Trong cả hai trường hợp, tên được đổi – bằng cách bỏ từ "kinh" - để phản ánh hiện thực là kinh đô đất nước đã chuyển đến Nam Kinh, lần đầu tiên dưới thời Hồng Vũ hoàng đế Nhà Minh, và lầ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA QUỐC TẾ HỌC
TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
Đề tài: Tiếp xúc văn hoá Đông – Tây: Bắc Kinh
Học phần : Tiếp xúc văn hoá giữa phương Đông và phương Tây Tên giảng viên : TS Nguyễn Thu Hằng
Tên sinh viên : Phạm Thị Huyền Trang
Mã số sinh viên : 18031985
Hà Nội - 2021
Trang 2MỞ ĐẦU
Văn hoá phương Đông và phương Tây mang những nét đặc trưng riêng, bởi mỗi nền văn hoá đều có thời gian địa điểm hình thành khác nhau đặc biệt các nền văn hoá rất đa dạng vì mỗi chủng tộc, bộ lạc, dân tộc đều mang trong mình những bản sắc riêng Mỗi một sắc tộc sẽ tạo ra từng chất riêng thế nên đa dạng của văn hoá là vô tận Tuy nhiên các nền văn hoá này đã có những sự giao lưu tiếp xúc với nhau trong lịch sử qua các cuộc phát kiến địa lý, cuộc chiến tranh…Trung Quốc là một trong những nền văn minh lâu đời và có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quốc gia khu vực phương Đông và thậm chí là cả các quốc gia phương Tây Bên cạnh đó, văn hoá của các nước phương Tây cũng có những ảnh hưởng nhất định đến văn hoá Trung Quốc, tuy nhiên giai đoạn đầu quốc gia này có sự đối đầu với nền văn minh phương Tây bởi các hệ tư tưởng khác nhau thì Trung Quốc cũng đã đón nhận văn hoá phương Tây và để lại những dấu ấn đặc sắc Bắc Kinh là thủ đô của Trung Quốc
và được xem là thành phố phát triển bậc nhất với chỉ số GDP đầu người đứng đầu Trung Quốc Với bề dày lịch sử hàng nghìn năm qua các thời đại phong kiến đến nay làm cho Bắc Kinh mang những nét văn hoá đặc sắc của cả phương Đông và phương Tây
Trang 3NỘI DUNG Chương 1: Giới thiệu chung về Bắc Kinh
1.1 Nguồn gốc tên gọi
Bắc Kinh (北京) có nghĩa là "Kinh đô phía bắc", phù hợp với truyền thống chung của Đông Á khi kinh đô được dứt khoát đặt tên như chính nó Các thành phố có kiểu tên tương tự là Nam Kinh (南京 Nánjīng, có nghĩa là "Kinh đô phía nam"), Tokyo (東京,
"Đông Kinh" theo chữ Hán), Đông Kinh (東京 Dōngjīng, có nghĩa là "Kinh đô phía đông", ngày nay là Hà Nội); cũng như Kyoto (京都, "Kinh Đô") và Kinh Thành, (京城 – có nghĩa
là "kinh đô", ngày nay là Seoul), Tây Kinh (西京 Xījīng, nghĩa là "Kinh đô phía tây", nay
là Lạc Dương) Ở Trung Quốc, thành phố này có nhiều lần được đặt tên lại Giữa thời gian
từ 1368 đến 1405, và sau đó lại một lần nữa từ 1928 đến 1949, thành phố này có tên là Bắc Bình (北平; bính âm: Beiping; Wade-Giles: Pei-p'ing), có nghĩa "hòa bình phía bắc" hay
"bình định phía bắc" Trong cả hai trường hợp, tên được đổi – bằng cách bỏ từ "kinh" - để phản ánh hiện thực là kinh đô đất nước đã chuyển đến Nam Kinh, lần đầu tiên dưới thời Hồng Vũ hoàng đế Nhà Minh, và lần thứ hai dưới thời Chính phủ Quốc dân của Trung Hoa Dân Quốc, lúc đó Bắc Kinh không phải là kinh đô của Trung Hoa
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chuyển thủ đô về Bắc Kinh năm 1949 một lần nữa một phần để nhấn mạnh rằng Bắc Kinh đã trở lại vai trò thủ đô Trung Quốc của mình Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ở Đài Loan chưa bao giờ công nhận chính thức việc đổi tên này và trong thập niên 1950 và thập niên 1960 phổ biến ở Đài Loan gọi Bắc Kinh là Bắc Bình để ám chỉ tính bất hợp pháp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Ngày nay, phần lớn Đài Loan, kể cả chính phủ Đài Loan đều sử dụng tên gọi Bắc Kinh, dù một số bản đồ của Trung Quốc từ Đài Loan vẫn sử dụng tên gọi cũ cùng với biên giới chính trị cũ Yên Kinh (燕京; Bính âm: Yānjīng; Wade-Giles: Yen-ching) cũng là một tên phổ biến khác không chính thức của Bắc Kinh, liên hệ đến nước Yên đã tồn tại ở đây từ thời nhà Chu Tên này hiện được một số tổ chức sử dụng làm tên thương hiệu như bia Yên Kinh, Đại học Yên Kinh, một trường đại học đã bị sáp nhập vào Đại học Bắc Kinh Trong thời Nhà Nguyên, Bắc Kinh được gọi là Đại Đô
Trang 41.2 Khái quát đặc điểm
Bắc Kinh là thủ đô của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, là một trong bốn thành phố trực thuộc Trung ương, là trung tâm chính trị, khoa học và văn hóa quốc gia, trung tâm giao lưu quốc tế, là thành phố văn hóa lịch sử nổi tiếng ở Trung Quốc
Dân số Bắc Kinh là hơn 21 triệu người Trong số này, chỉ hơn một nửa số cư dân có đăng ký thường trú trong thành phố Phần còn lại của dân số là những người đến thủ đô từ các tỉnh để tìm kiếm một cuộc sống Khoảng 7 triệu người sống trong chính thành phố
Bắc Kinh nằm ở cuối phía bắc của Đồng bằng Hoa Bắc Phía tây và bắc của thành phố là các dãy núi liên tục, thuộc dãy núi Taihang và Yanshan, phía đông và nam là các đồng bằng rộng lớn dần dần nghiêng về phía biển Bột Hải
Bắc Kinh có diện tích 16.808 km vuông, độ cao 43,5 mét, dân số khoảng 12 triệu người Các đơn vị hành chính của thành phố được chia thành 10 quận và 8 quận, trong đó quận Dongcheng, quận Xicheng, quận Chongwen và quận Xuanwu trong Đường vành đai thứ hai là các quận nội thành truyền thống Trong những năm gần đây, phía đông bắc nội thành đã phát triển nhanh chóng, còn phía tây nam vẫn giữ được nhiều nét kiểu cũ
Khí hậu Bắc Kinh là khí hậu ôn đới gió mùa lục địa ấm áp, có bốn mùa rõ rệt Mùa đông lạnh và khô, đôi khi có cát, mùa hè ẩm ướt và mưa Nhiệt độ trung bình vào tháng Giêng là -4 ℃, và nhiệt độ trung bình vào tháng Bảy là 26 ℃ Mùa du lịch đẹp nhất là từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 6, và từ cuối tháng 8 đến cuối tháng 11
Tôn giáo của Bắc Kinh rất phong phú và đa dạng như tôn giáo dân gian Trung Quốc, Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo, Hồi giáo và Thiên chúa giáo đều có sự hiện diện lịch sử quan trọng trong thành phố Là thủ đô quốc gia, thành phố cũng tổ chức Cơ quan tôn giáo nhà nước và các tổ chức bảo trợ nhà nước khác nhau của các tôn giáo hàng đầu Trong những thập kỷ gần đây, cư dân nước ngoài đã đưa các tôn giáo khác vào thành phố Theo Wang Zhiyun của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc năm 2010, có 2,2 triệu Phật tử trong thành phố, bằng 11,2% tổng dân số Theo khảo sát xã hội chung của Trung Quốc năm 2009, Kitô hữu chiếm 0,78% dân số thành phố Theo một khảo sát năm 2010, người Hồi giáo chiếm 1,76% dân số Bắc Kinh
Trang 5Chương 2: Bắc Kinh truyền thống
2.1 Kiến trúc
2.1.1 Tử Cấm Thành
Là một thành phố văn hóa nổi tiếng của thế giới nói chung và là thủ đô của Trung Hoa huyền bí - Bắc Kinh tự hào với những công trình, thành cổ gắn liền với những sự kiện hoành tráng và 'đẫm máu' của chặng đường dài lịch sử
Cố cung ( Tử Cấm Thành): Cố cung là hoàng cung ở Trung Quốc vào thời nhà Minh
và nhà Thanh, lúc bấy giờ được gọi là Tử Cấm Thành, sau này mới được gọi là Cố cung
Tử Cấm Thành Bắc Kinh là tinh hoa của kiến trúc cung điện cổ đại Trung Quốc, có diện tích 720.000 mét vuông, trong đó
• Cố cung có diện tích 150.000 mét vuông,
• Toàn thành phố có hơn 70 cung điện lớn nhỏ
Tử Cấm Thành là một trong những công trình kiến trúc cổ hoàn chỉnh nhất, đã trở thành danh lam thắng cảnh cấp quốc gia; được xếp vào danh sách 5 cung điện lớn nhất thế giới
và là di tích văn hóa trọng điểm được bảo vệ của Trung Quốc
Kiến trúc của Tử Cấm Thành rất đặc biệt, mỗi loại cây cối trong Tử Cấm Thành đều có một ý nghĩa và rất có thể phản ánh lịch sử văn hóa của Trung Quốc Tên gọi đầu tiên là Tử Cấm Thành, cái tên rất tao nhã, người ta nói rằng cấu trúc của Tử Cấm Thành là mô phỏng cấu trúc của Thiên Cung Màu tím của Tử Cấm Thành tượng trưng cho giữa bức tường màu tím, sao Bắc Đẩu ở giữa bầu trời là trung tâm của tất cả các vì sao, có nhân phẩm cực cao
và sự bảo vệ nghiêm ngặt nên được gọi là Tử Cấm Thành Đây cũng là nơi khởi nguồn tư tưởng của Nho giáo và cũng đại diện cho cốt lõi của Nho giáo Trung Quốc
Trang 6Có thể nói Tử Cấm Thành cũng là nơi chứng kiến nhiều thăng trầm của lịch sử Trung Quốc, là nhân chứng sống của nhiều cuộc tranh giành quyền lực, cải cách, chứng kiến bao lần xoay chuyển, thay triều đổi đại Không những thế Tử Cấm Thành đã từng bị bốc cháy, khi Lý Chính Thành chiếm được Bắc Kinh, khi rút lui đã thiêu rụi cả Tử Cấm Thành, nhiều công trình kiến trúc bị phá hủy Về sau, quân Thanh tiến vào Bắc Kinh đánh chiếm Tử Cấm Thành và bắt đầu tu sửa, sau gần 14 năm sửa chữa liên tục, các công trình kiến trúc trên Trung Đường về cơ bản đã được trùng tu
Đến thời Trung Hoa Dân Quốc, Phùng Ngọc Tường phát động một cuộc đảo chính ở Bắc Kinh kết quả Phố Nghi bị trục xuất khỏi Tử Cấm Thành Sau đó, Bảo tàng Cố Cung được thành lập vào ngày 10 tháng 10 năm 1925, từ đó Tử Cấm Thành được đổi tên thành
Cố cung Do Tử Cấm Thành dần đổ nát nên đến năm 1949, nhiều cung điện sụp đổ, sau khi thành lập Tân Trung Hoa, Tử Cấm Thành được tiến hành sửa chữa quy mô lớn, Tử Cấm Thành không chỉ là biểu tượng của thời đại mà còn là sự kết tinh của trí tuệ trong kiến trúc xây dựng của người Trung Quốc
Cố Cung tráng lệ, bao phủ một khu vực rộng lớn, các tòa nhà tinh tế và phong cảnh mĩ
lệ, là điểm khiến Cố cung luôn thu hút nhiều khách du lịch Trung Quốc và nước ngoài Có thể nói, ngoài khung cảnh cung điện tuyệt đẹp, Cố cung còn hấp dẫn hơn bởi lịch sử và văn hóa lâu đời của nó
Là nơi ở của hoàng gia, là nơi sinh sống của 24 vị hoàng đế, đây từng là nơi hoàng gia
tổ chức nghi lễ, hội kiến các quan người nắm quyền lực cao nhất của đất nước, cũng là nơi hoàng đế và các phi tần an lạc Trong số đó, nhiều câu chuyện trong hoàng thất ít được biết đến và vô số kho báu quý hiếm của hoàng cung cũng đặt lên một lớp bí ẩn cho cung điện hàng thế kỷ này, và nhiều bí ẩn chưa được giải đáp cũng được sinh ra ở đây
Tử Cấm Thành, là một đại diện tiêu biểu cho quần thể cung điện cổ đại của Trung Quốc,
là một công trình rất vĩ đại đứng hàng đầu thế giới Sự nguy nga, tráng lệ của Tử Cấm Thành không chỉ phản ánh kỹ năng tinh xảo của những người thợ thủ công Trung Hoa cổ đại, mà còn là trí tuệ và óc thẩm mỹ của người xưa
Trang 72.1.2 Công viên Thiên Đàm
Công viên Thiên Đàm:
1 Nằm ở phía nam Bắc Kinh
2 Nó có diện tích khoảng 2,73 triệu mét vuông
3 Đền Thiên được xây dựng vào năm Vĩnh Lạc thứ 18 của nhà Minh (1420), và được xây dựng lại vào thời Càn Long và Quảng Hưng của nhà Thanh
Vào thời nhà Minh và nhà Thanh, Thiên Đàm là nơi các vị hoàng đế thờ phụng hoàng tộc và lễ bái trời đất cầu mùa màng bội thu Miếu Trời là tên gọi chung của hai bàn thờ, có hai vách thờ tạo thành bàn thờ trong và ngoài, tường thờ hình tròn theo hai hướng Nam - Bắc tượng trưng cho nơi đất trời tròn Tòa nhà chính là gian thờ phía trong, hai bệ thờ nằm trên cùng một trục nam bắc, ngăn cách nhau bằng một bức tường
• Được nâng đỡ bởi 28 cột gỗ lớn bằng vàng, các cột được sắp xếp theo hình tròn, ở giữa là 4 "cột giếng dài" đỡ mái hiên phía trên;
• 12 cột vàng ở giữa đỡ mái hiên thứ hai, trên đáy sơn son thếp vàng vẽ hoa văn tinh xảo bằng phương pháp mạ vàng;
• 12 trụ ngoài mái hiên nâng đỡ mái hiên thứ ba;
• Tương ứng là trần ba gian, giếng tảo rồng phượng đặt chính giữa; c
• Ác xà ngang trong sảnh được vẽ rồng, phượng và các con dấu
Bốn "Long Tỉnh Trụ" ở giữa Đại sảnh cầu cho mùa màng bội thu tượng trưng cho bốn mùa xuân, hạ, thu, đông; mười hai cây cột lớn ở lớp giữa mỏng hơn một chút so với trụ Long Tỉnh, tên là Jin Zhu, tượng trưng cho 12 tháng trong năm; 12 cây cột bên ngoài Nó được gọi là Yanzhu, tượng trưng cho 12 giờ trong ngày Có tổng cộng 24 cây cột ở hai tầng trong và ngoài nước, tượng trưng cho 24 tiết trời
Trang 8Công viên Thiên Đàm (天坛公园/Tiāntán gōngyuán) Đây là nơi để các hoàng đế của triều đại nhà Minh và nhà Thanh thờ cúng hoàng đế và cầu mong sự dồi dào của các loại ngũ cốc Năm 1961, Quốc vụ viện Trung Quốc công bố Thiên Đàm là “Đơn vị bảo vệ Di tích Văn hóa Trọng điểm Quốc gia” Năm 1998, nó đã được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa thế giới” Ngày 8 tháng 5 năm 2007, Công viên Thiên Đàm chính thức được Tổng cục Du lịch phê duyệt là điểm du lịch cấp quốc gia Trung Quốc
2.1.3 Phố cổ Hutong
Hutong – hay Hồ Đồng – là loại đường phố hẹp những con hẻm, thường xuất hiện nhiều ở các thành phố miền Bắc Trung Quốc, trong đó nổi tiếng nhất là ở Bắc Kinh Tại đây, các Hutong là những con hẻm hình thành theo dãy Tứ-Hợp-Viện (siheyuan) Một “ Tứ hợp viện” Bắc Kinh theo tiêu chuẩn sẽ được xây dựng ở phía Bắc và hướng về phía Nam, cửa nhà chếch về phía Đông Nam Phía Nam có 5 căn phòng, cửa chính được đặt ở ngoài cùng phía Đông, phía bên cạnh của cửa chính là gian nhà đầu tiên Từ cửa chính bước vào, chúng ta sẽ nhìn thấy ngay một bức bình phong Phía trước bức bình phong chúng ta sẽ nhìn thấy một cánh cửa, đi qua cánh cửa này sẽ dẫn chúng ta đến các gian nhà ở Tùy theo cấu trúc lớn nhỏ chia ra các loại hình “ tứ hợp viện” khác nhau Trong đó phổ biến là Tứ hợp viện một sân (như dạng tượng hình chữ khẩu 口); tứ hợp viện hai sân (như dạng tượng hình chữ nhật 日); tứ hợp viện ba sân (như dạng tượng hình chữ mục 目), ngoài ra còn có
Trang 9Ngoài ra, tứ hợp viện thiết kế lớn nhất có thể lên đến 7 sân hoặc 9 sân Theo phong thủy,
“tọa bắc hướng nam” để ánh sáng luôn có trong nhà, tránh được cát bụi bay vào Nên gian chính của gia chủ là gian bắc đối diện hướng nam cũng tức là đối diện cửa ra vào (gọi là chính phòng) Hai bên là chái nhà, mặt trời hướng vào ít hơn (gọi là sương phòng) Giữa chính phòng và sương phòng nối liền nhau bởi hành lang có mái ngói lợp liền kề Chính phòng (bắc phòng): xây trên nền gạch đá, rộng hơn các gian phòng khác và gian chính của chủ nhà, cũng là gian tập trung họp mặt gia đình Sương phòng (đông phòng và tây phòng): gian cho con cháu Nam phòng: dành tôi tôi tớ hoặc chứa vật dụng sinh hoạt - Tuy nhiên
từ góc độ khách quan nhìn nhận, thiết kế của Tứ hợp viện không thật sự khoa học Ngoài 3 căn phòng ở phía Bắc, các căn phòng khác đều có nhược điểm riêng Ngày xưa người Bắc Kinh truyền nhau câu nói rằng “ Có tiền không ở phía Đông, Nam, mùa đông không ấm, mùa hè không mát” Bởi vì sương phòng ở phía Đông, mùa hè rất nóng Khi mùa Đông đến gió phía Tây Bắc thổi đến rất là lạnh Căn sương phòng ở phía Nam thì càng không tốt, cửa chính và cửa sổ đều đặt ở phía Bắc vì thế ánh sáng khó có thể chiếu vào Căn sương phòng phía Tây mặc dù tốt hơn phía Nam và phía Đông, tuy nhiên vào mùa hè ở đây cũng rất nóng Chỉ có duy nhất căn dãy nhà theo phía Bắc là đáp ứng được tiêu chí mùa đông không lạnh, mùa hè không nóng có ánh sáng đầy đủ
Một ngôi nhà xây theo kiến trúc Tứ hợp viện trong các Hutong Kiến trúc Tứ hợp viện thể hiện quan niệm phong kiến và sự phân biệt tầng lớp được hình thành trong quá trình phát triển lịch sử lâu dài của Trung Quốc, hơn nữa nó cũng phần
Trang 10nào phản ánh sự coi trọng tôn ti trật tự vai vế trong gia đình của người Trung Quốc - Xung quanh 4 phía của sân là 4 bức bình phong, vì thế người bên ngoài không thể nhìn thấy hoạt động bên trong sân, ngược lại người bên trong cũng không nhìn thấy hoạt động bên ngoài
Cả một thế hệ sinh sống với nhau trong tứ hợp viện, họ rất ít có hoạt động giao tiếp với bên ngoài Hơn nữa bình thường cửa chính đều đóng Vì thế có thể nói “ Tứ hợp viện” phản ánh một cách vô cùng rõ lối sống khép kín mang đậm phong cách truyền thống của Trung Quốc thời kì trước - Đặc điểm tiếp theo chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy được đó
là việc sắp xếp phòng ở là theo một quy định nhất đinh Về bố cục, phòng chính sẽ cao hơn trắc phòng, diện tích cũng sẽ rộng hơn Nơi này thường được sắp xếp cho trưởng bối trong nhà, con cháu sẽ ở sương phòng hoặc là 2 bên phòng giáp với chính phòng Việc sắp xếp phòng ở sẽ dựa theo tuổi tác, từ lớn đến bé, có quy định vô cùng rõ ràng Cách sắp xếp như vậy không chỉ làm nổi bật địa vị của các trưởng bối trong nhà, hơn thế nó còn phần nào hình thành tôn ti trật tự vai vế trong dòng họ, làm toát lên sự phân biệt giai cấp, tầng lớp một cách rõ nét - Các gian phòng của Tứ hợp viện kết hợp lại tạo thành một khoảng sân nhỏ ở giữa Nơi đây được coi là nơi vui chơi giải trí, nơi quây quần,tụ họp của cả đại gia đình Nơi đây đem lại cho người sống ở đây một cảm giác tách biệt với thế giới bên ngoài, hòa mình vào không gian yên bình, trong lành và tĩnh lặng
2.2 Nghệ Thuật
Các hình thức nghệ thuật ấn tượng được gọi là opera Bắc Kinh - hoặc Peking opera
- đã là một yếu của giải trí Trung Quốc trong hơn hai thế kỷ Nó được thành lập vào năm
1790 khi "Tứ Đại An Huy Đoàn" đến Bắc Kinh để biểu diễn cho triều đình
Khoảng 40 năm sau, các đoàn kịch opera nổi tiếng từ Hồ Bắc đã tham gia biểu diễn
An Huy, làm phong cách địa phương của họ
Cả hai đoàn kịch opera Hồ Bắc và An Huy đều sử dụng hai giai điệu chính được chuyển thể từ truyền thống âm nhạc Sơn Tây: "Xipi" và "Erhuang" Từ sự hợp nhất của phong cách địa phương, Bắc Kinh mới hoặc Bắc Kinh opera phát triển Hôm nay, Bắc Kinh Opera được coi là hình thức nghệ thuật quốc gia của Trung Quốc
Trang 11Nhà hát Bắc Kinh nổi tiếng với những âm mưu phức tạp, trang điểm sinh động, bộ trang phục đẹp mắt và phong cách thanh nhạc độc đáo được các nghệ sĩ biểu diễn sử dụng Nhiều trong số 1.000 ô - có lẽ không đáng ngạc nhiên - xoay quanh xung đột chính trị và quân sự, thay vì lãng mạn Những câu chuyện cơ bản thường là hàng trăm hoặc thậm chí hàng ngàn năm tuổi liên quan đến các sinh vật lịch sử và thậm chí siêu nhiên
Nhiều người hâm mộ của Bắc Kinh Opera đang lo lắng về số phận của hình thức nghệ thuật này Các vở kịch truyền thống đề cập đến nhiều sự kiện của cuộc sống và lịch
sử Cách mạng Văn hóa tiền bối vốn không quen thuộc với giới trẻ Hơn nữa, nhiều phong trào cách điệu có ý nghĩa đặc biệt mà có thể bị mất trên khán giả không được bắt đầu
Đáng lo ngại nhất của tất cả, vở opera bây giờ phải cạnh tranh với các bộ phim, chương trình truyền hình, trò chơi máy tính và internet cho sự chú ý Chính phủ Trung Quốc đang sử dụng các khoản tài trợ và các cuộc thi để khuyến khích các nghệ sĩ trẻ tham gia Bắc Kinh Opera
2.3 Văn hoá ẩm thực
2.3.1 Lịch sử ẩm thực Bắc Kinh
Bắc Kinh là thủ đô của Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, nên ẩm thực của nó bị ảnh hưởng bởi truyền thống ẩm thực từ khắp Trung Quốc, nhưng phong cách có ảnh hưởng lớn nhất đến ẩm thực Bắc Kinh là của tỉnh ven biển phía đông Sơn Đông Đến lượt mình, ẩm thực Bắc Kinh cũng ảnh hưởng rất nhiều đến các nền ẩm thực khác của Trung Quốc, đặc biệt là ẩm thực của Liêu Ninh, các Ẩm thực cung đình Trung Quốc và Ẩm thực quý tộc Trung Quốc
Một truyền thống khác ảnh hưởng đến ẩm thực Bắc Kinh (cũng như chịu ảnh hưởng của chính ẩm thực Bắc Kinh) là ẩm thực cung đình Trung Quốc có nguồn gốc từ "Nhà bếp của Hoàng đế" (御膳 房; yùshànfáng), đề cập đến các thiết bị nấu ăn bên trong Thành phố
bị cấm, nơi hàng ngàn đầu bếp từ các vùng khác nhau của Trung Quốc đã thể hiện tài nấu nướng tốt nhất của họ để làm hài lòng hoàng gia và các quan chức Vì vậy, đôi khi rất khó
để xác định nguồn gốc thực sự của một món ăn vì thuật ngữ "Mandarin" được khái quát hóa và không chỉ dùng để chỉ Bắc Kinh mà còn các tỉnh khác Tuy nhiên, một số khái quát
Trang 12về ẩm thực Bắc Kinh có thể được đặc trưng như sau: Thực phẩm có nguồn gốc từ Bắc Kinh thường là món ăn nhẹ hơn là món chính, và chúng thường được bán bởi các cửa hàng nhỏ hoặc người bán hàng rong Tập trung vào tương đen, bột mè, dầu mè và hành lá, và đậu hủ lên men thường được dùng như một loại gia vị Về kỹ thuật nấu ăn, các phương pháp liên quan đến các cách chiên khác nhau thường được sử dụng So với nhiều vùng khác ở Trung Quốc, người ta ít chú trọng đến lúa gạo hơn so với nhiều vùng khác ở Trung Quốc, vì sản lượng lúa địa phương ở Bắc Kinh bị hạn chế bởi khí hậu tương đối khô hạn
Nhiều món ăn trong ẩm thực Bắc Kinh được phục vụ như các món chính có nguồn gốc từ nhiều loại thực phẩm Halal của Trung Quốc, đặc biệt là các món thịt cừu và thịt bò, cũng như từ ẩm thực Hoài Dương
Ẩm thực Hoài Dương đã được ca ngợi từ thời cổ đại ở Trung Quốc và việc một quan chức đến Bắc Kinh nhận chức vụ mới mang theo một đầu bếp chuyên về ẩm thực Hoài Dương là một thông lệ chung Khi các quan chức này hoàn thành nhiệm kỳ ở thủ đô và trở
về tỉnh lẻ, hầu hết các đầu bếp mà họ dẫn theo thường ở lại Bắc Kinh Họ mở nhà hàng của riêng mình hoặc được thuê bởi những người dân địa phương giàu có Gia tộc hoàng gia của Triều đại nhà Minh, các Nhà của Zhu, người có tổ tiên từ tỉnh Giang Tô, cũng góp phần rất lớn trong việc giới thiệu ẩm thực Hoài Dương đến Bắc Kinh khi thủ đô được chuyển từ Nam Kinh đến Bắc Kinh vào thế kỷ 15, bởi vì nhà bếp của hoàng gia chủ yếu là phong cách Hoài Dương Yếu tố văn hóa ẩm thực và ẩm thực Bắc Kinh truyền thống của việc thưởng thức các buổi biểu diễn nghệ thuật như Opera Bắc Kinh trong khi việc ăn uống được phát triển trực tiếp từ thực tiễn tương tự trong văn hóa của Giang Tô và các món ăn Hoài Dương
Ẩm thực Hồi giáo Trung Quốc là một thành phần quan trọng khác của ẩm thực Bắc Kinh và lần đầu tiên được giới thiệu nổi bật khi Bắc Kinh trở thành thủ đô của Triều đại nhà nguyên Tuy nhiên, đóng góp đáng kể nhất cho sự hình thành của ẩm thực Bắc Kinh đến từ Ẩm thực Sơn Đông, như hầu hết các đầu bếp từ Tỉnh Sơn Đông đến Bắc Kinh hàng loạt trong thời gian Triều đại nhà Thanh Không giống như hai nền ẩm thực trước đó, được mang đến bởi tầng lớp thống trị như quý tộc, quý tộc và quan chức và sau đó lan rộng đến tầng lớp bình dân, sự ra đời của ẩm thực Sơn Đông bắt đầu từ việc phục vụ dân chúng, với phân khúc thị trường rộng lớn hơn nhiều, từ các thương gia giàu có đến giai cấp công nhân
Trang 132.3.2 Các đại diện của văn hoá ẩm thực Bắc Kinh
Vịt quay Bắc Kinh là một món ăn hoàng gia
Có ba cách để ăn vịt quay Bắc Kinh:
Cách ăn vịt quay Bắc Kinh thứ nhất: Tương truyền do các cô nương ở cổng dinh thự mang lên Họ không ăn hành lá hay tỏi, nhưng họ thích nhúng miếng da vịt giòn giòn vào nước đường để ăn Sau đó, khi khách quen của Quanjude nhìn thấy một vị khách nữ đến, chắc chắn anh ta sẽ đi theo quay vịt quay và phục vụ một đĩa đường nhỏ
Trang 14Cách ăn vịt quay Bắc Kinh thứ hai: Mì ngọt chấm với hành lá, có thể ăn kèm với dưa leo, củ cải; dùng đũa chấm một ít nước mắm ngọt, phết lên bánh lá sen, đặt vài lát Cho vịt quay lên trên, cho ít hành lá, dưa leo hoặc củ cải thái sợi, cuốn bánh lá sen lên thật là ngon
Cách thứ ba để ăn vịt quay Bắc Kinh: nước sốt mì ngọt tỏi, ăn kèm với cà rốt,… Thịt vịt cuốn lá sen cũng là một gia vị phổ biến trong những năm đầu Tỏi băm nhuyễn có thể làm giảm độ ngấy Nhúng vịt quay thái lát với tỏi xay và nước mắm phở ngọt vừa ăn, thêm
vị cay cho mùi thơm tươi, hương vị độc đáo hơn Nhiều khách hàng đặc biệt ưa chuộng loại gia vị này
* Kẹo trái cây Bắc Kinh:
Kẹo trái cây Bắc Kinh được làm theo công thức bí mật truyền thống của hoàng cung
và được tinh chế từ trái cây tươi, vị chua chua ngọt ngọt vừa phải, thanh mát, ngọt dịu nhưng không béo ngậy, hương vị trái cây đậm đà, có hàng nghìn loại và hàng trăm quy cách như mơ khô, lê khô, thu hải đường… Các loại sản phẩm đều được Bộ Nông nghiệp công nhận là thực phẩm xanh
Kẹo hoa quả của Bắc Kinh được làm từ Phòng ăn của Hoàng cung Cố Cung Để đảm bảo hoàng đế có thể ăn hoa quả tươi quanh năm, các đầu bếp đã phân loại hoa quả sản xuất theo từng mùa và ngâm trong mật ong để hoàng đế có thể ăn bất cứ lúc nào Về sau, phương thức sản xuất này từ hoàng cung truyền bá, ở Bắc Kinh có một xưởng chuyên sản xuất hoa quả bảo quản
Quy trình làm keọ: hái quả phải chín đến khi tách được lõi và cùi, sau đó hái ngay
và đưa về nhà máy chế biến, quả mơ tươi được nạo thành hai cánh và đun sôi với dung dịch đường trắng, hoặc dung dịch đường dùng để hút ẩm trong quả
Việc lựa chọn nguyên liệu và chế biến cầu kỳ nên sản phẩm có màu sắc đẹp, hương
vị thơm ngon, mềm mại, sảng khoái Màu sắc từ vàng nhạt đến vàng cam, hình bầu dục, không bị rách hoặc thối, không đảo đường, không dính tay, ăn mềm, có vị chua ngọt
Dinh dưỡng của quả kẹo Hàm lượng đường trong quả kẹo có thể lên tới hơn 35% và hàm lượng đường nghịch đảo có thể chiếm khoảng 10% tổng lượng đường Mọi người
Trang 15Ngoài ra, nó còn chứa axit trái cây, khoáng chất và vitamin C Có thể thấy kẹo trái cây là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao
2.4 Tôn giáo
Các di sản tôn giáo của Bắc Kinh rất phong phú và đa dạng như tôn giáo dân gian Trung Quốc, Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo, Hồi giáo và Thiên chúa giáo đều có sự hiện diện lịch sử quan trọng trong thành phố Là thủ đô quốc gia, thành phố cũng tổ chức Cơ quan tôn giáo nhà nước và các tổ chức bảo trợ nhà nước khác nhau của các tôn giáo hàng đầu Trong những thập kỷ gần đây, cư dân nước ngoài đã đưa các tôn giáo khác vào thành phố Theo Wang Zhiyun của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc năm 2010, có 2,2 triệu Phật tử trong thành phố, bằng 11,2% tổng dân số Theo khảo sát xã hội chung của Trung Quốc năm 2009, Kitô hữu chiếm 0,78% dân số thành phố Theo một khảo sát năm 2010, người Hồi giáo chiếm 1,76% dân số Bắc Kinh
* Tôn giáo dân gian Trung Hoa và Đạo giáo:
Bắc Kinh có nhiều đền thờ dành riêng cho các vị thần tôn giáo và cộng đồng dân gian, nhiều trong số đó đang được xây dựng lại hoặc tân trang lại vào những năm 2000 và
2010 Sự thờ cúng hàng năm cho Thần Thiên (祭天 jìtiān) tại Đền Thiên Đàn đã được các nhóm Nho giáo phục hồi lại vào những năm 2010
Có những ngôi đền dành riêng cho việc thờ phụng Nữ thần (娘娘 Niángniáng) trong thành phố, một trong số đó gần Làng Olympic, và chúng xoay quanh một trung tâm giáo phái lớn ở Núi Miaofeng Ngoài ra còn có nhiều ngôi đền được thánh hiến cho Long vương (龙神 Lóngshén), cho Thầy thuốc (Yàowáng), cho Quan Vũ (关 Guāndì), cho Thần lửa (火
神 Huǒshén), cho Thần Tài (Cáishén), đền thờ của Thành hoàng (Chénghuángshén), và ít nhất một ngôi đền được thánh hiến cho vị Hoàng Đế của nhóm sao Bắc Đẩu (黄帝 Xuānyuán Huángdì) ở quận Pinggu Nhiều ngôi đền trong số này được quản lý bởi Hiệp hội Đạo giáo Bắc Kinh, chẳng hạn như Đền Lửa của Hồ Shicha, trong khi nhiều ngôi đền khác thì không và được quản lý bởi các Ủy ban và người dân địa phương nổi tiếng Một ngôi đền lớn của Xuanyuan Huangdi sẽ được xây dựng tại Bình Cốc (có thể là một bản mở rộng của ngôi đền đã tồn tại) vào năm 2020, và ngôi đền sẽ có một bức tượng của vị thần
sẽ nằm trong số những vị thần cao nhất thế giới