Mô hình kim cương là một mô hình kinh tế phát triển bởi Michael Porter trong cuốn sách của ông Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia, nơi ông xuất bản lý thuyết của ông về lý do tại sao cá
Trang 1BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM
TP HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI :
NGHIÊN CỨU CÁCH THỨC SỬ DỤNG MÔ HÌNH KIM CƯƠNG
MỞ RỘNG CỦA MICHAEL PORTER VÀ ÁP DỤNG VÀO NGHÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ CỦA VINGROUP
GVHD: Nguyễn Nam Thắng
Nhóm thực hiện: Nhóm 3
Trang 2Lời cảm ơn
Lời đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Trường Đại học Công Nghiệp Thực Phẩm đã đưa bộ môn Quản trị tài chính vào chương trình giảng dạy Đặc biệt, chúng em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn -thầy Nguyễn Nam Thắng Chính -thầy là người đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt học kỳ vừa qua Trong thời gian tham dự lớp học của thầy, chúng em đã được tiếp cận với nhiều kiến thức
bổ ích và rất cần thiết cho quá trình học tập, làm việc sau này của chúng em.
Bộ môn quản trị tài chính là một môn học thú vị và vô cùng bổ ích Tuy nhiên, những kiến thức và kỹ năng về môn học này của chúng em vẫn còn nhiều hạn chế Do đó, bài tiểu luận của chúng em khó tránh khỏi những sai sót Kính mong thầy xem xét và góp ý giúp bài tiểu luận của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Nhận xét của Giảng viên hướng dẫn
….………
………
………
………
….………
………
………
………
………
….………
………
………
………
………
….………
………
………
………
………
….………
………
………
………
………
………
………
Trang 4Mục lục
Lời mở đầu -1
I LÍ THUYẾT MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA MICHAEL PORTER -2
1.1 Sơ lược về sự ra đời của mô hình kim cương -2
1.2 Khái niệm về mô hình kim cương của Michael Porter -2
1.3 Các yếu tố mô hình kim cương -2
1.3.1 Thâm dụng lao động -2
1.3.2 Chiếc lược cấu trúc và cạnh tranh -2
1.3.3 Yếu tố nhu cầu -3
1.3.4 Các ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ -3
1.3.5 Cơ hội -3
1.3.6 Chính phủ. -4
1.4 Tầm quan trông của mô hình kim cương -4
1.4.1 Tìm hiểu sự cạnh tranh trên thị trường -4
1.4.2 Hiểu biết rõ hơn về sức mạnh của các nhà cung cấp -4
1.4.3 Hiểu rõ sức mạnh của người mua -4
1.4.4 Hiểu được mối hiểm họa của sự thay thế -5
1.4.5 Hiểu mối đe dọa của những người mới tham gia thị trường -5
II Phân tích nghành công nghiệp ô tô của VIN GROUP -5
2.1 Khái quát ngành Công nghiệp Ô tô Việt Nam -6
2.2 Phân tích nghành công nghiệp ô tô Việt Nam -7
2.2.1 Thâm dụng trong ngành ô tô VINFAST -7
2.2.2 Chiến lược, cấu trúc và các yếu tố cạnh tranh trong ngành ô tô VINFAST- - -7
2.2.3 Yếu tố nhu cầu trong ngành ô tô VINFAST -8
2.2.4 Các ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ trong ngành ô tô VINFAST -9
2.2.5 Cơ hội trong ngành ô tô VINFAST -10
2.2.6 Yếu tố chính phủ ảnh hưởng đến ngành ô tô VINFAST -10
Kết luận -12
Tài liệu tham khảo -13
Trang 5Lời mở đầu
Một quốc gia có lợi thế cạnh tranh hay không sẽ phụ thuộc vào sự đổi mới của những ngành công nghiệp của quốc gia đó Khả năng cạnh tranh là yếu tố quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của quốc gia Vậy tại sao các ngành công nghiệp cụ thể lại có khả năng tại những quốc gia khác nhau Giáo sư Michael Porter của đại học Harvard đã nghiên cứu và đưa
ra một mô hình kinh tế có tên mô hình kim cương
Mô hình kim cương là một mô hình kinh tế phát triển bởi Michael Porter trong cuốn sách của ông Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia, nơi ông xuất bản lý thuyết của ông về lý do tại sao các ngành công nghiệp cụ thể trở nên cạnh tranh tại các địa điểm cụ thể Sau đó, mô hình này
đã được mở rộng bằng cách khác học giả
Vào năm 1990, giáo sư Michael Porter của Trường Kinh doanh Harvard đã cho xuất bản những kết quả của một nỗ lực nghiên cứu chuyên sâu nhằm tìm hiểu tại sao một số nước lại thành công còn một số khác lại thất bại trong cạnh tranh quốc tế Porter và các cộng sự đã nghiên cứu tổng cộng 100 ngành tại 10 quốc gia khác nhau Giống như những người ủng hộ thuyết thương mại mới, công trình của Porter được định hướng bởi niềm tin rằng các lý thuyết hiện tại về thương mại quốc tế chỉ chỉ ra được một phần của câu chuyện Đối với Porter, nhiệm vụ cốt yếu là giải thích được tại sao một quốc gia đạt được sự thành công quốc
tế trong một ngành cụ thể Tại sao Nhật Bản rất giỏi trong ngành chế tạo ô tô? Tại sao Thụy
sĩ xuất sắc trong sản xuất và xuất khẩu các thiết bị chính xác và các loại dược phẩm? Tại sao Đức và Hoa Kỳ làm rất tốt trong ngành công nghiệp hóa chất? Những câu hỏi này khó thể trả lời được một cách dễ dàng bằng lý thuyết H-O, và lý thuyết về lợi thế so sánh sẽ nói rằng Thụy Sĩ xuất sắc về sản xuất và xuất khẩu các thiết bị chính xác bởi vì nước này sử dụng các nguồn lực của mình rất hiệu quả trong những ngành đó Mặc dù điều này có thể là chính xác, nhưng lại không giải thích được tại sao Thụy Sĩ năng suất hơn về ngành đó so với các nước khác như Anh, Đức, hoặc Tây Ban Nha Porter đã cố gắng giải vấn đề nan giải này và chính
vì thế Porter đã xây dựng lý thuyết về bốn thuộc tính lớn của một quốc gia hình thành nên môi trường cạnh tranh cho các công ty tại nước đó, và những thuộc tính này thúc đẩy hoặc ngăn cản sự tạo ra lợi thế cạnh tranh của quốc gia đó
Trang 6I LÍ THUYẾT MÔ HÌNH KIM CƯƠNG CỦA MICHAEL PORTER
1.1 Sơ lược về sự ra đời của mô hình kim cương
Mô hình kim cương này được tạo ra bởi Michael Porter – ông cũng chính là người sáng lập Viện Chiến lược và Năng lực cạnh tranh tại Trường Kinh doanh Harvard Mô hình kim cương của Porter là một lý thuyết kinh tế chủ động, chứ không phải là một lý thuyết đơn giản định lượng các lợi thế so sánh mà một quốc gia hoặc khu vực có thể có
Mô hình Kim Cương của Porter cũng gợi ý rằng các quốc gia cũng có thể tạo ra lợi thế cho các yếu tố mới như công nghệ sản xuất vượt trội, lao động lành nghề và nguồn nhân lực hiệu quả, các ngành công nghệ tiên tiến và chính sách thuận lợi của chính phủ hỗ trợ và nâng cao nền kinh tế của đất nước cao hơn
1.2 Khái niệm về mô hình kim cương của Michael Porter
Mô hình kim cương là mô hình được thiết kế để tìm hiểu các quốc gia hoặc nhóm có lợi thế cạnh tranh do các yếu tố có sẵn và giải thích cách mà chính phủ đóng vai trò như chất xúc tác để cải thiện vị trí của một quốc gia trong một môi trường kinh tế cạnh tranh toàn cầu
Lý thuyết và mô hình Kim Cương của Porter đã được hiểu và thiết kế để hiểu được lợi thế cạnh tranh và lợi thế mà các quốc gia và nhóm nhất định sở hữu nhờ các yếu tố thuận lợi nhất định có sẵn cho họ Nó cũng nhấn mạnh một thực tế là làm thế nào các cơ quan chính phủ có thể đóng vai trò là chất xúc tác trong việc ứng biến vị thế của đất nước trên cấp độ toàn cầu với môi trường kinh tế cạnh tranh cao
1.3 Các yếu tố mô hình kim cương
1.3.1 Thâm dụng lao động
Thâm dụng lao động là hoạt động sản xuất đòi hỏi lượng lao động đầu vào cao hơn để thực hiện các hoạt động sản xuất so với lượng vốn cần thiết Ví dụ về các ngành thâm dụng lao động bao gồm nông nghiệp, nhà hàng, khách sạn, khai thác mỏ và các ngành khác đòi hỏi nhiều nhân lực để sản xuất hàng hóa và dịch vụ
1.3.2 Chiếc lược cấu trúc và cạnh tranh
Chiến lược cơ cấu và sự cạnh tranh của công ty là những chính sách thúc đẩy năng suất lao động, cơ chế khuyến khích lao động nhằm tạo ra giá trị, tăng khả năng cạnh tranh cho công ty Chiến lược quản lý và cơ cấu tổ chức hiệu quả cũng sẽ tác động đến khả năng cạnh tranh Bộ phận quản lý phải luôn giám sát quá trình thực hiện kế hoạch và nỗ lực đạt được mục tiêu đã đề ra
Yếu tố đầu tiên của mô hình kim cương chính là tập trung vào sự cạnh tranh trong thị trường để đưa ra các sản phẩm mới sáng tạo, giúp các doanh nghiệp phát triển trên toàn
Trang 7quốc gia Nó cũng giúp giữ cho doanh nghiệp trên cơ sở hạ tầng ở dạng liên tục và nhất quán để cạnh tranh
1.3.3 Yếu tố nhu cầu
Ông nhấn mạnh vai trò nhu cầu trong việc trong nước giúp nâng cao lợi thế cạnh tranh của một quốc gia Do doanh nghiệp nhạy cảm với những khách hàng ở gần họ nhất nên những đặc điểm của nhu cầu thị trường trong nước có quyết định quan trọng trong việc định hình các thuộc tính của sản phẩm chế tạo trong nước và tạo động lực cho việc sáng tạo, đổi mới
và nâng cao chất lượng sản phẩm hay có thể nói cách khác đó là tăng trưởng thị trường trong kinh doanh là điều cần thiết Nhu cầu thị trường là điều ảnh hưởng mặt thiết tới các doanh nghiệp bởi người tiêu dùng luôn đổi mới hành vi tiêu dùng của mình, các doanh nghiệp cần nắm bắt để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, chỉ có vậy mới có thể tạo nên lợi thế cạnh tranh
Nhu cầu thị trường ảnh hưởng tới quy mô và tăng trưởng thị trưởng đồng thời liên quan đến cả tính chất khách hàng Nhìn chung, môi trường kinh doanh lành mạnh sẽ có mức cầu cao từ các nhóm khách hàng địa phương phức tạp, do đó buộc các doanh nghiệp phải cung cấp hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao hơn mới có khả năng thành công
Điều kiện nhu cầu trong thị trường nhà có thể giúp các công ty tạo ra một lợi thế cạnh tranh khi thị trường nhà tinh vi người mua các công ty áp lực để đổi mới nhanh hơn và tạo
ra các sản phẩm tiên tiến hơn so với các đối thủ cạnh tranh
1.3.4 Các ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ
Đối với sự phát triển và thành công chung của các doanh nghiệp và đất nước, điều rất quan trọng là tất cả các lĩnh vực công nghiệp được kết nối với nhau giúp nhau phát triển và phát triển có một cách tiếp cận toàn diện và yếu tố thứ ba của mô hình Kim cương của Porter giống nhau
Ví dụ, một công ty Bất động sản yêu cầu nguyên liệu thô chất lượng tốt như xi măng và thép cho mục đích xây dựng và công ty sẽ mua tương tự từ các công ty có liên quan trong nước thay vì đi thị trường quốc tế hoạt động như một thỏa thuận có lợi cho cả hai các đảng dẫn đến tăng trưởng và phát triển chung của quốc gia
1.3.5 Cơ hội
Ngoài 4 yếu tố chính trong mô hình kim cương thì cơ hội là một trong số các yếu tố quyết định ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các công ty trong một ngành của một quốc gia
Yếu tố cơ hội là những phát triển nằm ngoài tầm kiểm soát của các công ty chẳng hạn như những phát minh thuần túy mang tính đột phá trong công nghệ cơ bản với những phát triển
Trang 8chính trị bên ngoài và những thay đổi lớn về nhu cầu nước ngoài Cơ hội đã đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch lợi thế cạnh tranh trong nhiều ngành công nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế
1.3.6 Chính phủ.
Chính phủ là yếu tố có thể tác động đến lợi thế cạnh tranh quốc gia thông qua 4 nhóm nhân tố chính xác định lợi thế cạnh tranh đã được nêu ở trên
Chính phủ có thể cải thiện hoặc làm giảm lợi ích quốc gia :
+ Các chính sách, quy định có thể thay đổi điều kiện nhu cầu trong nước
+ Đầu tư vào giáo dục có thể thay đổi điều kiện về các yếu tố sản xuất
+ Chi tiêu ngân sách có thể kích thích các ngành hỗ trợ có liên quan
1.4 Tầm quan trông của mô hình kim cương
1.4.1 Tìm hiểu sự cạnh tranh trên thị trường
Yếu tố đầu tiên của mô hình kim cương chính là tập trung vào sự cạnh tranh trong thị trường để đưa ra các sản phẩm mới sáng tạo, giúp các doanh nghiệp phát triển trên toàn quốc gia Nó cũng giúp giữ cho doanh nghiệp trên cơ sở hạ tầng ở dạng liên tục và nhất quán để cạnh tranh
1.4.2 Hiểu biết rõ hơn về sức mạnh của các nhà cung cấp
Các nhà cung cấp nguyên liệu cho mục đích sản xuất đều có vị trí quan trọng của hệ sinh thái của doanh nghiệp cho sự tăng trưởng của họ Mô hình kim cương của Michael Porter giúp xác định bạn có nhà cung cấp nào, ai là nhà cung cấp tiềm năng, sản phẩm của
họ là gì, điều này vô cùng quan trọng khi bạn muốn chuyển qua sử dụng nhà cung cấp khác Bạn sẽ có được mức giá rẻ hơn nếu bạn có nhiều lựa chọn từ nhiều nhà cung cấp, nó tác động đến lợi nhuận và chiến lược giá của doanh nghiệp
1.4.3 Hiểu rõ sức mạnh của người mua
Ở đây chúng ta có thể phân tích rằng ai đang thúc đẩy chiến lược giá của bạn, đó là bạn hoặc người mua của bạn
Mô hình Kim cương của Porter giúp bạn xác định :
+ Bạn có bao nhiêu người mua?
+ Đơn đặt hàng của họ lớn như thế nào?
+ Họ có trung thành với thương hiệu của bạn không , họ có đủ mạnh mẽ để đưa ra điều khoản của họ cho bạn không
Điều gì sẽ tác động đến họ nếu họ chuyển từ bạn sang các thương hiệu cạnh tranh khác trên thị trường
Trang 9Và bạn có ít người mua cho sản phẩm của bạn, họ có nhiều quyền lực hơn Và một khi danh sách người mua của bạn tăng lên, sức mạnh của bạn sẽ tăng lên để chỉ huy phí bảo hiểm
1.4.4 Hiểu được mối hiểm họa của sự thay thế
Hiểm họa bị thay thế luôn là mối đe dọa cho doanh nghiệp, nó tác động trực tiếp đến lợi nhuận kinh doanh và tạo doanh thu cho doanh nghiệp Ví dụ, bạn có cửa hàng thời trang nhưng hiện nay phương tiện truyền thông phát triển, khách hàng sẽ thích đặt hàng trực tuyến và giao hàng tận nơi để tiết kiệm thời gian và chi phí Chính vì thế bạn cần có
kế hoạch chiến lược kinh doanh phù hợp với thị trường
1.4.5 Hiểu mối đe dọa của những người mới tham gia thị trường
Luôn có một mối đe dọa cạnh tranh trên thị trường từ những người chơi hiện tại và cả những người mới tham gia Mô hình Kim cương của Porter tập trung vào mối đe dọa của những người mới tham gia vào thị trường hiểu được chỗ đứng của họ trong ngành, các loại sản phẩm được cung cấp, chiến lược giá, yếu tố đổi mới và các chi tiết quan trọng khác Mối đe dọa của những đơn vị mới gia nhập:
● Lượng vốn cần thiết để kinh doanh
● Sự tác động của các công ty hiện tại
● Rào cản pháp lý (bằng sáng chế, bản quyền, )
● Uy tín thương hiệu
● Sản phẩm khác biệt
● Khả năng tiếp cận nhà cung cấp / nhà phân phối
● Tính kinh tế của quy mô
● Chi phí chìm
● Quy định của chính phủ
II Phân tích nghành công nghiệp ô tô của VIN GROUP
VinFast đang hội tụ những nhân tài, hội tụ những người rất giỏi, hội tụ những người đồng nghiệp trên thế giới đi từ các nơi để xây dựng một nguồn nhân lực và trung tâm nghiên cứu
Về cơ hội phát triển các dòng xe máy điện, ô tô VinFast tại thị trường Việt Nam, Tổng Giám đốc VinFast cho rằng, nền kinh tế của Việt Nam ngày càng phát triển, người dân càng có điều kiện, cơ hội sở hữu 1 chiếc ô tô Đặc biệt, tỉ lệ sở hữu ô tô của Việt Nam hiện nay là cực kỳ thấp với 23 xe trên 1000 người dân Đây là điều kiện phù hợp cho mức tăng trưởng doanh số bán xe ô tô cao.Thông tin từ Tập đoàn Vingroup, tính tới thời điểm hiện tại, có 6,2 triệu khách hàng đang sử dụng các dịch vụ của Vingroup, trong đó có
Trang 10Vinschool, VinMart, Vinmec, VinHomes, VinPearl, Đây chính là cơ hội và cũng là lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm VinFast
Tổng hợp những yếu tố này và cùng với sức mạnh thương hiệu đã tạo nên một cơ hội khổng lồ cho Vinfast tại thị trường nước nhà
Theo số liệu của Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), thị trường Việt Nam
đã tiêu thụ 296,634 xe trong 2020 Trong năm 2020, VinFast đã bán được khoảng 30.000
xe ô tô Công ty đặt mục tiêu sẽ bán được hơn 45.000 chiếc vào năm 2021 VinFast dự kiến bắt đầu giao xe ô tô điện được sản xuất tại nhà máy ở Hải Phòng cho khách hàng trong nước vào tháng 12-2021
Mới đây, California cũng đã chính thức cấp phép cho VinFast được kiểm thử xe điện có các tính năng tự hành tại các đường phố công cộng của bang Hãng xe thương hiệu Việt đặt mục tiêu sẽ bán những chiếc xe điện đầu tiên tại thị trường Mỹ vào năm tới
Vào tháng 9-2020, Thống đốc bang California Gavin Newson đã đặt ra lộ trình dừng bán
xe xăng vào 2035, nhằm đưa California trở thành bang “không khí thải” Chính sách này cũng là động lực thúc đẩy VinFast bán xe điện tại thị trường Mỹ
2.1 Khái quát ngành Công nghiệp Ô tô Việt Nam
Trong lịch sử công nghiệp Việt Nam thì ngành Ô tô vẫn còn non trẻ, Nhâm Phong Tuân & Trần Đức Hiệp (2014) ghi nhận rằng nó chính thức hình thành kể từ khi hai liên doanh lắp ráp ô tô đầu tiên hình thành năm 1991 là Liên doanh ô tô Hòa Bình và Công ty Liên doanh Mekong Auto, từ đó đến nay những nỗ lực có được những thương hiệu ô tô “made in Việt Nam” vẫn không ngừng tiếp nối Trong ngành Công nghiệp Ô tô, các sản phẩm xe thường được phân thành 4 loại là xe du lịch (xe hơi, ô tô con); xe thương mại (xe bus và xe tải); xe chuyên dụng; xe máy và xe tay ga, theo Lê Anh Tú & Phan Bích Ngọc (2014) thì ô tô chiếm 3,9% lượng xe cơ giới, mỗi năm số xe ô tô tăng 10%, tỷ lệ xe du lịch (dưới 9 chỗ ngồi) chiếm 48,98%, ô tô khách (trên 10 chỗ ngồi) chiếm 6,12 %, ô tô tải chiếm 40,90%, còn lại là xe chuyên dùng và các loại xe khác Tổng năng lực sản xuất, lắp ráp ô tô khoảng
460 ngàn xe/năm, gồm hầu hết các chủng loại xe con (khoảng 200 ngàn xe/năm), xe tải và
xe khách (công suất khoảng 215 ngàn xe/năm) Tính đến hết năm 2018, cả nước có 358 doanh nghiệp sản xuất liên quan đến ô tô; trong đó, có 50 doanh nghiệp lắp ráp ôtô; 45 doanh nghiệp sản xuất khung gầm, thân xe, thùng xe; 214 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng ôtô đáp ứng khoảng 70% nhu cầu xe dưới 9 chỗ
VIN GROUP là 1 trong các hãng xe tiên phong đầu tiên phong trong lĩnh vực công nghệ
ô tô và hiện đang nằm trong top những hãng xe ô tô nổi tiếng của Việt Nam ta VINFAST