1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VỀ LẠM PHÁT ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA VÀ CÁC CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHÀ NƯỚC để KHẮC PHỤC LẠM PHÁT

42 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 502,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

    • 1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

      • 1.1.1. Chính sách tiền tệ

      • 1.1.2. Chính sách tiền tệ mở rộng

      • 1.1.3. Chính sách tiền tệ thắt chặt

      • 1.1.4. Lạm phát

      • 1.1.5. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

      • 1.1.6. Thị trường tiền tệ

    • 1.2. TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN NỀN KINH TẾ

      • 1.2.1. Chính sách tiền tệ mở rộng

      • 1.2.2. Chính sách tiền tệ thắt chặt

  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

    • 2.1. THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ

      • 2.1.1. Tăng trưởng kinh tế

      • 2.1.2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

      • 2.1.3. Nông nghiệp

      • 2.1.4. Lâm nghiệp

      • 2.1.5. Thủy sản

      • 2.1.6. Sản xuất công nghiệp

      • 2.1.7. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

      • 2.1.8. Điều chỉnh tăng lương tối thiểu

      • 2.1.9. Biến động giá xăng dầu, giá điện và dịch vụ y tế

      • 2.1.10. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

      • 2.1.11. Xây dựng, đầu tư phát triển

        • 2.1.11.1. Xây dựng

        • 2.1.11.2. Đầu tư phát triển

      • 2.1.12. Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

        • 2.1.12.1. Thu, chi ngân sách Nhà nước

        • 2.1.12.2. Ngân hàng

        • 2.1.12.3. Tác động của giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm lãi suất ngân hàng

        • 2.1.12.4. Biến động xấu từ lĩnh vực ngân hàng

        • 2.1.12.5. Bảo hiểm

      • 2.1.13. Xuất, nhập khẩu

        • 2.1.13.1. Xuất khẩu hàng hóa

        • 2.1.13.2. Nhập khẩu hàng hóa

        • 2.1.13.3. Xuất, nhập khẩu dịch vụ

      • 2.1.14. Chỉ số giá 

        • 2.1.14.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

        • 2.1.14.2. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

        • 2.1.14.3. Chỉ số giá sản xuất

        • 2.1.14.4. Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa

      • 2.1.15. Lao động, việc làm

    • 2.2. NHỮNG TỒN TẠI CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

  • CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VẤN ĐỀ

  • CHƯƠNG 4. KẾT LUẬN

  • DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

BỘ CÔNG THƯƠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHTIỂU LUẬN NHÓM MÔN KINH TẾ VĨ MÔ Đề tài: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VỀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA VÀ CÁ

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

- Là quá trình quản lý cung tiền của cơ quan quản lý tiền tệ, thường là hướng tới một lãi suất mong muốn để đạt được những mục đích ổn định và tăng trưởng kinh tế - như kiềm chế lạm phát, duy trì ổn định tỷ giá hối đoái, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế Chính sách tiền tệ bao gồm việc thay đổi hay gián tiếp thông qua các nghiệp vụ thị trường mở; quy định mức dự trữ bắt buộc; hoặc trao đổi trên thị trường ngoại hối, nhiều vấn đề khác.

- Chính sách tiền tệ có thể chia thành: chính sách mở rộng và chính sách thu hẹp.

1.1.2 Chính sách tiền tệ mở rộng

- Là chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương làm tăng cung tiền, giảm lãi suất.

1.1.3 Chính sách tiền tệ thắt chặt

- Là chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương làm giảm cung tiền, tăng lãi suất.

- Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Lạm phát ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt trong trường hợp lạm phát cao hoặc siêu lạm phát và không dự đoán được sẽ gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với nền kinh tế, cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất cân đối, làm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng, nguồn thu ngân sách nhà nước giảm do sản xuất bị suy thoái…

1.1.5 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

- CPI là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa và một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng.

- Là nơi tốt nhất để nghiên cứu chính sách tiền tệ hoạt động như thế nào.

- Theo Keynes, có 3 động cơ làm cho mỗi chúng ta muốn nắm giữ tiền: nhu cầu giao dịch, nhu cầu dự phòng, nhu cầu đầu cơ.

+ Nhu cầu giao dịch: Cầu giao dịch là lượng tiền mà mọi người muốn nắm giữ để dùng cho việc mua sắm hang hóa và dịch vụ hàng ngày.

+ Nhu cầu dự phòng: Lý do khác khiến người ta giữ tiền là nỗi lo những ngày “xấu” Một tình huống khẩn cấp bất ngờ có thể cần tiền để mua trên mức nhu cầu giao dịch bình thường Do đó, người ta sẽ giữ nhiều tiền hơn một chút so với dự chi của họ.

+ Nhu cầu đầu cơ: Người ta cũng giữ tiền cho các mục đích đầu cơ, để họ có thể phản ứng được với những cơ hội hấp dẫn về tài chính Giả sử bạn đang thích mua cổ phiếu hay trái phiếu nhưng bạn chưa chọn được hoặc giá hiện nay quá cao Trong tình hình như vậy, bạn có thể giữ một số tiền để về sau bạn có thể mua ở mức giá bạn cho là hấp dẫn. Như vậy, bạn sẽ giữ một số tiền với hy vọng một cơ hội tài chính tốt sẽ xuất hiện sau này, có nghĩa là bạn đang đầu cơ số tiền của bạn và bỏ qua những cơ hội kiếm lời hiện nay,với hy vọng có được một khoản lãi thực sự sau này.

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ ĐẾN NỀN KINH TẾ

1.2.1 Chính sách tiền tệ mở rộng

- Sự tăng chi tiêu sẽ gây ra hiệu ứng số nhân và dẫn đến sự gia tăng lớn trong tổng cầu.

- Sự mở rộng tiền tệ làm tăng lượng cầu về HHDV tại mọi mức giá => đường tổng cầu dịch chuyển sang phải.

1.2.2 Chính sách tiền tệ thắt chặt

- Chính sách này ngược lại với chính sách tiền tệ mở rộng.

*Cơ chế vận hành của chính sách tiền tệ có thể gặp phải 1 số vướng mắc khi ngân hàng trung ương bị hạn chế trong việc thay đổi cung tiền, lãi suất hay tổng cầu:

- Ngân hàng trung ương không thể kiểm soát trực tiếp việc cung ứng tiền Nếu các ngân hàng TG lựa chọn tích lũy cao quá mức thì việc cung ứng tiền sẽ không tăng nhiều như đã dự tính.

- Đôi khi cung ứng tiền được mở rộng nhưng lãi suất vẫn có thể không giảm xuống (lãi suất không phản ứng với những thay đổi trong cung tiền được gọi là bẫy thanh khoản)

→ Được miêu tả ở phần nằm ngang của đường cầu tiền.

- Các quyết định đầu tư thúc đẩy không chỉ bởi lãi suất mà ở cả các kỳ vọng.

VD: Trong thời kỳ suy thoái, các nhà đầu tư dường như không có ấn tượng lắm với lãi suất thấp.

THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

THỰC TRẠNG VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ

Nguồn: Tổng cục Thống kê

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm

2012, trong đó quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%; quý III tăng 5,54%; quý IV tăng 6,04% Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mục tiêu tăng 5,5% đề ra nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và có tín hiệu phục hồi Trong bối cảnh kinh tế thế giới những năm qua có nhiều bất ổn, sản xuất trong nước gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, Chính phủ tập trung chỉ đạo quyết liệt các ngành, các cấp thực hiện ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô nên đây là mức tăng hợp lý, khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các biê ̣n pháp, giải pháp được Chính phủ ban hành.

- Trong mức tăng 5,42% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,67%, xấp xỉ mức tăng năm trước, đóng góp 0,48 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,43%, thấp hơn mức tăng 5,75% của năm trước, đóng góp 2,09 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,56%, cao hơn mức tăng 5,9% của năm 2012, đóng góp 2,85 điểm phần trăm.

→ Như vậy mức tăng trưởng năm nay chủ yếu do đóng góp của khu vực dịch vụ, trong đó một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng khá là: Bán buôn và bán lẻ tăng 6,52%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,91%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,89%.

- Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, tuy mức tăng của ngành công nghiệp không cao (5,35%) nhưng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khá ở mức 7,44% (Năm

2012 tăng 5,80%) đã tác động đến mức tăng GDP chung Ngành xây dựng mặc dù chiếm tỷ trọng không lớn nhưng đạt mức tăng 5,83%, cao hơn nhiều mức tăng 3,25% của năm trước cũng là yếu tố tích cực trong tăng trưởng kinh tế năm nay.

- Về cơ cấu trong quy mô nền kinh tế cả năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,3% và khu vực dịch vụ chiếm 43,3% (Năm 2012 các tỷ trọng tương ứng là: 19,7%; 38,6% và 41,7%).

- Xét về góc độ sử dụng GDP năm nay, tiêu dùng cuối cùng tăng 5,36% so với năm

2012, đóng góp 3,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung; tích lũy tài sản tăng 5,45%, đóng góp 1,62 điểm phần trăm; chênh lệch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ đóng góp 0,08 điểm phần trăm do xuất siêu.

2.1.2 Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

- Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2013 bị ảnh hưởng lớn của thời tiết nắng hạn kéo dài đầu năm và tình trạng xâm nhập mặn diễn ra ở nhiều địa phương phía Nam làm hàng trăm nghìn ha lúa, hoa màu và cây công nghiệp bị ngập úng, dẫn đến năng suất nhiều loại cây trồng giảm so với năm trước Bên cạnh đó, thị trường tiêu thụ sản phẩm cả trong và ngoài nước bị thu hẹp; giá bán nhiều sản phẩm, nhất là sản phẩm chăn nuôi, thủy sản ở mức thấp trong khi giá vật tư, nguyên liệu đầu vào tiếp tục tăng cao gây nhiều khó khăn cho phát triển chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản; dịch bệnh trên gia súc, gia cầm vẫn xảy ra rải rác ở khắp các địa phương gây tâm lý lo ngại cho người nuôi Do đó giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức thấp hơn năm trước.

- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2013 theo giá so sánh 2010 ước tính đạt 801,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,95% so với năm 2012, bao gồm: Nông nghiệp đạt 602,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2,47%; lâm nghiệp đạt 22,4 nghìn tỷ đồng, tăng 6,04%; thuỷ sản đạt 176,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,22%.

- Sản lượng lúa cả năm 2013 ước tính đạt 44,1 triệu tấn, tăng 338,3 nghìn tấn so với năm trước (Năm 2012 tăng 1,3 triệu tấn so với năm 2011), trong đó diện tích gieo trồng ước tính đạt 7,9 triệu ha, tăng 138,7 nghìn ha, năng suất đạt 55,8 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha Nếu tính thêm 5,2 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực có hạt năm nay ước tính đạt 49,3 triệu tấn, tăng 558,5 nghìn tấn so với năm trước (Năm 2012 tăng 1,5 triệu tấn so với năm 2011).

- Trong sản xuất lúa, diện tích gieo trồng lúa đông xuân đạt 3140,7 nghìn ha, tăng 16,4 nghìn ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 20,2 triệu tấn, giảm 54,4 nghìn tấn do năng suất đạt 64,4 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha Diện tích gieo trồng lúa hè thu đạt 2146,9 nghìn ha, tăng 15,1 nghìn ha so với vụ trước; sản lượng đạt 11,2 triệu tấn, giảm 81,6 nghìn tấn do năng suất chỉ đạt 52,2 tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha Một số địa phương có sản lượng lúa hè thu giảm nhiều là: Sóc Trăng giảm 86,4 nghìn tấn; Trà Vinh giảm 16,7 nghìn tấn; Bến Tre và Thừa Thiên - Huế cùng giảm 17,3 nghìn tấn; Quảng Trị giảm 10,7 nghìn tấn; Cà Mau giảm 9,8 nghìn tấn; An Giang giảm 8,9 nghìn tấn đông 2013 ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng cả về diện tích, năng suất và sản Riêng vụ thu lượng Diện tích gieo trồng đạt 626,4 nghìn ha, tăng 99 nghìn ha, năng suất đạt 51,7 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha; sản lượng đạt 3,2 triệu tấn, tăng 578,8 nghìn tấn.

- Diện tích gieo trồng lúa mùa đạt 1985,4 nghìn ha, tăng 7,6 nghìn ha so với vụ mùa năm

2012 nhờ chủ động trong luân canh trồng lúa Tuy nhiên, sản lượng lúa mùa ước tính đạt gần 9,4 triệu tấn, giảm 104,4 nghìn tấn do năng suất chỉ đạt 47,3 tạ/ha, giảm 0,7 tạ/ha. Sản lượng lúa mùa của các địa phương phía Bắc đạt 5677,2 nghìn tấn, giảm 181,3 nghìn tấn; năng suất đạt 47,9 tạ/ha, giảm 1,6 tạ/ha Sản lượng lúa mùa của các địa phương phía Nam đạt 3706,3 nghìn ha, tăng 76,9 nghìn tấn, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng 67,6 nghìn tấn.

- Sản xuất cây vụ đông ở các tỉnh phía Bắc tăng so với năm trước, trong đó lạc đạt 492,6 nghìn tấn, tăng 5,2%; vừng đạt 33,2 nghìn tấn, tăng 9,9%; rau các loại đạt 14,6 triệu tấn, tăng 5,2%, chỉ có đậu tương đạt 168,4 nghìn tấn, giảm 3%.

- Cây công nghiệp lâu năm tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu nên cơ cấu cây trồng được thay đổi phù hợp với điều kiện canh tác của từng vùng Diện tích cho sản phẩm và sản lượng một số cây chủ yếu tăng so với năm 2012, trong đó diện tích chè ước tính đạt 114,1 nghìn ha, bằng cùng kỳ năm trước, sản lượng đạt 921,7 nghìn tấn, tăng 1,3%; cà phê diện tích đạt 584,6 nghìn ha, tăng 2,1%, sản lượng đạt 1289,5 nghìn tấn, tăng 2,3%; cao su diện tích đạt 545,6 nghìn ha, tăng 7%, sản lượng đạt 949,1 nghìn tấn, tăng 8,2%; hồ tiêu diện tích đạt 51,1 nghìn ha, tăng 6%, sản lượng đạt 122,1 nghìn tấn, tăng 5,3%.

- Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá, trong đó sản lượng cam năm 2013 ước tính đạt 530,9 nghìn tấn, tăng 1,7% so với năm 2012; chuối đạt 1,9 triệu tấn, tăng 5,6%; bưởi đạt 449,3 nghìn tấn, tăng 2,2% Tuy nhiên, một số cây khác do ảnh hưởng của thời tiết và một phần diện tích đang được cải tạo, chuyển đổi nên sản lượng giảm như: Sản lượng vải, chôm chôm đạt 641,1 nghìn tấn, giảm 1,1% so với năm 2012; quýt đạt 177,7 nghìn tấn, giảm 2,4%.

- Chăn nuôi gia súc, gia cầm những tháng cuối năm mặc dù có thuận lợi về thị trường tiêu thụ do giá bán các sản phẩm có xu hướng tăng nhưng nhìn chung tình hình chăn nuôi chưa thật ổn định Đàn trâu cả nước năm 2013 có 2,6 triệu con, giảm 2,6% so với năm 2012; đàn bò có 5,2 triệu con, giảm 0,7%, riêng nuôi bò sữa vẫn phát triển, tổng đàn bò sữa năm 2013 của cả nước đạt 186,3 nghìn con, tăng 11,6%; đàn lợn có 26,3 triệu con, giảm 0,9%; đàn gia cầm có 314,7 triệu con, tăng 2,04%, trong đó đàn gà 231,8 triệu con, tăng 3,6% Sản lượng thịt hơi các loại năm 2013 ước tính đạt 4,3 triệu tấn, tăng 1,5% so với năm trước, trong đó sản lượng thịt trâu giảm 3,5%; sản lượng thịt bò giảm 2,9%; sản lượng thịt lợn tăng 1,8%; sản lượng thịt gia cầm tăng 2,4%.

NHỮNG TỒN TẠI CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chính sách chống lạm phát trong thời gian qua còn tồn tại những mặt hạn chế sau:

- Việc ban hành và vận dụng linh hoạt chính sách thắt chặt tiền tệ chưa tiệm cận điều kiện thực tế (làm phát sinh những hâ ̣u quả không mong muốn), kiểm soát giá chưa phù hợp với nguyên tắc thị trường, việc xử lý dư thừa ngoại tệ chưa chuẩn xác dẫn đến gây khó khăn cho doanh nghiê ̣p.

- Chưa nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, phát huy được vai trò định hướng của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước Hiê ̣u quả đầu tư rất thấp, còn hiê ̣n tượng làm thất thoát vốn nhà nước với quy mô lớn mà không có biê ̣n pháp khắc phục tốt.

- Thiếu các giải pháp đồng bộ phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán, sự can thiệp của chính phủ vào thị trường bất động sản, chứng khoán còn chưa hợp lý gây khó khăn cho doanh nghiê ̣p.

- Chính sách kinh tế vĩ mô còn chưa bắt kịp với định hướng tiếp cận thực tế và mang tính ổn định, lâu dài Sự vào cuộc của các cơ quan quản lý nhà nước còn mang tính hình thức, chưa triệt để, thiếu sâu sắc, kịp thời.

- Tiếp đến là những thách thức đến từ diễn biến kinh tế trong nước: Kinh tế vĩ mô có những dấu hiệu tích cực, song chuyển biến còn chậm, chưa ổn định, vững chắc Tăng trưởng tiềm năng của Việt Nam đang có xu hướng giảm dần, tăng trưởng kinh tế trong hai năm trở lại đây chủ yếu dựa vào xuất khẩu trong khi nhu cầu trong nước phục hồi chậm, sức mua còn yếu, lạm phát tuy đã được kiểm soát nhưng còn tiềm ẩn nguy cơ tăng cao trở lại…

- Bên cạnh đó, dòng vốn tín dụng còn chưa thông suốt, nợ xấu còn ở mức cao, khó khăn của thị trường bất động sản chưa thể giải quyết và đặc biệt là áp lực bội chi ngân sách ngày càng lớn,… đã trở thành những thách thức lớn cho công tác điều hành chính sách tiền tệ trong năm 2014 nói chung và đặc biệt là sẽ tạo ra áp lực trong công tác quản lý tín dụng của ngân hàng nhà nước Những thách thức này sẽ buộc ngân hàng nhà nước phải theo đuổi cùng một lúc nhiều mục tiêu trong quá trình điều hành chính sách, đặc biệt là việc phải tập trung theo đuổi các mục tiêu ngắn hạn như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,trong khi khả năng hỗ trợ của chính sách tài khóa ngày càng yếu đã tạo ra nhiều khó khăn cho ngân hàng nhà nước trong việc theo đuổi mục tiêu quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là ổn định giá cả, thể hiện ở mức lạm phát thấp và ổn định trong trung và dài hạn.

- Cuối cùng là những thách thức của quá trình tái cấu trúc: Trong hai năm vừa qua, mặc dù đã đạt được những kết quả bước đầu trong việc thực hiện chương trình tái cấu trúc các TCTD giai đoạn 2011 - 2015, song đó mới chỉ là việc giải quyết những khó khăn trước mắt Còn những vấn đề cốt lõi của chương trình tái cấu trúc như giải quyết triệt để nợ xấu, tăng cường năng lực quản trị điều hành sau tái cơ cấu, thay đổi cấu trúc sở hữu, đặc biệt là khắc phục vấn đề sở hữu chéo vẫn đang trong thời gian khởi động… chưa thật sự dẫn đến những thay đổi về chất.

- Bên cạnh đó, khuôn khổ pháp lý cho việc tái cơ cấu các TCTD chưa được hoàn thiện, đặc biệt là cơ chế mua bán nợ xấu, quy chế điều tiết thống nhất các hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A), ; nguồn lực tài chính công còn hạn chế, nguồn lực tài chính bên ngoài chưa có cơ chế phù hợp để thu hút; quá trình tái cơ cấu trong lĩnh vực đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước chưa có nhiều khởi sắc,… sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến tiến độ và tính hiệu quả của chương trình tái cơ cấu hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015.

- Những thách thức chính yếu trên đòi hỏi ngân hàng nhà nước tiếp tục phải kiên định với mục tiêu điều hành, phải tăng cường phối hợp chặt chẽ và đồng bộ hơn nữa với các Bộ, ngành, phải có những chiến lược mạnh mẽ và nỗ lực cao hơn để giải quyết thành công những thách thức Trên cơ sở đó, bám sát mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 đã được Quốc hội phê duyệt, với chỉ tiêu tăng trưởng đạt mức khoảng 5,8%; lạm phát(chỉ số giá tiêu dùng - CPI) ở mức khoảng 7% Do vậy, mục tiêu chính sách tiền tệ cần đạt được trong năm 2014 là: tiếp tục theo đuổi mục tiêu kiểm soát lạm phát không vượt quá mục tiêu Quốc hội phê chuẩn, ổn định tiền tệ và hệ thống các TCTD, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế.

Ngày đăng: 30/11/2021, 18:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w