1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an

119 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1 BIA.pdf

    • Page 1

  • 2 ND.pdf

  • 4 BIA SAU A4.pdf

    • Page 1

Nội dung

TỔNG QUAN

Lược sử về lĩnh vực nghiên cứu

1.1.1 Công tác hướng nghiệp một số nước trên thế giới

Học sinh và sinh viên tại Singapore có quyền chủ động trong việc xác định con đường học tập và nghề nghiệp dựa trên khả năng cá nhân Chính phủ Singapore đầu tư 20% ngân sách quốc gia cho giáo dục, cho thấy tầm quan trọng của lĩnh vực này Sau kỳ thi PSLE, học sinh được phân luồng vào năm chương trình giáo dục khác nhau: trường trung học Nhà nước, trường chuyên biệt cho học sinh có định hướng nghề nghiệp, và trường năng khiếu độc lập.

Hệ thống giáo dục Singapore chú trọng vào việc phát triển năng khiếu của học sinh, bao gồm các trường tư thục và trường giáo dục đặc biệt cho những em có hoàn cảnh khó khăn Từ đầu cấp THCS, giáo dục đã bắt đầu phân cấp môn học và hướng nghiệp, với số lượng môn học chỉ còn 7-8 môn, cho phép học sinh tự do lựa chọn các môn học phù hợp Chương trình học được thiết kế linh hoạt, tăng cường các môn học theo định hướng nghề nghiệp, giúp học sinh xác định và theo đuổi các mục tiêu nghề nghiệp tương lai một cách hiệu quả.

1.1.1.2 Cộng hòa Pháp Để phát triển nhân cách toàn diện cho HS, nhà trường Pháp đặt giáo dục lao động thủ công và nghề nghiệp bình đẳng với các loại hình hoạt động khác Đào tạo

“Tiền nghề nghiệp” đóng vai trò quan trọng trong việc học tập liên tục và chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống lao động Hiện nay, hệ thống giáo dục Pháp đã giảm bớt tính hàn lâm, tăng cường kiến thức thực tiễn và định hướng nghề nghiệp để hỗ trợ học sinh trung học Sau khi hoàn thành THCS, học sinh sẽ được hướng vào các chương trình đào tạo chuyên ban tại THPT, bao gồm ba phương thức: học phổ thông trong ba năm để nhận bằng nghệ thuật, học trong hai năm để có bằng kỹ thuật viên, hoặc học chuyên nghiệp để nhận các văn bằng, chứng chỉ nghiệp vụ và bằng tú tài chuyên nghiệp.

1.1.1.3 Cộng hòa liên bang Đức

Hệ thống giáo dục phổ thông ở Đức tuân thủ nguyên tắc hướng nghiệp, phân loại học sinh từ cấp tiểu học dựa trên thành tích học tập Sau lớp năm, học sinh được chia thành hai nhóm: nhóm học hết lớp mười để theo học các trung tâm dạy nghề và nhóm học hết lớp mười hai để có cơ hội thi lấy bằng tú tài và vào đại học Việc phân loại sơ bộ diễn ra sau khi học sinh hoàn thành tiểu học và được xác nhận chính xác sau lớp chín Từ lớp mười, giáo viên chủ nhiệm kết nối với các cơ sở dạy nghề để học sinh tìm hiểu về nghề nghiệp, bao gồm các hỗ trợ như trợ cấp tiền ăn, ở và mức lương tối thiểu Học sinh có nguyện vọng học đại học phải đạt học lực khá và từ lớp 11 có thể theo học chương trình chuẩn bị cho đại học.

1.1.1.4 Hoa Kỳ Ở Hoa Kỳ, trung bình mỗi trường trung học có khoảng từ 3 đến 5 thầy cô chuyên trách công tác hướng nghiệp cho HS Con số này tùy thuộc vào từng bang, chất lượng đào tạo và số lượng HS của mỗi trường Thầy cô làm công tác tư vấn hướng nghiệp (được gọi là counselor) là những người trực tiếp giúp HS trong quá trình tìm hiểu cũng như nộp hồ sơ vào các trường ĐH Công tác hướng nghiệp cho

Chương trình HS tại Hoa Kỳ diễn ra từ đầu năm lớp 11 đến cuối năm lớp 12, tạo điều kiện cho học sinh trải nghiệm thực tế Nhà trường thường xuyên kết nối với các nguồn lực bên ngoài như trường đại học, công ty và tổ chức để thông báo và tạo cơ hội cho học sinh tham gia các sự kiện, giúp các em trở thành thành viên chính thức trong các hoạt động đó.

Giáo dục phổ thông tại Phần Lan bao gồm chín năm học bắt buộc tại các trường học toàn diện và ba năm học không bắt buộc tại trường THPT hoặc trường nghề Sau khi hoàn thành giáo dục căn bản, học sinh có quyền lựa chọn giữa trường THPT, nơi chuẩn bị cho việc vào đại học với các môn học tập trung vào nghiên cứu tổng quát, và trường nghề, nơi phát triển năng lực nghề Cuối bậc học này, học sinh sẽ tham gia kỳ thi tốt nghiệp quốc gia.

HS các trường nghề phải hoàn thành kì thi tốt nghiệp nghề để vào đại học kỹ thuật (polytechnic)

1.1.1.6 Những kinh nghiệm từ việc nghiên cứu công tác hướng nghiệp các nước trên thế giới

Hệ thống giáo dục hướng nghiệp (GDHN) ở các nước phát triển giúp học sinh (HS) tiếp cận nghề nghiệp một cách tự nhiên và phù hợp với khả năng của từng em, từ đó nâng cao sự tự tin trong việc lựa chọn nghề nghiệp Công tác hướng nghiệp tại các quốc gia này được tích hợp trong nhiều môi trường giáo dục và xã hội, cung cấp thông tin rộng rãi về các ngành nghề và thị trường lao động Các nước như Hoa Kỳ, Pháp, Phần Lan, Đức và Singapore có sự phân luồng nghề nghiệp rõ ràng, yêu cầu HS tham gia học dự bị hướng nghiệp sau khi hoàn thành chương trình giáo dục cơ bản Sự liên kết chặt chẽ giữa trường học và doanh nghiệp, cùng với đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, là yếu tố quan trọng trong GDHN Chính phủ các nước cũng đã triển khai các chính sách đồng bộ về tài chính, pháp lý và đào tạo chuyên gia hướng nghiệp để củng cố và duy trì chức năng của GDHN, nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong việc định hướng nghề nghiệp cho HS.

1.1.2 Các nghiên cứu trong nước đã công bố

1.1.2.1 Một số đề tài nghiên cứu trong nước

Vấn đề hướng nghiệp và chọn nghề của học sinh bậc THPT đã thu hút sự quan tâm của nhiều cấp, từ trung ương đến địa phương, bao gồm cả các nhà quản lý giáo dục, phụ huynh và học sinh Đây là một vấn đề cấp thiết, được nghiên cứu nhiều trong thời gian qua, như đề tài của tác giả Nguyễn Toàn về công tác tư vấn nghề tại các Trung tâm giáo dục Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp tại TP Hồ Chí Minh Nghiên cứu cho thấy, đa số học sinh hiện nay chọn nghề dựa vào cảm tính và mắc phải nhiều sai lầm trong quá trình này Do đó, ngành giáo dục cần định hướng cho học sinh thông qua công tác tư vấn hướng nghiệp, dựa trên cơ sở khoa học và các trắc nghiệm tư vấn nghề nghiệp Tác giả cũng đề xuất những biện pháp thực tiễn nhằm cải thiện công tác hướng nghiệp cho học sinh hiện nay.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm đánh giá và cải thiện công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông trung học Đề tài của Quang Dương (1998) chỉ ra sự mất cân đối nghiêm trọng trong nguồn nhân lực giữa các trình độ học vấn, đồng thời phản ánh tâm lý chọn nghề của học sinh chủ yếu dựa vào cảm tính, cần có sự cải thiện trong công tác hướng nghiệp tại trường học Nghiên cứu của Phạm Đức Khiêm (2005) tập trung vào thực trạng hoạt động hướng nghiệp và đề xuất giải pháp liên thông giáo dục để phân luồng học sinh vào các trường trung học chuyên nghiệp Đề tài của Tô Hạ Uyên (2010) đã phân tích thực trạng quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp tại quận Gò Vấp, đưa ra giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý nhưng cần nghiên cứu thêm về tâm lý lứa tuổi học sinh Cuối cùng, nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Vũ (2013) đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở, đặc biệt nhấn mạnh việc đổi mới hình thức giáo dục và thiết kế giao diện website hướng nghiệp.

1.1.2.2 Các cuộc hội thảo khoa học

Gần đây, vấn đề hướng nghiệp và chọn nghề cho học sinh đã thu hút sự chú ý đặc biệt từ các cơ quan, tổ chức, nhà quản lý và những người làm công tác giáo dục thông qua việc tổ chức nhiều cuộc hội thảo.

Hội thảo khoa học về "Nghiên cứu giải pháp khả thi công tác tư vấn nghề cho học sinh phổ thông tại thành phố Hồ Chí Minh" được tổ chức bởi Trung tâm Giáo dục Kỹ thuật Tổng hợp – Hướng nghiệp Thủ Đức vào năm 1998 Sự kiện này nhằm mục đích tìm kiếm và phát triển các giải pháp hiệu quả trong công tác tư vấn nghề nghiệp cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và định hướng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ tại khu vực.

Hội thảo khoa học diễn ra vào tháng 9 năm 2003 tại Viện Nghiên cứu Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, tập trung vào vấn đề "Nhu cầu tư vấn học đường tại các trường trung học phổ thông trong thành phố Hồ Chí Minh" Sự kiện này nhằm đánh giá và thảo luận về tầm quan trọng của tư vấn học đường trong việc hỗ trợ học sinh tại các trường trung học phổ thông.

Hội thảo "Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện" được tổ chức bởi Viện sư phạm kỹ thuật thuộc trường Đại học sư phạm kỹ thuật vào ngày 14 tháng 3 năm 2014 Sự kiện này nhằm thảo luận về các thách thức và cơ hội trong việc cải cách giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam.

Tính cấp thiết của đề tài

1 HS cấp THPT trước ngưỡng cửa quan trọng để tiến đến giáo dục ĐH, giáo dục nghề nghiệp hoặc tham gia lao động sản xuất, hướng nghiệp để chọn nghề là một mắc xích không thể thiếu và hết sức quan trọng trong cuộc đời mỗi em Do đó, chọn nghề giống như việc đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng một công trình mà công trình đó chính là tương lai cho cuộc đời của mình Hướng nghiệp để HS chọn một nghề phù hợp không phải là chuyện giản đơn, “chọn nghề nghĩa là chọn cho mình một tương lai” (www.huongnghiepviet.com) Chọn nghề sai lầm là đặt cho mình một tương lai không thật sự vững chắc, bởi nghề nghiệp không phải dễ thay đổi trong một sớm, một chiều Tương lai ấy tươi sáng nếu chọn đúng nghề sẽ giúp con người học tập nghiêm túc, yêu nghề, phát huy mọi lợi thế về năng lực sở trường, đảm bảo cuộc sống Ngược lại tương lai ấy sẽ trở nên mờ mịt nếu chọn sai gây ra sự chán nản, thờ ơ trong học tập, gây lãng phí về thời gian, công sức, tiền bạc, dẫn đến việc điều chỉnh nghề khi thấy không phù hợp

2 Các năm qua, mặc dù có sự nỗ lực rất lớn từ phía thầy cô trong các trường THPT trên địa bàn nhưng công tác hướng nghiệp gặp nhiều trở ngại và tồn tại nhiều hạn chế Về phía nhà trường, luôn mong muốn HS chọn đúng nghề nghiệp, đúng năng lực sở trường nhưng lại làm chưa đủ, do đánh giá vai trò hướng nghiệp chưa đúng nên hiện nay công tác hướng nghiệp ở bậc THPT gần như ít được quan tâm và xem nhẹ dẫn đến chưa hiệu quả về chất lẫn lượng Về chất, do phân luồng không tốt dẫn đến chọn sai nghề và tỉ lệ HS đi vào các trường nghề thấp; trình độ GV yếu về hướng nghiệp do kiêm nhiệm không được đào tạo chính thức Về lượng, thời gian cho công tác hướng nghiệp ít; người hướng dẫn không có chuyên môn, nghiệp vụ; không có bất cứ một quy trình nào thống nhất; thông thường các trường chỉ chú trọng vào công tác tư vấn tuyển sinh để hướng trường thi

3 Về hướng nghiệp từ phía gia đình, phần lớn trông đợi vào nhà trường do PHHS hạn chế thông tin, thiếu kiến thức, chưa có sự tư vấn con em hợp lý Thường thì cha mẹ mong muốn con cái theo nghề nghiệp truyền thống mặc dù không thích Một bộ phận PHHS lại muốn can thiệp theo hướng tiêu cực việc chọn nghề của con em do mục đích nghề nghiệp đã dự định trước hoặc lo ngại cho rằng con em mình có suy nghĩ về nghề nghiệp còn nong cạn Mặt khác, do hoàn cảnh gia đình nên không có cách nào khác hơn, do thiếu hiểu biết về thị trường lao động; có tư tưởng đề cao địa vị, bằng cấp, muốn con em đậu đại học bằng mọi cách thông qua việc đầu tư cho việc học một cách lãng phí khi gia đình có kinh tế Với những lí do trên cho thấy gia đình chưa làm tốt vai trò hướng nghiệp cho con Như vậy muốn nâng cao năng lực hướng nghiệp cho HS phải có sự gặp nhau từ hai phía đó là Nhà trường và Gia đình Giáo dục hướng nghiệp không thể tách rời với giáo dục phổ thông “Dạy chữ, dạy người, dạy nghề” cũng như không thể tách khỏi mối quan hệ “Nhà trường – Gia đình – Xã hội”

4 Để định hướng nghề nghiệp cho HS một cách phù hợp thì không cách gì khác hơn là nhà trường phải làm tốt công tác hướng nghiệp và phát huy tối đa mọi nguồn lực giáo dục từ bên trong lẫn bên ngoài Công tác hướng nghiệp ở đây là phải làm cho HS hiểu biết cần thiết về bản thân, thị trường lao động, lựa chọn nghề nghiệp dựa trên cơ sở khoa học, có hứng thú và thái độ đúng đắn, yêu nghề, yêu lao động và có tình cảm với nghề Cho các em thấy được quyết định chọn nghề của mình không những ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai, hạnh phúc, cuộc đời mà còn gắn liền đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, của đất nước Xuất phát từ những lí do nêu trên, người nghiên cứu thực hiện đề tài “Thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An” là góp phần cải tiến và nâng cao chất lượng công tác hướng nghiệp cho các trường THPT trên địa bàn.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng công tác hướng nghiệp cho học sinh bậc trung học phổ thông tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An nhằm đề xuất các giải pháp hiệu quả Bài viết tập trung vào việc phân tích nhu cầu và thách thức trong công tác hướng nghiệp, đồng thời đưa ra các phương pháp cải thiện để nâng cao chất lượng định hướng nghề nghiệp cho học sinh.

Khảo sát và phân tích thực trạng công tác hướng nghiệp bao gồm hình thức, nội dung, phương pháp tổ chức và đội ngũ thực hiện trên địa bàn.

Xây dựng các nhóm giải pháp nhằm cải tiến những tồn tại và nâng cao hiệu quả trong công tác hướng nghiệp mà thực trạng đã nêu ra.

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Cơ sở lí luận về công tác hướng nghiệp học sinh bậc THPT

- Mô tả, phân tích, đánh giá thực trạng công tác hướng nghiệp cho HS bậc THPT ở các trường trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An

- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị cải tiến, nâng cao công tác hướng nghiệp cho HS bậc THPT trên địa bàn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Công tác hướng nghiệp tại các trường THPT trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An

Giải pháp cho công tác hướng nghiệp cho học sinh bậc THPT tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An hiện nay bao gồm việc cải tiến hình thức, nội dung và phương pháp hướng nghiệp Đồng thời, cần xây dựng đội ngũ chuyên trách có đủ năng lực để thực hiện công tác này, nhằm giúp học sinh định hướng nghề nghiệp phù hợp và phát triển bản thân.

- Nghiên cứu này được tiến hành trên đối tượng là công tác hướng nghiệp được thực hiện cho HS lớp 12 bậc THPT trên địa bàn.

Giả thuyết khoa học

Công tác hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 tại huyện Cần Đước, tỉnh Long An đang gặp nhiều khó khăn về nội dung và hình thức, dẫn đến hiệu quả chưa đáp ứng nhu cầu thực tế Để nâng cao chất lượng hướng nghiệp tại các trường THPT, cần đánh giá đúng thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi, khoa học.

Khách thể nghiên cứu

Công tác hướng nghiệp cho HS lớp 12 tại các trường THPT trên địa bàn huyện Cần Đước, tỉnh Long An;

Cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên dạy hướng nghiệp, học sinh lớp 12 và phụ huynh học sinh lớp 12 tại các trường THPT ở huyện Cần Đước, tỉnh Long An cần phối hợp chặt chẽ để hỗ trợ học sinh trong việc định hướng nghề nghiệp và chuẩn bị cho tương lai.

Phương pháp nghiên cứu

1.8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

Để hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp, cần thu thập tài liệu từ internet, báo chí, giáo trình, sách và các tài liệu liên quan Đồng thời, tham khảo các đề tài nghiên cứu khoa học và đọc các văn bản pháp luật, thông tư, nghị định, cũng như kế hoạch của Nhà nước và Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT tỉnh Long An có liên quan trực tiếp đến giáo dục hướng nghiệp.

1.8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Thực hiện các phương pháp khảo sát bằng phiếu, điều tra, phỏng vấn để tìm hiểu thực trạng từ đó đưa ra giải pháp phù hợp

1.8.3 Phương pháp thống kê và kiểm nghiệm

Dựa trên dữ liệu thống kê đã thu thập, người nghiên cứu tiến hành xử lý và phân tích để đưa ra những kết luận quan trọng, từ đó hỗ trợ cho việc phát triển các giải pháp hiệu quả.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Một số khái niệm liên quan đến đề tài

Thực trạng công tác phản ánh tình hình hoạt động thực tế của các cơ quan, tổ chức và đơn vị, nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể.

Thuật ngữ “hướng nghiệp” xuất hiện trên thế giới cách đây hàng trăm năm, riêng ở Việt Nam có một số định nghĩa sau:

GDHN là một hoạt động quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông, nhằm trang bị cho học sinh kiến thức và khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với nguyện vọng, sở trường cá nhân và nhu cầu lao động của xã hội (Nghị định 75/2006/NĐ-CP, Điều III) Theo quan điểm giáo dục học, hướng nghiệp là hoạt động của tập thể sư phạm và cán bộ nhà nước, giúp học sinh chọn nghề phù hợp với năng lực, sở thích, thể lực, tâm lý cá nhân, đồng thời đáp ứng nhu cầu xã hội Hướng nghiệp đóng vai trò thiết yếu trong quá trình giáo dục và học tập tại trường học (Bộ GD&ĐT, Hướng dẫn thực hiện chương trình).

SGK 12 về Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp, 2008)

Công tác hướng nghiệp bao gồm ba giai đoạn liên kết chặt chẽ: định hướng nghề, tư vấn chọn nghề và tuyển chọn nghề (Phạm Tất Dong, 2007) Đây là một tổ hợp các nghiệp vụ sư phạm, bao gồm tổ chức hoạt động, tư vấn và phối hợp, cùng với hoạt động giáo dục hướng nghiệp (GDHN) trong nhà trường, như dạy GDHN và tích hợp GDHN vào các môn văn hóa Mục tiêu chính của công tác này là giúp học sinh lựa chọn ngành nghề phù hợp nhất với khả năng và nguyện vọng của bản thân.

Công tác hướng nghiệp là một quy trình phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, có tác động đa chiều đến việc định hướng học sinh trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai Quy trình này nhằm giúp học sinh phát triển nhận thức về lĩnh vực nghề nghiệp, tự tin chọn lựa ngành nghề phù hợp với sở thích, sở trường, sức khỏe và nhu cầu xã hội, đồng thời đáp ứng nhu cầu nhân lực ở cả cấp độ địa phương và quốc gia.

Cơ sở pháp lý

Ngày 19/3/1981 của Hội đồng Chính phủ đã ban hành Quyết định 126/CP về

Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng tương lai cho học sinh Việc sử dụng hợp lý nguồn lực học sinh ở các cấp phổ thông cơ sở và trung học không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà còn tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện Hướng nghiệp hiệu quả sẽ giúp học sinh tốt nghiệp ra trường có định hướng rõ ràng, từ đó dễ dàng hơn trong việc chọn lựa nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích cá nhân.

Quyết định 126/CP đánh dấu một bước tiến quan trọng trong phát triển giáo dục tại hệ thống trường phổ thông, khi hướng nghiệp chính thức trở thành một môn học và được tích hợp vào các môn học khác Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông được thực hiện qua bốn phương thức: dạy và học các môn văn hóa, dạy môn công nghệ và nghề phổ thông, tổ chức các hoạt động hướng nghiệp, và thông qua các hoạt động tham quan, ngoại khóa, phương tiện truyền thông, gia đình và tổ chức xã hội.

Thông tư 31/1981/TT-BGD&ĐT ngày 17 tháng 11 năm 1981 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành hướng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP của Hội đồng Chính phủ, trong đó nêu rõ vị trí và nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp Thông tư đề cập đến việc triển khai công tác hướng nghiệp trong các trường phổ thông và các bước tiếp theo cần thực hiện Đồng thời, quy định bốn hình thức hướng nghiệp bao gồm: qua các môn học, qua lao động sản xuất, qua việc giới thiệu các ngành nghề, và qua các hoạt động ngoại khóa.

Chỉ thị số 33/2003/CT-BGDĐT ngày 23 tháng 7 năm 2003 của Bộ GD&ĐT nhấn mạnh việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, yêu cầu các cấp giáo dục từ Sở GD&ĐT đến các cơ sở giáo dục thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng Các nhiệm vụ này bao gồm: nâng cao nhận thức về ý nghĩa và mục đích của giáo dục hướng nghiệp cho cán bộ quản lý và giáo viên; tích hợp yêu cầu giáo dục hướng nghiệp vào việc xây dựng và hoàn thiện chương trình, biên soạn sách giáo khoa; triển khai các hoạt động giáo dục và tư vấn hướng nghiệp trong trường học; cải thiện chất lượng dạy nghề phổ thông; xây dựng các Trung tâm kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp; và thúc đẩy công tác xã hội hóa giáo dục hướng nghiệp.

Nghị quyết số 29 của Trung ương Đảng tại kỳ họp lần VIII, khóa XI vào ngày 04/11/2013 nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục phổ thông trong việc phát triển trí tuệ và thể chất của học sinh Nghị quyết yêu cầu hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, đồng thời định hướng nghề nghiệp cho học sinh Đặc biệt, học sinh cần đạt trình độ trung học cơ sở với tri thức nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau khi hoàn thành lớp 9 Ngoài ra, giáo dục trung học phổ thông cần tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học tập sau phổ thông một cách chất lượng.

Hướng dẫn số 5466/BGDĐT-GDTrH của Bộ GD&ĐT ngày 07 tháng 08 năm

Năm học 2013-2014, nhiệm vụ Giáo dục Trung học tập trung vào việc nâng cao chất lượng giáo dục nghề phổ thông tại các trường và trung tâm giáo dục thường xuyên Đặc biệt, cần khuyến khích việc dạy nghề truyền thống của địa phương và đa dạng hóa các hình thức tư vấn, hướng nghiệp Đồng thời, triển khai các hoạt động giáo dục nghề phổ thông là một trong những ưu tiên hàng đầu để đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực.

Văn bản số 1565/HD-SGDĐT của Sở GD&ĐT tỉnh Long An ngày 23 tháng

Năm học 2013-2014, công tác giáo dục trung học chú trọng đến hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, trong đó hiệu trưởng cần thành lập tổ tư vấn tâm lý học đường Tổ này bao gồm các cán bộ quản lý và giáo viên có kinh nghiệm, nhằm hỗ trợ học sinh và cha mẹ trong việc định hướng tương lai, nghề nghiệp, cũng như giúp các em vượt qua khó khăn trong học tập và sinh hoạt.

Cơ sở lý luận

Nhà Tâm lý học K.K Platonov đã giới thiệu khái niệm “Tam giác hướng nghiệp”, bao gồm ba yếu tố quan trọng: định hướng nghề nghiệp, tư vấn nghề và tuyển chọn nghề Khi nhà trường và xã hội thực hiện hiệu quả ba khâu này, học sinh sẽ có sự tự tin hơn trong việc lựa chọn nghề nghiệp trong bối cảnh xã hội hiện nay.

Hình 1.1 Tam giác hướng nghiệp của Platonov

2.3.2 Cơ sở tâm lý học của công tác hướng nghiệp

Lứa tuổi học sinh THPT, từ 15 đến 18 tuổi, là giai đoạn quan trọng khi các em dễ bị ảnh hưởng bởi ý kiến từ bạn bè, thầy cô, và gia đình Trong thời kỳ này, việc lựa chọn nghề nghiệp có thể gặp nhiều khó khăn và sai lầm Tuy nhiên, nếu được định hướng và tư vấn một cách khoa học, các em có thể tìm ra những nghề nghiệp phù hợp với bản thân.

Trí tuệ của học sinh cấp THPT phát triển mạnh mẽ trong các quá trình nhận thức, nhờ vào sự tiến bộ của cấu trúc và chức năng não bộ Các em có khả năng tư duy lôgic, lý luận và trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo và chặt chẽ hơn Tính phê phán trong tư duy cũng được nâng cao, giúp học sinh thực hiện các tư duy toán học phức tạp và phân tích các khái niệm trừu tượng Điều này tạo điều kiện cho các em nắm bắt được các mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội, từ đó hình thành thế giới quan về cuộc sống và nghề nghiệp.

Khí chất là thuộc tính tâm lý phức tạp, ổn định và độc đáo của mỗi cá nhân, ảnh hưởng đến diễn biến tâm lý trong hoạt động của họ Có bốn loại khí chất chính: linh hoạt, điềm tĩnh, nóng nảy và ưu tư, mỗi loại có đặc trưng riêng và không phân biệt tốt xấu Tuy không quyết định giá trị xã hội hay thành tựu của con người, khí chất lại có mối liên hệ chặt chẽ với nghề nghiệp Khi tư vấn chọn nghề, cần chú ý đến đặc điểm khí chất của từng cá nhân, vì mỗi người có một khí chất tâm lý khác nhau Ở giai đoạn học sinh THPT, kinh nghiệm sống phong phú giúp các em nhận thức được tầm quan trọng của việc chọn nghề Hứng thú học tập trong một số môn học liên quan đến nghề nghiệp sẽ hình thành, từ đó tạo động cơ thúc đẩy thái độ học tập tích cực và giúp các em quyết định lựa chọn ngành nghề phù hợp.

Mỗi cá nhân có thể trạng và trí óc khác nhau, do đó, mỗi công việc yêu cầu những khả năng đáp ứng riêng biệt Mỗi ngành nghề đều có những chỉ định và chống chỉ định riêng, vì vậy giáo viên và học sinh cần nắm rõ nguyên tắc này để có thể tư vấn và lựa chọn nghề nghiệp phù hợp.

Sự phân hóa giới tính trong nghề nghiệp xuất phát từ đặc thù của từng lĩnh vực, thể chất, tâm lý và truyền thống, dẫn đến nam và nữ lựa chọn nghề nghiệp theo những hướng khác nhau Bên cạnh đó, sự bất bình đẳng giới trong giáo dục và nghề nghiệp vẫn tồn tại, ảnh hưởng đáng kể đến công tác hướng nghiệp.

2.3.4 Cơ sở giáo dục học

Quá trình hướng nghiệp trong giáo dục đóng vai trò quan trọng, nhằm giúp học sinh tự giác chọn nghề với lợi ích phát triển sản xuất trên nguyện vọng cá nhân Hướng nghiệp không chỉ là việc cụ thể hóa mục tiêu đào tạo của trường phổ thông, mà còn giúp hình thành thế hệ trẻ có kiến thức, thái độ, tình cảm, thể lực và kỹ năng sống Sau khi tốt nghiệp, học sinh cần có khả năng tham gia vào ngành nghề tại địa phương hoặc tiếp tục học cao hơn để phát triển nghề nghiệp Do đó, hướng nghiệp trong nhà trường cần tập trung vào việc định hướng học sinh vào những nghề cụ thể, không chỉ dừng lại ở giáo dục ý thức lao động chung.

2.3.5 Cơ sở xã hội học

Xã hội học là một lĩnh vực khoa học xã hội, chuyên nghiên cứu các quy luật hình thành, vận động và biến đổi của mối quan hệ giữa con người và xã hội Ngoài ra, nó cũng tìm hiểu về hệ thống các mối quan hệ xã hội của con người.

Sự chuyển mình của xã hội từ nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp và sau đó là kinh tế tri thức đã dẫn đến nhận thức rằng tri thức và tay nghề là yếu tố quan trọng để phát triển bền vững Thay đổi trong nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi định hướng giá trị, đặc biệt là ở thanh niên, trong việc đánh giá và lựa chọn nghề nghiệp Tại Việt Nam, việc coi trọng bằng cấp đã khiến nhiều bậc phụ huynh định hướng cho con cái phải thi vào đại học, dẫn đến cuộc chạy đua vào các trường đại học và cao đẳng Hệ lụy của tình trạng này là sự coi nhẹ giáo dục lao động, gây lãng phí nguồn nhân lực, thời gian và sức sản xuất trong xã hội.

Cơ sở thực tiễn

2.4.1 Chương trình GDHN áp dụng hiện hành trong giáo dục THPT

Hiện nay công tác hướng nghiệp trong trường THPT được thực hiện theo bốn hình thức sau:

- Hướng nghiệp qua dạy – học các môn văn hóa;

- Hướng nghiệp qua dạy – học môn công nghệ, dạy nghề phổ thông và hoạt động lao động sản xuất;

- Hướng nghiệp qua việc tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp;

Hướng nghiệp có thể được thực hiện thông qua nhiều hoạt động khác nhau, bao gồm tham quan, các hoạt động ngoại khóa, và thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Bên cạnh đó, sự hướng dẫn từ gia đình và các tổ chức xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình định hướng nghề nghiệp cho cá nhân.

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp đã được tích hợp vào chương trình giáo dục phổ thông từ năm học 2006 - 2007, với thời lượng 36 tiết/năm cho lớp cuối cấp THCS và 27 tiết/năm cho các lớp bậc THPT Tuy nhiên, từ năm học 2008 - 2009, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định giảm số tiết giáo dục hướng nghiệp xuống chỉ còn 9 tiết/năm (1 tiết/tháng) cho tất cả các lớp, gây khó khăn cho các trường và tạo áp lực lớn cho giáo viên phụ trách Chương trình và tài liệu dạy nghề phổ thông 105 tiết/năm cho học sinh lớp 11 đã được biên soạn và triển khai từ năm học 2007 - 2008, vẫn được giữ nguyên và thực hiện cho đến nay.

2.4.2 Công tác hướng nghiệp trong trường trung học phổ thông Ở bình diện xã hội, “Giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống tác động của xã hội về giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, … nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân” (Bộ GD&ĐT, hướng dẫn thực hiện chương trình SGK 12 hoạt động GDHN,

Giáo dục hướng nghiệp tại trường THPT đóng vai trò quan trọng trong việc giúp học sinh hiểu rõ về ngành nghề mà họ muốn theo đuổi Qua việc phân tích thị trường lao động, học sinh có thể nhận diện những khó khăn và rèn luyện bản thân, từ đó xác định được nghề nghiệp phù hợp với khả năng và sở thích của mình.

Hướng nghiệp là quá trình xác định sự phù hợp giữa phẩm chất và đặc điểm tâm sinh lý của từng cá nhân với yêu cầu của một nghề cụ thể Đồng thời, hướng nghiệp cũng chuẩn bị cho học sinh bước vào cuộc sống lao động, giúp hình thành sự sẵn sàng tâm lý cho việc tham gia vào sản xuất.

2.4.2.2 Nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp trong trường THPT

Giúp học sinh làm quen với các nghề cơ bản trong xã hội, những nghề quan trọng cho nền kinh tế quốc dân và cần thiết phát triển tại địa phương.

Hứng thú với nghề nghiệp là yếu tố quan trọng giúp học sinh khám phá và phát triển đam mê của mình Sự hứng thú này không chỉ khởi đầu mà còn dần trở nên rõ ràng, đóng vai trò như một chỉ số hàng đầu trong việc đánh giá sự phù hợp giữa con người và nghề nghiệp.

Giúp học sinh phát triển năng lực nghề nghiệp phù hợp với sở thích cá nhân thông qua việc tổ chức lao động sản xuất kết hợp với giáo dục nghề nghiệp.

Giúp học sinh phát triển ý thức và thái độ tích cực trong lao động, yêu quý công việc và tôn trọng những người lao động trong các lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau Đồng thời, cần nâng cao ý thức tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên, góp phần xây dựng một môi trường làm việc bền vững.

2.4.3 Công tác hướng nghiệp và các thành tố tham gia vào GD

Công tác hướng nghiệp cho học sinh đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các em hiểu biết về thế giới nghề nghiệp, hình thành nhân cách và thái độ lao động tích cực Việc giáo dục đúng đắn về nghề nghiệp không chỉ tạo tâm lý sẵn sàng tham gia vào lao động sản xuất mà còn thúc đẩy sự thay đổi trong tư duy và nhận thức của học sinh Do đó, công tác này cần liên tục được cải tiến và đầu tư phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.

Công tác hướng nghiệp và xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho xã hội, đồng thời phát triển năng lực cá nhân trong sự nghiệp Xã hội là yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển của công tác hướng nghiệp trong các trường học, giúp nâng cao vai trò và hiệu quả của nó.

Công tác hướng nghiệp trong gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi tư duy và quan điểm về nghề nghiệp của con em Gia đình là cầu nối thiết yếu giúp đưa công tác hướng nghiệp đến gần hơn với học sinh.

Công tác hướng nghiệp trong nhà trường đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp và cách tiếp cận, nhằm phù hợp với thực tiễn Nhà trường là yếu tố quyết định cho sự thành công của công tác hướng nghiệp.

Hình 1.2 Mô tả mối quan hệ giữa công tác hướng nghiệp và các thành tố tham gia vào giáo dục

Hiểu về hướng nghiệp, chia sẽ, giúp đỡ con em chọn ngành để học, chọn nghề phù hợp;

Tự tin lựa chọn nghề nghiệp;

Hiểu được sự phù hợp của bản thân đối với các ngành nghề

XÃ HỘI Làm cơ sở để định hướng học sinh; Đáp ứng nguồn nhân lực bền vững; Đáp ứng hợp lý các cơ cấu ngành nghề

Tổ chức học tập, trang bị kiến thức, kỹ năng giúp HS có nhận thức, lựa chọn đúng đắn về nghề nghiệp.

THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP HỌC SINH BẬC

Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Huyện Cần Đước có diện tích tự nhiên là 218.027 km 2 , dân số 175.784 người

Huyện Cần Đước, nằm ở phía Đông Nam tỉnh Long An, là một huyện ven biển với ba phía được bao bọc bởi sông Rạch Cát và sông Vàm Cỏ Được xem là một trong những huyện trọng điểm về kinh tế của tỉnh, Cần Đước có tốc độ phát triển kinh tế đạt khoảng 12% mỗi năm và mức thu nhập bình quân đầu người là 46 triệu đồng (theo thống kê năm 2014) Cơ cấu kinh tế năm 2014 cho thấy công nghiệp chiếm 65,6% với tốc độ phát triển 23%/năm, thương mại dịch vụ 18,2% với 9,4%/năm, và nông nghiệp 16,11% với 3%/năm Lực lượng lao động trong độ tuổi là 79.142 người, trong đó có 12.376 người làm việc trong lĩnh vực công nghiệp Về giáo dục, huyện có 4 trường trung học phổ thông và 2 trường THCS và THPT, với tổng số học sinh THPT là 4.730, trong đó lớp 12 có 1.593 học sinh Năm học 2013-2014, huyện có 2.656 hồ sơ dự thi đại học, với 339 học sinh trúng tuyển đại học (21,3%) và 386 học sinh trúng tuyển cao đẳng (24,2%).

Phương pháp chọn mẫu khảo sát

3.2.1 Mục đích của khảo sát

Bài viết này nhằm thu thập thông tin trực tiếp từ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh về công tác hướng nghiệp tại các trường THPT Từ đó, người nghiên cứu sẽ xác định những thực trạng tích cực và bất cập, qua đó đề xuất giải pháp cải tiến những vấn đề hiện tại.

Nghiên cứu được thực hiện với bốn đối tượng chính, bao gồm 350 học sinh lớp 12 đến từ 6 trường THPT trên địa bàn, 60 giáo viên (gồm 51 giáo viên chủ nhiệm và 9 giáo viên hỗ trợ), 25 cán bộ quản lý (bao gồm hiệu trưởng và phó hiệu trưởng) từ các trường THPT, cùng với 120 phụ huynh học sinh thuộc 6 trường này.

3.2.3 Thời gian tiến hành khảo sát

Quá trình khảo sát bằng phiếu hỏi được thực hiện từ ngày 25/5/2015 đến 25/7/2015, đồng thời, nghiên cứu cũng bao gồm phỏng vấn và quan sát diễn ra trong suốt năm học 2014 – 2015.

Quy trình thiết kế bảng hỏi

3.3.1 Bộ công cụ khảo sát

Để xác định thực trạng công tác hướng nghiệp, nghiên cứu này đã xây dựng sáu mẫu khảo sát dành cho cán bộ quản lý, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên hướng nghiệp lớp 12, học sinh và phụ huynh học sinh.

Đối với cán bộ quản lý, phiếu khảo sát sử dụng bảng hỏi tập trung vào việc thu thập nhận thức, quan điểm và phương pháp xây dựng kế hoạch cũng như quản lý công tác hướng nghiệp.

Đối với giáo viên, phiếu khảo sát được thiết kế dưới dạng bảng hỏi nhằm thu thập thông tin về nhận thức của họ về công tác hướng nghiệp, các phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp (GDHN) tại trường Bên cạnh đó, phiếu khảo sát cũng đánh giá thái độ của học sinh đối với công tác hướng nghiệp của nhà trường.

Phiếu khảo sát được thiết kế cho học sinh nhằm đánh giá nhận thức và thái độ của họ đối với việc chọn nghề Nội dung khảo sát sẽ tập trung vào các yếu tố tác động đến quyết định nghề nghiệp, những yếu tố đáp ứng mong đợi của học sinh khi lựa chọn nghề, cũng như vai trò của công tác hướng nghiệp tại trường học trong việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh.

Để đáp ứng nhu cầu đa dạng của phụ huynh học sinh (PHHS) với trình độ và nhận thức không đồng nhất, phiếu khảo sát được thiết kế đơn giản, ngắn gọn và dễ hiểu Nội dung khảo sát tập trung vào nghề nghiệp mà con em lựa chọn, nhận thức về vai trò quan trọng của hướng nghiệp, cũng như sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong công tác hướng nghiệp.

Người thực hiện đề tài tiến hành phát phiếu khảo sát theo phụ lục A1, A2, A3,

A4, A5, A6 và thu phiếu khảo sát với kết quả như sau:

Bảng 3.1 Thống kê số liệu mẫu khảo sát

Số phiếu phát ra Số phiếu thu vào Tỉ lệ (%)

Phương pháp thống kê khảo sát

3.4.1 Phân nhóm câu hỏi trong phụ lục khảo sát

Bảng 3.2 Phân nhóm câu hỏi trong các mẫu khảo sát

Nhóm Đối tượng khảo sát Phụ lục

Về nhận thức, thái độ

Học sinh A1 (câu 1 → 3) Giáo viên A2 (câu 1 → 2) PHHS A3 (câu 4 → 6)

CBQL A4 (câu 1) Đánh giá thực trạng

Học sinh A1 (câu 6 → 7) Giáo viên A2 (câu 3 → 6) PHHS A3 (câu 1 → 3)

3.4.2 Phương pháp tính toán Được thực hiện đối với phụ lục A1 câu 7, phụ lục A2 câu 2 → 5, phụ lục A4 từ câu 2 → 5 phương pháp tính toán được thực hiện như sau: do là các bộ dữ liệu định tính với giả thuyết một mẫu thì phương pháp tính áp dụng theo Kiểm nghiệm Chi bình phương ² (Dương Thiệu Tống, 2000) Để xác định được ² ta cần các dữ kiện sau:

- Dân số: 1600 HS, 380 GV và hơn 1000 PHHS;

- Mẫu: 304 HS, 60 GV, 25CBQL và 101 PHHS;

- O: tần số quan sát cho mỗi loại hay số lần lựa chọn thu được từ khảo sát của

5 mức lựa chọn trên bảng hỏi (Rất đồng ý, Đồng ý, Phân vân, không đồng ý, Rất không đồng ý);

- E: tần số kì vọng hay tần số lý thuyết của 5 mức lựa chọn trên bảng hỏi;

- H0: O = E, gọi là giả thuyết bất dị, giả thuyết nói rằng không có sự khác biệt về tần số quan sát O của 5 mức lựa chọn trên bảng khảo sát;

- H1: O > E, gọi là giả thuyết khả hoán, giả thuyết nói rằng có sự khác biệt về tần số quan sát O của 5 mức lựa chọn trên bảng khảo sát;

Chọn mức ý nghĩa α = 0,01 cho thấy có 1% xác suất xảy ra sai lầm loại I, tức là khi giả thuyết H0 đúng nhưng vẫn bị bác bỏ Điều này dựa trên một mẫu ngẫu nhiên từ 304 học sinh, đại diện cho tổng thể 1600 học sinh.

Trong Bảng C của Dương Thiệu Tống trong cuốn "Thống kê ứng dụng trong nghiên cứu giáo dục, tập II - Thống kê suy diễn", với bậc tự do df = 4 và mức ý nghĩa α = 0,01, giá trị tra bảng của chi bình phương là 13,28.

Khi so sánh giá trị ² tính toán với giá trị ² tra bảng, nếu giá trị tính toán lớn hơn giá trị tra bảng, chúng ta bác bỏ giả thuyết H0 và chấp nhận giả thuyết H1, cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa giữa tần số quan sát O và tần số kỳ vọng E Ngược lại, nếu giá trị tính toán nhỏ hơn hoặc bằng giá trị tra bảng, chúng ta không thể đưa ra kết luận rõ ràng về giả thuyết dựa trên số liệu khảo sát.

Thực trạng công tác hướng nghiệp cho học sinh trên địa bàn

3.5.1 Thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lí, Giáo viên, Học sinh và Phụ huynh học sinh đối với công tác hướng nghiệp

3.5.1.1 Thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lí

Qua khảo sát 25 CBQL tại 06 trường THPT trên địa bàn về mức độ quan trọng của công tác hướng nghiệp (theo số liệu ở phụ lục 4)

Biểu đồ 3.1 Nhận thức của CBQL về vai trò của công tác hướng nghiệp trong chương trình giáo dục

Công tác hướng nghiệp đóng vai trò quan trọng trong hoạt động dạy và học tại trường học, và nhận thức đúng đắn về vị trí của nó trong chương trình GDTrH là yếu tố quyết định đến thành công Kết quả khảo sát cho thấy 36% CBQL cho rằng công tác này rất quan trọng, 52% cho rằng quan trọng và cần thiết, trong khi chỉ 12% cho rằng ít quan trọng Không có CBQL nào cho rằng công tác hướng nghiệp là không cần thiết Tuy nhiên, sự tồn tại của 12% CBQL xem công tác này ít quan trọng và 52% không coi đó là nhiệm vụ hàng đầu đặt ra thách thức trong việc triển khai hiệu quả công tác hướng nghiệp trong nhà trường.

12% Rất quan trọng và cần thiết.

Quan trọng và cần thiết. Ít quan trọng và cần thiết

3.5.1.2.Thực trạng nhận thức của Giáo viên hướng nghiệp và chủ nhiệm

Tổng số khảo sát thu được từ GV là 60 ý kiến trong tổng số 380 GV đang giảng dạy cấp THPT trên địa bàn

Biểu đồ 3.2 Nhận thức của GV về vai trò của công tác hướng nghiệp trong chương trình giáo dục

Lực lượng giáo viên chủ nhiệm lớp cuối cấp và giáo viên phụ trách giáo dục hướng nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc truyền tải những tác động tích cực của công tác hướng nghiệp đến học sinh Để công tác này hiệu quả, nhận thức cao của các giáo viên là rất cần thiết Kết quả khảo sát cho thấy, 78,3% giáo viên cho rằng định hướng nghề nghiệp cho học sinh là rất quan trọng và cần thiết, trong khi chỉ có 6,7% không coi trọng công tác này Mặc dù đa số giáo viên có nhận thức cao, nhưng sự tồn tại của 7% giáo viên không đánh giá đúng tầm quan trọng của giáo dục hướng nghiệp có thể ảnh hưởng đến việc trang bị kiến thức cho học sinh trong lĩnh vực này.

Rất quan trọng và cần thiết.

Quan trọng và cần thiết. Ít quan trọng và cần thiết

Mục đích của công tác hướng nghiệp hiện tại trong trường học dành cho học sinh đã được các giáo viên đánh giá thông qua bảng khảo sát, cho thấy tầm quan trọng của việc định hướng nghề nghiệp trong quá trình phát triển của học sinh.

Bảng 3.3 Thống kê ý kiến của GV về mục đích của công tác hướng nghiệp

Rất đồng ý Đồng ý Phân vân Không đồng ý Rất không đồng ý

Giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp dựa trên sự kết hợp giữa năng lực, hứng thú và sở thích cá nhân với nhu cầu lao động của xã hội.

²tính toán = 84,67 > ²tra bảng = 13,28  loại bỏ H0, chấp nhận H1

2.2 Cung cấp cho học sinh thông tin về những nghề hiện có trong xã hội 16 8 20 14 2

²tính toán = 16,67 > ²tra bảng = 13,28  loại bỏ H0, chấp nhận H1

Dạy cho học sinh một số nghề nhất định, nhằm giúp họ bước vào cuộc sống và lao động

²tính toán = 22,50 > ²tra bảng = 13,28  loại bỏ H0, chấp nhận H1

2.4 Cung cấp thông tin về nghề đồng thời dạy nghề phù hợp cho học sinh 5 9 17 22 7

²tính toán = 17,33 > ²tra bảng = 13,28  loại bỏ H0, chấp nhận H1

2.5 Giúp học sinh chuẩn bị chọn ngành nghề và thi vào các trường ĐH, CĐ, TCCN 16 28 11 4 1

²tính toán = 38,27 > ²tra bảng = 13,28  loại bỏ H0, chấp nhận H1

Mục đích giúp học sinh chọn nghề phù hợp với năng lực, hứng thú và sở thích được thầy cô đồng tình cao, đạt 66,7% Tuy nhiên, việc cung cấp thông tin và dạy nghề cho học sinh chưa được thực hiện đồng đều, với 33,3% giáo viên phân vân và 23,3% không đồng ý Dạy nghề trong trường THPT hiện nay không còn hiệu quả, với 20% phân vân, 40% không đồng ý và 25% rất không đồng ý Mục tiêu hướng nghiệp cũng không được thầy cô ủng hộ, có đến 36,7% không đồng ý Tuy nhiên, việc giúp học sinh chuẩn bị cho việc chọn ngành và thi vào các trường ĐH, CĐ được quan tâm hơn, với 26,7% rất đồng ý và 46,7% đồng ý Công tác tuyển sinh ĐH, CĐ thường bắt đầu vào tháng Ba, với sự phối hợp tư vấn tận nơi cho học sinh.

3.5.1.3 Thực trạng nhận thức của học sinh

Theo khảo sát về việc chọn khối thi của 304 học sinh, có 162 học sinh chọn khối A, chiếm 53,3% tổng số, 18 học sinh chọn khối A1, chiếm 5,9%, 65 học sinh chọn khối B, chiếm 21,4%, 5 học sinh chọn khối C, chiếm 1,6%, 24 học sinh chọn khối D, chiếm 7,9%, và 30 học sinh quyết định không thi đại học, chiếm 9,9%.

Biểu đồ 3.3 cho thấy sự phân bố lựa chọn khối thi ĐH của học sinh, trong đó đa số học sinh chọn khối thi trước khi quyết định ngành học và nghề nghiệp tương lai Việc học tập và rèn luyện tại trường học ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọn khối thi ĐH, CĐ Đặc biệt, khối A được lựa chọn nhiều nhất, chiếm tỷ lệ cao so với các khối khác.

Khối C là khối thi có tỷ lệ lựa chọn thấp nhất trong số các khối thi đại học, chỉ đạt 1,6% Việc xác định khối thi ảnh hưởng đến sự ưu tiên môn học của học sinh, dẫn đến tình trạng học lệch và ngán ngại với một số môn học, gây ra hệ quả tiêu cực Tỷ lệ 9,9% học sinh không thi đại học phản ánh một thực tế nhỏ, vì nhiều em không đủ khả năng nhưng vẫn cố gắng thi, dẫn đến lãng phí Do đó, công tác hướng nghiệp cần được cải thiện để giúp học sinh chọn khối thi phù hợp và tránh thi đại học, cao đẳng nếu chưa đủ năng lực.

Học sinh bắt đầu suy nghĩ và dự định chọn nghề nghiệp của mình từ rất sớm, theo số liệu khảo sát và biểu đồ được trình bày.

Biểu đồ 3.4 Phân bố thời điểm chọn nghề của HS

Gần 48% học sinh cho rằng thời điểm quyết định chọn nghề là vào năm cuối cấp, trong khi chỉ 12,5% chọn vào đầu cấp, điều này dẫn đến việc lựa chọn nghề nghiệp trở nên bị động và dễ dàng đưa ra quyết định vội vàng Khi chọn sai nghề, thiên hướng và ưu thế của học sinh không được phát huy, làm giảm ý chí học tập và hiệu quả hành nghề Chỉ 8,9% học sinh xác định được nghề nghiệp trước lớp 10, cho thấy sự thiếu chủ động trong việc lập kế hoạch nghề nghiệp Đặc biệt, 17,4% học sinh vẫn chưa xác định được nghề nghiệp mặc dù đã gần hoàn thành chương trình THPT, điều này cần được chú ý để hỗ trợ các em trong việc định hướng tương lai.

Chưa có dự định gì

Từ lớp 10 Từ lớp 11 Từ lớp 12 tác hướng nghiệp ở các nhà trường còn thiếu sót, cần phải cải thiện và tập trung giải quyết trong thời gian tới

Về dự định của HS sau khi tốt nghiệp THPT Qua số liệu khảo sát sau:

Biểu đồ 3.5 Phân bố dự định của HS sau tốt nghiệp THPT

Theo số liệu, 25,7% học sinh (HS) quyết tâm thi đại học (ĐH), phản ánh thực tế số HS đỗ hàng năm tại huyện Cần Đước Công tác hướng nghiệp cần giúp HS xác định mục tiêu nghề nghiệp ngay từ đầu, dựa trên năng lực và điều kiện cá nhân Tỷ lệ 13,2% HS chọn lao động phổ thông, 4,6% lựa chọn kinh doanh hoặc nghề gia đình, và 1,3% có dự định khác cho thấy sự phù hợp với thực tế Tuy nhiên, 55,3% HS chọn thi ĐH mà không có sự xác định rõ ràng, dẫn đến việc chọn ngành học không phù hợp Nếu được hướng nghiệp tốt, HS sẽ có lựa chọn nghề nghiệp phù hợp hơn, tránh lãng phí thời gian và nguồn lực Điều này giúp hiểu rõ tâm tư của HS khi quyết định ngành học và nghề nghiệp tương lai.

Thi ĐH, nếu rớt năm sau thi lại

Thi ĐH, nếu rớt xét xuống

Lao động PT hoặc làm CN

Kinh doanh hoặc buôn bán

Dự định khác thông lên GD nghề nghiệp và GD Đại học, bằng cách khảo sát đặt ra 3 tình huống lựa chọn, số liệu được mô tả như sau:

Biểu đồ 3.6 cho thấy tâm trạng của học sinh khi chọn nghề, với phần lớn cảm thấy lo lắng và băn khoăn về quyết định này Khoảng 70% học sinh thể hiện sự lo lắng, phản ánh tâm trạng của họ khi chuẩn bị kết thúc THPT mà vẫn chưa xác định được nghề nghiệp Ngoài ra, có tới 27,6% học sinh cũng chia sẻ những lo ngại tương tự.

Học sinh không lo lắng trước tình huống nghề nghiệp, phần lớn do chủ quan và thiếu kiến thức, kỹ năng hướng nghiệp, điều này có thể ảnh hưởng đến tương lai của họ Chỉ có 2,4% ý kiến cho rằng họ hoàn toàn yên tâm vì cha mẹ đã định sẵn nghề nghiệp hoặc hướng dẫn con em theo nghề gia đình.

3.5.1.4 Thực trạng nhận thức của Phụ huynh học sinh

Bên cạnh việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh thông qua công tác của nhà trường, phụ huynh học sinh (PHHS) đóng vai trò quan trọng trong quá trình này Theo số liệu từ Biểu đồ 3.6, 59,2% học sinh tin tưởng vào ý kiến của cha mẹ khi lựa chọn nghề nghiệp PHHS không chỉ gần gũi mà còn có khả năng chia sẻ kinh nghiệm và truyền dạy kiến thức cho con em Do đó, hiểu biết của PHHS về hướng nghiệp có ảnh hưởng lớn đến quyết định nghề nghiệp của học sinh.

Rất lo lắng vì rất lãng phí thời gian

Không lo lắng vì còn nhiều thời gian phía trước

Cha mẹ có thể yên tâm khi biết rằng có 101 phụ huynh học sinh đã tham gia thu thập ý kiến về các lĩnh vực như nhận thức và suy nghĩ, cùng với những giải pháp đã được thực hiện.

Về việc mong muốn con em mình phải làm gì sau khi tốt nghiệp THPT, qua khảo sát thu được kết quả như sau:

Biểu đồ 3.7 Phân bố mong muốn của PHHS sau khi tốt nghiệp THPT

Kết luận chương 3

Dựa trên các nghiên cứu và khảo sát về công tác hướng nghiệp tại các trường THPT cho học sinh lớp 12, kết quả cho thấy các trường đã nỗ lực triển khai công tác này với nhiều kết quả tích cực Các trường đã tổ chức giảng dạy giáo dục hướng nghiệp đúng quy định, thực hiện tư vấn tuyển sinh hàng năm, tổ chức các buổi tham quan hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông cho học sinh Kế hoạch hướng nghiệp hàng năm được xây dựng đầy đủ, Ban tuyển sinh hoạt động hiệu quả, giáo viên chủ nhiệm đảm nhận vai trò tư vấn hướng nghiệp, tích hợp giáo dục hướng nghiệp vào các môn học, và sự phối hợp với phụ huynh học sinh ngày càng chặt chẽ hơn.

Công tác hướng nghiệp tại các trường hiện nay đang gặp nhiều bất cập cần được cải tiến để phù hợp với xu hướng phát triển giáo dục Cụ thể, cơ cấu phân luồng học sinh sau THCS còn bất hợp lý, gây áp lực lớn cho các trường THPT Nhiều trường chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của hướng nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Kế hoạch thực hiện công tác này vẫn còn rập khuôn, không đáp ứng nhu cầu của học sinh Hiệu quả của các giờ hoạt động giáo dục hướng nghiệp còn thấp do giáo viên chưa đầu tư đúng mức về chuyên môn và phương pháp Việc tích hợp hướng nghiệp vào các môn học văn hóa chưa được quan tâm đầy đủ, trong khi chất lượng dạy học môn công nghệ và nghề phổ thông còn yếu Hơn nữa, sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác hướng nghiệp chưa bền vững Học sinh cuối cấp THPT chưa được trang bị kiến thức nghề nghiệp đầy đủ, cũng như kỹ năng và tâm thế cần thiết Cuối cùng, các hoạt động ngoài giờ về giáo dục hướng nghiệp còn thiếu phong phú và thực tiễn, không thu hút được học sinh tham gia.

Các vấn đề trong giáo dục hướng nghiệp (GDHN) hiện nay xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm tài liệu GDHN chưa được cập nhật và thiếu thông tin về đa dạng nghề nghiệp Sự thiếu hợp tác trong tư vấn hướng nghiệp giữa giáo viên và phụ huynh, cùng với việc học sinh chỉ tập trung vào các môn khoa học tự nhiên, cũng góp phần làm giảm hiệu quả GDHN Ngành giáo dục không có định mức biên chế riêng cho GDHN tại các trường THPT, khiến giáo viên không mặn mà với việc dạy hướng nghiệp do không đúng chuyên môn Bên cạnh đó, giáo viên thiếu đào tạo bài bản và không nắm vững thị trường lao động, cùng với điều kiện làm việc không thuận lợi Hệ thống công cụ chẩn đoán năng lực và thiên hướng nghề nghiệp còn thiếu, trong khi hoạt động GDHN chủ yếu nặng về lý thuyết, thiếu trải nghiệm thực tế Việc tư vấn nghề nghiệp cũng thiếu sự tham gia của các lực lượng bên ngoài nhà trường, và sự phối hợp giữa phụ huynh và nhà trường còn lỏng lẻo, dẫn đến sự không nhất quán trong tư vấn cho học sinh.

ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHO CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP HỌC

Ngày đăng: 02/12/2021, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ GD&ĐT (2008). Hướng dẫn thực hiện chương trình SGK lớp 12. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp (tài liệu dùng trong các lớp bồi dưỡng giáo viên cốt cán thực hiện chương trình và SGK lớp 12). NXB ĐHQG Hà Nội, tr. 35-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (tài liệu dùng trong các lớp bồi dưỡng giáo viên cốt cán thực hiện chương trình và SGK lớp 12)
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2008
3. Bộ GD&ĐT (2013). Chương trình giáo dục phổ thông. Hoạt động giáo dục nghề phổ thông, tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2013
4. Bộ GD&ĐT – VVOB (Tổ chức hợp tác phát triển và hỗ trợ kỹ thuật, Vương quốc Bỉ) năm 2013. Tài liệu tập huấn về Đổi mới giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học. NXB ĐHQG Hà Nội, tr. 14-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn về Đổi mới giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học
Tác giả: Bộ GD&ĐT, VVOB
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2013
5. Bộ GD&ĐT – VVOB (2013). Tổng quan về công tác hướng nghiệp ở cấp trung học. NXB ĐHSP, tr. 40 – 41và 62-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về công tác hướng nghiệp ở cấp trung học
Tác giả: Bộ GD&ĐT, VVOB
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2013
6. Bộ GD&ĐT – VVOB (2013). Quản lí hướng nghiệp ở cấp trung học. NXB ĐHSP, tr. 15-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí hướng nghiệp ở cấp trung học
Tác giả: Bộ GD&ĐT, VVOB
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2013
7. Dương thiệu Tống (2000). Thống kê ứng dụng trong giáo dục. NXB ĐHQG Hà Nội. Tập II, thống kê suy diễn, tr 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê ứng dụng trong giáo dục
Tác giả: Dương thiệu Tống
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000
8. Đinh Thị Kim Thoa (2005). Vấn đề hướng nghiệp trong các trường sư phạm. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, tr. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hướng nghiệp trong các trường sư phạm
Tác giả: Đinh Thị Kim Thoa
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Năm: 2005
9. John Holland, (1970). Lí thuyết Mật mã Holland. Sở thích dựa vào 6 loại tính cách và bộ công cụ trắc nghiệm định hướng nghề nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí thuyết Mật mã Holland
Tác giả: John Holland
Nhà XB: Sở thích dựa vào 6 loại tính cách và bộ công cụ trắc nghiệm định hướng nghề nghiệp
Năm: 1970
10. Lê Thị Thu Thủy, (2012). Giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam. Trung tâm hỗ trợ và cung ứng nguồn nhân lực – Bộ GD&ĐT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Thu Thủy
Nhà XB: Trung tâm hỗ trợ và cung ứng nguồn nhân lực – Bộ GD&ĐT
Năm: 2012
11. Nguyễn Đức Nghĩa – Lê Thị Thanh Mai, (2013). Sổ tay hướng nghiệp. Thông tin về nhu cầu nhân lực đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng nghiệp
Tác giả: Nguyễn Đức Nghĩa, Lê Thị Thanh Mai
Nhà XB: Thông tin về nhu cầu nhân lực đến năm 2020
Năm: 2013
15. Luật giáo dục Việt Nam (2005) và Luật sửa đổi (2009). Điều 27 và 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục Việt Nam (2005) và Luật sửa đổi (2009)
Năm: 2009
21. Tài liệu Hội thảo, (2014). "Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện". Viện SPKT, trường Đại học sư phạm kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện
Tác giả: Tài liệu Hội thảo
Năm: 2014
22. Quang Dương, (1998). Luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý của học sinh phổ thông trung học tại thành phố Hồ Chí Minh và bước đầu xây dựng bộ trắc nghiệm hướng nghiệp và chọn nghề” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý của học sinh phổ thông trung học tại thành phố Hồ Chí Minh và bước đầu xây dựng bộ trắc nghiệm hướng nghiệp và chọn nghề
Tác giả: Quang Dương
Năm: 1998
23. Nguyễn Toàn, (1995). Luận văn thạc sĩ “Thực trạng và giải pháp công tác tư vấn nghề tại các Trung tâm giáo dục Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp công tác tư vấn nghề tại các Trung tâm giáo dục Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Toàn
Năm: 1995
24. Đào Văn Lê, (2/2009). Luận văn thạc sĩ “Thực trạng quản lý hoạt động hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông thành phố Cần Thơ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý hoạt động hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông thành phố Cần Thơ
25. Phạm Đức Khiêm, (2005). Luận văn thạc sĩ "Nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông nhằm phân luồng học sinh vào các trường trung học chuyên nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông nhằm phân luồng học sinh vào các trường trung học chuyên nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Đức Khiêm
Năm: 2005
26. Nguyễn Thị Ngọc Vũ, (2013). Luận văn thạc sĩ "Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở tại quận 2, thành phố Hồ Chí Minh&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học cơ sở tại quận 2, thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Vũ
Năm: 2013
27. Tô Hạ Uyên, (08/2010). Luận văn thạc sĩ “Thực trạng công tác quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bậc trung học tại một số trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác quản lý công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bậc trung học tại một số trường trung học phổ thông trên địa bàn quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh
2. Bộ GD&ĐT (2014). Tài liệu bổ sung sách GV về Hoạt động giáo dục hướng nghiệp. NXB ĐHQG Hà Nội, tr. 22 Khác
12. Phạm Tất Dong chủ biên (2007). Sách Giáo viên. Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp 12. NXBGD Việt Nam, tr. 3-5 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH  NỘI DUNG  TRANG - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
HÌNH NỘI DUNG TRANG (Trang 14)
Hình 1.1. Tam giác hướng nghiệp của Platonov - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Hình 1.1. Tam giác hướng nghiệp của Platonov (Trang 29)
Hình 1.2. Mô tả mối quan hệ giữa công tác hướng nghiệp và các thành tố - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Hình 1.2. Mô tả mối quan hệ giữa công tác hướng nghiệp và các thành tố (Trang 34)
Bảng 3.1 Thống kê số liệu mẫu khảo sát - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 3.1 Thống kê số liệu mẫu khảo sát (Trang 37)
Bảng 3.2 Phân nhóm câu hỏi trong các mẫu khảo sát - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 3.2 Phân nhóm câu hỏi trong các mẫu khảo sát (Trang 37)
Bảng 3.3. Thống kê ý kiến của GV về mục đích của công tác hướng nghiệp. - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 3.3. Thống kê ý kiến của GV về mục đích của công tác hướng nghiệp (Trang 41)
Bảng 3.4. Thống kê ý kiến của GV nhận xét về thái độ - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 3.4. Thống kê ý kiến của GV nhận xét về thái độ (Trang 48)
Bảng 3.5. Thống kê ý kiến của GV về Kế hoạch thực hiện - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 3.5. Thống kê ý kiến của GV về Kế hoạch thực hiện (Trang 49)
Bảng 3.6. Thống kê ý kiến của GV về mục đích của tư vấn - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 3.6. Thống kê ý kiến của GV về mục đích của tư vấn (Trang 52)
Bảng 3.7. Thống kê ý kiến của CBQL về mức độ bất cập - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 3.7. Thống kê ý kiến của CBQL về mức độ bất cập (Trang 56)
Bảng 3.8. Các yếu tố chủ quan tác động HS khi chọn nghề. - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 3.8. Các yếu tố chủ quan tác động HS khi chọn nghề (Trang 57)
Bảng 3.9. Các yếu tố khách quan tác động HS khi chọn nghề. - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 3.9. Các yếu tố khách quan tác động HS khi chọn nghề (Trang 58)
Bảng 3.10. Các yếu tố về đặc điểm ngành dự thi ĐH, CĐ tác động đến HS. - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 3.10. Các yếu tố về đặc điểm ngành dự thi ĐH, CĐ tác động đến HS (Trang 59)
Bảng 3.11. Các yếu tố đáp ứng sự mong đợi của HS. - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 3.11. Các yếu tố đáp ứng sự mong đợi của HS (Trang 62)
Bảng 4.1. Nội dung chương trình GDHN đề xuất cải tiến  T.Gian  Nội dung chương trình quy định  Nội dung chương cải tiến - (Luận văn thạc sĩ) thực trạng công tác hướng nghiệp học sinh bậc trung học phổ thông tại địa bàn huyện cần đước, tỉnh long an
Bảng 4.1. Nội dung chương trình GDHN đề xuất cải tiến T.Gian Nội dung chương trình quy định Nội dung chương cải tiến (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w