1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tình hình ngân quỹ và chứng khoán của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) giai đoạn 2011 – 2013

12 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 40,99 KB
File đính kèm tình hình ngân quỹ chứng khoán BIDV.rar (39 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích tình hình ngân quỹ và chứng khoán của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) giai đoạn 2011 – 2013 A. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM B. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH NGÂN QUỸ VÀ CHỨNG KHOÁN CỦA BIDV I. Phân tích tình hình ngân quỹ 1. Tổng quan về ngân quỹ 2. Tình hình ngân quỹ cùa Ngân hàng BIDV II. Phân tích tình hình chứng khoán 1. Tổng quan về chứng khoán 2. Tình hình chứng khoán của BIDV

Trang 1

Danh sách tổ 1 nhóm I

1 Đỗ Thị Mai Anh

2 Trần Mai Anh

3 Bùi Hồng Chiêm

4 Lương Minh Đại

5 Vũ Văn Đạt

6 Vũ Thuỳ Dung (Nhóm trưởng)

7 Đỗ Thị Duyên

8 Nguyễn Thị Hương

9 Đào Thị Xuân Hương

10 Cao Thị Mỹ Hạnh

11 Đoàn Thảo Ngọc Trang

12 Lê Thanh Yến

13 Nguyễn Thị Trang (TN6A3)

Câu hỏi thảo luận

Phân tích tình hình ngân quỹ và chứng khoán của Ngân hàng Đầu tư và

Phát triển Việt Nam (BIDV) giai đoạn 2011 – 2013

Trang 2

Trả lời

A TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) được thành lập vào tháng 4 năm 1957 với chức năng ban đầu là cấp phát và quản lý vốn kiến thiết

cơ bản từ nguồn vốn ngân sách phục vụ tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội Cho đến nay, BIDV vẫn là Ngân hàng đi đầu trong việc thực hiện các chính sách về kinh tế vĩ mô của Chính phủ

Sau 54 năm phát triển, BIDV đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại (NHTM) lớn nhất tại Việt Nam với mức vốn điều lệ hiện tại là

12.948 tỷ đồng Tổng tài sản của Ngân hàng cũng đã tăng tương ứng lên

398.583 tỷ đồng tại thời điểm 30/09/2011 BIDV có nguồn nhân lực ổn định với 85,29% trong tổng số 16.505 cán bộ có trình độ đại học và sau đại học

Các hoạt động kinh doanh chính:

+ Dịch vụ tài khoản, thẻ + Dịch vụ bảo lãnh, thanh toàn quốc tế + Dịch vụ huy động + Dịch vụ chuyển tiền, mua bán ngoại tệ + Dịch vụ cho vay

Mô hình kinh doanh của BIDV bao gồm các công ty con và liên doanh trong tất cả các lĩnh vực của dịch vụ tài chính như cho thuê tài chính (BLC, BLC II), chứng khoán (BSC), quản lý tài sản (BAMC), bảo hiểm (BIC) và các liên doanh (VID public, NH Lào – Việt, NH Việt – Nga)

Hiện tại, BIDV vẫn là ngân hàng 100% vốn của Nhà nước Sau đợt phát hành cổ phiếu ra công chúng ở giai đoạn 1, Nhà nước vẫn là cổ đông lớn nhất của BIDV với 78% cổ phần Ngoài ra, 4% được phát hành cho Công đoàn và cán bộ công nhân viên và 15% dành cho đối tác chiến lược nước ngoài Trong khi đó, chỉ có 3% cổ phần của BIDV được chào bán ra công chúng và các nhà đầu tư nên cân nhắc tính thanh khoản của cổ phiếu BIDV do Ngân hàng dự kiến đến tháng 6 năm 2012 mới niêm yết

Trang 3

Vị thế trong ngành:

BIDV nằm trong top 3 NH đứng đầu về cho vay, huy động và tổng tài sản:

BIDV có thị phần huy động và cho vay lớn thứ 2 trong hệ thống ngân hàng sau Agribank trong năm 2010, đạt lần lượt 11,1% và 11,4% Tổng tài sản của BIDV cũng chỉ đứng sau Agribank và Vietinbank

BIDV có lợi thế trong việc tiếp cận các nguồn vốn hấp dẫn như vốn ODA

và sở hữu một cơ sở khách hàng tương đối ổn định, bao gồm các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn, cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ Một số khách hàng lớn của BIDV có thể kể đến như Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam, EVN, Viettel, VNPT, Vietnam Airlines, Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), Tập đoàn phát triển Nhà và Đô thị Việt Nam (HUD)

BIDV có mạng lưới hoạt động lớn thứ 3, chỉ sau Agribank và Vietinbank:

Tận dụng lợi thế về mạng lưới hoạt động rộng khắp cả nước với 114 chi nhánh, 373 phòng giao dịch và 1.295 máy ATM, BIDV đã phát triển các các dịch vụ ngân hàng cốt lõi về sản phẩm điện tử như ngân hàng trực tuyến, dịch vụ ngân hàng sms, máy nộp tiền hay thẻ Master nhằm đạt được mục tiêu trở thành Ngân hàng bán lẻ hàng đầu vào năm 2015

Các chỉ số sinh lời ROA, ROE thấp hơn so với các NH lớn khác như VCB,

Vietinbank:

Trong năm 2010, ROA và ROE của BIDV lần lượt là 1,03% và 15,51% Điều này được lý giải bởi chính sách phát triển thận trọng của BIDV cũng như vai trò đặc biệt của Ngân hàng trong việc hỗ trợ Chính phủ thực hiện các chính sách tiền tệ

Thêm vào đó, BIDV vẫn chưa tận dụng được hoàn toàn những thế mạnh của mình để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh, trong khi VCB có lợi thế về kinh doanh ngoại hối và các hoạt động kinh doanh phi tín dụng và Vietinbank thì tận dụng được mức chênh lệch cao giữa lãi suất cho vay và huy động

Trang 4

B PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH NGÂN QUỸ VÀ CHỨNG KHOÁN CỦA BIDV

I Phân tích tình hình ngân quỹ

1 Tổng quan về ngân quỹ

Theo luật định, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác phải duy trì một phần tài sản cả họ dưới hình thức dự trữ pháp định gồm tiền mặt hoặc tiền gửi Ngân hàng Nhà nước hoặc các tổ chức tín dụng khác Phần tài sản này chính là ngân quỹ Mục đích của việc duy trì loại tài sản này là nhằm đáp ứng các nhu cầu rút tiền thoả mãn các nhu cầu xin vay mới và chi trả chi phí cho các hoạt động khác của ngân hàng

Ngân quỹ gồm các loại chủ yếu sau: tiền mặt tại két sắt, tiền đúc, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các ngân hàng khác và tiền mặt trong quá trình thu Tiền mặt trong két sắt là một tài sản quan trọng của khoản mục ngân quỹ Tiền mặt được duy trì ở ngân hàng để đáp ứng một phần yêu cầu dự trữ pháp định Vì lý do sinh lời

mà các nhà quản lý ngân hàng giữ nó ở một tỷ lệ nhất định đảm bảo thanh khoản Ngoài ra, việc giữ tiền mặt còn phải giải quyết vấn đề an toàn và chi phí bảo quản Tuy nhiên trong quá trình kinh doanh tiền mặt đóng vai trò quan trọng

Ngân quỹ bao gồm những tài sản thanh khoản nhất của NHTM, được bổ sung thường xuyên từ các dòng tiền vào ngân hàng như gia tăng các khoản tiền gửi, vay, thu nợ, chứng khoán do ngân hàng nắm giữ đến hạn thanh toán… và cũng được sử dụng thường xuyên để chi trả, cho vay, đầu tư…

Ngân quỹ gia tăng (hoặc giảm sút) có thể do nhiều yếu tố khách quan như: thời vụ, chu kỳ kinh doanh, thu nhập của khách hàng, thay đổi trong các quyết định của cơ quan quản lý, hoặc trong hệ thống ngân hàng… hoặc do ngân hàng quyết định gia tăng (hoặc giảm ngân quỹ) theo chiến lược dự trữ mà ngân hàng đang theo đuổi

Trang 5

2 Tình hình ngân quỹ cùa Ngân hàng BIDV

Chỉ tiêu

Giá trị

Tỷ trọng trong ngân quỹ

Giá trị

Tỷ trọng trong ngân quỹ

Giá trị

Tỷ trọng trong ngân quỹ

Giá trị

Tỷ trọng trong ngân quỹ

I Tiền mặt, vàng bạc, đá

II Tiền gửi tại NHNN 8,109,792 11.7% 7,240,214 10.6% 16,380,923 22% 12,834,854 20% III Tiền gửi và cho vay các

TCTD khác 57,788,691 83.6% 57,580,364 84% 54,317,104 73.4% 47,656,262 74%

IV Tổng tài sản 366,267,769 405,755,454 484,784,560 548,386,083

TỶ TRỌNG NGÂN QUỸ

Nhận xét: Qua bảng trên ta thấy trong giai đoạn 2010 – 2013 Tiền gửi và cho vay các TCTD khác chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 79%) trong ngân quỹ của BIDV, tiếp theo đó là Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (16%) Tiền mặt, vàng bạc, đá quý chiếm tỷ trọng ít nhất trong ngân quỹ (6%) đây mức tỷ lệ thích hợp để đáp ứng 1 phần dự trữ pháp định và đảm bảo thanh khoản trong khi 94% ngân quỹ còn lại vẫn vừa có thể đáp ứng dự trữ pháp định theo luật vừa có thể sinh lời trong quá trình hoạt động của ngân hàng

Trang 6

Sự thay đổi của ngân quỹ qua các năm

Năm Ngân quỹ Tỷ lệ tăng so với năm liền trước

Năm 2011, Ngân quỹ giảm 1.02% so với năm 2010 do những khó khăn bất ổn của nền kinh tế Việt Nam (lãi suất tăng, lạm phát vẫn ở mức cao, thị trường bất động sản đóng băng ) Do đó ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động nguồn tiền gửi và thu lại các khoản nợ đến hạn khiến ngân quỹ sụt giảm Tuy nhiên, bước sang năm 2012 và đầu năm 2013, nhờ những diễn biến tích cực hơn từ thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 7

II Phân tích tình hình chứng khoán

1 Tổng quan về chứng khoán

Các Ngân hàng thương mại mua các chứng khoán vì các mục đích:

- Thanh khoản

- Tìm kiếm lợi nhuận

- Đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro

Tất cả các chứng khoán đều đem lại thu nhập cho ngân hàng Tuỳ theo mục đích hoạt động mà các ngân hàng đầu tư vào loại chứng khoán cụ thể Với các ngân hàng có các khoản thu nhập từ tín dụng tốt, không chịu áp lực phải tìm kiếm các nguồn thu nhập khác thì họ thường lựa chọn việc đầu tư vào chứng khoán Chính phủ Việc đầu tư ngắn hạn vào các chứng khoán Chính phủ thường có mức lãi suất thấp nhưng không phải chịu rủi ro tín dụng và ít rủi ro về lãi suất

so với các chứng khoán dài hạn khác Với các ngân hàng chú trọng vào mục tiêu lợi nhuận, họ thường đầu tư vào các chứng khoán công ty có kỳ hạn dài vì đay là cac chứng khoán có lãi suất cao Như vậy, các ngân hàng này phải chấp nhận rủi

ro lớn hơn và khó có khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản

Ngoài ra, đầu tư vào chứng khoán cũng tạo điều kiện phân tán rủi ro Đối với các ngân hàng hoạt động trong phạm vi một địa phương nhất định, thường các khoản mục tín dụng bị bó hẹp trong một số lĩnh vực cho nên rủi ro sẽ rất cao khi lĩnh vực đó suy thoái Vì vậy đầu tư vào chứng khoán sẽ chuyển một phần vốn phân tán sang lĩnh vực khác giúp ngân hàng có thể vượt qua thời kỳ khó khăn

2 Tình hình chứng khoán của BIDV

Hoạt động góp vốn

Hoạt động đầu tư góp vốn của BIDV chủ yếu là tập trung trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính Bắt đầu thực hiện từ những năm 1990, đến nay, các hoạt động đầu tư, góp vốn liên doanh, liên kết của BIDV ngày càng được mở rộng và

7

Trang 8

tăng trưởng BIDV hiện đang góp vốn vào 05 công ty con (trong đó, 03 công ty con BIDV nắm giữ 100% vốn, 02 công ty con BIDV nắm trên 80% vốn) và 06 công ty liên doanh, 02 công ty liên kết

Bên cạnh đó, đối với các khoản đầu tư khác, mục tiêu đầu tư của BIDV là đầu tư dài hạn, thông qua việc góp vốn thành lập công ty với tư cách là cổ đông sáng lập để triển khai các dự án trong lĩnh vực năng lượng, bất động sản, viễn thông, hàng không, tài nguyên - khoáng sản…, tham gia là cổ đông chiến lược, mua cổ phần tại các doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa

Thông qua các hoạt động đầu tư, BIDV đang nỗ lực triển khai mở rộng, phát triển hoạt động kinh doanh và tăng cường khả năng cạnh tranh của mình bằng cách tập trung ưu tiên hàng đầu vào hoạt động đầu tư cho các lĩnh vực mà BIDV có lợi thế, đặc biệt là cung cấp các dịch vụ tài chính phi ngân hàng như bảo hiểm, chứng khoán, cho thuê tài chính, quản lý tài sản Ngoài ra, BIDV còn cung cấp dịch vụ ngân hàng, tài chính ra ngoài lãnh thổ Việt Nam như tại Lào và Liên bang Nga

Tổng hợp danh mục đầu tư góp vốn dài hạn giai đoạn 2011 – 2013

Đơn vị: tỷ đồng

Nguồn: BIDV

Hoạt động đầu tư chứng khoán

Bên cạnh hoạt động góp vốn, đầu tư dài hạn vào các công ty con, liên doanh, dự án và các doanh nghiệp khác, danh mục đầu tư của BIDV tập trung vào đầu tư chứng khoán trong đó chủ yếu là các công cụ nợ có lãi suất cố định như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Kho bạc Nhà nước, trái phiếu Chính quyền địa phương

Trang 9

Danh mục chứng khoán gồm chứng khoán kinh doanh và chứng khoán đầu tư.

Chứng khoán kinh doanh là những chứng khoán nợ, chứng khoán vốn được Ngân hàng mua và dự định bán ra trong thời gian ngắn nhằm mục đích thu lợi từ việc hưởng chênh lệch giá Tại thời điểm 31/12/2013, số dư chứng khoán kinh doanh là 2.413 tỷ đồng (chưa bao gồm dự phòng giảm giá), tăng 1.151 tỷ đồng

so với thời điểm 31/12/2011 phần lớn do Ngân hàng tăng mạnh đầu tư vào chứng khoán nợ Chính phủ

Tổng hợp chứng khoán kinh doanh của BIDV giai đoạn 2011 – 2013

Đơn vị: tỷ đồng

Chứng khoán Nợ Chính phủ 765 3.981 2.239

Do các tổ chức tín dụng

Do các Tổ chức kinh tế

3 Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh (223) (127) (35)

Nguồn: BIDV

Chứng khoán đầu tư được phân thành chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán

và chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn dựa theo mục đích nắm giữ chứng khoán Đến 31/12/2013, số dư chứng khoán đầu tư đạt 73.779 tỷ đồng, tăng 51%

so với thời điểm 31/12/2012, trong đó số dư chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán

và số dư chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn lần lượt là 65.184 tỷ đồng và 8.595 tỷ đồng

9

Trang 10

Trong danh mục chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán, chứng khoán nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn nhất, cụ thể chiếm 80% trong năm 2013 Đầu tư vào chứng khoán, đặc biệt là trái phiếu Chính phủ là biện pháp quan trọng để BIDV quản lý cơ cấu Tài sản Có theo hướng nâng cao khả năng sinh lời, giảm thiểu rủi ro, tạo nguồn thanh khoản khi cần thiết

Tổng hợp chứng khoán đầu tư của BIDV giai đoạn 2011 – 2013

Đơn vị: tỷ đồng

Chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán 30.144 47.403 65.184 Chứng khoán Nợ (mệnh giá) 29.437 46.628 64.410

Chứng khoán Vốn (ghi nhận theo giá gốc) 1.205 1.199 1.147

Dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư sẵn sàng để

Chứng khoán đầu tư giữ đến ngày đáo hạn 1.540 1.561 8.595

Chứng khoán nợ do các TCKT trong nước phát

Dự phòng giảm giá CK đầu tư giữ đến ngày đáo

Nguồn: BIDV Hoạt động kinh doanh chứng khoán

Hoạt động kinh doanh chứng khoán của BIDV được thực hiện thông qua Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BSC Năm 1999, BIDV thành lập Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Đầu

tư và Phát triển Việt Nam (BSC) với mức vốn điều lệ ban đầu là 55 tỷ đồng và là

Trang 11

một trong hai công ty chứng khoán đầu tiên được cấp phép hoạt động tại Việt Nam Kể từ khi thành lập tới nay, BSC cung cấp các dịch vụ của công ty chứng khoán gồm: Môi giới, tự doanh, lưu ký chứng khoán, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và các dịch vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật

Trải qua quá trình hoạt động, để đáp ứng yêu cầu theo quy định của

UBCKNN và sự phát triển của công ty, từ năm 2003 đến 2007, BSC đã thực hiện tăng vốn 4 lần, từ 55 tỷ lên 700 tỷ đồng Năm 2010, BSC đã thực hiện cổ phần hóa và chính thức chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần từ 01/01/2011 với vốn điều lệ là 865 tỷ đồng, trong đó BIDV sở hữu 88,12% vốn điều lệ

Năm 2011, những khó khăn bất ổn của nền kinh tế Việt Nam (lãi suất tăng, lạm phát vẫn ở mức cao, thị trường bất động sản đóng băng ) đã ảnh hưởng nặng nề đến thị trường chứng khoán và hoạt động của các công ty chứng khoán Do đó, hoạt động kinh doanh của BSC gặp nhiều khó khăn, công ty hoạt động không có lãi, chủ yếu do khoản trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán Tuy nhiên, bước sang năm 2012 và đầu năm 2013, nhờ những diễn biến tích cực hơn từ thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như sự nỗ lực từ tập thể cán bộ nhân viên, hoạt động kinh doanh của BSC đã khởi sắc và đạt được một số kết quả khả quan

Kết thúc năm 2012 tổng doanh thu kinh doanh chứng khoán và lãi đầu tư đạt 221,1 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2011 Doanh thu môi giới chứng khoán năm 2012 đạt 34 tỷ đồng, tăng 58% so với năm 2011 và LNTT đạt 21,2 tỷ đồng, bằng 103% kế hoạch năm Thị phần môi giới tăng từ mức 1,78% năm 2011 lên 2.19% năm 2012 và tiếp tục tăng lên mức 2,95% trong năm 2013 Đến hết năm

2013 Công ty đã lọt vào Top 10 Công ty chứng khoán có thị phần môi giới lớn nhất tại Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX)

Một số chỉ tiêu chủ yếu của BSC giai đoạn 2011 – 2013

Doanh thu kinh doanh chứng khoán 197,5 221,1 156,4

11

Ngày đăng: 01/12/2021, 10:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Nhận xét: Qua bảng trên ta thấy trong giai đoạn 2010 – 2013 Tiền gửi và cho vay các TCTD khác chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 79%) trong ngân quỹ của BIDV, tiếp theo đó là Tiền gửi tại Ngân hàng  Nhà nước (16%) - Phân tích tình hình ngân quỹ và chứng khoán của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) giai đoạn 2011 – 2013
h ận xét: Qua bảng trên ta thấy trong giai đoạn 2010 – 2013 Tiền gửi và cho vay các TCTD khác chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 79%) trong ngân quỹ của BIDV, tiếp theo đó là Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (16%) (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w