Hệ thống này đáp ứng được nhu cầu tiếp nhận tin nhắn cảnh báo bằng SMS từ nhiều địa điểm khác nhau, định vị vị trí địa điểm xảy ra sự cố và vị trí nhân viên ứng cứu, gửi cảnh báo đúng đố
Trang 1THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRẦN PHƯỚC THÀNH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG HỖ TRỢ ỨNG CỨU SỰ CỐ AN NINH
NGÀNH: KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ - 60520203
S K C0 0 4 7 0 7
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRẦN PHƯỚC THÀNH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG HỖ TRỢ CẢNH BÁO SỰ CỐ AN NINH
NGÀNH: KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ - 605270 Hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN CHÍ NGÔN
Tp Hồ Chí Minh, tháng 10/2015
Trang 3Trang i
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:
Họ & tên: Trần Phước Thành Giới tính: Nam
Ngày, tháng, năm sinh: 13/04/1987 Nơi sinh: Cần
Thơ Quê quán: Cần Thơ Dân tộc:
Kinh
Chỗ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: 57/1 CMT8, P An Thới, Q Bình Thủy, TP Cần Thơ Điện thoại cơ quan: Điện thoại nhà riêng: 0916913681 Fax: E-mail: phuocthanh87@gmail.com
II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO:
1 Trung học chuyên nghiệp:
Hệ đào tạo: Thời gian đào tạo từ ……/…… đến ……/
…… Nơi học (trường, thành phố):
Ngành học:
2 Đại học:
Hệ đào tạo: Tại Chức Thời gian đào tạo từ 10/2005 đến 06/2010
Nơi học (trường, thành phố): Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật
TP.HCM Ngành học: Kỹ Thuật Điện – Điện Tử
Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp:
Ngày & nơi bảo vệ đồ án, luận án hoặc thi tốt nghiệp: ĐH SPKT
TP.HCM Người hướng dẫn:
III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC:
Trang 4Trang ii
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ ngành Kỹ Thuật Điện Tử “Xây dựng hệ thống
hỗ trợ ứng cứu sự cố an ninh” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc
Ngoài việc sử dụng lại kết quả nghiên cứu của các tác giả khác như được trích dẫn trong tài liệu thì các kết quả của nghiên cứu này chưa từng được công bố trong bất cứ luận văn cùng cấp nào khác trước đây
Các số liệu trong luận văn là trung thực, được rút trích từ quá trình nghiên cứu và thực nghiệm Các phương pháp nêu trong luận văn được rút ra từ những cơ sở lý luận
và quá trình nghiên cứu tìm hiểu
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 08 năm 2015
Trần Phước Thành
Trang 5Trang
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Thầy PGS.Tiến sĩ Nguyễn Chí Ngôn Trưởng khoa Công Nghệ trường Đại học Cần Thơ đã tận tình chỉ dạy và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin cảm ơn quý Thầy, Cô giảng viên đã tận tình giảng dạy trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu tại trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, ủng hộ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này
Tp Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 08 năm 2015
Trần Phước Thành
Trang 6Trang
Mục tiêu của nghiên cứu này là đề xuất giải pháp xây dựng một hệ thống hỗ trợ ứng cứu sự cố an ninh, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ giám sát an ninh, mà xã hội đang đặt ra Giải pháp đề xuất là xây dựng một phần mềm trên nền C#.net, cho phép định vị được các địa điểm cần giám sát và vị trí hiện tại của nhân viên (hoặc cộng tác viên) đảm nhiệm vai trò ứng cứu sự cố Ngay khi hệ thống tiếp nhận tin nhắn SMS cảnh báo từ một địa điểm xảy ra sự cố, nó sẽ tìm vị trí nhân viên gần nhất, dựa trên dữ liệu GPS Từ đó, hệ thống sẽ điều nhân viên tiếp cận một cách kịp thời, thông qua các chỉ dẫn đường đi trên bản đồ Google Maps đã cài trên điện thoại di động của họ Thử nghiệm hệ thống cho thấy kết quả hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu thiết kế và có thể triển khai ứng dụng với chi phí thấp
on GPS data Thence, the system appoints staff in a timely manner, through the instruction paths on Google Maps installed on their mobile phones Experimental results show that the system fully meet the design requirements and can be implemented at low cost applications
Trang 7Trang v
Trang tựa TRANG Quyết định giao đề tài
Lý lịch cá nhân i
Lời cam đoan ii
Cảm tạ iii
Tóm tắt iv
Mục lục v
Danh sách các chữ viết tắt vii
Danh sách các hình ix
Danh sách các bảng xi
Chương 1: TỔNG QUAN 1
1.1 Tổng quan chung về lĩnh vực nghiên cứu 1
1.2 Mục đích của đề tài 3
1.3 Nhiệm vụ của đề tài và giới hạn đề tài 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Hệ thống cảnh báo bằng SMS 5
2.2 Tổng quan về mạng GSM 13
2.3 Tổng quan về tin nhắn SMS 16
2.4 Tập lệnh AT command 21
2.5 Tổng quan về GPS 24
2.6 Google Maps API 36
Chương 3: XÂY DỰNG HỆ THỐNG HỖ TRỢ 46
ỨNG CỨU SỰ CỐ AN NINH 3.1 Tổng quan về hệ thống 46
3.2 Thiết lập bộ thiết bị cảnh báo SMS 48
Trang 9Trang vii
3G : Third-Generation technology – Công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba Ardunio Uno : Vi điều khiển mã nguồn mở
AT : Attention – Lệnh AT để chỉ thị cho modem thực hiện yêu cầu
AUC : Trung tâm nhận thực
BISC : Base station Identity Code – Mã nhận dạng trạm gốc
BSC : Base station Control – Đài điều khiển trạm gốc
BTS : Base Station Subsystem – Trạm thu phát gốc tín hiệu vô tuyến
CGI : Cell Global Identity – Vùng định vị
CIMD : Computer Interface to Message Distribution - Giao diện máy tính để
phân phối tin nhắn COM : Communication – Cổng giao tiếp
CSDL : Cơ sở dữ liệu
CSPDN : Mạng chuyển mạch số công cộng theo mạch
EIR : Equipment Identifed Reader – Bộ ghi nhận dạng thiết bị
ETSI : Viện Tiêu chuẩn Viễn thông châu Âu
FET : Transistor hiệu ứng trường
GMSC : Gateway Mobile Switching Center - Tổng đài trung kế
GPRS : General Packet Radio Service – Dịch vụ vô tuyến gói tổng hợp
GPS : Global Positioning System – Hệ thống định vị toàn cầu
GSM : Global System for Mobile Communications – Hệ thống thông tin di
động toàn cầu
Trang 10MSC : Mobile Switching Central –trung tâm chuyển mạch các dịch vụ di động
OMC : Operating and Maintaining Central –trung tâm khai thác và bảo dƣỡng
OSS : Operating and surveilance System –Hệ thống khai thác và giám sát
PIR : Passive InfraRed sensor – Cảm biến tia nhiệt
PLMN : Mạng di động mặt đất công cộng
PSTN : Mạng điện thoại mặt đất công cộng
SIM : Subscriber Identity Module - Mô-đun nhận diện thuê bao (thẻ sim)
SMS : Short Message Services - Dịch vụ tin nhắn ngắn
SMSC : Short Message Service Center - Trung tâm dịch vụ tin nhắn ngắn SMTP : Simple Mail Transfer Protocol - Giao thức truyền tải thƣ đơn giản SOAP :
Simple Object Access Protocol - Giao thức truy cập đối tƣợng đơn giản SQL Server :
Structured Query Language – Hệ quản trị cơ sở dữ liệu
SS : Swithching system – hệ thống chuyển mạch
VLR : Bộ ghi định vị tạm trú
Trang 11Trang
HÌNH
Hình 2.1: Dùng vật liệu pyroelectric để cảm ứng tia nhiệu
TRANG 5 Hình 2.2: Dùng vật liệu pyroelectric để cảm ứng tia nhiệu 6 Hình 2.3: Mạch khuếch đại tín hiệu cho cảm biến PIR [9] 7 Hình 2.4: Mô dun cảm biến PIR 7 Hình 2.5: Sơ đồ khối mô dun cảm biến PIP 8 Hình 2.6: Sơ đồ mạch của mô dun cảm biến PIR 8
Hình 2.7: Kính Fresnel và sơ đồ hội tụ các tia nhiệt vào vị trí của cảm biến PIR 9
Hình 2.8: Tín hiệu khi chưa có vật đi qua 11
Hình 2.9: Tín hiệu khi vật đi vào vùng ảnh hường 1 11
Hình 2.10: Tín hiệu khi vật đi vào vùng ảnh hường 2 12
Hình 2.11: Tín hiệu khi vật đi ra khỏi vùng ảnh hưởng 12
Hình 2.12: Tín hiệu trở về trạng thái thường trực 12
Hình 2.13: cấu trúc mạng GSM [5] 13
Hình 2.14: Ví dụ về phân cấp cấu trúc địa lý của mạng di động cellular (GSM)[6] 15 Hình 2.15: Vùng mạng GSM/PLMN [6] 15
Hình 2.16: Hệ thống SMS và các thiết bị 17
Hình 2.17: Cách thức SMS hoạt động thông qua một trung tâm tin nhắn SMS 18
Hình 2.18: Chức năng của SMS Gateway [12] 18
Hình 2.19: Ứng dụng SMS kết nối tới SMSC không qua trung gian SMS Gateway 19 Hình 2.20: Ứng dụng SMS kết nối tới SMSC qua trung gian SMS Gateway [12] 20
Hình 2.21: Một ứng dụng SMS kết nối đến điện thoại di động hoặc modem thông qua một SMS Gateway [12] 21
Hình 2.22: Cấu trúc của hệ thống định vị GPS 24
Trang 12Trang x
Hình 2.24: Thiết bị thu tín hiệu GPS 27Hình 2.25: Sơ đồ khối máy thu tín hiệu GPS 28Hình 2.26: Mô tả kết quả tạo sự kiện 43Hình 2.27: Chỉ dẫn đường đi trên Google Maps 44Hình 3.1: Mô hình lưu trữ và xử lý tin nhắn 46Hình 3.2: Sơ đồ khối mô tả hoạt động hệ thống hỗ trợ ứng cứu sự cố an ninh 47Hình 3.3: Bộ Home Burglar Alarm System (CG-8800G3) 49Hình 3.4: Sơ đồ khối thiết bị CG-8800G3 50Hình 3.5: Mối liên kết các khối dữ liệu trong hệ cơ sở dữ liệu SQL 51Hình 3.6: Bảng cơ sở dữ liệu cảnh báo 56Hình 3.7: Truy xuất dữ liệu GPS từ điện thoại di động 60Hình 3.8: Ứng dụng Android để xác định vị trí nhân viên 62Hình 3.9: Giao diện chính của ứng dụng trên máy tính quản lý 63Hình 3.10: Các bảng quản trị cơ sở dữ liệu và hiển thị 63Hình 3.11: Bảng danh sách cảnh báo 64Hình 3.12: Hiển thị cảnh báo và nhân viên ứng cứu 65Hình 3.13: Cập nhật danh mục nhân viên và địa điểm 68Hình 4.1: Mô hình thực nghiệm 69Hình 4.2: Dạng nội dung tin nhắn mà nhân viên nhận được 70Hình 4.3: Hiển thị các trạm cần giám sát 71Hình 4.4: Điều hướng cho nhân viên ứng cứu 72Hình 4.5: Hướng di chuyển gợi ý cho nhân viên ứng 72
Trang 13Trang xi
Bảng 2.1: Một số lệnh AT liên quan đến việc gửi tin nhắn [14] 22Bảng 2.2: Một số lệnh AT liên quan đến việc nhận tin nhắn SMS [21] 23Bảng 2.3: So sánh một số thông số kỹ thuật của ba hệ thống 34
vệ tinh dẫn đường toàn cầu
Bảng 3.1: Bảng thông số đặc điểm kỹ thuật 50Bảng 3.2: Bảng thuộc tính của dm_nhanvien 51Bảng 3.3: Bảng thuộc tính của site_info 52Bảng 3.4: Bảng thuộc tính của alarm_new 52Bảng 3.5: Các thông số cấu hình modem cần thiết để gửi/đọc 53tin nhắn qua modem 3G
Bảng 3.6: Các thông số cấu hình cơ sở dữ liệu hệ thống 54Bảng 4.2: Qui ước mã xác nhận của nhân viên 70
Trang 14Chương 1:
TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Việc ứng dụng hệ thống cảnh báo an ninh, giám sát an ninh trong nhà xưởng, trạm BTS, văn phòng, bãi xe, siêu thị, nhà ở…. đã được đưa vào thực tế từ rất lâu. Theo dòng phát triển khoa học công nghệ, có rất nhiều hệ thống cảnh báo an ninh được phát triển với nhiều phương pháp cảnh báo khác nhau như cảnh báo bằng tin nhắn SMS, cảnh báo bằng âm thanh, cuộc gọi điện thoại [1,2]. Tuy nhiên, các phương pháp này hạn chế về số lượng người tiếp nhận cảnh báo và báo động không phù hợp với người cần tiếp nhận thông tin cảnh báo. Hiện nay, cũng có rất nhiều doanh nghiệp đang phát triển kinh doanh dịch vụ bảo vệ, ứng cứu, sửa chữa, cung cấp dịch vụ…, nhưng chủ yếu phát triển về nguồn nhân lực, ít doanh nghiệp tập trung trang bị cho mình những trang thiết bị khoa học kỹ thuật để phục vụ cho công việc. Từ nhu cầu thực tiễn, nghiên cứu xây dựng hệ thống hỗ trợ ứng cứu thông tin.
Hệ thống này đáp ứng được nhu cầu tiếp nhận tin nhắn cảnh báo bằng SMS từ nhiều địa điểm khác nhau, định vị vị trí địa điểm xảy ra sự cố và vị trí nhân viên ứng cứu, gửi cảnh báo đúng đối tượng, có một hệ cơ sở dữ liệu, hiển thị trực quan trên bản đồ GoogleMaps trên phần mềm, cung cấp thông tin về vị trí, tuyến đường ngắn nhất đến địa điểm cần ứng cứu, giúp cho nhân viên ứng cứu có cái nhìn tổng quan nhất và công tác chuẩn bị ứng cứu được thuận lợi nhất.
Cùng với sự phát triển các thành tựu công nghệ Điện Tử – Tin Học – Viễn Thông làm thay đổi cuộc sống con người từng giờ từng phút, nó tạo ra một trào lưu
"Điện Tử – Tin Học – Viễn Thông" trong mọi lĩnh vực ở thế kỷ 21. Lĩnh vực Thông Tin Di Động cũng không nằm ngoài trào lưu đó. Cùng với nhiều công nghệ cảnh báo an ninh khác nhau đều ứng dụng hệ thống Thông Tin Di Động, nó tạo nhiều thuận lợi cho công tác bảo vệ và ứng cứu. Hệ thống cảnh báo hiện nay bao gồm các nhiều loại như tin nhắn SMS, tin nhắn thoại, email …các hệ thống này hầu hết đều
sử dụng mạng GSM hiện nay [3].
Trang 15GSM (Global System for Mobile communication) là hệ thống thông tin di động số toàn cầu, là công nghệ không dây thuộc thế hệ 2G (second generation) có cấu trúc mạng tế bào, cung cấp dịch vụ truyền giọng nói và chuyển giao dữ liệu chất lượng cao với các băng tần khác nhau: 400MHz, 900MHz, 1800MHz và 1900MHz, được tiêu chuẩn Viễn thông Châu Âu (ETSI) quy định [4][5]. GSM là một hệ thống
có cấu trúc mở nên hoàn toàn không phụ thuộc vào phần cứng, người ta có thể mua thiết bị từ nhiều hãng khác nhau. Mặt thuận lợi to lớn của công nghệ GSM là ngoài việc truyền âm thanh với chất lượng cao còn cho phép thuê bao sử dụng các giao tiếp khác rẻ tiền hơn đó là tin nhắn SMS. Ngoài ra để tạo thuận lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ thì công nghệ GSM được xây dựng trên cơ sở hệ thống mở nên nó dễ dàng kết nối các thiết bị khác nhau từ các nhà cung cấp thiết bị khác nhau [5]. GSM hiện chiếm 90% thị trường di động toàn cầu (Tháng 6 2015) [6]. Các mạng thông tin di động GSM cho phép roaming với nhau do đó những máy điện thoại di động GSM của các mạng GSM khác nhau có thể sử dụng được nhiều nơi trên thế giới [7].
Để xây dựng một hệ thống cảnh báo người ta không thể nào bỏ qua việc ứng dụng thống định vị toàn cầu GPS trong thiết kế để xác định vị trí địa lý nơi cần ứng cứu hoặc vị trí nhân viên ứng cứu được chính xác. GPS được thiết kế, xây dựng, vận hành và quản lý bởi Bộ quốc phòng Hoa Kỳ. Nhưng kể từ năm 1980, chính phủ Hoa Kỳ đã cho phép sử dụng hệ thống GPS vào mục đích dân sự. Và cho đến nay, lợi ích của hệ thống GPS mang lại là vô cùng to lớn. GPS không chỉ được dùng trong lĩnh vực khai thác mỏ, địa chất, vẽ bản đồ mà còn được dùng để điều khiển giao thông và đặc biệt là sử dụng để định vị và dẫn đường trong ngành hàng không.
Và với sự phát triển vượt bậc của công nghệ, ngay cả những chiếc điện thoại ngày nay cũng được trang bị hệ thống GPS. Đa số những nhà sản xuất điện thoại đều tích hợp sẵn một loại bản đồ số kèm theo hệ thống GPS trên điện thoại. Một số ít còn lại không có sẵn bản đồ số tích hợp sẵn mà người dùng phải mua một phần mềm bản
đồ từ bên thứ ba. Một số phần mềm bản đồ trên thị trường có thể nhắc đến như: Vietmap, Mapking, OziExplorer…
Trang 161.2 Mục đích của đề tài
Từ nhu cầu cấp thiết về dịch vụ bảo vệ an ninh, đề tài sẽ xây dựng một ứng dụng hỗ trợ ứng cứu sự cố an ninh thông qua tin nhắn SMS, đề xuất xây dựng một phần mềm trên nền C#.net, cho phép định vị được các địa điểm cần giám sát và vị trí hiện tại của nhân viên (hoặc cộng tác viên) đảm nhiệm vai trò ứng cứu sự cố. Ngay khi hệ thống tiếp nhận tin nhắn SMS cảnh báo từ một địa điểm xảy ra sự cố,
nó sẽ tìm vị trí nhân viên gần nhất, dựa trên dữ liệu GPS được cập nhật sau mỗi 30 giây, với độ chính xác trong phạm vi 50m, từ thiết bị điện thoại thông minh cầm tay của họ. Từ đó, hệ thống sẽ điều nhân viên tiếp cận một cách kịp thời, thông qua các chỉ dẫn đường đi trên bản đồ Google Maps đã cài trên điện thoại di động của họ, thời gian tin nhắn gởi đến từng nhân viên là 1 phút. Cùng lúc hệ thống có thể phục
vụ cho nhiều đơn vị khác nhau, quản lý cập nhật vị trí của rất nhiều nhân viên. Đáp ứng nhu cầu của nhiều công ty hiện nay về vấn đề an ninh trong nhà máy xí nghiệp…. Giảm được đội ngũ cán bộ quan sát, bảo đảm an ninh 24/24 trên tất cả các chi nhánh của các đơn vị với chi phí hợp lý, thấp nhất.
1.3 Nhiệm vụ của đề tài và giới hạn đề tài
- Xây dựng hệ thống quản trị là một phần mềm quản lý, hiển thị bằng công
cụ lập trình C#.
1.3.2 Giới hạn của đề tài
- Chỉ mới chị thực nghiệm trên hộ gia đình, khi áp dụng hệ thống này cho một cơ quan, xí nghiệp… thì cần phát triển, lắp đặt thêm nhiều loại thiết bị cảnh báo khác.
Trang 17- Vị trí và điều hướng đều phụ thuộc vào ứng dụng Google Maps nên ít nhiều cũng có sai số, đặc biệt là những tuyến đường mới hoặc nhỏ thì không có trên bản
đồ.
- Một số trường hợp ứng cứu sự cố phải về trung tâm lấy dụng cụ sửa chữa thì bảng đồ định hướng mà cộng tác viên nhận được ban đầu sẽ không có ích.
1.4 Hướng nghiên cứu và phát triển
Như đã phân tích ở trên chuyên đề này nhằm mục đích phân tích những ưu điểm của hệ thống cảnh báo sự cố bằng tin nhắn SMS, mạng GSM, hệ thống GPS, ứng dụng Google Maps, liên kết chúng thành một hệ thống nhận và phát tín hiệu cảnh phù hợp nhất nghĩa là gởi tin nhắn cảnh báo đến đúng người cần nhận cảnh báo. Hiện nay, các nhà sản xuất chỉ chú trọng đến việc ghi nhận và phát tín hiệu cảnh báo cho một hoặc một số đối tượng được quy định sẵn, không có hệ thống hiển thị, không xác định được là có người chấp nhận chưa hay sự cố đã được thông báo đến nhân viên ứng cứu chưa, nhân viên ứng cứu không hình dung được sự cố diễn ra ở đâu khi nào, không có một cơ sở dữ liệu để lưu trữ thông tin ứng cứu.
Từ những cơ sở trên nghiên cứu này sẽ
- Trình bày về việc triển khai lắp đặt hệ thống phát tín hiệu cảnh báo, phần tiếp nhận và phát tín hiệu cảnh báo.
- Nghiên cứu về hệ cơ sở dữ liệu SQL Sever, Window server, Web service,
và lập trình ứng dụng quản trị, hiển thị vị trí trên Google Map.
- Dựa vào những thông tin tiếp nhận và hệ thống cơ sở dữ liệu có sẵn, máy chủ sẽ cung cấp cho bộ phận ứng cứu một kế hoạch tiếp cận mục tiêu khả thi nhất, bằng cách gởi liên kết thông tin địa điểm cần được ứng cứu lên Google Maps.
- Các vấn đề thường gặp khi triển khai hệ thống tiếp nhận cảnh báo thông tin.
- Triển khai và ghi nhận kết quả đạt được.
Trang 18Chương 2:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Hệ thống cảnh báo bằng SMS
2.1.1 Tổng quan
thu thập tín hiệu cảnh báo như cảm biến hồng ngoại, cảm biến cử từ, cảm biến cảnh báo cháy, rò khí gas…, mô dun điều khiển và mô đun đùng để gởi tin nhắn SMS qua mạng
diện của người di chuyển vào vùng cần đảm bảo an ninh, PIR xuất tín hiệu ở ngõ ra, mô dun điều khiển sẽ nhận tín hiệu từ ngõ ra của bộ thu tín hiệu hồng ngoại để tác động ngõ ra của mô dul gởi tin nhắn SMS đến người dùng hoặc hệ thống tiếp nhận tin nhắn cảnh báo.
Hình 2.1: Sơ đồ khối hệ thống cảnh báo bằng SMS
2.1.2 Cảm biến PIR
Mọi vật thể đều được cấu tạo từ các phân tử nhỏ li ti, nhiệt là một dạng năng lượng tạo ra từ các xao động của các phân tử, đó là các chuyển động hỗn loạn, không trật tự. Từ các xao động này, nó phát ra các tia nhiệt, bằng cảm giác thông thường của giác quan, con người chúng ta nói đó là sức nóng. Ở mỗi người nguồn thân nhiệt thường ổn định ở mức 37 độ C, đó là nguồn nhiệt mà ai cũng có và nếu dùng linh kiện cảm ứng thân nhiệt, chúng ta sẽ có thiết bị phát hiện ra các vật thể phát ra tia nhiệt, đó chính là ý tưởng mà người ta chế ra thiết bị motion detector, điều khiển theo nguồn thân nhiệt chuyển động. Dựa vào ý tưởng trên người ta dùng vật liệu pyroelectric [8] để làm cảm biến dò tia nhiệt, người ta kẹp vật liệu pyroelectric giữa 2 bản cực, khi có tác kích của các tia nhiệt, trên hai 2 bản cực sẽ
Mô dun GSM gởi tin nhắn SMS
Trang 19
Hình 2.2: Dùng vật liệu pyroelectric để cảm ứng tia nhiệt
Từ nguyên tắc trên người ta tạo ra cảm biến PIR (Passive InfraRed sensor) [9] bằng cách gắn 2 cảm ứng pyroelectric tia nhiệt nằm ngang và được nối vào cực Gate của một transistor FET để khuếch đại tín hiệu điện, có 3 ngõ ra, chân 1 (Drain) nối nguồn Vcc, chân 2 (Source) tín hiệu output ngõ ra của cảm biến, chân 3 (Ground) nối mass. Ngoài ra phía trên 2 cảm ứng pyroelectric tia nhiệt người ta gắn thêm một tấm kính để lọc lấy tia nhiệt (tia hồng ngoại). Và có dạng như hình 2.3.
Trang 20Hình 2.4: Mô dun cảm biến PIR
Kính lọc hồng ngoại
Cảm biến tia nhiệt
Trang 21* Thiết bị hội tụ tia nhiệt cho mô dun cảm biến PIR
Các tia nhiệt phát ra từ các vật thể sống rất yếu và rất phân tán, để tăng độ rộng cho đầu dò cũng như hội tụ các tia nhiệt lại đúng vào vị trí của cảm biến PIR, người ta dùng kính Fresnel như hình 2.7 để chụp lên đầu cảm biến PIR. Đồng thời cũng giúp cho cảm biến tránh được các tia tử ngoài từ môi trường bên ngoài chiểu vào đầu cảm biến.
Cảm biên
(Sensor)
Khuếch đại (amplifier)
So sánh (comparisons)
Mạch định thời
có điều chỉnh (delay)
Điều khiển
tự động (auto control)
Trang 22nó lại phát ra tín hiệu điện. Sự xuất hiện của 2 tín hiệu này nhận biết rằng đã có một nguồn nhiệt di động ngang và mạch điện tử sẽ phát ra tín hiệu điều khiển.
Nguyên tắc hoạt động: Ở trạng thái thường trực khi chưa có tia nhiệt di chuyển vào đầu dò của cảm biến thì tín hiệu đang ở mức 0, và mạch không hoạt động. Khi có một vật chuyển động vào đầu dò nhiệt PIR thì các tia nhiệt từ vật thể
đó phát ra sẽ đi qua thấu kính Fresnel các tia nhiệt này sẽ hội tụ vào đầu dò PIR, khi mới vào vùng dò của cảm biến thì các tia nhiệt này chỉ hội tụ vào cảm biến pyroelectric thứ 1, thì mức 0 của cảm biến thứ nhất sẽ lên 1, kế đến trong khoảng thời gian rất nhỏ vật sẽ di chuyển ngang qua tới cảm biến pyroelectric thứ 2 cũng
Trang 23sẽ qua 1 một bộ khuếch đại thứ nhất là FET, kế đến tín hiệu ngõ ra của cảm biến PIR ở chân 2 (Source) sẽ vào một mạch khuếch đại nữa, mạch khuếch đại này sẽ khuếch đại tín hiệu lên mức cần thiết theo theo thiết kế sẵn của nhà sản xuất, kế đến tín hiệu này sẽ đến một mạch so sánh để xuất ra tín hiệu chuẩn kỹ thuật số mức 1 tức là mạch đang hoạt động, ngược lại ở mức 0 mạch không hoạt động. Trong thực
tế vật phát ra tia hồng ngoại có thể di chuyển nhanh, chậm hoặc có thể đứng yên trong vùng quét của cảm ứng, vì thế ta cần mạch làm trễ tín hiệu lâu hơn so với tín hiệu nhận được trong thực tế để ta có thể điều chỉnh thiết bị hoạt động trong khoản thời gian mà chúng ta mong muốn. từ đây tín hiệu của mô duncảm biến được đưa ra ngoài để kết nối với các thiết bị khác.
Chúng ta sẽ xem hoạt động của mạch qua các hình mô tả dưới đây: Với hình bóng đèn là tín hiệu output của mô dunPIR, đèn tắt là mức 0, đèn sáng là mức 1, hình cảm biến PIR với 2 bảng pyroelectric lúc đầu sẽ là màu lợt khi chưa có vật di chuyển vào vùng phát hiện tín hiệu là 1 đường thẳng (hình 2.8). Tiếp đến vật thể di chuyển vào vùng ảnh hưởng 1 tín hiệu bắt đầu xuất hiện, hình cảm biến PIR bảng pyroelectric 1 đậm lên nhưng ngõ ra của PIR là hình bóng đèn vẫn tắt (Hình 2.9). Khi vật thể đi vào vùng ảnh hưởng thứ 2 thì tín hiệu hình cảm biến PIR của bảng pyroelectric 1 sẽ lợt đi, bảng 2 đậm lên tín hiệu xuất hiện ở bảng 2, hình bóng đèn sáng lên, tín hiệu output của mô dunPIR lúc này là 1 (Hình 2.10). Khi vật thể đi qua khỏi vùng ảnh hưởng 2 thì tín hiệu đã trở về 0 nhưng đèn vẫn còn sáng vì lúc này mạch delay vẫn duy trùy tín hiệu ngõ ra của mô dunPIR ở mức 1 (Hình 2.11). Đến một thời gian cài đặt trước nhất định nào đó thì đèn sẽ tắt, tín hiệu sẽ trở về 0, mạch
ở trạng thái thường trực (Hình 2.12).
Trang 24Xuất hiện tín hiệu pha dương
Vùng phát hiện
Chưa vào vùng ảnh hưởng
Kính hội tụ Fresnel
Tín hiệu Cảm biến PIR
Không xuất hiện tín hiệu
Vùng phát hiện
Đèn tắt
Trang 25Xuất hiện tín hiệu pha âm
Vùng phát hiện
Ra khỏi vùng ảnh hưởng
Kính hội tụ Fresnel Tín hiệu Cảm biến PIR
Không xuất hiện tín hiệu
Vùng phát hiện
Đối tượng đi
Kính hội tụ Fresnel
Tín hiệu Cảm biến PIR
Không xuất hiện tín hiệu
Vùng phát hiện
Hết thời gian trễ đèn trở lại tắt
Trang 26MS: Máy di động
OSS: Operating and surveilance System –Hệ thống khai thác và giám sát.
OMC: Operating and Maintaining Central –trung tâm khai thác và bảo dưỡng ISDN: Mạng số liên kết đa dịch vụ
PSTN: Mạng điện thoại mặt đất công cộng
CSPDN: Mạng chuyển mạch số công cộng theo mạch
PLMN: Mạng di động mặt đất công cộng
MS: Máy di động.
Trang 27Hệ thống GSM [5] được chia thành hệ thống chuyển mạch (SS hay NSS) và hệ thống trạm gốc (BSS). Hệ thống được thực hiện như một mạng gồm nhiều ô vô tuyến cạnh nhau để cùng đảm bảo toàn bộ vùng phủ sóng của vùng phục vụ. Mỗi ô
có một trạm vô tuyến gốc BTS làm việc ở một tập hợp các kênh vô tuyến. Các kênh này khác với các kênh được sử dụng ở các ô lân cận để tránh giao thoa nhiễu. Một
bộ điều khiển trạm gốc BSC điều khiển nhóm BTS. BSC điều khiển các chức năng như một trung tâm chuyển mạch các dịch vụ di động MSC điều khiển một số trạm BTS. MSC điều khiển các cuộc gọi đến và từ mạng chuyển mạch điện thoại công cộng PSTN, mạng số liên kết đa dịch vụ ISDN, mạng di động mặt đất công cộng PDN, và có thể là các mạng riêng. Ở mạng cũng có một số các cơ sở dữ liệu để theo dõi như:
- Bộ đăng ký định vị thường trú HLR chứa thông tin về thuê bao như các dịch vụ
bổ xung các thông số nhận thực và thông tin về vị trí của MS.
- Trung tâm nhận thực AUC được nối đến HLR. Chức năng của AUC là cung cấp cho HLR các thông số nhận thực và các khóa mật mã để sử dụng cho các khóa bảo mật.
- Bộ ghi định vị tạm trú VLR : là một cơ sở dữ liệu chứa thông tin về tất cả các MS hiện đang phục vụ của vùng MSC, Mỗi MSC có một VLR.
- Thanh ghi nhận dạng thiết bị EIR được nối với MSC qua một đường báo hiệu nó cho phép MSC kiểm tra sự hợp lệ của thiết bị,chuyển giao, điều khiển công suất.
2.2.2 Cấu trúc địa lý của mạng
Mọi mạng điện thoại đều có một cấu trúc nhất định để định tuyến các cuộc gọi đến tổng đài cần thiết và cuối cùng đến thuê bao bị gọi. Trong mạng di động cấu trúc này rất quan trọng do tính lưu thông của các thuê bao trong mạng.
Trang 28Vùng phục vụ MSC (vùng được điều khiển dưới một MSC)
Vùng định vị LA (vùng định vị tìm gọi)
Trang 29Vùng phục vụ là bộ phận của mạng được MSC quản lý. Để định tuyến cuộc gọi đến thuê bao di động, đường truyền qua mạng sẽ được nối đến MSC ở vùng phục vụ MSC nơi thuê bao đang ở.
Vùng phục vụ là bộ phận của mạng được định nghĩa như một vùng mà ở đó
có thể đạt đến một trạm di động nhờ việc trạm MS này được ghi lại ở một bộ ghi tạm trú, một vùng mạng GSM/PLMN được chia thành một hay nhiều vùng phục vụ MSC/LVR.
2.2.5 Vùng định vị (LA: Location Area)
Mỗi vùng phục vụ MSC/VLR được chia thành một số vùng định vị. Vùng định vi là một phần của vùng phục vụ MSC/VLR mà ở đó một MS có thể chuyển động tự do mà không cần cập nhật thông tin về vị trí tổng đài MSC/VLR. Hệ thống
có thể nhận dạng vùng định vị bằng cách sử dụng nhận dạng vùng đinh vị LAI. Vùng định vị hệ thống sử dụng để tìm một thuê bao Đang ở trạng thái hoạt động.
2.2.6 Ô (Cell)
Vùng định vị được chia thành một số ô. Ô là một vùng bao phủ vô tuyến được mạng nhận dạng bằng nhận dạng ô toàn cầu (CGI –Cell Global Identity). Trạm di động tự nhận dạng ô bằng cách sử dụng mã nhận dạng trạm gốc (BISC Base station Identity Code).
Các vùng ở GSM có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ giữa các vùng của GSM (được thể hiện ở hình 2.15).
đa 140 bytes dữ liệu, vì vậy mỗi tin nhắn chứa:
Trang 30 Không quá 160 ký tự nếu sử dụng kiểu mã hóa 7-bit (mã hóa ký tự 7 bit phù hợp với kiểu mã hóa ký tự La-tinh chẳng hạn như bảng chữ cái tiếng Anh).
Không quá 70 ký tự nếu sử dụng kiểu mã hóa UCS2 Unicode (tin nhắn văn bản chứa những ký tự không phải ký tự La-tinh chẳng hạn như tiếng Trung
Hoa, là kiểu mã hóa ký tự 16 bit).
Tin nhắn văn bản SMS hỗ trợ đa ngôn ngữ toàn cầu. Tin nhắn SMS có thể truyền tải dữ liệu nhị phân do đó SMS có thể được sử dụng như là một phương tiện truyền tải vô tuyến. Công nghệ SMS cho phép “đẩy” thông tin. Điều này khác với
mô hình “kéo” là mô hình mà thiết bị phải thường xuyên thăm dò máy chủ để kiểm tra xem có thông tin mới nào không. Mô hình “kéo” thường không phù hợp cho các ứng dụng cảnh báo và thông báo vì nó lãng phí băng thông và tăng tải cho máy chủ. Hình 2.16 mô tả hệ thống SMS và các thiết bị.
Hình 2.16: Hệ thống SMS và các thiết bị
Trang 31
b Trung tâm tin nhắn SMS (SMSC)
Trung tâm tin nhắn SMS chịu trách nhiệm xử lý các hoạt động SMS của mạng
vô tuyến. Khi một tin nhắn được gửi từ một thiết bị nhắn tin, trước tiên tin nhắn đó
sẽ được gửi đến trung tâm tin nhắn SMS. Sau đó trung tâm tin nhắn sẽ chuyển tiếp tin nhắn này đến máy đích. Một tin nhắn SMS có thể phải đi qua nhiều hơn một trạm (nhiều SMSC và nhiều SMS Gateway) trước khi nó đến được máy đích. Nhiệm vụ chính của SMSC là định tuyến tin nhắn SMS và điều chỉnh những tiến trình này. Nếu máy nhận chưa sẵn sàng (đang tắt máy hoặc hết pin) thì SMSC sẽ lưu trữ tin nhắn đó, và nó sẽ chuyển tiếp tin nhắn khi máy nhận đã sẵn sàng. Hình 2.17 mô tả cách thức SMS hoạt động thông qua một trung tâm tin nhắn SMS.
Hình 2.17: Cách thức SMS hoạt động thông qua một trung tâm tin nhắn SMS
c SMS Gateway
Một vấn đề của việc truyền tải tin nhắn SMS là những SMSC được phát triển bởi những tổ chức khác nhau sử dụng giao thức truyền thông riêng và hầu hết các giao thức này là độc quyền. Chẳng hạn, Nokia có một giao thức SMSC gọi là CIMD trong khi một nhà cung cấp khác là CMG lại có một giao thức gọi là EMI. Không thể kết nối hai SMSC này lại với nhau nếu chúng không hỗ trợ cùng một giao thức SMSC chung [12]. Để giải quyết vấn đề này, một SMS Gateway được đặt giữa hai SMSC như minh họa trong hình 2.18.
Hình 2.18: Chức năng của SMS Gateway [12]
Trang 32
ta có thể giải quyết vấn đề phức tạp này. Khi đó các ứng dụng SMS chỉ cần biết làm thế nào để kết nối tới SMS Gateway, các việc còn lại do SMS Gateway tự xử lý. Để
hỗ trợ thêm SMSC, chỉ cần bổ sung các thiết lập của SMS Gateway vào ứng dụng SMS [12]. Hình 2.20 minh họa một ứng dụng SMS kết nối đến SMSC thông qua một SMS Gateway.
Trang 33
Hình 2.20: Ứng dụng SMS kết nối tới SMSC qua trung gian SMS Gateway [12]
Bên cạnh việc sử dụng một kết nối trực tiếp đến trung tâm tin nhắn SMS của nhà mạng không dây để gửi hoặc nhận tin nhắn, có một cách khác để gửi và nhận tin nhắn SMS từ máy vi tính đó là sử dụng điện thoại di động hoặc modem GSM/GPRS/3G kết nối trực tiếp vào máy tính. Để làm được điều đó, ứng dụng SMS phải biết làm thế nào để giao tiếp với các thiết bị gửi tin này bằng cách sử dụng lệnh AT. Một vài SMS Gateway có khả năng nắm giữ kết nối đến các thiết bị gửi tin này, nhờ đó để gửi và nhận tin nhắn SMS từ máy tính với một điện thoại di động hoặc modem được kết nối, ứng dụng SMS chỉ cần biết làm cách nào để giao tiếp được với SMS Gateway và không cần phải biết gì về lệnh AT [13] mô tả như hình 2.21.
Trang 34
Để gửi tin nhắn, trước hết cần lắp SIM được nhà mạng không dây cung cấp vào điện thoại hoặc modem, sau đó kết nối modem vào máy vi tính bằng dây cáp, hồng ngoại hay bluetooth. Sau khi kết nối thành công, ta có thể điều khiển modem bằng cách gửi chỉ thị đến nó. Chỉ thị được sử dụng để điều khiển modem được gọi
là tập lệnh AT [14]. Tập lệnh AT là những chỉ thị được sử dụng để điều khiển modem hay điện thoại di động. AT là từ viết tắt của ATtention. Mọi dòng lệnh đều bắt đầu bởi “AT” hay “at”.
Trang 35Cách gửi tin nhắn thông qua modem hay điện thoại di động kết nối trực tiếp với máy tính có hạn chế là tốc độ gửi tin nhắn SMS rất thấp. Nếu cần tốc độ gửi cao hơn thì cần thiết phải thiết lập kết nối trực tiếp đến Trung tâm SMS hoặc SMS Gateway của mạng không dây. Kết nối này có thể được thực hiện qua mạng Internet hoặc kết nối quay số. Nếu không thể kết nối trực tiếp đến Trung tâm SMS hoặc SMS Gateway của mạng không dây thì ta có thể kết nối đến SMS Gateway của một nhà cung cấp dịch vụ SMS nào đó, lúc đó SMS Gateway này sẽ chuyển tiếp tin nhắn SMS đến một Trung tâm SMS thích hợp.
Sau khi đăng ký và thiết lập tài khoản với nhà mạng không dây hoặc nhà cung cấp dịch vụ SMS, ta đã có thể bắt đầu gửi tin nhắn SMS bằng cách sử dụng các giao thức/giao diện được hỗ trợ bởi SMSC hoặc SMS Gateway.
2.4.2 Cách nhận tin nhắn SMS
Tương tự như việc gửi tin SMS, ta cũng có 2 cách để nhận tin nhắn SMS trên máy tính.
Cách 1: Kết nối điện thoại di động hoặc modem GSM/GPRS/3G vào máy
tính. Sau đó dùng máy tính và tập lệnh AT để đọc tin nhắn nhận được từ điện thoại
đi động hoặc modem.
Trang 36Việc nhận tin nhắn SMS thông qua một modem có một lợi thế là nhà mạng không dây thường không tính phí nhận tin nhắn khi dùng với một Mô-đun Nhận diện Thuê bao (thẻ SIM). Bất lợi của việc nhận tin nhắn theo cách này là modem không thể xử lý một số lượng lớn lưu lượng tin nhắn SMS truy cập. Có một cách để giải quyết vấn đề này đó là sử dụng nhiều modem để cân bằng tải lưu lượng SMS truy cập. Mỗi một modem sẽ có một thẻ SIM và số thuê bao riêng. Trong lập trình, việc gửi và nhận tin nhắn SMS thông qua một modem là tương tự nhau. Những gì cần phải làm là gửi các chỉ thị (dưới dạng lệnh AT) cho modem, các việc còn lại modem tự thực hiện.
Cũng giống như việc gửi tin nhắn, việc nhận tin nhắn thông qua điện thoại hoặc modem GSM/GPRS có một số hạn chế, đó là tốc độ truyền tải SMS quá thấp. Nếu cần tốc độ cao hơn thì cần thiết phải thiết lập kết nối trực tiếp đến Trung tâm SMS hoặc SMS Gateway của mạng không dây.
Sau khi thiết lập một tài khoản với nhà mạng không dây hoặc nhà cung cấp dịch vụ SMS, SMSC hoặc SMS Gateway sẽ bắt đầu chuyển tiếp các tin nhắn đến ứng dụng SMS bằng cách sử dụng một số các giao thức/giao diện. Cũng giống như việc gửi tin, để kết nối đến SMSC, bắt buộc phải có các giao thức SMSC. Việc nhận tin nhắn theo cách này cũng dễ như việc gửi.
Trang 372.5 Tổng quan về GPS
2.5.1. Tổng quan về hệ thống định vị GPS
GPS hay còn được gọi là NAVSTAR là hệ thống dẫn đường vệ tinh dùng
để cung cấp thông tin về vị trí, tốc độ và thời gian cho các máy thu GPS ở khắp nơi trên trái đất trong mọi thời điểm và mọi điều kiện thời tiết [15,16].
GPS được nghiên cứu và phát triển bở chính phủ Hoa Kỳ và được quản lý bởi Không lực Hoa Kỳ (U.S. Air Force) với sự giám sát của Ủy ban định vị - dẫn đường Bộ Quốc Phòng Mỹ. Ban đầu chỉ dành cho các mục đích quân sự, nhưng
từ năm 1980 chính phủ Mỹ đã cho phép sử dụng cho dân sự.
Hệ thống GPS có thể xác định vị trí với sai số từ vài trăm mét đến vài milimet. Tất nhiên với độ chính xác càng cao thì cấu tạo của máy thu tín hiệu GPS càng phức tạp và giá thành càng cao. Hệ thống GPS được ứng dụng rất rộng rãi trong thực tế như sử dụng GPS để xác định vị trí tàu trên biển, cứu hộ,… Ngoài ra GPS còn được sử dụng trong lĩnh vực khai thác mỏ, địa chất, vẽ bản đồ (hệ thống GIS), quy hoạch đô thị, điều khiển giao thông và đặc biệt là được sử dụng để định
vị và dẫn đường trong ngành hàng không.
2.5.2 Các thành phần của hệ thống định vị GPS
Hệ thống GPS bao gồm ba thành phần: Bộ phận không gian (Space Segment), bộ phận điều khiển (Control Segment) và bộ phận người sử dụng (User Segment).
Xử lý Tín hiệu
Hiển thị trên màn hình
Máy thu GPS
Trạm theo dõi
vệ tinh (Monitor Station)
Trạm theo dõi
vệ tinh (Monitor Station)
Trạm theo dõi
vệ tinh (Monitor Station)
Trạm theo dõi
vệ tinh (Monitor Station)
Các trạm theo dõi vệ tinh
Trang 38Năm 1978, nhằm mục đích thu thập các thông tin về tọa độ (kinh độ và vĩ độ), độ cao và tốc độ của các cuộc hành quân, hướng dẫn cho pháo binh và các hạm đội. Bộ Quốc Phòng Mỹ đã phóng lên quỹ đạo trái đất những vệ tinh GPS đầu tiên. Những vệ tinh trị giá nhiều tỷ USD này bay phía trên trái đất ở độ cao 19.200 km, với tốc độ chừng 11.200 km/h. Bộ phận không gian của GPS bao gồm 24 vệ tinh (tính đến năm 1994), đã được bổ sung thành 28 vệ tinh (vào năm 2000), chuyển động trong 6 mặt phẳng quỹ đạo (nghiêng 55 độ so với mặt phẳng xích đạo) xung quanh trái đất với bán kính 26.560 km, hay nói cách khác độ cao trung bình của vệ tinh GPS so với mặt đất vào khoảng 20.200 km [17]. Các vệ tinh nhân tạo liên tục phát tín hiệu quảng bá khắp toàn cầu và được ví như trái tim của toàn hệ thống. Các vệ tinh được cấp nguồn hoạt động bởi các tấm pin mặt trời và được thiết kế để hoạt động trong vòng gần 8 năm. Nếu các tấm pin mặt trời bị hỏng thì vệ tinh sẽ hoạt động nhờ các ắc quy dự phòng được gắn sẵn trên vệ tinh. Ngoài ra trên vệ tinh còn có một hệ thống tên lửa nhỏ để hiệu chỉnh quỹ đạo bay của vệ tinh.
Ngoài hệ thống NAVSTAR của Mỹ còn có hệ thống GLONASS của Nga phát triển và tồn tai song song. GLONASS gồm 24 vệ tinh, 8 vệ tinh cho một quỹ đạo bay gồm 3 quỹ đạo. Các vệ tinh hoạt động với quỹ đạo có độ cao 19,100 km orbits ở góc nghiêng 64.8 độ và 11 giờ 15 phút/quỹ đạo. GLONASS cũng giống như GPS được phát triển trước hết cho mục đích quân sự. Nên mặc dù đã cho phép được dùng dân sự nhưng không thể nào đảm bảo tồn tại liên tục và độ chính xác.
Và đặc biệt là gần đây thì các nước Liên Minh Châu Âu đã cho xây dựng hệ thống định vị GALILEO. GALILEO cũng là một hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu nhưng khác với GPS của Hoa Kỳ và GLONASS của Liên bang Nga ở chỗ nó là một hệ thống định vị được điều hành và quản lý bởi các tổ chức dân dụng, phi quân sự. Galileo theo kế hoạch sẽ chính thức hoạt động vào năm 2011-12, muộn 3-4 năm so với kế hoạch ban đầu.
Trang 39 5 trạm thu số liệu:
Được đặt tại Hawai, Colorade Springs, Ascension (Nam Đại Tây Dương), Diago Garia (Ấn Độ Dương), Kwayalein (Nam Thái Bình Dương). Có nhiệm vụ theo dõi các tín hiệu vệ tinh để kiểm soát và dự đoán quỹ đạo của chúng. Mỗi trạm được trang bị những máy thu P-code để thu các tín hiệu của vệ tinh, sau đó truyền về trạm điều khiển chính.
Trạm truyền số liệu:
Đặt tại Ascension, Diago Garia, Kwayalein có khả năng chuyển số liệu lên
vệ tinh gồm lịch thiên văn mới, hiệu chỉnh đồng hồ, các thông điệp cần phát, các
Trang 402.5.5 Bộ phận người sử dụng
Bộ phận người sử dụng là người sử dụng và thiết bị ghi nhận GPS. Thiết bị ghi nhận GPS là một máy thu tín hiệu sóng vô tuyến đặc biệt. Nó được thiết kế để nghe tín hiệu sóng vô tuyến được truyền từ các vệ tinh và tính toán vị trí dựa trên thông tin đó. Thiết bị ghi nhận GPS có nhiều kích cỡ khác nhau, hình dáng và giá
cả khác nhau.
Hình 2.24: Thiết bị thu tín hiệu GPS