tế Canada 60
2.3.2 Thực trạng hoạt động dạy học môn CN 8 tại trường quốc tế Canada 67
Trang 19KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
Chương 3: TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN PHẦN KỸ THUẬT ĐIỆN TRONG CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHỆ 8 TẠI HỆ THỐNG TRƯỜNG QUỐC TẾ CANADA 81
3.1 Cấu trúc nội dung dạy học theo dự án phần kỹ thuật điện, môn công nghệ 8 tại hệ thống trường quốc tế Canada 81
3.1.1 Nguyên tắc cấu trúc nội dung phần kỹ thuật điện môn công nghệ 8 theo dự án 81
3.1.2 Nội dung cấu trúc phần kỹ thuật điện trong chương trình môn công nghệ 8 81
3.2 Tổ chức dạy học theo dự án phần kỹ thuật điện, môn công nghệ 8 tại hệ thống trường quốc tế Canada 83
3.2.1 Đề xuất phương án tổ chức dạy học theo dự án phần kỹ thuật điện, môn công nghệ 8 tại hệ thống trường quốc tế Canada 83
3.2.2 Thiết kế giáo án để tổ chức dạy học theo dự án phần kỹ thuật điện, môn công nghệ 8 tại hệ thống trường quốc tế Canada 90
3.2.3 Tiêu chí đánh giá 97
3.3 Thực nghiệm sư phạm 101
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 101
3.3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 101
3.3.3 Đối tượng và nội dung thực nghiệm 102
3.3.4 Tiến trình thực nghiệm 103
3.3.5 Kiểm tra, đánh giá 104
3.4 Phân tích kết quả thực nghiệm 104
3.4.1 Nhận xét về tiến trình dạy học 104
3.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 106
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 117
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 118
PHẦN TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC 1 123
PHỤ LỤC 2 144
PHỤ LỤC 3 146
PHỤ LỤC 4 152
PHỤ LỤC 5 159
Trang 21DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Bảng so sánh phương pháp DHTDA và dạy học truyền thống 26
Bảng 2.1: Bảng thống kê kết quả khảo sát nhận thức của HS về nội dung môn học CN8 …60 Bảng 2.2:Bảng thống kê thực trạng thái độ học tập môn Công nghệ 8 của học sinh 62
Bảng 2.3: Bảng thống kê tính tích cực của HS trường Canada trong giờ học 63
Bảng 2.4: Kết quả thống kê về mức độ thành thạo của HS sau khi học xong môn CN… 67
Bảng 2.5: Bảng thống kê về mức độ quan tâm của GV tới các năng lực chung của HS thông qua các bài giảng 69
Bảng 2.6: Bảng thống kê về mức độ sử dụng các PPDH 70
Bảng 2.7: Bảng thống kê mức độ sử dụng các tiêu chí đánh giá vào kiểm tra đánh giá 72
Bảng 2.8: Bảng thống kê mức độ sử dụng các phương pháp đánh giá 72
Bảng 2.9: Bảng thống kê mức độ hướng dẫn HS vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn 74
Bảng 2.10: Bảng thống kế mức độ tổ chức cho HS hợp tác làm ra sản phẩm trong quá trình dạy……… 74
Bảng 2.11: Bảng thống kê về sự đáp ứng cơ sở vật chất, thiết bị 75
Bảng 2.12: Bảng thống kê mức độ sử dụng phương tiện dạy học 75
Bảng 2.13: Bảng thống kê ý kiến GV về những khó khăn khi giảng dạy môn CN 8… 76
Bảng 3.1: Khung phân phối chương trình của môn CN 8 82
Bảng 3.2: Bảng số lượng HS các nhóm TNg và ĐC .103
Bảng 3.3: Bảng thống kê thái độ học tập của HS lớp TN 106
Bảng 3.4: Bảng thống kê kỹ năng làm việc nhóm của HS lớp TN .107
Bảng 3.5: Bảng thống kê mức độ thành thạo công việc của HS lớp TN 107
Bảng 3.6: Bảng thống kê mức độ hứng thú của em đối với hình thức kiểm tra đánh giá của HS lớp TN 108
TRANG
Trang 22Bảng 3.7: Bảng thống kê các điểm số (Xi) của bài kiểm tra .111 Bảng 3.8: Bảng phân phối tần suất .112
Bảng 3.9: Bảng phân phối tần suất lũy tích 113 Bảng 3.10: Bảng kết quả kiểm định t-Test 115 Bảng 3.11: Bảng tổng hợp các tham số thống kê 116
Trang 23DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ - HÌNH
Sơ đồ 1.1: Các giai đoạn của phương pháp dạy học theo dự án 17
Sơ đồ 1.2: Quy trình thiết kế ý tưởng cho phương pháp DHTDA 22 Hình 1.1: Kỹ thuật khăn trải bàn 37 Hình 2.1: Trường quốc tế Canada – cơ sở quận 7 49 Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thống kê nguyên nhân HS không thích học CN 62 Biểu đồ 3.1: Biểu đồ phân bố điểm của hai nhóm TNg và ĐC 111
Đồ thị 3.2: Đồ thị phân bố điểm của hai nhóm TNg và ĐC 111 Biểu đồ 3.3: Biểu đồ phân bố tần suất hai nhóm TNg và ĐC 112
Đồ thị 3.4: Đồ thị phân phối tần suất 112 Biểu đồ 3.5: Biểu đồ phân bố tần suất lũy tích hai nhóm TNg và ĐC 113
Đồ thị 3.6: Đồ thị phân phối tần suất lũy tích hai nhóm TNg và ĐC 114
TRANG
Trang 24PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong đời sống xã hội, GD & ĐT là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với mọi quốc gia, dân tộc ở mọi thời đại Giáo dục - đào tạo được xem là chính sách, biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Phát triển GD & ĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Việc đáp ứng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong nước và nhu cầu nguồn nhân lực cho khu vực đòi hỏi phải thiết kế và triển khai chương trình đào tạo theo định hướng phát triển NL cho người học Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
04 tháng 11 năm 2013 có nêu: “Đổi mới chương trình nhằm phát triển NL và phẩm chất
người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng TH, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp” [14] Chương trình giáo dục định hướng phát
triển NL được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triển NL nhằm mục tiêu phát triển NL người học, nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng NL vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn, nhằm chuẩn bị cho con người NL giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức
Luật giáo dục điều 27.2 đã nêu: “Giáo dục trung học cơ sở (THCS) là một yêu cầu tất
yếu nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho thời kỳ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Giáo dục THCS nhằm củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy NL cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc tham
Trang 25gia vào cuộc sống lao động” [23] Với vai trò góp phần thực hiện mục tiêu chung của giáo
dục hướng nghiệp và chuẩn bị phân luồng cho HS, một bộ phận sẽ vào học trong các hệ giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, số còn lại sẽ đi vào cuộc sống lao động Trên tinh thần đó, môn CN 8 trang bị cho HS một số kiến thức cơ bản về vẽ kỹ thuật, cơ khí và
kỹ thuật điện gắn liền với thực tiễn sản xuất và đời sống hàng ngày Đồng thời, tăng tỉ lệ
TH nhằm hình thành cho các em một số kỹ năng lao động nghề nghiệp, tác phong công việc làm việc theo quy trình CN nhất định Ngoài ra còn giới thiệu và giúp HS bước đầu tìm hiểu, làm quen với một số quy trình CN đơn giản của cơ khí và kỹ thuật điện, rèn luyện cho HS tư duy kỹ thuật, tạo cho các em lòng say mê và hứng thú kỹ thuật, có thói quen lao động theo kế hoạch, tuân thủ quy trình CN, an toàn lao động và bảo vệ môi trường Song theo quan niệm nhiều người cho rằng, CN là một môn học phụ không cần phải đổi mới nhiều, nhưng thực tế cho thấy, nếu GV bộ môn biết tìm tòi sáng tạo và có những phương pháp giảng dạy linh hoạt thì vẫn đem lại hiệu quả cao và gây nhiều hứng thú cho HS Lúc
đó không còn ranh giới giữa môn chính và môn phụ theo quan niệm của người học
Đặc thù của bộ môn CN THCS là xuyên suốt chương trình của từng khối lớp với nhiều phân môn khác nhau: may mặc - nấu ăn - trang trí (CN 6), trồng trọt - chăn nuôi (CN 7),
vẽ kỹ thuật - kỹ thuật điện - cơ khí (CN 8), trồng cây ăn quả - lắp đặt mạng điện trong nhà (CN 9) Do có liên quan trực tiếp đến cuộc sống nên các lĩnh vực này rất gần gũi với con người, phục vụ nhu cầu cơ bản hàng ngày cho con người Không như các bộ môn khác, tài liệu tham khảo của bộ môn CN rất phong phú và đa dạng Ngoài sách báo, internet… HS
có thể học hỏi trực tiếp từ ông bà, bố mẹ, anh chị trong gia đình thông qua các công việc hàng ngày như chuẩn bị bữa ăn, chăm sóc cây trồng, vật nuôi, sửa chữa điện… Tuy nhiên,
do ở độ tuổi THCS, HS chưa chọn được hệ thống thông tin hoàn chỉnh nên GV đóng vai trò rất cần thiết để hướng dẫn các em có thể định hướng đúng đắn khi học tập, cũng như định hướng cho tương lai sau này
Thực tế dạy học môn CN 8 tại hệ thống trường quốc tế Canada bên cạnh việc sử dụng phương pháp truyền thống là chủ yếu có một số GV đã sử dụng phương pháp dạy học tích cực như đàm thoại, thảo luận không thường xuyên Mặt khác, trong quá trình dạy học, GV
ít sử dụng các nhiệm vụ học tập phức hợp, vận dụng nội dung kiến thức liên môn để GQVĐ trong thực tế Vì vậy, với thực tế dạy môn CN nói trên khiến một bộ phận không nhỏ HS chưa tích cực chủ động tự giác trong học tập cũng như hình thành các thái độ, kỹ năng, năng lực GQVĐ
Trang 26Một phương pháp có thể giúp thực hiện được điều này là dạy học theo dự án Đây là phương pháp lấy HS làm trung tâm, trong đó HS thực hiện một nhiệm vụ học tập có sự kết hợp giữa LT và TH để tạo ra các sản phẩm, vì vậy sẽ giúp cho HS tham gia tích cực vào bài học, làm thay đổi vai trò của GV và HS GV giờ đây chỉ là người hướng dẫn giúp cho
HS tự tìm ra tri thức cho mình Với các môn học bắt buộc trong chương trình THCS, có
CN là một môn học gắn với thực tiễn sản xuất và đời sống, tỷ lệ TH khá cao nên cần có điều kiện cơ sở vật chất tốt để HS TH Nhằm góp phần cải thiện hiệu quả việc đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhà trường theo hướng giáo dục toàn diện cho HS, giúp HS lĩnh hội tốt kiến thức, nâng cao chất lượng học tập và yêu thích bộ môn, tôi quyết định chọn đề tài
“ Dạy học theo dự án phần kỹ thuật điện môn CN 8 tại hệ thống trường quốc tế Canada”
để nghiên cứu, với mong muốn việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về DHTDA không chỉ có ý nghĩa trong việc hình thành phát triển NL của người học mà còn giúp cho việc hướng nghiệp, chọn nghề của HS THCS đạt kết quả tốt hơn
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tổ chức DHTDA cho HS phần “Kỹ thuật điện”, trong chương trình CN 8 tại hệ thống trường Quốc tế Canada
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, người nghiên cứu thực hiện các nhiệm vụ sau: + Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dạy học theo dự án
+ Nghiên cứu thực trạng của việc dạy học môn CN 8 tại hệ thống trường quốc tế Canada,
+ Thiết kế tiến trình DHTDA một số bài trong phần “kỹ thuật điện” trong chương trình
CN 8,
+ Tổ chức DHTDA theo tiến trình đã thiết kế tại hệ thống trường quốc tế Canada,
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
+ Khách thể: Quá trình dạy học CN lớp 8 THCS tại hệ thống trường Quốc tế Canada + Đối tượng: Dạy học theo dự án
5 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, môn Công nghệ 8 tại hệ thống trường Quốc tế Canada chủ yếu được giảng dạy bằng phương pháp thuyết trình một chiều nên học sinh chưa có được các kỹ năng, năng
Trang 27lực giải quyết vấn đề Vì vậy, nếu vận dụng cách thức tổ chức dạy theo dự án môn Công nghệ 8như người nghiên cứu đã đề xuất thì học sinh sẽ hình thành các kỹ năng tự giải quyết vấn đề, thuyết trình, tổng hợp và xử lý thông tin, làm việc nhóm, tư duy, sáng tạo của người học góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh
6 Phạm vi nghiên cứu
+ Địa bàn nghiên cứu: hệ thống trường Quốc tế Canada tại TPHCM
+Nội dung chương trình: phần kỹ thuật điện trong chương trình CN 8
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+ Nghiên cứu cơ sở tâm lý học, giáo dục học và các tài liệu về phương pháp DHTDA để
từ đó áp dụng vào giảng dạy CN
+ Nghiên cứu các sách, tạp chí, luận án, các bài viết, … những kết quả của các đề tài có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu
+ Nghiên cứu chương trình và sách giáo khoa CN lớp 8 THCS
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động của GV và HS trong giờ học môn CN 8
để tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy và học của GV và HS trong giờ học theo phương pháp truyền thống và dạy học theo dự án [Phụ lục 5]
+ Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Khảo sát bằng phiếu hỏi nhằm tìm hiểu thực
trạng và kết quả thực nghiệm môn Công nghệ 8 tại trường Canada [Phụ lục 3,4 ]
+ Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn GV, HS, cán bộ quản lý về hoạt động dạy và học
môn CN 8 nhằm tìm hiểu sâu hơn thực trạng dạy và học môn CN 8 tại trường Canada [Phụ lục 4 ]
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tiến hành TNSP ở một số lớp học cùng chương
trình, có trình độ tương đương nhau để kiểm nghiệm tác động của việc sử dụng cách thức
tổ chức dạy học theo dự án đã được thiết kế
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục để xử lý các kết quả điều
Trang 28tra, khảo sát cũng như kiểm định kết quả của TNSP Từ đó, kiểm định giả thuyết khoa học của đề tài
8 Đóng góp của luận văn
Đề tài góp phần làm phong phú hơn về thực tiễn áp dụng dạy học theo dự án nói chung
và việc vận dụng dạy học theo dự án vào môn CN 8 tại hệ thống trường Quốc Tế Canada nói riêng
Thiết kế được tiến trình dạy học theo dự án phần kỹ thuật điện, môn CN 8 gồm:
Giáo án 1: Thiết kế tuabin gió mini
Giáo án 2: Thiết kế hệ thống chiếu sáng thông minh
Giáo án 3: Thiết kế mô hình quạt điện thông minh
9 Cấu trúc của luận văn
Phần mở đầu (Gồm 5 trang, từ trang 1 đến trang 5)
Phần nội dung ( Gồm 112 trang, từ trang 6 đến trang 117)
Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học theo dự án trong chương trình CN 8
(Gồm 44 trang, từ trang 6 đến trang 49)
Chương 2: Thực trạng về tổ chức dạy học môn công nghệ 8 tại hệ thống trường Quốc
tế Canada
( Gồm 31 trang, từ trang 50 đến trang 80)
Chương 3: Tổ chức dạy học theo dự án phần kỹ thuật điện trong chương trình công nghệ 8 tại hệ thống trường quốc tế Canada
( Gồm 37 trang, từ trang 81 đến trang 117)
Kết luận và kiến nghị ( Gồm 2 trang, từ trang 118 đến trang 119)
Tài liệu tham khảo ( Gồm 3 trang, từ trang 120 đến trang 122)
Phụ lục ( Gồm 44 trang, từ trang 123 đến hết)
Trang 29PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG
CHƯƠNG TRÌNH CÔNG NGHỆ 8
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước
Dạy học theo dự án đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới Dạy học theo dự án có nguồn gốc ở Châu Âu từ thế kỷ XVI Khái niệm DHTDA đã được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc – xây dựng ở Ý, sau đó tư tưởng DHTDA lan sang Pháp cũng như một số nước Châu Âu khác và Mỹ, chủ yếu trong các trường đại học
Từ Châu Âu, DHTDA lan truyền sang Mỹ và các nhà sư phạm Mỹ xây dựng cơ sở lý
luận cho phương pháp dự án (The Project method) và coi đó là PPDH quan trọng để thực
hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi GV là trung tâm Ban đầu, DHTDA được sử dụng trong dạy học thực hành các môn kỹ thuật, về sau được thực hành hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội Sau một thời gian phần nào bị lãng quên, ngày nay phương pháp DHTDA lại được vận dụng nhiều ở các nước có nền giáo dục phát triển như Singapore, Mỹ, Đức,…
Ở nước ta, phương pháp này đang được nghiên cứu vận dụng trong dạy học không chỉ có
ở các bậc đại học, cao đẳng, trung cấp mà còn ở các bậc trung học
Các nhà giáo dục từ những thế kỷ XVIII - XXI đã có các quan niệm đầu tiên về hình thức dạy học này:
Cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, sự chuyển dịch của phương pháp DHTDA từ Châu Âu qua Châu Mỹ, từ các ngành kiến trúc sang kỹ thuật là bước phát triển quan trọng của phương pháp này Những môi trường học tập ứng dụng DHTDA được ghi nhận như là: trung tâm Nghệ thuật và Chế tạo ở thủ đô Paris ( năm 1829), trường Bách Khoa Ducal
ở Karlsruhe ( Đức – năm 1833), viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ ở Zurich (năm 1854)
và viện Công nghệ Massachusetts ở Boston ( Mỹ - năm 1864)
Những năm cuối thế kỷ XX có rất nhiều nghiên cứu về DHTDA được tác giả John W.Thomas tổng kết trong bài viết “Tổng quan về nghiên cứu DHTDA” ( A review of research on Project – based learning) vào năm 2000 Bài viết này được đăng tải trên web
Trang 30chính thức của Viện giáo dục Buck ( Buck Institute for Education, viết tắt là BIE) Bản thân viện Buck cũng là một tổ chức nghiên cứu và phát triển phi lợi nhuận của Mỹ được thành lập từ năm 1987, chuyên nghiên cứu về DHTDA và dạy học GQVĐ
Theo Quỹ Giáo dục George Lucas (2001) thì các nghiên cứu lý luận đã cho thấy việc dạy học theo dự án trong trường học có thể khuyến khích học sinh học tập, giảm thiểu hiện tượng bỏ học, thúc đẩy các kỹ năng hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập Cụ thể:
Đối với học sinh, những lợi ích do DHTDA mang lại gồm: (a) tăng thêm tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập của học sinh [21]; (b) kiến thức mà học sinh thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình 9 dạy học khác, vì học sinh tham gia vào các dự án sẽ có trách nhiệm hơn trong học tập so với các hoạt động truyền thống khác trong lớp học [7]; (c) học sinh có cơ hội phát triển các năng như tư duy bậc cao, giải quyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp (SRI, 2000); (d) với hình thức dạy học này, học sinh được tham gia vào những hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vi lớp học, như thực hiện một đoạn video tài liệu về vấn đề môi trường hay thiết kế bài trình bày
đa phương tiện về vai trò của điện năng trong đời sống, Xuất phát từ tính thực tiễn như vậy, các dự án sẽ hấp dẫn học sinh và thu hút học sinh thuộc các miền văn hóa khác nhau [24]
Đối với GV, theo Thomas, lợi ích mà Dạy học theo dự án mang lại là nâng cao tính chuyên nghiệp và hợp tác với đồng nghiệp, hợp tác với học sinh [33] Bên cạnh đó, giáo viên sử dụng phương pháp này, sẽ có nhiều thuận lợi trong việc dạy các đối tượng HS khác nhau Trong một số nghiên cứu đã cho thấy rằng DHTDA là một mô hình dạy học hiệu quả
để thích ứng với các phong cách học tập khác nhau (hay “đa trí tuệ”) hơn là các cách dạy truyền thống [29]
Theo các nhà giáo dục Mỹ thì: “Dạy học theo dự án là quá trình mô phỏng và giải quyết
các vấn đề thực tế Trong đó HS tự lựa chọn đề tài và thực hiện các dự án học tập dựa trên
sở thích và khả năng của bản thân”[35] Các dự án học tập không chỉ giúp HS học tốt bài
trên lớp mà còn mở rộng ra ngoài phạm vi lớp học khi các em được phát huy trí thông minh
để hoàn thành dự án của mình
Bernd Meier – Nguyễn Văn Cường cho rằng: “Đầu thế kỷ XX các nhà sư phạm Mỹ, điển
hình là Kilpartrick đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (The Project Method)
và coi đó là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, nhằm khắc phục những nhược điểm của dạy học truyền thống coi thầy
Trang 31giáo là trung tâm”[6]
Ban đầu, phương pháp dự án được sử dụng trong dạy học thực hành các môn học kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học khác, kể cả các môn khoa học xã hội Hiện nay, phương pháp dự án được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và ĐH trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển
Theo tài liệu tập huấn chương trình Parner in learning của Microsoft và Intel: “Ở Canada
cũng như ở Mỹ khi tổ chức một dự án, máy tính nối mạng đã trở thành một công cụ kích thích học sinh, làm tăng sự hợp tác giữa họ và trên hết là đem lại lợi ích trong học tập ở nhà trường Mô hình học tập thông qua dự án được sửa đổi là WebQuest được Bernie Dodge và Tom March thuộc đại học bang San Diego triển khai năm 1995” [29]
Dewey cho rằng: “HS sẽ phát triển kỹ năng cá nhân nếu họ tham gia thực hiện các nhiệm
vụ và các vấn đề mà DHTDA mang lại từ các tình huống thực tế có ý nghĩa”[32]
Bộ giáo dục Singapore cho rằng: “Dạy học theo dự án là một hoạt động học tập nhằm
tạo cơ hội cho HS tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống” [34] Quá trình học theo dự án giúp HS củng cố kiến thức và
xây dựng các kỹ năng hợp tác, những biến động, di chuyển qua lại từ định nghĩa, cách thức tiến hành, phương thức áp dụng giao tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang cho các
em trong sự nghiệp học tập suốt đời và đối mặt với các thử thách trong cuộc sống
Đầu thế kỷ XXI, DHTDA vẫn còn tiếp tục phát triển và được vận dụng rộng rãi trên thế giới như quỹ Bill và Melinda Gates tài trợ cho những trường học DHTDA trên khắp nước
Mỹ, hoặc ở cộng đồng chung Châu Âu có chương trình học tập suốt đời được tiến hành từ năm 2007-2013 cũng theo hình thức DHTDA
Như vậy trên thế giới, DHTDA đã được bắt đầu từ nhiều năm trước và đã có mức độ phổ biến,… từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ châu lục này sang châu lục khác Vì giáo dục
là quốc sách hàng đầu để tạo nguồn nhân lực cho đất nước phát triển vững mạnh và đi lên nên việc đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới cũng rất được chú trọng Dạy học theo
dự án giúp các HS tích cực, chủ động, kích thích tư duy bậc cao, tư duy phê phán, giúp các
HS dễ hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống
Như vậy, trên thế giới dạy học theo dự án đã được bắt đầu từ 300 năm trước và đã có những biến động, di chuyển qua lại từ định nghĩa, cách thức tiến hành, phương thức áp dụng, mức độ phổ biến….từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác, từ châu lục này sang châu lục khác Ngày nay, phương pháp dạy học theo dự án được áp dụng không chỉ ở các nước
Trang 32có nền giáo dục phát triển mạnh Vì giáo dục là quốc sách hàng đầu để tạo nguồn nhân lực cho đất nước phát triển vững mạnh và đi lên nên việc đổi mới phương pháp dạy học trên thế giới cũng rất được chú trọng Dạy học theo dự án giúp các học sinh tích cực, chủ động, kích thích tư duy bậc cao, tư duy phê phán, giúp các học sinh dễ hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, DHTDA đưa vào môi trường học tập của các trường Cao đẳng và Đại học thông qua các đồ án tốt nghiệp của các ngành học Hiện nay, các hình thức bài tập lớn, tiểu luận, khóa luận trong các trường ĐH nói chung và trong đào tạo GV đã rất quen thuộc với sinh viên Trong các hình thức này, sinh viên tự lực thực hiện những nhiệm vụ học tập mang tính nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của GV
Dạy học dự án của Microsoft đã ký kết với Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam giai đoạn một 2005 – 2009 và giai đoạn hai vào ngày 18 tháng 3 năm 2010 nhằm đẩy mạnh việc tích hợp công nghệ thông tin vào lĩnh vực giáo dục của Việt Nam, đồng thời hỗ trợ giáo viên và học sinh Việt Nam tiếp cận và khai thác hiệu quả những nguồn lực công nghệ thông tin mới nhất nhằm phát huy tối đa khả năng
Có thể nói, việc ứng dụng phương pháp DHTDA đã được thực hiện khá phổ biến trên thế giới Nhưng ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu trong những năm gần đây, phương pháp này đã được bộ GD & ĐT kết hợp với công ty Intel Việt Nam triển khai thí điểm tại nhiều trường học trên cả nước theo chương trình dạy học cho tương lai của Intel (Intel Teach to the Future) Ở Việt Nam đã có nhiều đề tài nghiên cứu lý luận và tổ chức DHTDA, như một
số công trình:
Theo Nguyễn Văn Cường - Nguyễn Thị Diệu Thảo thì dạy học theo dự án là phương pháp hay hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp gắn LT với TH, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội,… [15]
Trong nghiên cứu việc tổ chức DHTDA các kiến thức liên quan đến phần điện, Đào Thị Thu Thủy đã tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận của DHTDA và tổ chức thực nghiệm cho HS trường THPT Trần Phú, Hải Phòng qua chương “Cảm ứng điện từ” sách giáo khoa
CN lớp 11 nhằm phát triển hoạt động nhận thức tích cực, tự chủ của HS trong học tập, qua
đó gây hứng thú học tập cho HS [8]
Nguyễn Thị Diệu Thảo: “Dạy học theo dự án và vận dụng trong đào tạo GV THCS
Trang 33môn CN”, luận án tiến sĩ - ĐH sư phạm Hà Nội, năm 2009 Luận án nghiên cứu cơ sở lý
luận và thực tiễn của DHTDA trong đào tạo GV kinh tế gia đình, đề xuất được các phương
án vận dụng, xác định được các dạng DA đặc thù và xây dựng tiến trình DHTDA trong đào tạo GV kinh tế gia đình Ngoài ra, theo tác giả một dự án có thể kéo dài nhiều giờ, nhiều ngày hoặc nhiều tuần và không chỉ trong một môn học mà có thể ở nhiều môn học Về mặt
tổ chức, theo Nguyễn Thị Diệu Thảo trong “Dạy học theo dự án và vận dụng trong đào
tạo giáo viên Trung học cơ sở môn công nghệ” [17] có 3 hình thức chính: (I) Học cả lớp:
thường ở giai đoạn đầu của DA; (II) Học theo nhóm; (III) Làm việc cá nhân
Trần Văn Thành (2013), Tổ chức dạy học theo dự án một số kiến thức điện từ học - Vật lý
9 Trung học cơ sở, Luận án tiến sĩ giáo dục học, ĐHSPHN Trong luận án này, tác giả đã
đi sâu nghiên cứu DHTDA trong môn Vật lý nhằm hình thành, phát triển năng lực nhận thức, tư duy phương pháp, tư duy sáng tạo và năng lực hành động của HS Theo tác giả, phân tích các đặc trưng của DHTDA, đối chiếu định hướng đổi mới dạy học thì việc tổ chức DHTDA có thể rèn luyện và phát triển năng lực của HS [26]
Trên cơ sở đổi mới PPDH, tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương nghiên cứu đề tài “ Tổ
chức DHTDA môn Hướng nghiệp 11 tại trường THPT Lê Lợi, tỉnh Bình Dương” Khi đề
cập đến bản chất của DHTDA, tác giả đưa ra nguyên tắc 6A cần phải có cho một dự án thành công [19]
Tác giả Nguyễn Thị Châu lại quan tâm về đặc điểm tâm lý học sinh khi tham gia hoạt động DHTDA trong đề tài “ Dạy học theo dự án môn Công nghệ 10 tại trường THPT Bình An, tỉnh Bình Dương” [16]
Trong luận văn “ Dạy học theo dự án mô đun tiện 2 tại trường cao đẳng nghề Việt
Nam – Singapore”, tác giả Lê Tuấn Nhật đã đưa ra các quy trình của DHTDA theo bốn
giai đoạn, năm giai đoạn và sáu giai đoạn.[13]
Trần Anh Tuấn (2012), “Dạy học theo dự án”, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt (11/2012) Theo tác giả, cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó chú ý đến việc liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn
xã hội và đời sống
Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu như Lê Huy Hoàng [12] , Nguyễn Trọng Khanh [18] và Nhữ Thị Việt Hoa [21] cũng đều đề cập tới cơ sở lý luận của dạy học, bản chất quá trình thực hiện dạy học trong môn CN ở nhiều góc độ khác nhau
Luận văn thạc sĩ của các tác giả:
Trang 34Nguyễn Thanh Nga (2009), Tổ chức dạy học theo dự án một số kiến thức thuộc phần
từ trường và cảm ứng điện từ đại cương cho sinh viên ngành kỹ thuật trường ĐH Giao Thông, Đại học SP.TPHCM Tác giả nghiên cứu việc tổ chức dạy học dự án một số nội
dung kiến thức thuộc phần “Từ trường và Cảm ứng điện từ”- học phần Điện và Từ đại cương nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của người học, hướng tới phát triển kỹ năng
tư duy bậc cao, rèn luyện cho sinh viên khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn
Nguyễn Đức Thắng (2012), Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy
học môn Toán cho học sinh lớp 10-11 THPT, Ban cơ bản, Trường ĐH Giáo dục.Tác giả trình bày lý thuyết cơ bản của phương pháp dạy học theo dự án và đưa ra các số liệu thống
kê về các phương pháp dạy học được sử dụng trong dạy học phổ thống cũng như điều tra
về mong muốn của học sinh trong giờ học Toán
Đỗ Thị Ngọc Hằng (2012), Tổ chức dạy học theo dự án nội dung “Hệ thức lượng
trong tam giác” chương trình hình học lớp 10 ban cơ bản Tác giả nghiên cứu cơ sở lý
luận về DHTDA để tổ chức vận dụng phương pháp DHTDA trong dạy học một số nội dung Toán ở trường THPT nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, hướng tới phát triển kỹ năng tư duy, rèn luyện khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn cho HS trung học phổ thông
Lê Thị Ngọc Thảo (2013), Tổ chức dạy học theo dự án môn nghề tin học văn phòng
tại trung tâm giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp huyện Gò Công Đông tỉnh Tiền Giang”
Các tài liệu trên mang tính định hướng, làm cơ sở lý luận cho việc vận dụng vào các môn học, cấp học, lĩnh vực khác nhau trong đó có việc vận dụng DHTDA vào giảng dạy môn CN Tuy nhiên việc vận dụng như thế nào để mang lại hiệu quả, có thể phát huy tối
đa mặt tích cực và khắc phục những tồn tại của DHTDA phụ thuộc rất nhiều vào nội dung của từng chuyên đề, môn học, cấp học và đối tượng thực hiện, trình độ và kỹ năng của GV, các điều kiện cơ sở vật chất khác mà các dự án được thiết kế, tổ chức khác nhau
Qua các quan điểm đã nêu ở trên, chúng ta có thể thấy được những thống nhất giữa những quan niệm khác nhau về DHTDA:
- DHTDA là hình thức tổ chức dạy học hướng vào HS, lấy HS làm trung tâm
-Trong DHTDA, HS tự nghiên cứu, tự thực hiện một nhiệm vụ học tập do GV đưa ra hoặc
GV cùng với HS đưa ra để hình thành các kiến thức và các kỹ năng cần thiết
-Các hoạt động học tập trong DHTDA được thiết kế cẩn thận, theo sát chương trình học,
Trang 35có phạm vi kiến thức liên môn và quan trọng nhất phải gắn với một vấn đề thực tiễn nghề nghiệp hay cuộc sống xung quanh
- Phải tạo ra được những giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Dạy học
Đề tài nghiên cứu này sử dụng khái niệm “dạy học” của Hồ Ngọc Đại; “ Dạy học
là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên
cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi con người” [10]
Trong lý luận giáo dục, thuật ngữ “dạy học” được định nghĩa là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp cho người học lĩnh hội những tri thức khoa học, kỹ năng hoạt động nhận thức và thực tiễn, phát triển các năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và các phẩm chất nhân cách người học theo mục đích giáo dục Như vậy, nói đến dạy học là nói đến hoạt động của hai đối tượng là người dạy và người học, trong đó người học là chủ thể nhận thức, rèn luyện kỹ năng thông qua
hoạt động truyền thụ của người dạy và tiếp nhận của người học
1.2.2 Dạy học theo dự án
1.2.2.1 Khái niệm dạy học theo dự án
Việc đưa dự án vào trong chương trình dạy học không phải là ý tưởng mới lạ hay mang tính cách mạng trong giáo dục Tuy nhiên, trong thời gian qua việc triển khai dự án trong thực tế đã được phát triển chính thức thành một chiến lược dạy học Dạy học theo dự
án đã chiếm được vị thế đáng nể trong lớp học sau khi các nhà nghiên cứu hệ thống lại những điều GV vốn đã biết từ lâu: HS sẽ hứng thú hơn với việc học khi có cơ hội thâm nhập vào những vấn đề phức tạp, mang tính thách thức cao và đôi khi đầy rẫy vấn đề nhưng rất sát với thực tế đời sống Dạy học theo dự án vượt xa hơn việc tạo nên sự hứng thú trong
HS , những dự án được thiết kế tốt sẽ khuyến khích việc tìm hiểu tích cực và tư duy bậc cao Những nghiên cứu về bộ não đã nhấn mạnh giá trị của những hoạt động học tập này Khả năng tiếp nhận những hiểu biết mới sẽ được thúc đẩy khi người học được nối kết với những hoạt động GQVĐ và khi HS được hỗ trợ để hiểu vì sao, khi nào và bằng cách nào
Trang 36các sự kiện và kỹ năng có liên quan đến nhau
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp hay hình thức dạy học Khái niệm project được sử dụng trong các trường dạy kiến trúc - xây dựng ở Ý từ cuối thế kỷ XVI Từ đó tư tưởng dạy học theo dự án lan sang Pháp cũng như một số nước châu Âu khác và Mỹ, trước hết là trong các trường ĐH và chuyên nghiệp Đầu thế kỷ XX các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận cho phương pháp dự án (The Project Method), và coi đó là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm, nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống coi GV là trung tâm Ban đầu, phương pháp dự án được sử dụng trong dạy học TH các môn học kỹ thuật, về sau được dùng trong hầu hết các môn học khác, cả các môn khoa học xã hội Sau một thời gian phần nào bị lãng quên, hiện nay phương pháp dự án được sử dụng phổ biến trong các trường phổ thông và ĐH trên thế giới, đặc biệt ở những nước phát triển Ở Việt Nam, các đề án môn học, đề án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng trong đào tạo ĐH, các hình thức này gần gũi với dạy học theo dự án Tuy vậy trong lĩnh vực lý luận dạy học, phương pháp dạy học này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng, nên việc sử dụng chưa đạt hiệu quả cao Có nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về dạy học theo dự án Ngày nay dạy học theo dự án được nhiều tác giả coi là một hình thức dạy học vì khi thực hiện một dự án, có nhiều phương pháp dạy học cụ thể được sử dụng Tuy nhiên khi không phân biệt giữa hình thức và phương pháp dạy học, người ta cũng gọi là phương pháp dự án, khi đó cần hiểu đó là phương pháp dạy học theo nghĩa rộng, một PPDH phức hợp
Vậy, dạy học theo dự án (DHTDA) là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa LT và TH để tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập Làm việc nhóm là hình thức làm việc cơ bản của dạy học theo dự
án
1.2.2.2 Đặc điểm của DHTDA
Phương pháp dạy học theo dự án có nhiều ưu điểm trong việc phát hiện, nhận diện
sự giao thoa giữa các lĩnh vực liên môn, liên ngành, thúc đẩy việc gắn kết giữa lý thuyết
và thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, phát huy năng lực tự học,sáng tạo, giải quyết các vấn đề phức hợp và khả năng hợp tác của người học Khi thực hiện dự
Trang 37án các kỹ năng thực hành sẽ thường xuyên được vận dụng Với việc tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống, HS rèn luyện và phát triển các kỹ năng quan sát, nhận xét, phân tích, tổng hợp đánh giá từ các nguồn thông tin, tư liệu thu thập được Khi nghiên cứu về phương pháp DHTDA các tác giả đã thiết lập nên các đặc điểm đặc trưng của DHTDA Trong những năm gần đây tác giả Bernd Meier - Nguyễn Văn Cường đã nghiên cứu và thống kê DHTDA có các đặc điểm sau [3] :
+ Định hướng thực tiễn: Chủ đề của các dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn
xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ của các dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và khả năng của người học Các dự án góp phần gắn việc học tập trong nhà trường với thực tiễn đời sống và xã hội Trong những trường hợp lý tưởng, việc thực hiện các dự án có thể mang lại những tác động tích cực cho
xã hội
+ Định hướng hứng thú người học: Người học được tham gia lựa chọn những đề tài, những
nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú của cá nhân Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện các dự án
+ Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu
LT và vận dụng LT vào trong hoạt động thực tiễn và TH Thông qua đó, KT , củng cố và
mở rộng những hiểu biết về LT cũng như rèn luyện những kỹ năng hành động và kinh nghiệm thực tiễn cho người học
+ Tính tự lực cao của người học: Trong dạy học theo dự án, người học cần tự lực và tham
gia tích cực vào các giai đoạn của quá trình dạy học Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học GV chủ yếu đóng vai trò tư
vấn, hướng dẫn và trợ giúp người học Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với năng lực, khả năng của người học và mức độ khó khăn của nhiệm vụ học tập
+ Cộng tác làm việc: Các dự án thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác
làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa người học, với GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án Đặc điểm này còn được gọi là học tập mang tính xã hội
+ Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện các dự án, các sản phẩm học tập của các
nhóm được tạo ra Sản phẩm này không chỉ giới hạn trong phạm vi là những bài thu hoạch thiên về LT, mà trong đa số trường hợp, các dự án tạo ra những sản phẩm của hoạt động
Trang 38thực tiễn Những sản phẩm của các dự án có thể được sử dụng, công bố, giới thiệu Khi liệt kê các đặc điểm của dạy học theo dự án các tác giả đã nêu đầy đủ các dấu hiệu biểu hiện của một quá trình học tập theo dự án, trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ nêu các đặc điểm của dạy học theo dự án để làm nổi bật hoạt động tự học của người học trong dạy học theo dự án như sau:
+ Dạy học theo dự án là phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm, có sự giao tiếp thường xuyên qua lại giữa GV và HS, HS với HS, bài học được xây dựng từ những đóng góp của
HS thông qua các hoạt động học tập do GV định hướng
+ Có chủ đề học tập rõ ràng, gắn nội dung bài học với thực tế cuộc sống của HS Chính vì vậy chủ đề phải được thiết kế là tập trung vào những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hiện tại, có ý nghĩa và quan trọng, đặt ra những thách thức vừa sức với HS bằng hệ thống câu hỏi
có giá trị đòi hỏi HS phải trăn trở để giải quyết
+ HS cần sử dụng CN thông tin trong quá trình thực hiện các hoạt động học tập
+ Dạy học theo dự án được thiết kế trong một môn học hoặc liên môn nhưng khi thực hiện các hoạt động học tập thì HS phải phối hợp tri thức của nhiều môn học và kinh nghiệm của bản thân
+ HS thực hiện các hoạt động trong dạy học theo dự án để tìm kiếm nội dung tri thức, rèn luyện kỹ năng học tập, kỹ năng xã hội và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố như : giới tính, sức khỏe, môi trường sống, môi trường học tập, tâm lý lứa tuổi, khả năng nhận thức của bản thân
+ HS được KT , đánh giá căn cứ vào quá trình hoạt động học tập, chủ động để hoàn thành
dự án và những sản phẩm có thực
1.2.2.3 Tiến trình dạy học theo dự án
Dựa trên cấu trúc của tiến trình phương pháp, người ta có thể chia tiến trình của dạy học theo dự án làm nhiều giai đoạn khác nhau Sau đây trình bày một cách phân chia các giai đoạn của dạy học theo dự án theo năm giai đoạn:
+ Giai đoạn 1 ( xác định chủ đề và mục đích của dự án) : GV và HS cùng nhau đề xuất ý
tưởng, xác định chủ đề và mục đích của dự án Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề, hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn xã hội và đời sống Cần chú ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã hội của đề tài GV có thể giới thiệu một số hướng đề tài để HS lựa chọn và cụ thể hoá
Trang 39Trong trường hợp thích hợp, sáng kiến về việc xác định đề tài có thể xuất phát từ phía HS Giai đoạn này còn được mô tả thành hai giai đoạn là đề xuất sáng kiến và thảo luận về sáng kiến
+ Giai đoạn 2 ( xây dựng kế hoạch thực hiện): trong giai đoạn này HS với sự hướng dẫn
của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm
+ Giai đoạn 3 ( thực hiện dự án) : các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề
ra cho nhóm và cá nhân Trong giai đoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, TH , những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau Kiến thức
lý thuyết, các phương án GQVĐ được thử nghiệm qua thực tiễn Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra
+ Giai đoạn 4 (trình bày sản phẩm dự án): kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới
dạng thu hoạch, báo cáo, bài báo Trong nhiều dự án các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động TH Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động
xã hội Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm sinh viên, có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội
+ Giai đoạn 5 (đánh giá dự án) : GV và HS đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng
như kinh nghiệm đạt được Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo Kết quả của dự án cũng có thể được đánh giá từ bên ngoài
Việc phân chia các giai đoạn trên đây chỉ mang tính chất tương đối Trong thực tế chúng có thể xen kẽ và thâm nhập lẫn nhau.Việc tự KT, điều chỉnh cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án Với những dạng dự án khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án Giai đoạn 4 và 5 cũng thường được mô tả chung thành một giai đoạn Khi đó tiến trình dự án có thể được mô tả theo 4 giai đoạn: xác định chủ đề và mục tiêu dự án; lập kế hoạch; thực hiện; đánh giá dự án
Trang 40Sơ đồ 1.1: Các giai đoạn của phương pháp dạy học theo dự án
Xây dựng ý tưởng dự án, quyết định
chủ đề
Vấn đề trong thực tiễn Thảo luận vấn đề
Đề xuất vấn đề Xác định đề tài Xác định mục đích của đề tài
Xây dựng kế hoạch thực hiện dự án Xây dựng đề cương
Phân nhóm
Phân công nhiệm vụ trong nhóm
Thực hiện dự án Thực hiện nhiệm vụ được giao
Hoạt động trí tuệ Hoạt động thực tiễn Theo dõi, đôn đốc
Xử lý thông tin
Trình bày sản phẩm dự án Trình bày