1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận chính trị học phát triển - Sự phát triển của các hệ tư tưởng trên thế giới và vai trò với sự phát triển xã hội 1docx

28 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 44,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trước hết cần phải khẳng định rằng tư tưởng, với tư cách là sản phẩm tinh thần của con người, luôn tồn tại. Nó xuất hiện một cách tự nhiên do nhu cầu nhận thức của con người, phục vụ cho sự phát triển. Có thể nói, tư tưởng là một trong những sản phẩm quan trọng nhất của đời sống mà con người hoàn toàn có quyền tự hào, thứ sản phẩm còn cao hơn và tinh xảo hơn mọi thứ sản phẩm công nghiệp hay công nghệ tinh xảo nhất. Trong cuộc sống có nhiều tư tưởng khác nhau. Các tư tưởng tương tác với nhau, tập hợp lại với nhau một cách tự nhiên thành một chuỗi các nhận thức, được thừa nhận và bị loại bỏ cũng theo quy luật tự nhiên. Là công cụ của nhận thức, tư tưởng thể hiện thông qua các hành vi, cả những hành vi của tư duy lẫn những hành vi bản năng. Tư tưởng được liên tục lựa chọn bởi các cá nhân cụ thể và có vai trò định hướng hành động. Do đó, nhận thức về tư tưởng phải linh hoạt chứ không thể coi nó là những giá trị bất biến. Nếu tư tưởng là công cụ của nhận thức thì hệ tư tưởng là hệ thống các công cụ ấy. Hệ tư tưởng không phải là sản phẩm riêng của cộng đồng, thậm chí nó cũng không phải là sản phẩm riêng của thời đại, nó là sự tổng hòa những kinh nghiệm sống của nhiều cộng đồng người và của nhiều thời đại. Trải qua chiều dài thời gian, lịch sử thế giới đã ghi nhận sự xuất hiện của các hệ tư tưởng như: hệ tư tưởng chủ nô, hệ tư tưởng phong kiến, tư sản, tiểu tư sản và vô sản. Để làm rõ nội dung và vai trò của các hệ tư tưởng này ở Việt Nam tác giả lựa chọn đề tài “Sự phát triển của các hệ tư tưởng và vai trò đối với sự phát triển xã hội Việt Nam” làm tiểu luận kết thúc môn học.

Trang 1

TIỂU LUẬNMÔN: CHÍNH TRỊ HỌC PHÁT TRIỂN

Đề tài:

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC HỆ TƯ TƯỞNG VÀ VAI TRÒ ĐỐI

VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VIỆT NAM

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trước hết cần phải khẳng định rằng tư tưởng, với tư cách là sản phẩmtinh thần của con người, luôn tồn tại Nó xuất hiện một cách tự nhiên do nhucầu nhận thức của con người, phục vụ cho sự phát triển Có thể nói, tư tưởng

là một trong những sản phẩm quan trọng nhất của đời sống mà con ngườihoàn toàn có quyền tự hào, thứ sản phẩm còn cao hơn và tinh xảo hơn mọithứ sản phẩm công nghiệp hay công nghệ tinh xảo nhất

Trong cuộc sống có nhiều tư tưởng khác nhau Các tư tưởng tương tácvới nhau, tập hợp lại với nhau một cách tự nhiên thành một chuỗi các nhậnthức, được thừa nhận và bị loại bỏ cũng theo quy luật tự nhiên Là công cụcủa nhận thức, tư tưởng thể hiện thông qua các hành vi, cả những hành vi của

tư duy lẫn những hành vi bản năng Tư tưởng được liên tục lựa chọn bởi các

cá nhân cụ thể và có vai trò định hướng hành động Do đó, nhận thức về tưtưởng phải linh hoạt chứ không thể coi nó là những giá trị bất biến

Nếu tư tưởng là công cụ của nhận thức thì hệ tư tưởng là hệ thống cáccông cụ ấy Hệ tư tưởng không phải là sản phẩm riêng của cộng đồng, thậmchí nó cũng không phải là sản phẩm riêng của thời đại, nó là sự tổng hòanhững kinh nghiệm sống của nhiều cộng đồng người và của nhiều thời đại

Trải qua chiều dài thời gian, lịch sử thế giới đã ghi nhận sự xuất hiệncủa các hệ tư tưởng như: hệ tư tưởng chủ nô, hệ tư tưởng phong kiến, tư sản,tiểu tư sản và vô sản Để làm rõ nội dung và vai trò của các hệ tư tưởng này ởViệt Nam tác giả lựa chọn đề tài “Sự phát triển của các hệ tư tưởng và vai tròđối với sự phát triển xã hội Việt Nam” làm tiểu luận kết thúc môn học

Trang 3

NỘI DUNG

1 Khái niệm về hệ tư tưởng

Trong cuốn Nguyên lý Triết học Mác-Lênin có định nghĩa như sau:

“Hệ tư tưởng là hệ thống những quan điểm, quan niệm phản ánh trực tiếp haygián tiếp những đặc điểm kinh tế xã hội của một xã hội, thể hiện địa vị, lợi ích

và mục đích của những giai cấp xã hội nhất định và nhằm duy trì hoặc biếnđổi chế độ xã hội hiện tồn”

V Ivanôp có một định nghĩa tương tự: “Hệ tư tưởng là hệ thống nhữngquan điểm, quan niệm, lý luận thuộc ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội,những quan hệ và hiện tượng xã hội, thể hiện lợi ích của một giai cấp này haygiai cấp khác, là kim chỉ nam cho hành động của giai cấp và đảng của nó ” Còn A.K Ulêđôp, trong tác phẩm “Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng ” thì “Hệ tưtưởng với tính cách là một lĩnh vực của ý thức xã hội, có thể được xác địnhnhư là ý thức lý luận về hiện thực thông qua lăng kính của lợi ích giai cấp và

tự ý thức giai cấp”

Theo đó, một định nghĩa đầy đủ về hệ tư tưởng phải bao hàm đượcnhững nội dung cơ bản như sau: - Hệ tư tưởng là hệ thống những quan điểm,quan niệm ( về chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo ) (Cần lưu

ý, các hệ thống khoa học không nằm trong những hệ tư tưởng) - Nó thuộc ýthức xã hội (chứ không phải ý thức cá nhân) - Nó thuộc cấp độ ý thức lý luận(chứ không phải ý thức thông thường) - Nó có tính đảng, tính giai cấp - Nó

có chức năng là kim chỉ nam cho hành động của

Nhưng trước hết phải khẳng rằng tư tưởng, với tư cách là sản phẩm tinhthần của con người, luôn tồn tại Nó xuất hiện một cách tự nhiên do nhu cầunhận thức của con người, phục vụ cho sự phát triển Có thể nói, tư tưởng làmột trong những sản phẩm quan trọng nhất của đời sống mà con người hoàn

Trang 4

toàn có quyền tự hào, thứ sản phẩm còn cao hơn và tinh xảo hơn mọi thứ sảnphẩm công nghiệp hay công nghệ tinh xảo nhất.

Trong cuộc sống có nhiều tư tưởng khác nhau Các tư tưởng tương tácvới nhau, tập hợp lại với nhau một cách tự nhiên thành một chuỗi các nhậnthức, được thừa nhận và bị loại bỏ cũng theo quy luật tự nhiên Là công cụcủa nhận thức, tư tưởng thể hiện thông qua các hành vi, cả những hành vi của

tư duy lẫn những hành vi bản năng Tư tưởng được liên tục lựa chọn bởi các

cá nhân cụ thể và có vai trò định hướng hành động Do đó, nhận thức về tưtưởng phải linh hoạt chứ không thể coi nó là những giá trị bất biến

Nếu tư tưởng là công cụ của nhận thức thì hệ tư tưởng là hệ thống cáccông cụ ấy Hệ tư tưởng không phải là sản phẩm riêng của cộng đồng, thậmchí nó cũng không phải là sản phẩm riêng của thời đại, nó là sự tổng hòanhững kinh nghiệm sống của nhiều cộng đồng người và của nhiều thời đại

Việc phổ biến rộng rãi một hệ tư tưởng nào đó bao giờ cũng nhằmhướng dẫn hành vi của cả cộng đồng, góp phần tập trung một cách cao độ vànhất thời các nguồn lực của cộng đồng ấy vì những mục tiêu nhất định, lạinhững thời điểm nhất định Tuy nhiên, sử dụng hệ tư tưởng như một công cụnhận thức toàn dân là một nhiệm vụ quan trọng nhưng cũng hết sức nguyhiểm, nhất là khi việc sử dụng như vậy xảy ra trong thời gian dài Bởi lẽ, nó

có thể đẩy cộng đồng ấy rơi vào tình trạng thụ động, thậm chí là phản động

Trong thế kỷ XX chúng ta đã mắc phải hai sai lầm nghiêm trọng Sailầm thứ nhất là tách hệ tư tưởng ra khỏi cuộc sống và biến nó thành một thứ

để tôn thờ Tôn thờ những giá trị tinh thần thì đúng, nhưng tôn thờ những giátrị cụ thể của tinh thần thì lại hoàn toàn sai Tư tưởng không phải là thứ để tônthờ mà nó được sinh ra nhằm phục vụ sự phát triển Do đó, khi tư tưởngkhông còn thích hợp hay đã trở nên lạc hậu thì chúng ta chỉ nên nhìn nhận nónhư một giá trị lịch sử với những công lao thuộc về thời quá khứ mà thôi Sailầm thứ hai là tách các giá trị biểu kiến của sự vật ra khỏi giá trị vật lý của nó

Trang 5

Thị trường chứng khoán là một ví dụ điển hình Thị trường chứng khoán tạo

ra một hệ thống các giá trị ảo bên ngoài năng lực thật của nó Trong lĩnh vực

tư tưởng cũng vậy Những thế lực ở thượng tầng kiến trúc đang tôn thờ mộtgiá trị, trong khi cuộc sống đã và đang đòi hỏi con người phải tìm kiếm nhữnggiá trị khác

2.Sự phát triên của các hệ tư tưởng trên thế giới và vai trò đối với

sự phát triển xã hội ở Việt Nam

2.1.Hệ tư tưởng chủ nô

Trong hệ tư tưởng chủ nô, giai cấp chủ nô là giai cấp thống trị mặc dùchỉ là thiểu số trong xã hội nhưng nắm hầu hết tư liệu sản xuất của xã hội và

cả bản thân người lao động là nô lệ Giai cấp nô lệ mặc dù chiếm đại đa sốtrong xã hội nhưng do không có tư liệu sản xuất trong tay và không làm chủngay cả chính bản thân mình nên họ hoàn toàn phụ thuộc vào giai cấp chủ nô

Hệ tư tưởng chủ nô được thể hiện chủ yếu qua luật pháp Cụ thể:

Pháp luật (hiểu theo nghĩa hẹp là những Bộ luật thành văn) thường ra

đời muộn hơn nhiều thời điểm xuất hiện nhà nước Theo học thuyết Mác Lênin, thời kỳ nào và ở đâu thì pháp luật về cơ bản cũng thể hiện và bảo vệlợi ích trước hết của giai cấp thống trị và thời cổ đại cũng không phải ngoại

Trang 6

-lệ Thời kỳ này bản chất pháp luật là pháp luật chủ nô có mục đích thiết lập

một trật tự xã hội có lợi cho giai cấp chủ nô Ngoài tính giai cấp, pháp luật

chủ nô cũng có vai trò xã hội quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ

kinh tế - xã hội Tính xã hội của nhà nước cũng như pháp luật ở PhươngĐông trong một chừng mực nhất định còn có trước và tỏ ra trội vượt hơn cả

tính giai cấp Ví dụ: Ở phần mở đầu của Bộ luật, Hammurabi tuyên bố: “Vì

hạnh phúc của loài người, thần Anu và thần Enlin đã ra lệnh cho trẫm – Hammurabi, một vị quốc vương quang vinh và ngoan đạo, vì chính nghĩa, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không

hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần Samát sai xuống dân đen, tỏa ánh sáng khắp muôn dân.” Hoặc ở phần kết của Bộ luật, Hammurabi

khẳng định lại mục đích của Bộ luật: “Để cho kẻ mạnh không hà hiếp kẻ yếu;

để cho những người cô quả có thể nương tựa ở thành Babilon…; để cho sự tuyên án trong nước tiện việc quyết định; để cho những kẻ thiệt thòi được trình bày lẽ phải…Nếu kẻ nào thi hành triệt để bộ luật này thì sẽ được các thần phù hộ, trái lại nếu người nào không nghiêm chỉnh thi hành hoặc sửa đổi bộ luật thì sẽ bị thần linh trừng phạt”

- Bảo vệ chế độ chiếm hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ,

hợp pháp hóa các hình thức bóc lột của chủ nô đối với nô lệ

Pháp luật ghi nhận và bảo vệ chặt chẽ quyền tư hữu của chủ nô đối với

tư liệu sản xuất được thể hiện trong Bộ Luật Hammurabi, Luật 12 Bảng ở La

Mã sơ kỳ nền cộng hòa, Bộ pháp điển Corpus iuris Civilis của Hoàng đếJustinian Cụ thể pháp luật nhiều nước thời kỳ này cho phép tra tấn, giam cầmcon nợ để yêu cầu trả nợ Các hành vi mua bán, chuyển nhượng tài sản củachủ tư hữu cũng được pháp luật nhiều nước quy định chặt chẽ nhằm tránh sựlừa dối, gian lận làm phương hại đến quyền tư hữu (Ví dụ: Điều 2 Bảng

III Luật 12 Bảng qui định: „Người chủ nợ có thể cầm tay con nợ và đưa con

nợ đến Tòa Nếu con nợ không trả được nợ theo phán quyết của Tòa và cũng

Trang 7

không có ai bảo lãnh cho anh ta, chủ nợ có thể tống giam con nợ") Đồng thời

pháp luật chủ nô cũng công khai tuyên bố tình trạng vô quyền của nô lệ vàthừa nhận nhiều hình thức bóc lột, hình thức tra tấn tàn nhẫn của chủ nô đối

với nô lệ (Điều 3 Bảng III Luật 12 Bảng quy định: "Đến ngày phiên chợ thứ

ba, các chủ nợ có thể tùng xẻo con nợ không trả được nợ Nếu xử quá mức,

họ cũng không bị tội"

- Ghi nhận tình trạng phân biệt đẳng cấp trong xã hội Pháp luật cho

phép những chủ nô giàu có thuộc các đẳng cấp cao trong xã hội có những đặcquyền về kinh tế và chính trị Ví dụ: Điều 1 Bảng X Luật 12 Bảng qui định

cấm kết hôn giữa quí tộc và bình dân: "Cấm kết hôn giữa người bình dân và

quí tộc”

- Ghi nhận và bảo vệ chế độ gia trưởng

Pháp luật của nhiều nhà nước thời kỳ này ghi nhận quyền tuyệt đối củangười gia trưởng đối với tài sản trong gia đình và địa vị chi phối của ngườigia trưởng đối với các thành viên khác của gia đình Thí dụ, ở Bộ luậtHammurabi nếu không có con, người chồng có quyền ly dị hoặc bán vợ hoặclấy vợ lẽ; nếu bắt được vợ ngoại tình thì chồng có quyền trói vợ và nhân tìnhcủa vợ ném xuống sông Ngược lại nếu vợ bắt được chồng ngoại tình, chỉ có

quyền ly dị mà thôi Điều 129 qui định : "Nếu vợ của dân tự do ngủ với người

đàn ông khác mà bị bắt, thì phải trói cả hai người này lại và ném xuống sông"

- Hình phạt mang nặng tính trừng trị, ít chứa đựng tính chất giáo dục

và cảm hóa

Pháp luật thời kỳ này hình sự hóa hầu hết các vi phạm, kể cả các vi phạm trong quan hệ dân sự Các qui phạm pháp luật đặc biệt là ở Phương

Đông thời kỳ cổ đại thường mang tính hàm hỗn (hầu hết các điều luật đều

kèm theo chế tài) Hình phạt được áp dụng phổ biến nhất là tử hình bằng rấtnhiều hình thức khác nhau như: ném đá cho đến chết, buộc đá ném xuốngsông, ném người vào vạc dầu, chặt người ra thành nhiều mảnh, thiêu chết,

Trang 8

chôn sống, treo cổ Các hình phạt dã man khác cũng được áp dụng cho cáchành vi phạm tội ít nghiêm trọng hơn như: chọc mù mắt, khắc chữ vào mặt,chặt chân tay, cắt lưỡi, bắt đi trên than hồng Pháp luật chủ nô còn cho phéptra tấn nhục hình phạm nhân, cho phép trả thù ngang bằng (Ví dụ: Điều 2

Bảng VIII Luật 12 bảng: "Nếu ai gây thương tích làm tàn tật người khác và

không bồi thường, thì việc trả thù ngang bằnglà hợp pháp") Trong nhiều

trường hợp, pháp luật chủ nô cho phép giết cả những người không liên quan

đến hành vi phạm tội (Ví dụ: Điều 38 Bộ luật Hammurabi qui định: " Nếu

thợ xây nhà mà xây không đảm bảo, nhà đổ, chủ nhà chết thì người thợ xây bị giết." hoặc Điều 39 Bộ luật Hammurabi: "Nếu nhà đổ, con của người chủ nhà chết thì con của người thợ xây cũng phải chết theo")

- Nguồn luật, phạm vi điều chỉnh, mức độ điều chỉnh của pháp luật

Hình thức biểu hiện của pháp luật chủ nô rất đa dạng, bao gồm: Tập quánpháp, Tiền lệ pháp và văn bản pháp luật Nhiều nhà nước chủ nô đã xây dựngđược những bộ luật lớn Điển hình như: Bộ luật Hammurabi của nhà nướcchủ nô Babilon (thế kỉ XVIII TCN); Bộ luật Đôracông của nhà nước chủ nô

Hy lạp (thế kỉ VII TCN); Bộ luật 12 bảng của nhà nước chủ nô La Mã (thế kỉ

V TCN); Bộ luật Pháp Kinh của nước Hàn - một quốc gia cát cứ ở TrungQuốc (thế kỉ V TCN); Luật Manu của nhà nước chủ nô Ấn độ (thế kỉ I TCN);

Bộ pháp điển Luật La Mã của Hoàng Đế Justinian ở hậu kỳ nền Cộng hòaCorpus Iuris Civilis Các bộ luật cổ thường được chia thành nhóm các điềukhoản có nội dung khác nhau.Phạm vi điều chỉnh của các Bộ luật trên tương

đối rộng, điều chỉnh hầu hết mọi quan hệ xã hội từ các vấn đề tội phạm, hình

phạt, tố tụng đến các quan hệ về hợp đồng, hôn nhân gia đình, thừa kế, sở

hữu, hợp đồng, mai táng mức độ điều chỉnh của luật, thông thường người taphân biệt thành hai mức độ điều chỉnh pháp luật: cụ thể – chi tiết và khái quáthoá Các Bộ luật cổ về cơ bản áp dụng mức độ điều chỉnh cụ thể, chi tiết Tuy

Trang 9

nhiên trong các Bộ luật cổ cũng có nhiều qui định điều chỉnh ở mức độ kháiquát hóa điển hình là các qui định về dân sự ở Luật La Mã

Trong khoảng một thế kỷ, xã hội Việt Nam vận động trong một bốicảnh tư tưởng đầy biến động, sự phân hóa của các hệ tư tưởng, tác động qualại giữa các khuynh hướng, sự du nhập của những trào lưu mới Bấy nhiêubiến cố phức tạp ấy diễn ra chỉ trong khoảng từ cuối thế kỷ XIX đến giũa thế

kỷ XX tạo thành cái nền của đời sống văn hóa - xã hại thời bấy giờ Nhữngcái mà trong quy luật vận động tư tưởng của lịch sử nhân loại, bình thườngdiễn ra trong hàng mấy thế kỷ thì nước ta lại bị dồn ép vào trong khoảng thờigian ngắn Điều đó tạo nên một thời đại chuyển tiếp đặc biệt của lịch sử vănhóa Việt Nam mà chúng ta cần nghiên cữu kỹ để thấy hết các đặc điểm.Chính những đặc điểm này sẽ giúp chúng ta có những đường hướng đúng đắntrong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa ngày nay

Rõ ràng là bối cảnh tư tưởng phức tạp ấy không phải ngẫu nhiên mà có

Nó hình thành và phát triển trên cơ sở một bối cảnh giai cấp xã hội nhất định

Xã hội Việt Nam thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX dựa trên một kếtcấu giai cấp phức tạp

Ngoài các của xã hội phong kiến như giai cấp địa chủ, quan lại, qúy tộcphong kiến từng thống trị xã hội trong mấy nghìn năm và giai cấp nông dânđông đảo thì từ sau khi đế quốc Pháp đặt nền đô hộ lên nước ta, nhiều giai cấpmới bắt dầu hình thành và phát triển: giai cấp tư sản gồm tư sản mại bản và tưsản dân tộc, giai cấp vô sản, giai cấp tiểu tư sản trung lưu gồm các tầng lớp trithức, công chức, tiểu thương… Ngoài ra không thể không nhắc đến các tầnglớp tăng lữ gồm có các sư sãi, các linh mục hành nghề tôn giáo Các giai cấp

xã hội trên đây đều có liên quan mật thiết đến đời sống văn hóa và thường làđộng lực của những khuynh hướng văn hóa khác nhau Ngay trong các tầnglớp tôn giáo mà sau này chúng ta sẽ phân tích, cũng có những đời sống vănhóa khác nhau

Trang 10

2.2.Hệ tư tưởng phong kiến

Cũng như ở nhiều nước khác, giai cấp phong kiến Việt Nam là giai cấp

đã giữ vai trò thống trị xã hội hàng bao nhiêu thế kỷ Hệ tư tưởng chính thốngcủa nó là Nho giáo, du nhập từ Trung Quốc sang, cùng với lực lượng xâmlược từ phương Bắc tới Tuy là một học thuyết triết học - chính trị nhưng nóđược xem như một thứ tôn giáo và mang cái tên là Nho giáo Người sáng tạo

ra học thuyết ấy là Khổng Phu Tử cho nên còn có tên là Khổng Giáo Ở TrungQuốc, Khổng Giáo đã trải qua nhiều bước thăng trầm trong lịch sử và sau khiKhổng Tử mất thì đã chia ra nhiều khuynh hướng khác nhau Nho giáo là tưtưởng chính thống của phong kiến Trung Quốc trong nhiều thế kỷ

Khổng Tử (551 - 479 trước TCGS) không hề thực hiện được lý tưởngcủa mình lúc sinh thời, mà mãi đến đời nhà Hán, Nho giáo mới được suy tôn(206 trước CN - 220 sau CN) Đến đời Đường, Phật giáo lại chiếm ưu thếnhưng sang đời Tống (960-1279 sau CN) thì Nho giáo giành lại được ưu thếtuyệt đối (phương Tây gọi là tân Nho giáo, ta gọi là Tống Nho) Hán nho vàTống nho là hai tư trào có ảnh hưởng sâu đậm nhất đến xã hội Việt Nam

Nội dung học thuyết Nho giáo chứa đựng trong mấy bộ Tứ Thư, NgũKinh Tứ thư được xem như một thứ kinh thánh của Thiên chúa giáo, nhưngthật ra khác với Kinh Thánh, Tứ Thư không hề nói đến sự sáng tạo ra vạn vật,không nói gì đến Thiên đường hay Địa ngục Khổng Giáo vốn ban đầu là mộttriết thuyết khá thực tiễn Như đã nói ở chương trên, ngày thuyết Thiên mệnhcủa Khổng Tử, cũng không phải là thuyết định mệnh và dẫn con người đếnbuông tay đầu hàng

Đến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, hệ tư tưởng phong kiến cùng suy vicực độ Lịch sử Việt Nam được đánh dấu bằng những biến cố lớn Đây làcuộc thử thách bi đát của chế độ phong kiến Việt Nam trên bước đường tan rãtrước sức tiến công của chủ nghĩa đế quốc phương Tây Nới cho đúng, chế độ

Trang 11

phong kiến Việt Nam không phải lúc này mới bắt đầu lung lay Những chủtrương chính sách phản động của triều Nguyễn áp dụng từ những năm đầu thế

kỷ XIX đã dẫn đến sự mục nát không tránh khỏi Nổi bật là tình trạng trì trệlạc hậu về mọi mặt của đời sống xã hội lúc bấy giờ Trong lúc trình độ khoahọc kỹ thuật của nhiều nước trên thế giới đã khá cao, sự giao lưu văn hóa vàthương mại đã phát triển thì giai cấp phong kiến Việt Nam vẫn một mực theochính sách bế quan tỏa cảng Càng ngày nền kinh tế càng lâm vào tình trạnglụi bại, bế tắc Nhà nước phong kiến chịu bó tay bất lực Hạn hán, bão lụt, vỡ

đê xẩy ra thường xuyên, nhà vua chỉ biết lập đàn, ăn chay, cầu mưa Đời TựĐức, con đê Văn Giang (Hải Hưng) bị vỡ mười tám năm liền Theo Thực lụcchính biên, vào khoảng năm Tự Đức thứ 10/11, trong lúc giặc ngoại xâmđang hoành hành ở miền Nam, số người trong nước chết vì bệnh thiên thời lênđến 60 vạn Dân lưu vong bỏ làng kéo đi từng đoàn năm, bảy trăm người, cókhi vài ba nghìn người Với chính sách trọng nông, ức thương, chẳng nhũngthương nghiệp bị ức chế mà cả nông nghiệp và công nghiệp cũng không pháttriển được Luật pháp nghiêm cấm nhân dân không được làm nhà cao cửarộng, không được mặc tơ lụa, nhiễu vóc

Minh Mệnh ghi rõ những điều đó trong một điều luật mà ông ta cho

diễn ra về quốc ngữ, bắt nhân dân phải học thuộc Chẳng hạn:"Dân phường

nhà giáp đường quan,Không được làm gác trông ngang ra đường".…Khi quan trẩy, lệnh quan ban,Nhà hai bên phố buông ngày cánh rèm.…Nhà gỗ chỉ đế trơn không,Cấm không được chạm trổ bông hoa hòe.… Khoa danh khi có chút rồi,Tú, cử mới được hẳn hoi đi giày”!

Đời sống văn hóa hết sức lạc hậu Vua và triều đình chỉ biết có Tứ thưNgũ kinh, cho rằng bất luận vấn đề lớn nhỏ nào cũng đều được giải đáp trong

ấy Khai quật các mỏ vàng, bạc thì cho lập đàn cầu đỏ cho khí kim loại bốnphương tụ về Một hệ thống nhận thức tối tăm, lặc hậu bao trùm và chi phốimọi mặt đời sống vật chất và văn hóa Tự Đức đã biết đặt ra những vấn đề lớn

Trang 12

lao và cấp thiết như: phá đê hay đắp đê, mở cửa cho nước ngoài vào thôngthương hay cứ bế quan, cho giảng đạo Thiên chúa hay nghiêm cấm, cử người

đi học nước ngoài hay cứ theo lối học cổ truyền Tự Đức chẳng những bànbạn với triều đình mà cỏn hỏi ý kiến các tầng lớp sĩ phu nhưng không manglại một đáp số nào tích cực

Phải nói rằng trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, trong hệ tư tưởng Nhogiáo chính thống của triều Nguyễn, có sự rạn nứt nghiêm trọng Một bên làkhuynh hướng bảo thủ, một bên là khuynh hướng cải cách Khuynh hướngbảo thủ là khuynh hướng chính thống của nhà vua và của một số quan lại caocấp trong triều đình Họ kiên quyết bác bỏ và lên án mọi sự "đổi mới” Một

bộ phận trí thức, quan lại sau khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, đã đểcao xu hướng cải cách, mở cửa (tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ) Mâu thuẫnnảy trong hệ tư tưởng chính thống có một ý nghĩa hết sức quan trọng Nó lànền tảng của chính sách “mở cửa", hoặc "đóng cửa" trong mấy thế kỷ qua vàmãi cho đến gần đây, bi kịch đau xót ấy mới được giải quyết về cơ bản đốivới nhiều dân tộc phương Đông Và chính chính sách "đóng cửa" đã làm choViệt Nam bị mất nước

Sau khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì trong hệ tư tưởngphong kiến lại nẩy sinh những mâu thuẫn mới, gay gắt bơn Một bên là xuhướng tư tưởng đầu hàng, một bên là xu hướng tư tưởng chiến đấu giữ nước

Xu hướng tư tưởng đầu hàng cũng có nhiều cấp độ khác nhau, từ tư tưởng bánnước cầu vinh đến tư tưởng tự cảm thấy bất lực, đớn hèn, đành chịu khoanhtay không hợp tác với giặc Cũng có loại tư tưởng "tiêu cực", đầu hàng nhưngkhông khuất phục, lấy cái chết để nói lên lòng yêu nước, căm thù giặc

Những người đứng đầu triều đình như Trương Đăng Quế, Phan ThanhGiản, Trần Tiến Thành, Nguyễn Bá Nghị, Đoàn Thọ đều chủ trương "nghịhòa" tức là đầu hàng Họ lập luận: " từ xưa nhà Hán chẳng đã từ hòa vớiHung nô đó hay sao? Nhà Tống chẳng đã tự hòa với Khiết Đan đó hay sao?”

Trang 13

Cũng có những lặp luận ngớ ngẩn để bênh vực cho tư tưởng đầu hàng Họ nóirằng Pháp với ta không cùng biên giới, cách xa nhau muôn dặm, làm thế nàothôn tính lẫn nhau được? Hình bộ Thượng thư cơ mật viện đại thẩn Nguyễn

Bá Nghi giải thích lý do Pháp đánh ta là vì "lâu nay ta lạnh nhạt với họ, họ bịcác nước làng giềng chê cười nên buộc lòng họ phải đánh Họ đem quân đánh

ta là để cho được hòa?"

Thậm chí khi quân Pháp đòi ta nộp Trấn Bình Đài (tục gọi là đồn Mang

Cá ở Huế) thì Nguyễn Văn Tường lập luận: "Ta là vàng, giặc là đá, vàng nênnhường đá, chọi nhau thì vàng chỉ có hư hao dần chứ đá chẳng việc gì"

Và thất thủ Kinh đô có câu:"Cho nó trú ngụ mà chơi,Đô thành Nam Việt

có mấy đời đem được về Tây?"

Sau khi được phái vào Nam điều chỉnh với Pháp về việc chúng chiếmSài Gòn, Mỹ Tho, Nguyễn Bá Nghi gửi sớ về triều đình đề nghị phải giảnghòa Sau khi khẳng định sức mạnh của địch, y viết: “ nếu không hòa thìkhông sao ổn định được đại cuộc"(l) Có những phần tử thất bại chủ nghĩađứng hẳn về phía giặc, thúc dục Tự Đức xuống chỉ dụ giải tán tất cả các cuộckhởi nghĩa chống ngoại xâm

Bên cạnh đó xu hướng tư tưởng tích cực tức là tư tưởng phong kiến yêunước, chủ chiến cũng có nhiều khuynh hướng khác nhau Có khuynh hướngtrung thành với các nguyên tắc phong kiến cũ, có khuynh hướng bắt đầuhướng về phương Tây

Vũ Phạm Khải dâng lên Tự Đức bài Hòn Nhung luận(2) kịch liệt lên ánnhững người chủ hòa Vũ Phạm Khải nói trong một cuộc họp triều đình: "Phảitrong vòng nguy nan, vạn tử mới làm ra được vạn toàn, chứ tôi chưa nghe ainói ngồi bó tay mà có sự vạn toàn" Trong lớp người chủ chiến, cũng có một

số lập luận rất ngây thơ Họ cho rằng Pháp là loại người không có khớpxương đầu gối, không chạy được, ta rải quả mù u ra đường, chúng sẽ đạp lên

Trang 14

mà ngã lăn quay, ta cứ việc xô ra mà giết Với một trình độ nhận thức thấpnhư vậy trách gì mười lăm, hai mươi năm sau, tư tưởng ưu việt của NguyễnTrường Tộ, Ngô Đức Hậu, Nguyễn Lộ Trạch lại không trở thành tiếng kêutuyệt vọng giữa bãi sa mạc!

Phong kiến thống trị Việt Nam đã yếu đuối lại không dám dựa vào lựclượng nhân dân nên đã thất bại thảm hại Sau này có gượng dậy được thì cũng

do thực dân xâm lược đỡ lấy cái xác mềm nhũn vì một mục đích chính trịthâm độc

Khuynh hướng tư tưởng tích cực cũng chưa thoát ra khỏi hệ tư tưởngphong kiến Đánh giặc xong thì đất sẽ trở lại là đất của vua" (Vương Thô) Đó

là một ý quan trọng trong bài Hịch văn thân chống Pháp Chính vì vậy mànhững nhà kháng chiến hết sức dũng cảm như Nguyễn Xuân Ôn, NguyễnHành, Lê Ninh, Đinh Văn Chất, Vương Thúc Mận, cả những Phan ĐìnhPhùng, Hoàng Hoa Thám cuối cùng cũng đều thất bại

Rõ ràng là biến cố lịch sử trong nửa cuối thế kỷ XIX đã làm phân hóa

hệ tư tưởng phong kiến Việt Nam Có người trở thành lãnh tụ nghĩa quân hysinh ngoài chiến trường hoặc bị tử hình, có người thì rút ra từ học thuyếtKhổng Mạnh hai chữ "tùy thời" để bào chữa cho việc bán nước, cầu vinh,người có lương tâm hơn thì đành mai danh ẩn tích Những tiêu chuẩn của tưtưởng phong kiến tưởng như nghìn đời không thay đổi, đã trở thành lỗi thời.Toàn quyền Pôn Đu-me ổn định lần cuối quyền thống trị của thực dân Pháptrên toàn cõi Đông Dương Tư tưởng hưởng lạc cầu an, làm giàu, đục nướcbéo cò, vinh thân phì gia bắt đầu phát triển

Tóm lại trong thời đại suy vi của chế độ phong kiến, hệ tư tưởng phongkiến lâm vào tình trạng phân tán thành nhiều khuynh hướng khác nhau, thậmchí đối lập nhau, tiêu diệt lẫn nhau để cuối cùng đi đến tan rã Sang đầu thế kỷ

Ngày đăng: 02/12/2021, 00:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(1) Nguyên lý triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị, M. 1979, tr.329 (tiếng Nga) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý triết học Mác-Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị
(2) A.K. Ulêđôp, Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng, Nxb Tư tưởng, M. 1985, tr. 109 -110 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng
Nhà XB: Nxb Tư tưởng
(3) T.Z. Lavine, Từ Socrates đến Sartre : Sự tìm kiếm triết học, Bantoms Books, Newyork, 1989, tr.295 (tiếng Anh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ Socrates đến Sartre : Sự tìm kiếm triết học
(5) C. Mác và Ph. Ănghen, Tuyển tập, gồm 6 tập, Tập 1, Nxb Sự thật, HàNội, 1980, tr.276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Nhà XB: Nxb Sự thật
(6) Tư tưởng xã hội và chính trị của Các Mác, T4, tr. 230, 180 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng xã hội và chính trị của Các Mác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w