1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận chương trình chuyên viên đề tài xâm lấn rừng

24 33 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 5,2 MB
File đính kèm TIEULUANCHUYENVIENTUYEN.rar (5 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần A: MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Như chúng ta đã biết, Việt Nam với hơn ¾ diện tích là rừng che phủ khắp chiều dài dải đất hình chữ S đã làm cho thế giới thực vật, động vật trong đó trở nên phong phú, đa dạng hơn so với các nước trên thế giới; đó còn là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà con người chúng ta được sở hữu. Ngày xưa rừng được ví như nguồn tài nguyên vô hạn: “Việt Nam rừng vàng biển bạc” nhưng ngày nay điều đó đã không còn phù hợp. Từ nhận thức là một tài nguyên vô hạn con người đã chuyển dần sang nhận thức nó là một tài nguyên hữu hạn cần được bảo vệ tránh khỏi tình trạng rừng bị phá hoại, mất dần diện tích xanh trong tương lai. Theo số liệu thống kê tính đến ngày 1932019 cả nước có 14.491.295 ha rừng, trong đó: Diện tích rừng tự nhiên là 10.255.525 ha; rừng trồng: 4.235.770 ha. Diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ cả nước là 13.785.642 ha, độ che phủ tương ứng đạt 41,65%. Như vậy so với năm 2015, diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ cả nước đã tăng hơn 265.000 ha (tính đến ngày 31122015, diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ cả nước là hơn 13,520 triệu ha, độ che phủ tương ứng đạt 40,84%.) Mặc dù diện tích rừng được ghi nhận có tăng lên nhưng chất lượng rừng lại là vấn đề cần được bàn tới. Năm 1945, diện tích rừng cả nước được ghi nhận là 14,3 triệu ha thì đến năm 1995, do rừng tự nhiên bị lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác quá mức nên diện tích chỉ còn 8,25 triệu ha. Tính riêng trong thời gian 20 năm từ năm 1975 đến năm 1995, diện tích rừng tự nhiên của cả nước giảm 2,8 triệu ha. Năm 1991, lần đầu tiên Nhà nước ta ban hành một văn bản luật điều chỉnh thống nhất các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng. Sau 13 năm thực hiện, văn bản này đã không còn đáp ứng được các yêu cầu quản lý và phát triển rừng thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu, rộng vào các quan hệ quốc tế trong khu vực và thế giới. Vì vậy, ngày 03 tháng 12 năm 2004, Quốc hội ban hành Luật số 292004QH11 về bảo vệ và phát triển rừng (hiện nay đã hết hiệu lực). Năm 2017, Luật Lâm nghiệp được Quốc Hội ban hành vào 15112017, có hiệu lực thi hành từ 01012019 và theo sau đó là nghị định 156NĐCP ngày 16112018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, Nghị định số 352019NĐCP ngày 25 tháng 4 năm 2019 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp. Hoạt động bảo vệ rừng và thực thi pháp luật lâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng do nhiều nguyên nhân mà diện tích rừng bị mất hiện nay vẫn còn ở mức cao (bình quân 57.019hanăm). Trong đó, diện tích mất chủ yếu do được phép chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác theo kế hoạch chiếm 76%; diện tích rừng bị thiệt hại do các hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý bảo vệ rừng tuy có giảm, nhưng vẫn ở mức cao làm mất 94.055ha rừng, chiếm 23,5% trong tổng diện tích rừng mất trong 7 năm qua, bình quân thiệt hại 13.436hanăm. Đấu tranh với các vi phạm này, từ năm 1999 đến tháng 10 năm 2009, cả nước đã phát hiện, xử lý 494.875 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản. Mặc dù tình trạng vi phạm giảm qua các năm, nhưng số vụ vi phạm còn lớn, diễn ra phổ biến ở nhiều nơi, với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng đang tạo gánh nặng cho các lực lượng chức năng, nhất là lực lượng kiểm lâm trong ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật. Nguyên nhân của vấn đề này có thể được đề cập ở nhiều phương diện, trong đó phải kể đến công tác giao đất, giao rừng, khoán bảo vệ rừng, tổ chức thực hiện cơ chế hưởng lợi của người làm rừng còn chưa hợp lý nên người dân sống xung quanh rừng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số còn chưa hiểu, chưa thực hiện các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng; thậm chí còn xâm hại tài nguyên rừng, tiếp tay cho lâm tặc phá rừng. Xã Hương Phong, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế là xã miền núi có diện tích chủ yếu là rừng. Ở đây chỉ có rừng và rừng. Rừng ở đây rất đa dạng và phong phú, nhưng đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số đời sống kinh tế rất khó khăn. Một số hộ dân ngoài địa phương là đồng bào dân tộc thiểu số đã tổ chức phá rừng một cách “bài bản” để lấy đất sản xuất. Trong khi đó, để quản lý và bảo vệ rừng có hiệu quả, một trong những giải pháp cần được các cấp chính quyền thực hiện là vừa phải kết hợp giữa xử lý nghiêm minh các hành vi phá rừng, tiếp tay cho lâm tặc phá rừng với việc tạo các điều kiện cần thiết để cho những người dân sống xung quanh rừng được hưởng lợi từ rừng và tham gia bảo vệ rừng lại chưa thực sự được quan tâm. Vì vậy, là một công chức đang công tác tại UBND xã Hương Phong, huyện A Lưới để góp phần tạo chuyển biến cơ bản và bền vững trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, tôi lựa chọn Đề tài “Giải quyết việc người dân của xã Phú Vinh phá rừng làm nương rẫy tại tiểu khu 313 xã Hương Phong, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm nội dung cơ bản để viết bài tiểu luận tình huống chương trình chuyên viên quản lý nhà nước. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở xử lý tình huống, sẽ đưa ra một số nhận xét và kiến nghị nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng có liên quan trong việc quản lý, bảo vệ rừng nói chung và giải quyết việc phá rừng làm nương rẫy nói riêng. Đồng thời, nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào trong thực tiễn của đơn vị đang công tác, giúp cho bản thân tìm hiểu nguyên nhân và xử lý giải quyết công việc một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng qui định nhằm góp phần bảo vệ tốt nguồn tài nguyên rừng của địa phương. 3. Giới hạn, phạm vi và phương pháp nghiên cứu Đề tài này được hoàn thành trên cơ sở lý luận Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật. Phạm vi đề tài này chỉ tập trung vào việc xử lý tình huống người dân của xã Phú Vinh phá rừng làm nương rẫy tại tiểu khu 313 xã Hương Phong, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế vào năm 2019. Đề tài sử dụng biện pháp nghiên cứu: khảo sát tình hình thực tiễn, phân tích xử lý tình huống, so sánh đối chiếu.

Trang 1

Mở đầu 2

I Nội dung tình huống 1 Hoàn cảnh ra đời của tình huống 6

2 Mô tả tình huống 6

II Phân tích tình huống 1. Mục tiêu phân tích tình huống 8

2. Cơ sở lý luận 8

3. Phân tích diễn biến tình huống 9

4. Nguyên nhân dẫn đến tình huống 11

5. Hậu quả tình huống 12

III Xử lý tình huống 1. Mục tiêu xử lý tình huống 12

2. Xây dựng phương án xử lý tình huống 15

3. Lựa chọn phương án xử lý tình huống 17

IV Kiến nghị 1. Kiến nghị với UBND H 18

2. Kiến nghị với Kho bạc 18

V Kết luậnc 19

Tài liệu tham khảo 20

Trang 2

Phần A: MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Như chúng ta đã biết, Việt Nam với hơn ¾ diện tích là rừng che phủ khắpchiều dài dải đất hình chữ S đã làm cho thế giới thực vật, động vật trong đó trởnên phong phú, đa dạng hơn so với các nước trên thế giới; đó còn là nguồn tàinguyên vô cùng quý giá mà con người chúng ta được sở hữu.Ngày xưa rừng được ví như nguồn tài nguyên vô hạn: “Việt Nam rừngvàng biển bạc” nhưng ngày nay điều đó đã không còn phù hợp Từ nhận thức làmột tài nguyên vô hạn con người đã chuyển dần sang nhận thức nó là một tàinguyên hữu hạn cần được bảo vệ tránh khỏi tình trạng rừng bị phá hoại, mất dầndiện tích xanh trong tương lai

Theo số liệu thống kê tính đến ngày 19/3/2019 cả nước có 14.491.295 ha rừng,trong đó: Diện tích rừng tự nhiên là 10.255.525 ha; rừng trồng: 4.235.770 ha Diệntích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ cả nước là 13.785.642ha, độ che phủ tươngứng đạt 41,65%

Như vậy so với năm 2015, diện tích rừng đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ cảnước đã tăng hơn 265.000 ha (tính đến ngày 31/12/2015, diện tích rừng đủ tiêu chuẩn

để tính độ che phủ cả nước là hơn 13,520 triệu ha, độ che phủ tương ứng đạt 40,84%.)

Mặc dù diện tích rừng được ghi nhận có tăng lên nhưng chất lượng rừng lại làvấn đề cần được bàn tới Năm 1945, diện tích rừng cả nước được ghi nhận là 14,3 triệu

ha thì đến năm 1995, do rừng tự nhiên bị lấn chiếm, chuyển đổi mục đích sử dụng vàkhai thác quá mức nên diện tích chỉ còn 8,25 triệu ha Tính riêng trong thời gian 20năm từ năm 1975 đến năm 1995, diện tích rừng tự nhiên của cả nước giảm 2,8 triệu ha

Năm 1991, lần đầu tiên Nhà nước ta ban hành một văn bản luật điều chỉnh thốngnhất các quan hệ xã hội trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng Sau 13 năm thựchiện, văn bản này đã không còn đáp ứng được các yêu cầu quản lý và phát triển rừngthời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu,rộng vào các quan hệ quốc tế trong khu vực và thế giới Vì vậy, ngày 03 tháng 12 năm

2004, Quốc hội ban hành Luật số 29/2004/QH11 về bảo vệ và phát triển rừng (hiệnnay đã hết hiệu lực) Năm 2017, Luật Lâm nghiệp được Quốc Hội ban hành vào15/11/2017, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2019 và theo sau đó là nghị định 156/NĐ-CPngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâmnghiệp, Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2019 về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp Hoạt động bảo vệ rừng và thực thi pháp luậtlâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng do nhiều nguyên nhân mà diện tíchrừng bị mất hiện nay vẫn còn ở mức cao (bình quân 57.019ha/năm) Trong đó, diệntích mất chủ yếu do được phép chuyển đổi mục đích sử dụng và khai thác theo kế

Trang 3

hoạch chiếm 76%; diện tích rừng bị thiệt hại do các hành vi vi phạm các quy định củaNhà nước về quản lý bảo vệ rừng tuy có giảm, nhưng vẫn ở mức cao làm mất94.055ha rừng, chiếm 23,5% trong tổng diện tích rừng mất trong 7 năm qua, bình quânthiệt hại 13.436ha/năm Đấu tranh với các vi phạm này, từ năm 1999 đến tháng 10 năm

2009, cả nước đã phát hiện, xử lý 494.875 vụ vi phạm các quy định của Nhà nước vềquản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Mặc dù tình trạng vi phạm giảm qua các năm,nhưng số vụ vi phạm còn lớn, diễn ra phổ biến ở nhiều nơi, với tính chất, mức độ ngàycàng nghiêm trọng đang tạo gánh nặng cho các lực lượng chức năng, nhất là lực lượngkiểm lâm trong ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật Nguyên nhân của vấn đề này cóthể được đề cập ở nhiều phương diện, trong đó phải kể đến công tác giao đất, giaorừng, khoán bảo vệ rừng, tổ chức thực hiện cơ chế hưởng lợi của người làm rừng cònchưa hợp lý nên người dân sống xung quanh rừng, nhất là đồng bào dân tộc thiểu sốcòn chưa hiểu, chưa thực hiện các quy định pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng; thậmchí còn xâm hại tài nguyên rừng, tiếp tay cho lâm tặc phá rừng

Xã Hương Phong, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế là xã miền núi có diệntích chủ yếu là rừng Ở đây chỉ có rừng và rừng Rừng ở đây rất đa dạng và phong phú,nhưng đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số đời sống kinh tế rấtkhó khăn Một số hộ dân ngoài địa phương là đồng bào dân tộc thiểu số đã tổ chức phárừng một cách “bài bản” để lấy đất sản xuất Trong khi đó, để quản lý và bảo vệ rừng

có hiệu quả, một trong những giải pháp cần được các cấp chính quyền thực hiện là vừaphải kết hợp giữa xử lý nghiêm minh các hành vi phá rừng, tiếp tay cho lâm tặc phárừng với việc tạo các điều kiện cần thiết để cho những người dân sống xung quanhrừng được hưởng lợi từ rừng và tham gia bảo vệ rừng lại chưa thực sự được quan tâm

Vì vậy, là một công chức đang công tác tại UBND xã Hương Phong, huyện A Lưới đểgóp phần tạo chuyển biến cơ bản và bền vững trong công tác quản lý, bảo vệ rừng, tôi lựa

chọn Đề tài “Giải quyết việc người dân của xã Phú Vinh phá rừng làm nương rẫy tại

tiểu khu 313 xã Hương Phong, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế ” làm nội dung cơ

bản để viết bài tiểu luận tình huống chương trình chuyên viên quản lý nhà nước

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở xử lý tình huống, sẽ đưa ra một số nhận xét và kiến nghị nhằm nângcao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng có liên quan trong việc quản lý,bảo vệ rừng nói chung và giải quyết việc phá rừng làm nương rẫy nói riêng Đồngthời, nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào trong thực tiễn của đơn vị đangcông tác, giúp cho bản thân tìm hiểu nguyên nhân và xử lý giải quyết công việc mộtcách nhanh chóng, kịp thời, đúng qui định nhằm góp phần bảo vệ tốt nguồn tài nguyênrừng của địa phương

3 Giới hạn, phạm vi và phương pháp nghiên cứu

Đề tài này được hoàn thành trên cơ sở lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh; quan điểm, chủ trương đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về

Trang 4

nhà nước và pháp luật Phạm vi đề tài này chỉ tập trung vào việc xử lý tình huốngngười dân của xã Phú Vinh phá rừng làm nương rẫy tại tiểu khu 313 xã Hương Phong,huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế vào năm 2019.

Đề tài sử dụng biện pháp nghiên cứu: khảo sát tình hình thực tiễn, phân tích xử

lý tình huống, so sánh đối chiếu

Phần B: NỘI DUNG

I NỘI DUNG TÌNH HUỐNG

1.1 Hoàn cảnh ra đời tình huống

Xã Hương Phong, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế là xã có diện tích rừngrất đa dạng và phong phú, nhưng đời sống nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu

số đời sống kinh tế rất khó khăn Một số hộ dân ngoài địa phương là đồng bào dân tộcthiểu số đã tổ chức phá rừng một cách “bài bản” để lấy đất sản xuất Họ thường xuyêntheo dõi, nắm chắc quy luật đi tuần tra, kiểm tra của lực lượng bảo vệ rừng Họ thường

sử dụng điện thoại di động để thông báo cho nhau khi phát hiện lực lượng bảo vệ rừng.Thường tổ chức số đông trong việc phá rừng để tạo thế áp đảo với lực lượng chứcnăng khi bị phát hiện Việc phá rừng thường được tổ chức vào ban đêm Khi gặp lựclượng chức năng những đối tượng này sẵn sàng chống trả, sẵn sàng dùng những lý lẽcủa riêng họ để chống lại lực lượng chức năng

đã có hành vi chống đối, không cho lực lượng thu giữ các công cụ, phương tiện được sửdụng để phá rừng Họ cho rằng số diện tích đất rừng này là của Bố, mẹ canh tác từ năm

1986 để lại, nên họ cố tình không chấp hành mà vẫn ngang nhiên dùng rựa, dao tiếp tụcchặt cây rừng và gây gô với lực lượng bảo vệ rừng, nếu không để cho họ làm thì họ sẽ

“chém” Nhận thấy nếu cứ giành giật như vậy, có thể các hộ dân khác đang phá rừng ởgần đó thấy động và đến chi viện thì với lực lượng mỏng, không đủ để giải quyết vụviệc, nên lực lượng quay về báo cáo sự việc xảy ra cho UBND xã và kiểm lâm viên địabàn để tìm biện pháp giải quyết

Ngày 4 tháng 7 năm 2019, kiểm lâm viên địa bàn cùng lực lượng Công an và địachính môi trường xã đến hiện trường thì thấy diện tích rừng bị chặt phá khá rộng Saukhi đo đạc xác định là 2,763 ha Trên diện tích bị chặt phá không có các loại thực vật

Trang 5

rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm nhóm IA, IB thuộc danh mục thực vật rừng,động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp,quý, hiếm Các lực lượng đã tiến hành lập biên bản hiện trường để báo cáo cụ thể cholãnh đạo cấp trên.

(Hình ảnh Lực lượng đi tuần tra tại thực địa)

Trang 6

(Hiện trường vụ việc phá rừng làm nương rẫy)

Nhận thấy tình hình ngày càng có khả năng phát triển phức tạp mà lực lượnglàm nhiệm vụ lại mỏng, tính chất vụ việc có sự tham gia của đồng bào dân tộc thiểu số

có thể gây nên nhiều bất ổn nếu không được xử lý một cách khôn khéo Ngày 06 tháng

02 năm 2020, thực hiện sự chỉ đạo của Hạt kiểm lâm A Lưới và UBND xã HươngPhong, lực lượng đến tại xã Phú Vinh (Xã giáp ranh) nơi gia đình ông Nguyễn VănVinh đang sinh sống để gặp Già làng yêu cầu giúp lực lượng tuyên truyền, giải thích,vận động gia đình ông Nguyễn Văn Vinh và nhiều hộ dân khác không phá rừng để làmrẫy, trồng sắn, trồng cây keo nữa mà chờ đợi chính quyền có các chương trình phù hợpcho bà con tham gia vào các dự án trồng rừng, bảo vệ rừng nhưng Già làng đã từ chối

vì “họ đang cần đất để làm rẫy, lấy củ sắn, bắp ngô để có cái ăn, không sẽ bị đói nên cónói gì thì họ cũng không nghe đâu” và “Cái nếp sống du canh, du cư vẫn còn nặng lắmcác cán bộ à!” Cũng theo Già làng nói, gia đình ông Nguyễn Văn Vinh từ trước đếnnay luôn chấp hành tốt các quy định của địa phương, nay nghe theo lời của một số

“người xấu” xúi bậy tham gia phá rừng làm rẫy

II PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG

2.1 Mục tiêu phân tích tình huống

Mục tiêu phân tích tình huống là nhằm làm sáng tỏ hành vi vi phạm của hộ giađình ông Nguyễn Văn Vinh gồm vợ và con trai theo quy định của pháp luật hiện hành;thẩm quyền xử lý đối với các hành vi vi phạm của các thành viên trong hộ gia đình ôngNguyễn Văn Vinh Thông qua đó tìm hiểu các nguyên nhân, hậu quả, nhất là nhữngnguyên nhân gắn với điều kiện sinh hoạt, phong tục tập quán, luật tục của địa phương

để góp phần giải quyết một cách thấu tình, đạt lý tình huống nêu trên

vì tương lai, lợi ích của quốc gia một cách có hiệu quả, Nhà nước phải thống nhất quản

lý, bảo vệ rừng Trong đó, quản lý rừng là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằngpháp luật Nhà nước và các biện pháp mang tính kinh tế, hành chính, dân sự và cảcưỡng chế trong những trường hợp cần thiết đến hành vi của các cá nhân, tổ chức trựctiếp tham gia hoặc có liên quan đến các quá trình phát triển, khai thác rừng và các sảnvật từ rừng nhằm bảo vệ và phát triển rừng vì lợi ích của Nhà nước và của toàn xã hội

Thuật ngữ quản lý có thể được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau như là sự giữgìn, trông coi, bảo vệ, điều khiển, chỉ đạo, tác động, tổ chức…Vì vậy, có thể thấy, quản

lý nhà nước đối với rừng là một nội dung có tính chất bao trùm, trong đó bao gồm cả

Trang 7

phát triển rừng, bảo vệ rừng và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và pháttriển rừng.

Để quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng, Nhà nước phải thực hiệnđồng bộ các nội dung để ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, kiểm tra,thanh tra, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ và pháttriển rừng Xử lý vi phạm pháp luật là một nội dung quan trọng của quản lý nhà nước

về bảo vệ và phát triển rừng Tuỳ thuộc vào hành vi vi phạm được pháp luật xác địnhchế tài (hình sự, dân sự, hành chính, kỷ luật) và tính chất, mức độ của hành vi đó màcác chủ thể có thẩm quyền sẽ tiến hành các biện pháp và các thủ tục cần thiết để truycứu trách nhiệm pháp lý tương ứng nhằm trừng phạt vi phạm, khôi phục trật tự pháp lý

bị xâm hại và khắc phục các hậu quả do vi phạm đó gây ra

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nhu cầu gô, lâm sản rất lớn, trong khidân số ngày càng tăng, công tác quản lý, bảo vệ rừng của các lực lượng chức năng, đặcbiệt là lực lượng kiểm lâm còn hạn chế khiến cho các vi phạm pháp luật trong lĩnh vựcnày gia tăng một cách đáng kể cả về số lượng, tính chất, mức độ Vì vậy, nâng cao hiệulực, hiệu quả quản lý rừng cần gắn bó chặt chẽ với việc bảo đảm trật tự pháp luật (phápchế xã hội chủ nghĩa) Nghị quyết số 17-TW ngày 1/8/2007 Hội nghị lần thứ 5 Banchấp hành Trung ương Đảng khoá X về: “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng caohiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước” xác định cơ sở lý luận cần thiết chohoạt động của các cơ quan chức năng, nhất là ở môi cấp chính quyền địa phương và cơquan kiểm lâm trong việc chủ động phân cấp, kiện toàn tổ chức, bố trí cán bộ, côngchức hợp lý, tham mưu cho hiệu quả cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biệnpháp, chương trình, dự án để quản lý, bảo vệ rừng ngày càng tốt hơn, đặc biệt là phảigắn việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này với việc thực hiện các chươngtrình, dự án để ổn định đời sống cho nhân dân, giải quyết nguyên nhân cơ bản dẫn đếnphá rừng, huỷ hoại rừng trên phạm vi nhiều địa phương hiện nay

2.2.2 Cơ sở pháp lý về quản lý, bảo vệ rừng và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng

Ngày 15/11/2017 Luật Lâm nghiệp được ban hành với 12 chương, 108 điều,(tăng 04 chương và 20 điều so với Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004), về nộidung Luật Lâm nghiệp năm 2017 có 10 điểm mới so với Luật bảo vệ, phát triển rừngnăm 2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019 và thay thế cho Luật bảo vệ,phát triển rừng năm 2004 Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã quy định những hành vi bịnghiêm cấm trong hoạt động lâm nghiệp để làm cơ sở cho việc xác định chế tài cụ thểđối với các hành vi vi phạm

Hiện nay, với các vi phạm hành chính trong quản lý, bảo vệ rừng được xử lýtheo Nghị định số 35/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2019 về xử phạt vi phạmhành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp Nghị định này còn xác lập cơ sở pháp lý cho

Trang 8

việc xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm vi phạm các quy định vềquản lý rừng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vi phạm, các đối tượng thườngkhông chỉ dừng lại ở các hành vi vi phạm trên mà có thể kéo theo các vi phạm khác(hình sự, hành chính, dân sự, kỷ luật) Vì vậy, quá trình xử lý thường hết sức phức tạp,bởi không chỉ xác định đúng vi phạm, áp dụng đúng chế tài, đảm bảo thực thi quyếtđịnh vì sự nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa mà còn phải đảmbảo cả các yêu cầu về chính trị-xã hội, ổn định an ninh, trật tự địa phương trước mắtcũng như lâu dài.

Bảo vệ và phát triển rừng là nhiệm vụ của Nhà nước và là nghĩa vụ của toàndân, trong đó lực lượng Kiểm lâm thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn lànòng cốt Tổ chức và hoạt động của lực lượng Kiểm lâm được quy định tại Điều 103,

104, 105 Luật Lâm nghiệp năm 2017, Nghị định số 156/NĐ-CP ngày 16/11/2018 củaChính Phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp Theo đó, lựclượng kiểm lâm có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát việc bảo vệ rừng, khai thác rừng, sửdụng rừng, lưu thông, vận chuyển, kinh doanh lâm sản; đấu tranh phòng, chống cáchành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đồng thời có quyền xử phạt viphạm hành chính và áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi vi phạm hành chính,khởi tố, điều tra hình sự đối với những hành vi vi phạm bị nghiêm cấm trong hoạtđộng kiểm lâm theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, pháp luật vềhình sự và pháp luật về tố tụng hình sự Trong xử phạt vi phạm hành chính, lực lượngkiểm lâm thực hiện thẩm quyền theo quy định tại Điều 7 Nghị định của Chính phủ số35/2019/NĐ-CP Ngoài ra, lực lượng kiểm lâm còn có nhiệm vụ tuyên truyền, vận độngnhân dân chấp hành nghiêm Luật lâm nghiệp; phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã, phường,thị trấn xây dựng và bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng quần chúng bảo vệ rừng

Bên cạnh đó, theo quy định tại Nghị định số 156/NĐ-CP ngày 16/11/2018 quyđịnh chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấptỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý toàn bộ tàinguyên rừng và tài nguyên đất lâm nghiệp của quốc gia thuộc phạm vi địa bàn của tỉnh,thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủyban nhân dân cấp tỉnh về việc để xảy ra phá rừng trái phép, cháy rừng, mất rừng, sửdụng đất lâm nghiệp sai mục đích ở địa phương; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chịutrách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện về việc để xảy ra phá rừng tráiphép, cháy rừng, mất rừng, sử dụng đất lâm nghiệp sai mục đích ở địa phương

2.2.3 Đường lối, quan điểm xử lý

Đường lối, quan điểm xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý rừng, bảo vệ rừngliên quan đến đối tượng là người dân tộc thiểu số là:

- Phải kết hợp chặt chẽ giữa việc phát hiện kịp thời, ngăn chặn vi phạm, tiến hành

xử lý theo quy định của pháp luật với tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục nhân dân vàtạo các điều kiện thuận lợi cho nhân dân ổn định về đời sống vật chất, tinh thần để ổn

Trang 9

định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn và giúp đỡ lực lượng kiểmlâm trong quản lý, bảo vệ rừng.

(Cán bộ Kiểm lâm cắm biển cấm tác động đến diện tích đất rừng đã bị phá)

- Áp dụng đúng các quy định pháp luật để xử lý nhưng có tính đến các tình tiếttăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân người vi phạm, điều kiện, hoàn cảnh kinh tế, trình độdân trí

- Xử lý nghiêm các đối tượng tổ chức, cầm đầu, chủ mưu, kích động, lôi kéo, rủ

rê đồng bào dân tộc thiểu số phá rừng làm rẫy Nhanh chóng thực hiện các biện phápngăn chặn vi phạm tiếp diễn, huy động lực lượng và các nguồn lực một cách hiệu quả đểkhắc phục các hậu quả do vi phạm pháp luật

2.2.4 Kinh nghiệm xử lý, giải quyết các vi phạm pháp luật do người dân tộc thiểu số thực hiện

Trên cương vị Hạt trưởng Trạm kiểm lâm, đồng chí Hạt trưởng đã tham mưu lênChi cục Kiểm Lâm tỉnh để xử lý các vi phạm pháp luật do người dân tộc thiểu số thựchiện trên địa bàn một cách có hiệu quả cần phải:

- Phát huy vai trò của chính quyền cơ sở, đặc biệt là của kiểm lâm viên chuyêntrách tại Uỷ ban nhân dân xã Hương Phong, các cộng tác viên kiểm lâm và kiểm lâmđịa bàn xã thuyết phục người dân tham gia bảo vệ và phát triển rừng, khai thác vàhưởng lợi một cách hợp pháp tài nguyên rừng

Trang 10

- Tích cực vận động thôn trưởng, những người có uy tín trong thôn giúp đỡ lựclượng kiểm lâm vận động, thuyết phục để người vi phạm không tiếp tục vi phạm nữa;đồng thời, nhận thức rõ trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước vì đã có hành vi vi phạm.Tập trung tham mưu cho chính quyền xã đề nghị cấp có thẩm quyền giải quyết các vấn

đề liên quan đến đời sống vật chất, nhu cầu sản xuất, canh tác của người dân

- Áp dụng chế tài xử lý trên cơ sở tạo cơ hội và các điều kiện để đối tượng có thểthực hiện được

2.3 Phân tích diễn biến tình huống

Tình huống vi phạm pháp luật của hộ gia đình ông Nguyễn Văn Vinh là mộtđiển hình về hoạt động phá rừng làm rẫy, trồng sắn, trồng ngô, keo…ở một số địaphương, trong đó có địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế Trên cơ sở các quy định pháp luậthiện hành, có thể xác định các vi phạm của hộ gia đình ông Nguyễn Văn Vinh như sau:

- Với diện tích rừng bị chặt phá để lấy đất canh tác là 2,763ha, hộ gia đình gồm

3 người của ông Nguyễn Văn Vinh đã thực hiện hành vi phá rừng trái pháp luật Theoquy định tại Điều 7 Nghị định của Chính phủ số 35/2019/NĐ-CP thì “Hành vi dịchchuyển mốc giới, ranh giới rừng hoặc chiếm rừng của chủ rừng khác” bị xử phạt bằngcác hình thức và theo các khung hình phạt được xác định từ khoản 1 đến khoản 7 Nghịđịnh 35/2019/NĐ-CP

Loại rừng mà hộ gia đình ông Nguyễn Văn Vinh chặt phá là rừng sản xuất, códiện tích từ trên 20.000 m2 thì bị áp dụng hình thức xử phạt là phạt tiền (hình thức xửphạt chính); tịch thu lâm sản, công cụ, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính(hình thức phạt bổ sung); bị buộc trồng lại rừng hoặc thanh toán chi phí trồng lại rừng(biện pháp khắc phục hậu quả) Căn cứ quy định tại khoản 7 Điều 7 Nghị định số35/2019/NĐ-CP, vi phạm của các thành viên trong gia đình không cấu thành tội phạm theoquy định tại Bộ luật hình sự năm 2015

Căn cứ quy định tại Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính thì trong gia đìnhông Nguyễn Văn Vinh, cả ông, vợ ông và con trai đủ năng lực gánh chịu tráchnhiệm hành chính

- Căn cứ quy định tại điểm b khoản 7 Điều 7 Nghị định số 35/2019/NĐ-CP, ôngNguyễn Văn Vinh và vợ đều bị áp dụng hình thức xử phạt chính là phạt tiền Theo quyđịnh thì khung tiền phạt là từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng Theo quy định tạiLuật xử lý vi phạm hành chính, vi phạm của ông Nguyễn Văn Vinh và vợ, con có cảtình tiết tăng nặng (vi phạm nhiều lần, tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm mặc dùngười có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó) và giảm nhẹ (vi phạm vì hoàncảnh khó khăn mà không do mình gây ra, vi phạm do trình độ lạc hậu) Vì vậy, trongquyết định có thể áp dụng tình tiết tăng nặng, cũng có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹhoặc không áp dụng để xác định mức trung bình của khung tiền phạt

Trang 11

- Kiểm lâm viên địa bàn, Công an và địa chính môi trường xã thực thi công vụ

đã lựa chọn phương án hành động hợp lý, vừa đảm bảo yêu cầu của pháp luật trongviệc lưu giữ căn cứ cho việc đấu tranh, xử lý vi phạm (lập biên bản về vi phạm hànhchính), vừa bảo toàn được lực lượng trong trường hợp lực lượng mỏng, không đủ điềukiện để xử lý triệt để vi phạm Đồng thời, tiến hành tham mưu, sử dụng các biện phápquản lý mềm dẻo để tác động đến nhận thức, thái độ của đồng bào nhằm từng bước tạo

sự chuyển biến về hành vi chấp hành pháp luật

2.4 Nguyên nhân dẫn đến tình huống

2.4.1 Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, thể chế pháp lý trong quản lý, bảo vệ rừng và xử phạt các hành vi phárừng làm rẫy còn nhiều hạn chế

Hiện nay, một số chủ trương, chính sách của Nhà nước chưa phù hợp với tìnhhình thực tế ở các địa phương như: Việc chi trả kinh phí cho các hộ dân nhận khoánrừng rất thấp, từ 200 đến 400 ngàn đồng/ha/năm Các hộ nhận khoán bảo vệ rừng chưa

có chính sách hưởng lợi hợp lý theo lượng tăng bình quân hàng năm của rừng, nêncuộc sống của người dân không đảm bảo, không làm tròn trách nhiệm trong công tácbảo vệ rừng

Mặc dù theo quy định của pháp luật hành vi phá rừng làm rẫy có khung tiền phạtkhá cao (so với mức sống và thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số) nhưng khó có thểđảm bảo thực hiện được khi lực lượng kiểm lâm mỏng, thường không phát hiện kịpthời vi phạm, khi người dân đã trồng cây, canh tác, sản xuất (thường tiến hành vào banđêm hoặc theo dõi quy luật hoạt động của lực lượng kiểm lâm để trốn tránh) thì gầnnhư “sự đã rồi” Với tập quán du canh, du cư của đồng bào, việc xử lý lại càng khókhăn hơn Dần dần, dẫn đến hiện tượng “nhờn” luật Đây cũng là nguyên nhân chínhlàm gia tăng tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng một cách ồ ạt của nhiều hộ đồngbào dân tộc thiểu số

Thứ hai, điều kiện sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số

Đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu tại các vùng núi cao, vùng sâu,vùng xa, gắn bó mật thiết với rừng, đất rừng và thường có tập quán sinh sống là ducanh, du cư, đốt rừng làm rẫy, săn bắn thú rừng Phần lớn người dân không biết chữ,không biết tiếng phổ thông, tâm lý tự ti dân tộc nên thường sống khép kín Khi Nhànước quản lý rừng một cách chặt chẽ để phục vụ cho việc khai thác và phát triển rừnglâu dài vì lợi ích chung của toàn xã hội thì trực tiếp tác động đến đời sống của ngườiđồng bào dân tộc thiểu số Họ không thể sống theo tập quán canh tác cũ, nếp sinh hoạt

cũ mà phải chấp hành pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng Điều này rất khó khăn khibản thân họ trình độ văn hoá thấp, các kỹ thuật canh tác, sản xuất, trồng trọt, chăn nuôicòn rất lạc hậu, nên kết quả sản xuất thường là năng suất không cao, chất lượng thấp.Các điều kiện tiếp cận thông tin hạn chế khiến đồng bào càng ít nắm được các chủ

Trang 12

trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, nhất làkhông nắm được cơ hội để tham gia vào các chương trình, dự án của Nhà nước, củađịa phương về phát triển rừng, giao đất, giao rừng…Vì vậy, để mưu sinh, một bộ phậnđồng bào dân tộc thiểu số vẫn sống theo tập quán cũ, thậm chí phá rừng, đốt rừng làmrẫy, tiếp tay cho lâm tặc vận chuyển lâm sản…

Trong khi đó, áp lực về dân số ở các vùng có rừng tăng nhanh do tăng cơ học, di

cư tự do từ nơi khác, đòi hỏi cao về đất ở và đất canh tác, những đối tượng này chủ yếu

là những hộ nghèo, đời sống gặp nhiều khó khăn, sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tàinguyên rừng Nhận thức về bảo vệ rừng còn hạn chế, do đó vẫn tiếp tục phá rừng kiếm

kế sinh nhai, lấy đất canh tác hoặc làm thuê cho bọn đầu nậu, kẻ có tiền để phá rừnghoặc khai thác gô, lâm sản trái phép

Mặt khác, do cơ chế thị trường, giá cả một số mặt hàng nông, lâm sản tăng cao,nhu cầu về đất canh tác các mặt hàng này cũng tăng theo, nên đã kích thích người dânphá rừng để lấy đất trồng các loại cây có giá trị cao hoặc buôn bán đất, sang nhượngtrái phép Đồng thời, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tình hình mới,nhiều công trình xây dựng, đường xá và cơ sở hạ tầng khác được xây dựng gây áp lựclớn đối với rừng và đất lâm nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động phárừng, khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép

Thứ ba, năng lực quản lý và bảo vệ rừng của nhiều chủ rừng và cơ quan chứcnăng còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn của việc ngăn chặn các hành vi phá rừng làmrẫy của đồng bào dân tộc thiểu số

Do quyền hạn của các công ty lâm nghiệp là chủ rừng trong công tác quản lý, bảo

vệ rừng hầu như không có, chỉ được phép ngăn chặn và báo cáo xin ý kiến, do đó hạnchế về nhiều mặt đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng Lực lượng quản lý và bảo vệrừng của các công ty lâm nghiệp còn chưa được coi trọng, chưa có chế độ ưu đãi phùhợp dù trên thực tế họ là lực lượng chính để giữ rừng Vì vậy, gánh nặng công tác quản

lý, bảo vệ rừng dồn lên vai lực lượng kiểm lâm Trong khi đó, lực lượng kiểm lâmmỏng, địa vị pháp lý chưa rõ ràng, trang thiết bị, phương tiện thiếu thốn, lạc hậu Chế độchính sách cho lực lượng kiểm lâm chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao Tại một

số địa phương, tiền ưu đãi nghề nghiệp đối với kiểm lâm còn chậm được thanh toán Về

tổ chức, biên chế lực lượng quản lý bảo vệ rừng chưa được sắp xếp ổn định, cho nênnguồn kinh phí chi trả tiền lương cho lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng chưa có Thực

tế cho thấy, ở những vùng trọng điểm phá rừng nếu chỉ có lực lượng kiểm lâm không thểgiải quyết dứt điểm Trình độ chuyên môn nghiệp vụ còn hạn chế (nhất là nghiệp vụ vậnđộng quần chúng), một số công chức kiểm lâm dao động trước khó khăn, thậm chí cóbiểu hiện tiêu cực

Công tác đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ, giáo dục đạo đức phẩm chất cho đội ngũbảo vệ rừng nhất là kiểm lâm chưa được coi trọng đúng mức, nên chưa có cơ sở vật chấtcho việc đào tạo, huấn luyện Mặt khác, cơ sở vật chất cho công tác bảo vệ rừng hết sức

Ngày đăng: 01/12/2021, 08:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w