1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẤN đề bất BÌNH ĐẲNG xã hội ở VIỆT NAM HIỆN NAY

29 203 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 415,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước vào thế kỉ 21, thế kỉ của hội nhập và phát triển, đất nước Việt Nam trải qua nhiều sự chuyển biến cả về kinh tế và xã hội. Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã giúp nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa khởi sắc và đạt được những thành tựu nhất định. Việt Nam nhanh chóng từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Từ 2002 đến 2018, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo (theo World Bank Group). Cùng với sự vươn lên phát triển không ngừng của nền kinh tế, các ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin cũng dần dần chiếm lĩnh những vị trí quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Việt Nam dần khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế thông qua việc giao lưu, trao đổi, mua bán với các nước phát triển, tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực. Kéo theo đó là sự phát triển như vũ bão của nhiều đô thị vừa và nhỏ. Đời sống của người dân cũng dần được cải thiện hơn. Mức sống trung bình tăng theo sự phát triển của nền kinh tế. Tuy vậy, đằng sau mặt tích cực ấy chính là vô số những bất cập xã hội ảnh hưởng đến đời sống người dân và sự phát triển mặt bằng chung của xã hội. Bất bình đẳng xã hội là một vấn đề như vậy. Đây đã và đang là vấn đề trung tâm của xã hội, thu hút sự tập trung, nghiên cứu của các nhà xã hội học, các nhà hoạch định, chính sách trong nước và cả trên thế giới.Bất bình đẳng xã hội phản ánh mặt tối của sự phát triển kinh tế và xã hội. Nó là nguyên nhân chính tạo ra những sợi dây khoảng cách giữa người với người, giữa các nhóm người, cộng đồng với nhau. Đây là cơ sở và tiền đề gây ra những tệ nạn xã hội, làm bất bình ổn xã hội. Vì vậy, việc cân bằng và duy trì sự phát triển nền kinh tế với công bằng xã hội chính là mục tiêu cao cả và lớn lao mà đất nước ta và toàn thế giới đang tích cực hướng đến.

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Điểm:

KÝ TÊN

Trang 3

MỤC LỤC

Phần 1 Mở đầu 3

1.1 Lý do chọn đề tài 3

1.2 Mục đích nghiên cứu 4

1.3 Phương pháp nghiên cứu 4

Phần 2 Nội dung 5

2.1 Các khái niệm liên quan 5

2.2 Nội dung 5

2.2.1 Bất bình đẳng về việc làm 5

2.2.1.1 Thực trạng 5

2.2.1.2 Nguyên nhân 8

2.2.2 Bất bình đẳng về thu nhập 10

2.2.2.1 Thực trạng 10

2.2.2.2 Nguyên nhân 15

2.2.2.3 Hậu quả 16

2.3 Giải pháp 18

2.3.1 Bất bình đẳng về việc làm 18

2.3.2 Bất bình đẳng về thu nhập 21

Phần 3 Kết luận 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 4

Phần 1 Mở đầu

1.1 Lý do chọn đề tài

Bước vào thế kỉ 21, thế kỉ của hội nhập và phát triển, đất nước Việt Nam trảiqua nhiều sự chuyển biến cả về kinh tế và xã hội Đổi mới kinh tế và chính trị từnăm 1986 đã giúp nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa khởisắc và đạt được những thành tựu nhất định Việt Nam nhanh chóng từ một trongnhững quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bìnhthấp Từ 2002 đến 2018, GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm

2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo (theo World Bank Group) Cùng với

sự vươn lên phát triển không ngừng của nền kinh tế, các ngành khoa học kỹthuật và công nghệ thông tin cũng dần dần chiếm lĩnh những vị trí quan trọngtrong sự phát triển của đất nước Việt Nam dần khẳng định vị thế của mình trêntrường quốc tế thông qua việc giao lưu, trao đổi, mua bán với các nước pháttriển, tham gia vào các tổ chức quốc tế và khu vực Kéo theo đó là sự phát triểnnhư vũ bão của nhiều đô thị vừa và nhỏ Đời sống của người dân cũng dần đượccải thiện hơn Mức sống trung bình tăng theo sự phát triển của nền kinh tế Tuyvậy, đằng sau mặt tích cực ấy chính là vô số những bất cập xã hội ảnh hưởngđến đời sống người dân và sự phát triển mặt bằng chung của xã hội Bất bìnhđẳng xã hội là một vấn đề như vậy Đây đã và đang là vấn đề trung tâm của xãhội, thu hút sự tập trung, nghiên cứu của các nhà xã hội học, các nhà hoạch định,chính sách trong nước và cả trên thế giới

Bất bình đẳng xã hội phản ánh mặt tối của sự phát triển kinh tế và xã hội

Nó là nguyên nhân chính tạo ra những sợi dây khoảng cách giữa người vớingười, giữa các nhóm người, cộng đồng với nhau Đây là cơ sở và tiền đề gây ranhững tệ nạn xã hội, làm bất bình ổn xã hội Vì vậy, việc cân bằng và duy trì sựphát triển nền kinh tế với công bằng xã hội chính là mục tiêu cao cả và lớn lao

mà đất nước ta và toàn thế giới đang tích cực hướng đến

Trang 5

Bước đầu tiếp cận với môn Nhập môn Xã hội học, chúng em được nghiêncứu, tìm hiểu về sự phát triển của ngành khoa học quan trọng này, nhận ra vaitrò quan trọng của nó trong đời sống xã hội cũng như biết ứng dụng một số vấn

đề có tính thực tế vào đời sống Qua quá trình học tập và tìm hiểu, chúng emnhận thấy bất bình đẳng xã hội là một vấn đề nóng, có sức hút cũng như luôn tạo

ra được sự quan tâm của toàn thể xã hội Vì vậy, chúng em quyết định chọn đềtài “Vấn đề bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam hiện nay (việc làm, thu nhập)” đểlàm đề tài tiểu luận kết thúc học phần dưới sự giảng dạy và hướng dẫn của cô.Nhóm em xin chân thành cảm ơn cô

1.2 Mục đích nghiên cứu

Tiểu luận của chúng em hướng đến vấn đề nổi trội của xã hội, đặc biệt trongbối cảnh đại dịch Covid toàn cầu hiện nay, đó là bất bình đẳng xã hội trong lĩnhvực việc làm và thu nhập kinh tế Mục tiêu của bài tiểu luận này là tìm hiểu vềbất bình đẳng xã hội ở Việt Nam dựa trên quan niệm về bất bình đẳng xã hội củacác nhà xã hội học trên hai lĩnh vực, từ đó phân tích, nhận diện được thực trạng,nguyên nhân gây ra nó để đề xuất ra các giải pháp, phương hướng để góp phầngiảm thiểu bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận có sử dụng một số phương pháp như: phương pháp luận nghiêncứu khoa học, phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp nghiên cứu địnhlượng, phương pháp quan sát, phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết,phương pháp nghiên cứu thực tiễn, phương pháp điều tra và tổng hợp kinhnghiệm

Trang 6

Phần 2 Nội dung

2.1 Các khái niệm liên quan

Bất bình đẳng xã hội là sự không bình đẳng, không công bằng, sự khôngbằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong mộtnhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội

Bất bình đẳng về thu nhập là sự chênh lệch lớn về phân phối thu nhập, vớiphần lớn tổng thu nhập trong nền kinh tế tập trung trong tay một nhóm ngườichiếm tỉ lệ nhỏ trong tổng dân số

Bất bình đẳng về việc làm là sự chênh lệch về cơ hội việc việc làm giữa cáclớp khác nhau trong xã hội

Theo bà Valentina Barcucci, Chuyên gia Kinh tế Lao động của ILO ViệtNam, tác giả chính của nghiên cứu: “Trước đại dịch COVID-19, cả phụ nữ vànam giới đều tiếp cận việc làm khá dễ dàng, nhưng nhìn chung, chất lượng việclàm của phụ nữ thấp hơn của nam giới”

Lao động nữ chiếm đa số trong những việc làm dễ bị tổn thương, đặc biệt làcông việc gia đình Thu nhập của họ thấp hơn của nam giới (tiền lương thángthấp

Trang 7

hơn 13,7% trong năm 2019) bất luận thời giờ làm việc là tương đương với namgiới và chênh lệch giới về trình độ học vấn đã được thu hẹp đáng kể Tỷ lệ phụ

nữ đảm nhận các vị trí ra quyết định còn quá thấp Phụ nữ chiếm gần một nửalực lượng lao động nhưng chỉ đảm nhận chưa đến một phần tư vị trí lãnh đạo,quản lý chung

Phụ nữ dành trung bình mỗi tuần 20,2 giờ để dọn dẹp nhà cửa, giặt quần áo,nấu ăn và đi chợ, chăm sóc gia đình và con cái trong khi nam giới chỉ dành 10,7giờ cho những công việc này Gần một phần trăm nam giới thậm chí không hềdành chút thời gian nào cho việc nhà

Ngoài ra, những mẩu tin tuyển dụng phân biệt giới tính (chỉ tuyển nam hoặcnữ) cũng khá phổ biến trên các trang mạng việc làm nội địa Cụ thể, theo thống

kê của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), 1/5 trong tổng số trên 12.300 quảngcáo tuyển dụng từ giữa tháng 11/2014 đến giữa tháng 1/2015 của những trangmạng việc làm tại Việt Nam có đưa ra yêu cầu về giới tính Điều đáng buồn làngoài một số vị trí đặc thù, có một lượng lớn yêu cầu tuyển dụng theo giới tínhđến từ định kiến của nhà tuyển dụng

Đáng chú ý hơn là đối với các ngành quân đội, việc tuyển dụng, đào tạo nữgiới rất khắc khe và chỉ tiêu rất ít

b Bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn về việc làm

Theo nghiên cứu, các tỉnh có mức GDP bình quân đầu người càng cao thìcàng đem lại cơ hội việc làm tốt hơn cho người trẻ Đồng thời, lao động trẻ ởnhững nơi có mức độ tập trung doanh nghiệp cao đều có cơ hội tốt hơn trongviệc tìm kiếm công việc gián tiếp Hơn nữa, người lao động trẻ sinh sống ởthành thị cũng có cơ hội tìm công việc gián tiếp kỹ năng thấp cao hơn 3,47 lần

và gián tiếp kỹ năng cao 1,78 lần so với người lao động ở nông thôn có các điềukiện tương đồng nhau về mặt bằng cấp, điều kiện gia đình, giới tính

Trang 8

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố chất lượng đào tạo nghề cấp tỉnh tớikhả năng chọn nghề của thanh niên, nhóm tác giả nhận thấy một tín hiệu đángmừng là lao động trẻ ở những tỉnh có chất lượng đào tạo nghề tốt hơn thì có khảnăng chọn công việc lao động gián tiếp (bao gồm cả kỹ năng thấp và cao) tốthơn các tỉnh còn lại “Do vậy, từ những phát hiện của nghiên cứu này, chúng tôiđưa ra một số khuyến nghị: một mặt chính quyền địa phương phải tập trungnâng cao chất lượng đào tạo nghề, đồng thời liên tục cải thiện môi trường kinhdoanh, thu hút đầu tư để tăng mật độ tập trung doanh nghiệp thì mới mang lại cơhội công bằng hơn cho giới trẻ trong việc chọn nghề”, TS Trần Quang Tuyến

nói

c Một số bất bình đẳng về việc làm khác

Ngoài ra chúng ta còn bất gặp những hiện trạng bất bình đẳng về việc làm,

ví dụ như trường hợp sau đây:

- Có hai anh A và anh B cùng nộp chung vào một công ty xin việc làm, xét

về kỹ năng, trình độ… Có thể thấy anh A hơn hẳn anh B nhưng tại sao anh Blại được nhận làm việc và anh A lại không được

- Cũng một tình huống như trên giả sử 2 anh đều được nhận vào tại sao anh

A lại có chức vụ, lương bổng thấp hơn anh B

- Tại sao người nhận được nhiều công việc hơn lương lại thấp hơn người ítcông việc

Trang 9

- Tôi đã từng bắt gặp một vài trường hợp rằng trong cùng một công ty cả hai có thể nói là cùng một nhưng tại sao mức độ giao công viêc lại khác,

Đó cũng là thực trạng đáng báo động hiện nay mà rất ít các bài báo nào đưa tin để phản ánh hiện tượng này

2.2.1.2 Nguyên nhân

Xã hội được phân chia dưới dạng rất nhiều tầng lớp như nông thôn – thành thị, giàu – nghèo, người có chức quyền – người không có quyền lực, nam – nữ,

…cho nên sự bất bình đẳng về việc làm là không thể tránh được

Đối với bất bình đẳng nữ giới về việc làm, hầu hết nhiều người quan niệmrằng người phụ nữ chỉ nên làm sinh con, đẻ cái, làm nội trợ gia đình, nếu có đilàm chỉ nên làm gần nhà để tiện bề chăm sóc, những việc đi ra đường kiếm tiền

là việc của người đàn ông, cộng thêm chỉ số IQ của nam giới cao hơn nữ giới ….Chính vì thế nam giới được ưa chuộng, được tăng khả năng tìm kiếm việc làm,được giao những công việc có tầm quan trọng, được giữ chức vụ và mức lươngcao hơn so với nữ giới

Đối với nông thôn và thành thị, chúng ta có thể thấy thành thị là nơi có mứcsống cao, phát triển với nhiều công ty, xí nghiệp, máy móc hiện đại tân tiến,được tiếp thu với các thành tựu khoa học kỹ thuật sớm, dẫn đến người dân sốngtrong khu vực này được đào tạo bài bản, chất lượng học tốt Ngược lại thành thị,nông thôn là một vùng kém phát triển hơn, khi các công việc chiếm phần lớn củangười

Trang 10

dân vùng này lại là trồng trọ và làm việc ở vài nhà máy mở ra lẻ tẻ…dẫn đếnmức sống rất thấp, nhiều người trẻ còn phải giúp đỡ gia đình, nên việc học tậprất hạn chế Qua đó có thể thấy khả năng tìm kiếm, nhu cầu việc làm của thànhthị cao hơn hẳn so với nông thôn, chưa kể tới việc thu nhập so với tính chất côngviệc của hai vùng này Điều này dẫn đến tình trạng những người dân ở vùng này

ồ ạt kéo lên thành thị để kiếm việc làm vì thiếu việc làm

Ngoài ra nguyên nhân của sự bất bình đẳng còn do mức sống của từng giađình, có người bố làm giám đốc, công an, bác sĩ,…có người thì gia đình chỉ làmnông, buôn bán nhỏ,… Với mức sống chênh lệch như vậy dẫn đến rất nhiều tìnhtrạng như: con nối nghề bố, tầng lớp trẻ không quyết định được việc làm củamình; “con ông cháu cha”, lợi dụng quan hệ và tiền bạc xin việc cho con; ngườihoàn cảnh không may mắn lại có vị trí thấp, nhiều khi không nhận được côngviệc như mong muốn

2.2.1.3 Hậu quả

Trong cuộc sống hiện nay, bất bình đẳng về việc làm gây ra một hệ luỵkhông hề nhỏ Tuy nhận thức về bình đẳng nam nữ đã được nâng cao, nhưng bấtbình đẳng vẫn còn đang thấp thoáng ở mỗi nếp nhà, mỗi nơi làm việc, hoặc cảmột cộng đồng Luật Bình đẳng giới cũng quy định rằng, nam giới và phụ nữđược đối xử bình đẳng tại nơi làm việc, về mặt tuyển dụng, tiền lương, tiềnthưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện làm việc, đào tạo và thăng tiến Tuy nhiêntrên thực tế, lao động nữ khu vực phi chính thức hầu như không biết đến cácquyền cơ bản của mình, bị lợi dụng và xâm hại

Nhìn chung, việc làm của nữ giới kém ổn định hơn, ít được bảo vệ hơn, vàđược trả công thấp hơn so với nam giới Phụ nữ cũng nắm giữ rất ít trong sốnhững công việc ra quyết định (dưới một phần tư), kể cả trong chính quyền cũngnhư trong kinh doanh Tất cả những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sựtham gia và chất lượng công việc của lao động nữ Một trong những yếu tố chủchốt quyết định bất bình đẳng giới ở Việt Nam là việc xã hội giao trọn nhiệm vụchăm

Trang 11

sóc gia đình cho người phụ nữ Các chuẩn mực xã hội như việc phụ nữ phải làmcác công việc nhà, chăm sóc con cái hay phải đảm bảo cân bằng việc nhà và việc

xã hội là những khó khăn của phụ nữ khi nắm bắt các cơ hội việc làm bền vững.Việc gắn chặt phụ nữ với vai trò này đã hạn chế các cơ hội của họ trong học tập,theo đuổi sự nghiệp, tham gia xã hội và chính trị Sự mất cân đối, không hài hoàgiữa đời sống gia đình và công việc; những lấn cấn bất đồng trong phân côngcông việc giữa người đàn ông và người phụ nữ trong gia đình; thiếu sự nhườngnhịn, thông cảm, sẻ chia cũng dẫn đến nhiều bất ổn Ai cũng cho rằng mình cóquyền ra ngoài làm việc, có quyền tự do cá nhân, có quyền mưu cầu niềm vui,hạnh phúc cho riêng mình, không có sự thoả hiệp, khoan nhượng, từ đó xảy ratranh chấp, bất hoà, đưa đến tình trạng đổ vỡ hôn nhân hoặc chấp nhận chungsống nhưng không chung lòng Người người phụ nữ ngày càng có những suynghĩ, chấp niệm sai lầm rằng chồng, bạn trai có quyền được quyết định, cóquyền nhận được những đặc quyền, những cơ hội trong việc làm Nếu không cónhững biện pháp can thiệp kịp thời, bất bình đẳng giới về việc làm sẽ tạo nênmột vòng luẩn quẩn về tư tưởng, về suy nghĩ của con người về nam và nữ, làmcho việc phân biệt nam, nữ trở nên một bình thường hoá, gây nên một hệ luỵkhó lường cho thế hệ sau

có mức bình quân 6,78% trong giai đoạn 2016-2019 và 2,91% năm 2020 thuộcmức cao nhất thế giới trong thời đại đại dịch bùng nổ Vì thế trong giai đoạn2016- 2019 thu nhập của người lao động hưởng lương có xu hướng tăng, tỷ lệthất nghiệp, tỷ lệ thiếu việc làm giảm

Trang 12

Vấn đề bất bình đẳng về thu nhập ở nước ta luôn được Đảng và Nhà nướcquan tâm xuyên suốt từ ba thập kỷ vừa qua, lấy một số liệu điển hình là từ năm

1993 đến 2006 hệ số GINI của Việt Nam luôn giữ trong khoảng dưới 0,45

Bảng 1: Hệ số Gini theo chi tiêu và thu nhập của Việt Nam

Nguồn: Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) từ năm 1993 đến 2006

Và đến hiện nay nước ta vẫn duy trì được mức ổn định bất bình đẳng về thunhập, không có quá nhiều biến động trong thời gian dài, hệ số vẫn nằm ở khoảng

an toàn và phù hợp để vừa phát triển nền kinh tế vừa thực hiện được công bằng

xã hội Từ năm 2016 đến năm 2019 hệ số GINI chung của cả nước giảm từ0,431 xuống 0,423 và đáng chú ý là giảm mạnh từ 0,423 năm 2019 xuống chỉcòn 0,373 năm 2020

Không chỉ được đánh giá và đo lường qua hệ số GINI, bất bình đẳng về thunhập còn được tính bởi số liệu chênh lệch số lượng thu nhập giữa nhóm 1 vànhóm

5 Nhóm 1 là nhóm có thu nhập thấp nhất (nghèo nhất) và nhóm 5 là nhóm cóthu nhập cao nhất (giàu nhất) Dựa vào bảng số liệu, nhìn chung trong các nămgần đây cả nhóm thu nhập thấp và cao đều có mức tăng về thu nhập bình quânđầu người một tháng, tuy nhiên khoảng cách giữa nhóm thu nhập thấp nhất vàthu nhập cao nhất vẫn rất lớn Đỉnh điểm là nhóm 5 có thu nhập gấp 10,2 lầnnhóm 1 vào năm 2019, còn trong năm 2020 chỉ là gấp 8 lần do ảnh hưởng vôcùng mạnh

Trang 13

mẽ của dịch bệnh Đó là một con số rất không an toàn về bất bình đẳng tuyệt đối

và cần phải có biện pháp khắc phục về mức chênh lệch khổng lồ này

Bảng 2: Chênh lệch giữa nhóm thu nhập thấp nhất và nhóm thu nhập cao nhất

giai đoạn 2016-2020

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê

b Bất bình đẳng nông thôn và thành thị

Nông thôn và thành thị thường có trình độ phát triển chênh lệch nhau khá lớn,

sự khác nhau về mật độ dân số, về công việc, cũng như nhịp sống ảnh hưởng trựctiếp hoặc gián tiếp đến hệ số GINI

Bảng 3: Hệ số GINI theo khu vực giai đoạn 2016-2020

Nguồn: Tổng Cục Thống KêBảng số liệu trên cho thấy hệ số bất bình đẳng trong những năm gần đây ởnông thôn luôn cao hơn thành thị Có sự khác nhau này là bởi ở thành thị ngườidân bình đẳng hơn, có cơ hội được tiếp xúc với nền giáo dục tiên tiến, dẫn đến

Năm 2016 2018 2019 Sơ bộ 2020

Chung 0.431 0.425 0.423 0.373

Thành thị 0.391 0.373 0.373 0.325

Nông thôn 0.408 0.408 0.415 0.373

Trang 14

trình độ học vấn cao hơn, hiểu biết hơn về công bằng trong xã hội, có nhiều cơhội việc làm phù hợp với kỹ năng được giáo dục Còn ở nông thôn nguyên nhângây ra bất bình đẳng là do nông dân không có đất hoặc là mất đất, mà công việcchính ở đây là nông nghiệp nên người dân bị thất nghiệp không thể kiếm đượcthu nhập liên tục Nông dân bỏ ruộng đất, không tiếp tục việc canh tác bởi việcsản xuất nông nghiệp thường vất vả, khó khăn, phụ thuộc nhiều vào thời tiếtmùa vụ mà hiện nay lại xảy ra biến đổi khí hậu trên toàn cầu nên dẫn đến việcngười dân ở nông thôn đi lên thành thị sống và kiếm việc làm ở các nhà máy xínghiệp, kết quả là làm tăng thu nhập cũng như chi tiêu của những hộ gia đình cóngười đi làm ở thành thị dẫn đến bất bình đẳng thu nhập với những hộ không cóngười di cư và trong năm 2020 GINI của thành thị là 0,325 còn ở nông thôn là0,373 Không chỉ vậy sự phân hóa giàu nghèo giữa hai khu vực vẫn còn thể hiện

rõ rệt Lấy ví dụ điển hình trong năm 2020, ở nông thôn thu nhập của nhóm giàunhất gấp 8 lần so với nhóm nghèo nhất, còn ở thành thị con số này là 5,3 lần vàkhoảng cách này ngày càng khó để thu hẹp lại

c Bất bình đẳng theo vùng

Bảng 4: Hệ số GINI theo vùng giai đoạn 2016-2020

Nguồn: Tổng Cục Thống Kê

Ngày đăng: 01/12/2021, 17:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. TS. Bùi Thị Mừng, “Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động - Góc nhìn từ thực tiễn thực hiện pháp luật”,https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=686, 17/7/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực laođộng - Góc nhìn từ thực tiễn thực hiện pháp luật”
2. Tổng Cục Thống Kê, “Xu hướng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở việt nam giai đoạn 2016-2020”,https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2021/06/xu-huong-bat-binh-dang-trong-phan-phoi-thu-nhap-o-viet-nam-giai-doan-2016-2020/,17/06/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng Cục Thống Kê, "“Xu hướng bất bình đẳng trong phân phối thu nhậpở việt nam giai đoạn 2016-2020”
3. Chủ biên: TS. Giang Thanh Long, TS. Lê Hà Thanh, VƯỢT QUA BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam, Nxb Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: VƯỢT QUA BẪYTHU NHẬP TRUNG BÌNH: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giaothông vận tải
4. Nguyễn Tấn Văn, “Mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”,http://thuvien.due.udn.vn:8080/dspace/ bitstream/TVDHKT /29456/1/TOM%20TAT.pdf , 19/12/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”
5. TS. Nguyễn Thị Thái Hưng, “Bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và khuyến nghị” ,https://tapchicongthuong.vn/bai-viet/bat-binh-dang-thu-nhap-o-viet-nam-hien-nay-thuc-trang-va-khuyen-nghi-73240.htm, 12/07/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và khuyến nghị”
6. Tổng cục dân số - Kế hoach hóa gia đình, “Đảm bảo bình đẳng về thu nhập và tư duy chính sách theo hướng tiếp cận dân số và phát triển ở Việt Nam”, http://gopfp.gov.vn/chi-tiet-an-pham/-/chi-tiet/%C4%91am-bao-binh-%C4%91ang-ve-thu-nhap-va-tu-duy-chinh-sach-theo-huong-tiep-can-dan-so-va-phat-trien-o-viet-nam-8301-3306.html, 01/04/2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đảm bảo bình đẳng về thu nhập và tư duy chính sách theo hướng tiếp cận dân số và phát triển ở Việt Nam”
7. PGS.TS. Nguyễn Thị Thu Hà, ThS. Nguyễn Văn Thục, “Quản lý phát triển xã hội về bất bình đẳng, phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế”, http://hdll.vn/vi/nghien-cuu---trao-doi/quan-ly-phat-trien-xa-hoi-ve-bat-binh-dang-phan-tang-xa-hoi-o-nuoc-ta-trong-dieu-kien-phat-trien-kinh-te-thi-truong-xay-dung-nha-nuoc-phap-quyen-va-hoi-nhap-quoc-te.html, 04/07/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Quản lý phát triển xã hội về bất bình đẳng, phân tầng xã hội ở nước ta trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế”
8. Phạm Thị Ly, Phan Văn Thắng, “Bất Bình Đẳng trong giáo dục là nguồn gốc của bạo lực và bất ổn xã hội”,http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/dien-dan/28- van-hoa-hoc-duong/12878-bat-binh-dang-trong-giao-duc-la-nguon-goc-cua-bao-luc-va-bat-on-xa-hoi%20), 31/01/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thị Ly, Phan Văn Thắng, "“Bất Bình Đẳng trong giáo dục là nguồn gốc của bạo lực và bất ổn xã hội”
9. Hằng Hà, “Bất bình đẳng thu nhập (Income Inequality) là gì? Ví dụ về bất bình đẳng thu nhập”,https://vietnambiz.vn/bat-binh-dang-thu-nhap-income-inequality-la-gi-vi-du-ve-bat-binh-dang-thu-nhap-20191107095651009.htm, 07/11/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hằng Hà, "“Bất bình đẳng thu nhập (Income Inequality) là gì? Ví dụ về bấtbình đẳng thu nhập”
10. Văn phòng Hà Nội, Trung tâm thông tin, “Đại dịch COVID-19 hằn sâu bất bình đẳng giới hiện hữu, tạo thêm những bất bình đẳng mới ở Việt Nam”, https://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/Pressreleases/WCMS_774577/lang--vi/index.htm, 04/03/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đại dịch COVID-19 hằn sâu bất bình đẳng giới hiện hữu, tạo thêm những bất bình đẳng mới ở Việt Nam”
11. TS. Trần Quan Tiến, “Bất bình đẳng về cơ hội lựa chọn nghề của lao động trẻ”,https://tapchitoaan.vn/bai-viet/van-de-thoi-su-thoi-su/bat-binh-dang-ve-co-hoi-lua-chon-nghe-cua-lao-dong-tre , ngày 1 tháng 5 năm 2018, tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Trần Quan Tiến, "“Bất bình đẳng về cơ hội lựa chọn nghề của lao động trẻ”
12. TS. Hồ Thị Hoà, “Mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên”,https://www.slideshare.net/trongthuy1/moi-quan-he-bat-binh-dang-ve-thu-nhap-va-tang-truong-kinh-te, 25/04/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Hồ Thị Hoà, "“Mối quan hệ bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Tây Nguyên”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Hệ số GINI theo khu vực giai đoạn 2016-2020 - VẤN đề bất BÌNH ĐẲNG xã hội ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Bảng 3 Hệ số GINI theo khu vực giai đoạn 2016-2020 (Trang 13)
Bảng 2: Chênh lệch giữa nhóm thu nhập thấp nhất và nhóm thu nhập cao nhất giai đoạn 2016-2020 - VẤN đề bất BÌNH ĐẲNG xã hội ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Bảng 2 Chênh lệch giữa nhóm thu nhập thấp nhất và nhóm thu nhập cao nhất giai đoạn 2016-2020 (Trang 13)
Bảng 4: Hệ số GINI theo vùng giai đoạn 2016-2020 - VẤN đề bất BÌNH ĐẲNG xã hội ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Bảng 4 Hệ số GINI theo vùng giai đoạn 2016-2020 (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w