Trình bày quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Liên hệ thực tiễn địa phương trong việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc?. I. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM. 1. Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hoá Đại hội lần thứ VI (1986) xác định: Khoa học kỹ thuật là một động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, có vị trí then chốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh năm 1991 (Đại hội VII), Đảng ta có nhiều nhận thức mới về văn hoá: + Lần đầu tiên xác định đặc trưng nền văn hoá Việt Nam đang xây dựng là nền văn hoá: Tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. + Chủ trương xây dựng nền văn hoá mới tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú, đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ, bồi dưỡng chân thiện mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém. + Kế thừa những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá thế giới, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích và phẩm giá của con người. + Chống tư tưởng văn hoá phản tiến bộ trái với những giá trị tốt đẹp của dân tộc và nhân loại. + Xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đại hội lần thứ VII (1991) và Đại hội VIII (1996) khẳng định: Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt, là động lực đưa dân tộc thoát khỏi đói nghèo. Do vậy, sự nghiệp giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII ( 71998), chỉ ra 5 quan điểm chỉ đạo quá trình phát triển văn hoá trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX (12004) xác định: Phát triển văn hoá đồng bộ với phát triển kinh tế. Hội nghị Trung ương 10 khoá IX (72004) khẳng định: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt, không ngừng nâng cao đời sống văn hoá nền tảng tinh thần của xã hội. 2. Quan điểm chỉ đạo và chủ trương xây dựng, phát triển nền văn hoá tiên tiến dậm đà bản sắc dân tộc. Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được đề cập trong nhiều văn bản quan trọng, đặc biệt từ Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII. Trong đó, tính tiên tiến và bản sắc dân tộc được hòa quyện, gắn bó hữu cơ trong các yếu tố cấu thành của nền văn hóa, đảm bảo tính kế thừa và phát triển, vừa giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời đảm bảo tính mở, tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại. Đồng thời, nội hàm của tính tiên tiên và bản sắc văn hóa cũng được xác định rõ, phù hợp với mục tiêu, đặc điểm, truyền thống của đất nước trong quá trình đi lên CNXH. Theo đó, tiên tiến trong văn hóa trước hết là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ, nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tất cả vì con người, vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa tự nhiên và xã hội; tiên tiến không chỉ thể hiện ở nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức thể hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung. Bản sắc văn hóa dân tộc, là các giá trị đặc trưng, tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, bản chất riêng của nền văn hóa, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác, đó cũng là tổng hòa các khuynh hướng sáng tạo văn hóa, được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, thể chế chính trị…trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Bản sắc văn hóa được thể hiện rõ trong truyền thống dân tộc, là các giá trị văn hóa tiêu biểu được trao truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, được khai thác và phát huy, tiếp tục bồi đắp, tạo nên dòng chảy văn hóa của dân tộc từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Mục tiêu chung hướng đến của quá trình xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam là phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, hướng tới chânthiệnmỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có bước đi phù hợp, thích ứng với điều kiện, trình độ phát triển về kinh tế, xã hội, bối cảnh trong nước và quốc tế. Trong quá trình đó, việc từng bước xây dựng nền văn hóa tiên tiến, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Trang 1Đề tài tiểu luận: Trình bày quan điểm chỉ đạo của Đảng về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Liên hệ thực tiễn địa phương trong
việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc?
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM 3
1 Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hoá 3
2 Quan điểm chỉ đạo và chủ trương xây dựng, phát triển nền văn hoá tiên tiến dậm đà bản sắc dân tộc 3
3 Kết quả đạt được 6
II LIÊN HỆ TRỰC TIẾP VỚI ĐỊA PHƯƠNG 7
1 Thái Bình và truyền thống lâu năm 7
2 Thái Bình và nền văn hóa lâu đời 9
3 Thái Bình và công cuộc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc 11 4 Thái Bình và giải pháp nâng cao 13
KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO.
+ Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc PGS.TS Phạm Văn Linh Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương
+ Truyền thống văn hóa, văn hiến, yêu nước cách mạng của Thái Bình
https://thaibinh.gov.vn/
+ Thái Bình: Nỗ lực xây dựng và phát triển văn hóa
http://tuyengiao.vn/ Thanh Huyền
+ GIÁO TRÌNH ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Nhà xuất chính trị bản quốc gia sự thật
Trang 3©©©©©
LỜI MỞ ĐẦU.
Biết bao nhiêu thế hệ dân tộc Việt Nam đã hi sinh sinh xương máu để có được một đất nước toàn vẹn lãnh thổ như bây giờ, biết bao nhiêu sự đóng góp to lớn công lao của các anh hùng dân tộc Việt Nam, chúng ta – thế hệ trẻ ngày nay nên ý thức được vấn đề này để cải thiện bản thân và góp công sức vào việc xây dựng phát triển đất nước Để làm được điều đó, trong mỗi chúng ta luôn phải thấm nhuần tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, thấm nhuần tinh hoa văn hóa dân tộc, biết cách vận dụng vào thực tiễn đời sống và góp phần đẩy mạnh phát triển xã hội.Và đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của thế hệ trẻ bây giờ và mai sau
Người mở đường cho chúng ta hiện nay để thực hiện được trách nhiệm này không ai khác là Đảng và Nhà nước trong thời kỳ còn đấu tranh cách mạng giành độc lập và thống nhất đất nước, phát triển toàn vẹn Việt Nam theo con đường Chủ nghĩa
xã hội Ở đây, Đảng, Nhà nước Việt Nam rất coi trọng vai trò của văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, điều đó không chỉ bắt nguồn từ truyền thống lịch sử dân tộc, mà còn ở sự khẳng định trên thực tế vai trò, ảnh hưởng to lớn của văn hóa Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước qua hàng ngàn năm lịch sử Và chắc chắn rằng yếu tố văn hóa luôn luôn gắn liền trong suốt quá trình vận hành và xây dựng đất nước không chỉ trước kia, ngày nay mà còn kéo dài mãi mãi về mai sau Quay ngược thời gian, Văn hóa có vai trò “soi đường cho quốc dân đi” trong các giai đoạn của cách mạng Việt Nam Tư tưởng đó được thể hiện ngay từ buổi đầu cách mạng, khi bắt tay vào xây dựng chế độ mới, cho đến khi đất nước thống nhất, cùng với nhiều công việc cấp bách phải làm, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã quan tâm “gây dựng nền tảng văn hóa”, đã đưa ra hàng loạt những chỉ dẫn cụ thể, như nỗ lực thực hành văn hóa toàn diện, thiết thực, nhanh chóng tạo ra hiệu ứng
xã hội tích cực trong toàn dân, đem văn hóa vào dựng nước và giữ nước, “Thà hi sinh
tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; “Không có
gì quý hơn độc lập tự do”, ánh sáng văn hóa tạo nên hào khí, sức mạnh nội sinh để đánh bại kẻ thù xâm lược, đồng thời đối với nhân dân, dân tộc, đất nước thì khai tâm, khái trí, hướng con người, cộng đồng vươn tới các giá trị chân-thiện-mỹ, những giá trị phổ quát của nhân loại, là nền móng vững chắc, kích hoạt tinh thần dân tộc, đoàn kết
Trang 4thống nhất các lực lượng, thành phần trong xã hội, chuẩn bị cho các giai đoạn phát triển tiếp theo của đất nước, đưa Việt Nam sánh vai các cường quốc năm châu Trong công cuộc đổi mới đất nước, vai trò “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” tiếp tục được cụ thể hóa với nhiều nội hàm sâu sắc, phù hợp Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, sau khi đất nước đã thống nhất, với nhiều đặc điểm khác biệt, để hướng tới mục tiêu “Dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đất nước chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, phát triển; kinh tế chuyển từ kế hoạch tập trung sang mô hình kinh tế mới - kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hội nhập sâu rộng hơn vào khu vực và thế giới với nhiều thời cơ, thách thức đan xen, phải đi lên từ đặc điểm văn hóa, lịch sử, con người Việt Nam Bối cảnh đó đòi hỏi phải tiến hành công cuộc đổi mới sâu sắc, toàn diện từ tư duy, nhận thức; thể chế phát triển, đến tổ chức, bộ máy và con người thực hiện Trong toàn bộ quá trình đó, văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, có vai trò dẫn dắt, điều chỉnh, soi đường cho dân tộc, đất nước đi đến mục tiêu xác định Bản thân văn hóa cũng phải đổi mới, vừa giữ gìn, phát huy các giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Văn hóa vừa là mục tiêu, là động lực của sự phát triển, là nền tảng tinh thần của xã hội Công cuộc đổi mới cũng chính là sáng tạo văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng và ngược lại bản thân văn hóa trên một ý nghĩa phổ quát cũng chính là đổi mới
Đặc biệt, liên hệ với mỗi vùng miền, cũng đều có một phương án để bảo toàn và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Vùng quê Thái Bình từ trước, trong và sau thời kỳ cách mạng vẫn giữ nguyên được những nét đẹp văn hóa đó và tiếp tục phát huy bảo tồn giá trị văn hóa này
Trang 5I QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA VIỆT NAM.
1 Quá trình đổi mới tư duy về xây dựng và phát triển nền văn hoá
- Đại hội lần thứ VI (1986) xác định: Khoa học - kỹ thuật là một động lực to lớn
thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, có vị trí then chốt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Cương lĩnh năm 1991 (Đại hội VII), Đảng ta có nhiều nhận thức mới về văn
hoá:
+ Lần đầu tiên xác định đặc trưng nền văn hoá Việt Nam đang xây dựng là nền
văn hoá: Tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
+ Chủ trương xây dựng nền văn hoá mới tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú, đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ, bồi dưỡng chân - thiện - mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém
+ Kế thừa những truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá thế giới, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích và phẩm giá của con người
+ Chống tư tưởng văn hoá phản tiến bộ trái với những giá trị tốt đẹp của dân tộc
và nhân loại
+ Xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu
- Đại hội lần thứ VII (1991) và Đại hội VIII (1996) khẳng định: Khoa học và giáo
dục đóng vai trò then chốt, là động lực đưa dân tộc thoát khỏi đói nghèo Do vậy, sự nghiệp giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu
- Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII ( 7/1998), chỉ ra 5 quan điểm chỉ đạo quá
trình phát triển văn hoá trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX (1/2004) xác định: Phát triển văn hoá đồng bộ
với phát triển kinh tế
- Hội nghị Trung ương 10 khoá IX (7/2004) khẳng định: Phát triển kinh tế là
trung tâm, xây dựng chỉnh đốn Đảng là then chốt, không ngừng nâng cao đời sống văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội
2 Quan điểm chỉ đạo và chủ trương xây dựng, phát triển nền văn hoá tiên tiến dậm đà bản sắc dân tộc.
* Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Trang 6Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
là một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam, được đề cập trong nhiều văn bản quan trọng, đặc biệt từ Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII Trong đó, tính tiên tiến và bản sắc dân tộc được hòa quyện, gắn bó hữu cơ trong các yếu tố cấu thành của nền văn hóa, đảm bảo tính kế thừa và phát triển, vừa giữ gìn các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời đảm bảo tính mở, tiếp thu tinh hoa của văn hóa nhân loại Đồng thời, nội hàm của tính tiên tiên và bản sắc văn hóa cũng được xác định rõ, phù hợp với mục tiêu, đặc điểm, truyền thống của đất nước trong quá trình đi lên CNXH
Theo đó, tiên tiến trong văn hóa trước hết là nền văn hóa yêu nước và tiến bộ, nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, tất cả vì con người, vì tự do, hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, trong mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa tự nhiên và xã hội; tiên tiến không chỉ thể hiện ở nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức thể hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung
Bản sắc văn hóa dân tộc, là các giá trị đặc trưng, tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, bản chất riêng của nền văn hóa, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt nền văn hóa của dân tộc này với dân tộc khác, đó cũng là tổng hòa các khuynh hướng sáng tạo văn hóa, được hình thành trong mối liên hệ thường xuyên với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên, thể chế chính trị…trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Bản sắc văn hóa được thể hiện rõ trong truyền thống dân tộc, là các giá trị văn hóa tiêu biểu được trao truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, được khai thác và phát huy, tiếp tục bồi đắp, tạo nên dòng chảy văn hóa của dân tộc từ quá khứ đến hiện tại và tương lai
Mục tiêu chung hướng đến của quá trình xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam là phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, hướng tới chân-thiện-mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có bước đi phù hợp, thích ứng với điều kiện, trình độ phát triển về kinh tế,
xã hội, bối cảnh trong nước và quốc tế Trong quá trình đó, việc từng bước xây dựng nền văn hóa tiên tiến, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa hết sức quan trọng
Trang 7Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011), gọi tắt là Cương lĩnh 2011 đã chỉ rõ, để xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đòi hỏi: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người”, Nghị quyết 33-NQ/TW, khóa XI, đưa ra 5 quan điểm:
(1) Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội
(2) Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học
(3) Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, có lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân
ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo
(4) Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu
tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế
(5) Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng khẳng định: “Trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội đều phải đề cao nhân tố văn hóa, con người Mọi hoạt động văn hóa, từ bảo tồn, phát huy các di sản lịch sử, văn hóa; phát triển văn học, nghệ thuật, báo chí, xuất bản đến bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số, văn hóa tôn giáo, xây dựng các thiết chế văn hóa,… đều phải phục vụ thiết thực sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, con người”
Tóm lược lại những chủ trương của Đảng để xây dựng thành công một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta rút ra được những ý chính sau:
- Tiên tiến:
+ Yêu nước và tiến bộ, mà nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Trang 8+ Mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc, tự do và phát triển con người + Xây dựng mối quan hệ hài hoà giữa con người với cộng đồng, giữa xã hội với
tự nhiên
+ Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung
- Bản sắc văn hoá dân tộc:
+ Những giá trị, những tinh hoa của các cộng đồng dân tộc Việt Nam được vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử
+ Lòng yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết con người - gia đình - làng xã - Tổ quốc
+ Lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, cần cù sáng tạo trong lao động, tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống
+ Mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác
+ Chống văn hoá lạc hậu, lỗi thời, các phong tục, tập quán, lề thói cũ
- Vai trò của bản sắc văn hoá dân tộc với sự phát triển xã hội:
+ Bản sắc văn hoá dân tộc được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội
+ Bản sắc văn hoá dân tộc phát triển cùng sự phát triển của thể chế kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia
+ Bản sắc văn hoá dân tộc được thấm sâu trong mọi hoạt động xây dựng sáng tạo văn học nghệ thuật, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo
- Chủ trương xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: Kết hợp
giữa vấn đề bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc với mở rộng giao lưu, tiếp thu tiinh hoa văn hoá nhân loại để xây dựng và phát triển những giá trị mới của văn hoá Việt Nam
3 Kết quả đạt được.
Nhờ những định hướng đúng đắn đó, việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đạt được nhiều kết quả tích cực Đảng, Nhà nước, các cơ quan quản lý nhà nước các cấp đã bàn hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng về các lĩnh vực phát triển văn hóa
Trang 9Đến nay, cả nước có trên 40.000 di tích văn hóa được xếp hạng, trong đó có 3.491
di tích cấp quốc gia, 105 di tích quốc gia đặc biệt, 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và 12 di sản văn hóa phi vật thể, 7 di sản tư liệu được UNESCO công nhận Đáng chú ý là có 145/288 di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc thiểu số, được đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; nhiều lễ hội, sự kiện văn hóa trong và ngoài nước được tổ chức, trong đó có các lễ hội, liên hoan nghệ thuật truyền thống của các dân tộc thiểu số; hệ thống bảo tàng tiếp tục được mở rộng và ngày càng đổi mới về nội dung và hình thức trình bày, thực hiện tốt công tác giáo dục truyền thống, nâng cao giá trị văn hóa, khoa học cho người dân, nhất là thế hệ trẻ; các thiết chế văn hóa được quan tâm xây dựng và từng bước hiện đại, phát triển rộng khắp từ trung ương tới cấp
xã, bao gồm 21.084 thư viện, phòng đọc và hơn 26.000 thư viện các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, hệ thống giáo dục quốc dân, thư viện chuyên ngành Trung tâm văn hóa, nhà văn hóa không chỉ được mở rộng ở một số quốc gia, ở trong nước cũng được phát triển đến các thôn, bản; vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong xây dựng con người mới, gia đình hạnh phúc, môi trường văn hóa lành mạnh luôn được quan tâm
II LIÊN HỆ TRỰC TIẾP VỚI ĐỊA PHƯƠNG.
Với đặc điểm hình thành đất đai, từ sớm Thái Bình - miền đất hạ lưu sông Hồng
đã luôn luôn chứa đựng trong mình cả hai yếu tố song hành: thuận lợi và khó khăn Đó
là hứa hẹn to lớn về một cuộc sống định cư mở mang trước vùng đất vốn là sản phẩm bồi tụ màu mỡ của thiên nhiên Song, đó cũng lại là miền đất hoang sơ với muôn vàn hiểm nguy rình rập, thử thách như dông bão, nắng hạn, đầm lầy, lau lách, thú dữ,
1 Thái Bình và truyền thống lâu năm
Thái Bình đoàn kết cải tạo thiên nhiên, trị thủy, khai hoang lập làng Trải qua
hàng ngàn năm lịch sử, vấn đề trị thủy - khẩn hoang, lập làng, lấn biển thật sự trở thành vấn đề thường trực tất yếu, một công việc có cả bề dày kinh nghiệm, của nhiều thế hệ cư dân Thái Bình Thành quả này được các thế hệ người Thái Bình đời sau kế thừa, phát huy dưới nhiều hình thức, với những cách làm sáng tạo, mang dấu ấn đặc trưng riêng của người Thái Bình
Thái Bình cần cù, sáng tạo trong lao động - sản xuất Kết quả của sự cần cù,
sáng tạo trong lao động, đặc biệt trong truyền thống thâm canh lúa nước đã biến vùng
Trang 10đất hoang sơ Thái Bình xưa kia thành vựa lúa của cả nước Trong suốt chiều dài phong kiến, Thái Bình luôn được chọn làm kho lương thực đảm bảo quân lương cho quân đội, là căn cứ quân sự vững mạnh Và trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, thái Bình lúc nào cũng là hậu phương vững với khẩu hiệu “thóc thừa cân, quân vượt mức” Tự hào với danh hiệu “quê hương 5 tấn”, Thái Bình đang và sẽ là quê hương đi đầu trong thâm canh lúa nước
Bên cạnh trồng trọt, Thái Bình còn nổi tiếng với các nghề thủ công truyền thống như: dệt vải và tơ lụa ở Then, Mẹo (Hưng Hà); Bơn, Đọ (Đông Hưng), Cao Bạt (Kiến Xương), Bộ La (Vũ Thư); dệt chiếu làng Hới (Hưng Hà); đúc đồng An Lộng (Quỳnh Phụ); rèn sắt Cao Dương (Thái Thụy), chạm bạc Đồng Sâm (Kiến Xương); mộc ở Vế, Diệc (Hưng Hà) và Đông Hồ (Thái Thụy)
Thái Bình tinh thần thượng võ, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm bảo
vệ Tổ quốc Trong các cuộc chiến tranh ái quốc, trải qua hàng nghìn năm đương đầu
với mọi kẻ thù, cư dân trong các làng xã của Thái Bình từng sớm phải chống chọi với các đạo quân xâm lược và hải tặc từ đường biển tiến vào các cửa sông để tiến đánh sâu vào nội địa “Sóng cửa Trà, ma cửa Hộ” vốn từng là nỗi kinh hoàng của nhiều đạo quân xâm lược đến Việt Nam thuở trước Cũng chính vì vị thế chiến lược này cùng với Thái Bình là vựa lúa, kho lương của vùng mà nhiều lãnh tụ khởi nghĩa thời Bắc thuộc và
các vương triều phong kiến đều chú ý xây dựng lực lượng bố phòng trên đất Thái Bình
Thái Bình truyền thống dân chủ Tiếp nối truyền thống của cha ông, Thái Bình
đã tập trung thực hiện chương trình “điện, đường, trường, trạm, nước sạch và điện thoại”, với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, lấy người dân làm chủ và người dân là chủ trong thực hiện chủ trương này Từ điểm nóng toàn quốc về mất ổn định chính trị những năm 1997 - 1999, Thái Bình là chiếc nôi dân chủ, được Trung ương chọn làm điểm để nghiên cứu, ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay, dân chủ được phát huy tối đa với khẩu hiệu
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã mang lại những kết quả to lớn trong việc xây dựng nông nghiệp, nông dân, nông thôn, diện mạo nông thôn của tỉnh có sự đổi