Bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh qua tìm sai lầm từ lời giải các bài toán.. Phương pháp giải các bài toán Tổ hợp- Xác suất thiên về tưduy logic và tư duy thu
Trang 1PHÂN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
̀ PHÂN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn 4
1.1 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 4
1.2 Các đặc điểm của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong môn toán 5
1.3 Thực trạng vấn đề 6
2 Nội dung Đề tài 6
2.1 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng nhìn nhận bài toán dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đó tìm nhiều cách giải một bài toán, phân tích tìm cách giải hay 6
2.2 Khuyến khích cho học sinh tìm tòi, sáng tạo các bài toán mới bằng các thao tác tư duy: đặc biệt hóa, khái quát hóa, tương tự hóa 12
2.2.1 Khuyến khích học sinh sử dụng thao tác tư duy tương tự hóa: 12
2.2.2 Khuyến khích học sinh sử dụng thao tác tư duy khái quát hóa: 13
2.2.3 Khuyến khích cho học sinh tìm tòi, sáng tạo các bài toán mới bằng thao tác tư duy đặc biệt hóa: 2.3 Bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh qua tìm sai lầm từ lời giải các bài toán 18
3 Thực nghiệm 25
3.1 Mục đích thực nghiệm 25
3.2 Tổ chức và nội dung thực nghiệm 25
3.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 28
* Đánh giá định tính 28
* Đánh giá định lượng 28
̀ PHÂN 3 KẾT LUẬN 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
2 17
Trang 2̀ PHÂN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Bài tập của chương Tổ hợp – Xác suất (đại số và giải tích lớp 11) là mộtnội dung khá phong phú về cách ra đề và luôn có trong đề thi THPT Quốc gia cũngnhư đề thi học sinh giỏi Phương pháp giải các bài toán Tổ hợp- Xác suất thiên về tưduy logic và tư duy thuật toán nên những học sinh “yếu” về năng lực giải quyết vần
đề thường gặp khó khăn trong giải các bài tập toán phần này
1.2 Trước thực trạng đó, bản thân tôi luôn tìm tòi các cách dạy học sao cho họcsinh biết: Gạt bỏ những thuộc tính hình thức và giữ lại những thuộc tính bản chất củabài toán; Thấy được không chỉ một bài toán mà còn phải thấy được một lớp các bàitoán tương tự; Xây dựng được các bài toán từ bài toán gốc…Qua đó, khơi dậy sựhứng thú trọng học tập của học sinh; bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề và pháthuy tính sáng tạo
1.3 Định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục của nước ta trong giai
đoạn hiện nay là: “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức
sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Theo định hướng này
này, song song với hoạt động dạy học nội dung kiến thức là hoạt động hình thành vàphát triển cho học sinh các năng lực cốt lõi Chương trình SGK mới chỉ ra một số
năng lực chung như: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng
lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Ngoài ra còn có các năng lực chuyên môn được
hình thành và phát triển thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định
như: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực thẩm mỹ,
năng lực thể chất, năng lực tin học, năng lực công nghệ.
Từ mục đích trên, tôi nghiên cứu đề tài: “Bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn
đề và sáng tạo cho học sinh từ quá trình tìm lời giải các bài toán ở Chương tổ hợp
và xác suất lớp 11”.
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng một số tình huống có vấn đề trong giải bài tập Tổ hợp – Xác suất.Học sinh giải quyết được tình huống có vấn đề (dưới sự hướng dẫn của giáo viên).Qua đó phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh
3 Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh lớp 11;
- Giáo viên toán THPT
4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận, quan sát, điều tra thực tiễn, thực nghiệm…
Trang 3̀ PHÂN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là một trong các năng lực chung mà chương trình GDPT 2018 hướng tới Các thành tố của năng lực này bao gồm :
- Nhận ra ý tưởng mới;
- Phát hiện và làm rõ vấn đề;
- Hình thành và triển khai ý tưởng mới;
- Đề xuất, lựa chọn giải pháp; - Thiết kế, tổ chức hoạt động;
- Tư duy độc lập.
Các biểu hiện của các thành tố này đối với học sinh THPT được tóm tắt trong bảng
sau:
Thành tố năng lực Biểu hiện của học sinh
Nhận ra ý tưởng mới - Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và
phức tạp từ các nguồn thông tin khác nhau;
- Biết phân tích các nguồn thông tin độc lập để thấyđược khuynh hướng và độ tin cậy của ý tưởng mới.Phát hiện và làm rõ vấn đề - Phân tích được tình huống trong học tập , trong cuộc
- Suy nghĩ không theo lối mòn;
- Tạo ra yếu tố mới dựa trên những ý tưởng khác nhau;
Trang 4- Lựa chon được giải pháp phù hợp nhất.
Thiết kế và tổ chức hoạt - Lập được kế hoạch hoạt động có mục tiêu, nội dung,động hình thức, phương tiện hoạt động phù hợp;
- Tập hợp và điều phối được nguồn lực (nhân lực, vậtlực) cần thiết cho hoạt động
- Biết điều chỉnh kế hoạch về việc thực hiện kế hoạch,cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề cho phù hợpvới hoàn cảnh để đạt hiệu quả cao
- Đánh giá được hiệu quả của giải pháp và hoạt động
Tư duy độc lập - Biết đặt nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp
nhận thông tin một chiều;
- Không thành kiến khi xem xét, đánh giá vấn đề; biếtquan tâm tới các lập luận và minh chứng thuyết phục;
- Sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn đề
1.2 Các đặc điểm của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong môn toán
Từ việc phân tích các thành tố của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo nóichung, năng lực toán học nói riêng, có thể chỉ ra các đặc điểm của năng lực giải quyếtvấn đề và sáng tạo trong môn toán như sau:
- Nhận biết, phát hiện và làm rõ vấn đề cần giải quyết bằng Toán học;
- Lựa chọn, đề xuất được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề;
- Sử dụng được các kiến thức, kỹ năng toán học tương thích để giải quyết vấn
đề đặt ra;
- Đánh giá được giải pháp đề ra;
- Nhận ra, hình thành và triển khai khái niệm mới, định lý mới, bài toán mới,
cách giải mới trong môn toán.
Dạy học Toán bản chất là dạy học sinh giải toán Khi học sinh giải được mộtbài toán, tức là học sinh đã biết giải quyết vấn đề xảy ra trong quá trình học tập đểtìm ra cái mới ở mức độ nào đó Nếu bài toán đó học sinh chưa biết phương pháp giảinhưng vẫn giải được thì đó được xem là giải quyết vấn đề sáng tạo
Sáng tạo của học sinh trong học tập được xem như một quá trình sáng tạo đặcbiệt Bởi vì tri thức học sinh tìm ra không mới với nhân loại nhưng mới với bản thâncác em Sự sáng tạo của học sinh biểu hiện qua các hoạt động như: Giải được bài toán
mà các em chưa biết phương pháp giải; Giải một bài toán bằng nhiều cách khác nhau;đưa ra một cách giải mới;
Giải quyết vấn đề và sáng tạo là hai mặt tồn tại song song và bổ trợ cho nhau
Trang 5gặp những khó khăn và chướng ngại nhất định Để vượt qua những khó khăn vàchướng ngại đó ngoài tri thức và phương pháp đã biết cần có sự sáng tạo để giảiquyết vấn đề Ngược lại, con người chỉ phát huy tính sáng tạo khi gặp tình huống cóvấn đề.
Trong Đề tài này tác giả bồi dưỡng năng lực giải quết vấn đề và sáng tạo cho
học sinh thông qua 3 vấn đề: Học tập từ những lời giải sai lầm; Giải một bài toán
bằng nhiều cách; Sáng tạo bài toán mới; Tổng quát hóa bài toán.
1.3 Thực trạng vấn đề
Những thuận lợi: Đây là nội dung Toán học gắn liền với thực tiễn nên từng nội
dung bài học cũng như các bài tập luôn gây được sự hứng thú và hấp dẫn học sinh
Những khó khăn: Thời lượng dành cho chương ít nhưng nội dung hoàn toàn mới
đối với học sinh và lượng kiến thức rất nhiều Hơn nữa nội dung này chỉ học ở lớp 11không được học giãn ra ở các lớp như nội dung Toán học khác Điều đó dẫn đến việc ápdụng kiến thức vào giải toán không có độ chín muồi về kỹ năng và tư duy
2 Nội dung Đề tài
2.1 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng nhìn nhận bài toán dưới nhiều góc độ
khác nhau, từ đó tìm nhiều cách giải một bài toán, phân tích tìm cách giải hay
Học toán xét cho cùng là học giải bài tập toán Trong một bài toán có chứanhiều yếu tố, mỗi cách phân tích, nhìn nhận các yếu tố theo một cách khác nhau cóthể cho chúng ta một cách giải bài toán khác nhau Mỗi cách giải có hiệu quả nhấtđịnh đến quá trình phát triển tư duy, năng lực giải quyết vấn đề của người học
Tìm nhiều lời giải cho một bài toán là hoạt động dạy học giúp học sinh có cáinhìn toàn diện về một vấn đề toán học Từ đó các em biết tự hệ thống hóa kiếm thức
và biết khai thác sử dụng các kiến thức kỹ năng, phương pháp giải một cách mềmdẻo, linh hoạt
Tìm nhiều cách giải cho một bài toán sẽ giúp học sinh tự mình biết phân tích,
so sánh và rút ra các đặc điểm như:
- Thấy được cách giải tốt nhất cho bài toán;
- Phát hiện ra các vấn đề mới, các bài toán mới;
- Đưa ra cách giải cho một lớp các bài toán tương tự
Ví dụ 1: Cho tập A = {1,2,3,4,5,6,7} Hỏi có bao nhiêu số gồm 9 chữ số tạo
thành từ A biết chữ số 1 xuất hiện 3 lần, các chữ số còn lại xuất hiện đúng 1 lần
Học sinh có thể tiếp cận một số cách giải sau:
9!
Cách 1: Sử dụng công thức hoán vị lặp ta có kết quả 3!
6
Trang 6Phân tích cách giải 1: Hoán vị lặp không đưa vào SGK, nhưng đây là một nội
dung mà học sinh có thể tḿ tḿ hiểu thêm thông qua sự giới thiệu và hướng dẫn củagiáo viên
Tìm hiểu sâu cách giải 1: Từ bài toán trên ta có thể hướng dẫn học sinh xây
dựng bài toán tổng quát sau:
n phần tử đã cho Số hoán vị lặp của n phần tử ở trên là:
Từ bài toán tổng quát trên học sinh có thể tự sáng tạo ra lớp các bài toán tươngtự:
Bài 1: Từ tập X ={1;2;3;4;5;6;7;8} lập được bao nhiêu số tự nhiên có 11 chữ số
sao cho chữ số 1 có mặt 4 lần, các chữ số khác có mặt 1 lần?
Bài 2: Từ các số của tập A = { 2; 4; 6; 8} lập được bao nhiêu số tự nhiên gồm
bảy chữ số, trong đó chữ số 2 xuất hiện đúng hai lần; chữ số 4 xuất hiện 2 lần; chữ số
6 xuất hiện 2 lần và chữ số 8 xuất hiện 1 lần
Bài 3: Cho tập A = { 1; 3; 5; 6; 9} Từ tập A ta lập được bao nhiêu số có 7 chữ
số sao cho chữ số 1 xuất hiện 2 lần; chữ số 6 xuất hiện 2 lần; các số khác xuất hiệnđúng 1 lần và số này chia hết cho 5
Bài 4: Từ tập X = {1; 2; 4; 6; 7; 9} Từ tập X ta lập được bao nhiêu số có 8 chữ
số sao cho chữ số 4 xuất hiện 2 lần; chữ số 2 xuất hiện 2 lần; các chữ số khác xuấthiện đúng 1 lần và số đó không chia hết cho 2
Bài 5: Với các chữ số 0; 1; 2; 3; 7; 9 có thể lập được bao nhiêu số gồm 8 chữ
số, trong đó chữ số 1 có mặt 3 lần, mỗi chữ số khác có mặt đúng một lần?
Bài 6: Cho tập X = {0;1; 3;5;6} Từ tập X ta lập được bao nhiêu số có 7 chữ số
sao cho chữ số 1 xuất hiện 3 lần; các số khác xuất hiện đúng 1 lần và số đó vừa chiahết cho 2 vừa chia hết cho 5
Bài 7: (HSG lớp 11 Quảng Ngãi 2015-2016) Từ các chữ số 1, 3, 4, 8 lập các số
tự nhiên có sáu chữ số, trong đó chữ số 3 có mặt đúng ba lần, các chữ số còn lại cómặt đúng một lần Trong các số tạo thành nói trên lấy ngẫu nhiên một số Tính cácsuất để số được chọn chia hết cho 4
Cách 2: Xem số 1 xuất hiện ba lần trong số cần tìm là khác nhau, giả sử là
a,b,c Khi đó ta có bài toán mới như sau: Có bao nhiêu số có 9 chữ số khác nhau tạo
thành từ tập hợp B = {2,3,4,5,6,7,a,b,c} Mỗi số được tạo thành là hoán vị của 9 phần
tử của tập hợp B Ta có 9! số Nhưng do a b c 1 nên mỗi số tìm được trên khi
hoán vị các vị trí của a, b, c cho nhau thì số đó không đổi Từ đó suy ra số các số thỏa
Trang 7Phân tích cách giải 2: Vấn đề khó khăn của bài toán là 3 số 1 ở ba vị trí khác
nhau của một số có 9 chữ số thì ta được các số khác nhau, nhưng khi đổi vị trí của 3
số 1 cho nhau thì số đó không đổi Mọi sự phức tạp của bài toán đều bắt nguồn từ sựlặp lại của các số 1 Vậy nếu ta xem các số 1 đó như là các số khác nhau thì sao? Từ
đó gợi cho học sinh biết “quy lạ về quen” bằng cách xem ba số 1 như ba số khácnhau
Tìm hiểu sâu cách giải 2:
Nếu so sánh cách giải 2 và cách giải 1 thì cách 1 có ưu điểm ngắn gọn và dễhiểu
Nhưng ở cách 2 việc đặt
a 1, b 1, c1 là cách nhìn biện chứng rất thường
dùng trong giải toán Ví dụ: phương trình 3 x 2 5 x 2 0 1 là phương trình bậc hai.
02 là phương trình bậc 4 theo ẩn t Nhưng nế u bỏ qua
những thuộc tính hình thức, giữ lại thuộc tính bản chất thì phương trình (2) cũng chỉ
là phương trình bậc 2 quen thuộc
Ta sử dụng cách nhìn biện chứng để đưa một đối tượng phức tạp về một đốitượng mới đơn giản hơn, theo cách giải quyết vấn đề như trên ta có thể giải được một
số bài toán tổ hợp tương tự như:
Ví dụ 1a: Có 6 quyển sách Toán, 3 quyển sách Lý và 5 quyển sách Hoá Hỏi có
bao nhiêu cách sắp xếp các quyển sách đó thành 1 dãy trên kệ sao cho các quyển sáchHoá đứng cạnh nhau, các quyển sách Lý đứng cạnh nhau
Giải:
Ta ghép các quyển sách hoá lại xem như 1 phần tử H, ghép các quyển sách Lýlại xem như 1 phần tử L Khi đó xếp 8 phần tử (gồm 6 quyển sách toán và 2 phần tử
H và L) có 8! cách sắp xếp
Ghép 5 quyển sách hoá có 5! cách Ghép 3 quyển sách Lý có 3! cách
Theo quy tắc nhân có 5!.3!.8! cách
Ví dụ 1b: Có bao nhiêu cách sắp xếp chỗ ngồi cho 10 bạn , trong đó có An,
Bình vào 10 ghế kê thành hang ngang sao cho An và Bình ngồi cạnh nhau
Giải:
Ghép An và Bình thành một phần tử M có 2! cách Xếp 9 phần tử (gồm 8 bạncòn lại và phần tử M) vào 9 vị trí có 9! cách Vậy theo quy tắc nhân có 2!.9! cách
Cách 3: Lấy sáu số từ tập A gồm: 2,3,4,5,6,7 số sắp xếp vào 9 vị trí của số cần
9
Vậy kết quả là A6
9
Phân tích cách giải: Trong giải toán ta rất hay “tự ám thị” bởi yêu cầu của bài
toán dẫn người giải đi theo lối tư duy quen thuộc Nếu ta tư duy ngược lại như sau:
Trang 88
Trang 9Có 9 cái hộp xếp thành một hàng dọc Hỏi có bao nhiêu cách bỏ vào mỗi hộp một số
tử các số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 biết có 3 số 1 Như vậy mỗi cách bỏ số vào hộp ta được một
số thỏa mãn yêu cầu bài toán Nhưng ở đây mỗi số chắc chắn sẽ có 1 hộp để bỏ vàonên việc chữ số 1 lặp lại không ảnh hưởng đển kết quả bài toán Ở trên tác giả trìnbày lời giải bằng sử dụng chỉnh hợp, tuy nhiên chúng ta vẫn có thể dùng quy tắc đếm
để giải bài toán như các bài toán quen thuộc
Tìm hiểu sâu cách giải 3: Trong giải toán Tổ hợp - Xác suất cách giải trên gọi
là phương pháp chọn vị trí trước, sắp xếp sau Với những bài toán có quá nhiềutrường hợp xảy ra khi ta giải trực tiếp thì ta thường chọn ra số phần tử thỏa mãn yêucầu bài toán trước sau đó mới sắp xếp Ứng dụng phương pháp giải trên ta giải đượcrất nhiều bài toán trong đề thi học sinh giỏi hoặc thi Quốc gia
Ví dụ 1c: (Đề thi THPT Quốc gia năm 2020): Gọi S là tập hợp tất cả các số tự
nhiên có 4 chữ số đôi một khác nhau và các chữ số thuộc tập {1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9}
Chọn ngẫu nhiên một số thuộc S, xác suất để số đó không có hai chữ số liên tiếp nào
Sắp xếp các số trên thỏa mãn yêu cầu bài toán ta xem 2 số chẵn có21.2!.3 số
Số các số thỏa mãn bài toán là 720
Số phần tử không gian mẫu số
Xác suất lấy được 4 số không có 2 chữ số chẵn liên tiếp là
Lời giải 2:
TH1: Số có 4 chữ số trong đó có 2 chữ số chẵn liên tiếp và 2 số lẽ có 720 số (ta
xem hai chữ số chẵn liến tiếp là một số)
TH2: Số có 4 chữ số gồm 3 chữ số số chẵn và 1 số lẽ có 480 sốTH3: Số có 4 chữ số chẵn liên tiếp có 4! = 24 số
Số các số thỏa mãn yêu cầu bài toán là:
Xác suất cần tìm là
9
Trang 10Phân tích cách giải: Xét về bản chất thì đây là cách giải tương tự như cách 3 về
tư duy thuật giải là chọn vị trí trước sắp xếp sau
Qua ví dụ trên, tính sáng tạo của cách giải bài toán trên thể hiện ở chỗ: Họcsinh phải biết phân chia trường hợp và sử dụng cách đếm linh hoạt tùy theo từngtrường hợp khác nhau Ở lời giải thứ nhất trường hợp thứ 3 học sinh cần tìm một cáchđếm phù hợp hơn đó là xem 2 chữ số chẵn liên tiếp là một số Tương tự ở lời giải 2trường hợp 2 sẽ có 2 khả năng xẩy ra là 2 số chẵn liên tiếp và 3 số chẵn liên tiếp.Nhưng khả năng 2 chữ số chẵn kiên tiếp ở đây không trùng với TH2 vì số tạo thànhcủa 2 trường hợp này hoàn toàn khác nhau Nếu học sinh được bồi dưỡng và rènluyện nhiều thì năng lực giải quyết vấn đề và khả năng sáng tạo của học sinh sẽ đượcnâng cao
Cách 1: Xem việc lập số thỏa mãn yêu cầu bài toán là công việc sắp 5 chữ số
5 ô trống trong đó có 1 ô chứa số 0, một ô chứa số 6, 3 ô còn lại chọn từ tập hợp
1, 2; 3;4;5;7;8; 9 gồm 8 chữ số Công việc này trải qua 3 công đoạn như sau:Công đoạn 1: Sắp chữ số 0 vào một trong 4 ô trống sau (trừ ô đầu tiên) có 4 cách sắp
Công đoạn 2: Sắp chữ số 6 vào một trong 4 ô trống còn lại (trừ ô chứa số 0) có
Loại 2: Các số có mặt số 0 nhưng không có mặt số 6 Xem việc thành lập mỗi
số loại này trải qua 2 công đoạn Công đoạn 1 xếp số 0 vào một trong 4 vị trí sau (trừ
vị trí đầu tiên) có 4 cách, công đoạn 2 chọn 4 chữ số từ tập E1, 2; 3;4;5;7;8; 9sắp vào 4 ô còn lại có A84 cách Theo quy tắc nhân, loại này có 4.4.A84 số (mỗi cáchcho ta một số)
Loại 3: Các số có mặt số 6 nhưng không có mặt số 0 Tương tự loại 2, loại này
có 5.A84 số
Loại 4: Các số có mặt chữ số 0 và chữ số 6 (thỏa mãn yêu cầu bài toán), giả sử
là x.
Trang 11chữ số từ tập E1, 2; 3;4;5;7;8; 9 Mỗi bộ gồm 3 chữ số vừa chọn cùng với 2 số 0
và 6 tạo thành một bộ có 5 chữ số Mỗi hoán vị của 5 chữ số này trừ đi các hoán vị cóchữ số 0 đứng đầu là một số thỏa mãn yêu cầu bài toán Do đó, để lập mỗi số như vậy
là một công việc trải qua 3 công đoạn
Công đoạn 2: Từ bộ 5 chữ số gồm 3 số vừa chọn cùng với hai số 0 và 6 ta lấy
số 0 sắp vào một trong 4 vị trí sau, có 4 cách
Công đoạn 3: Sắp 4 chữ số còn lại trong bộ vào 4 ô trống còn lại, có 4! cách
3
.4.4! số
Theo quy tắc nhân, có tất cả C8
Cách 4: Việc lập số thỏa mãn yêu cầu bài toán có 2 phương án:
Phương án 1: Chữ số 6 ở vị trí đầu tiên.
Công đoạn 1: Sắp số 0 vào một trong 4 ô còn lại, có 4 cách sắp
Phương án 2: Chữ số 6 không ở vị trí đầu tiên.
Công đoạn 1: Sắp số 6 vào một trong 4 ô, có 4 cách sắp
Công đoạn 2: Sắp số 0 vào một trong 3 ô còn lại (trừ ô đầu và ô chứa số 6), có
11
Trang 122.2 Khuyến khích cho học sinh tìm tòi, sáng tạo các bài toán mới bằng các
thao tác tư duy: đặc biệt hóa, khái quát hóa, tương tự hóa
Để phát triển được năng lực sáng tạo, đòi hỏi giáo viên và học sinh “phải cócan đảm buông tay khỏi những điều chắc chắn” (Erich Fromm) Nghĩa là, giáo viênphải khuyến khích học sinh dám tìm tòi, khám phá để đưa ra những quan điểm, ýtưởng mới, cách giải quyết mới Tất nhiên, với học sinh, việc yêu cầu các em tìm tòi,khám phá ra một điều gì đó mới mẻ hoàn toàn là một điều không hề đơn giản Muốnvậy giáo viên phải là người luôn định hướng, rèn luyện cho học sinh các thói quen tưduy sau:
Thứ nhất, khả năng phát hiện ra những điểm tương đồng, khác biệt cũng như
mối liên hệ giữa nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau trong đời sống Người có nănglực sáng tạo thường có thói quen quan sát, so sánh và nhất là khả năng tưởng tượng,liên tưởng rất tốt Tưởng tượng tự do giúp tạo ra những hình ảnh, cấu thành, thiết kếmới hữu ích mà trong điều kiện tư duy duy lí thông thường không có được Vì thếnên tưởng tượng trở thành một trong những yếu tố rất quan trọng trong tư duy sángtạo của con người và là khởi nguồn cho mọi phát minh sau này Nếu không tưởngtượng, không có mong muốn biết bay như loài chim thì chắc hẳn con người khôngthể thiết kế được máy bay như ngày hôm nay
Thứ hai, khả năng giải quyết vấn đề bằng nhiều con đường, cách thức khác
nhau; phân tích, đánh giá vấn đề ở nhiều phương diện, góc nhìn khác nhau Cùng mộtvấn đề, một bài toán đặt ra, người có năng lực sáng tạo thường tìm kiếm, phát hiệnđược nhiều hướng giải quyết, nhiều ý tưởng khác nhau Người có năng lực sáng tạothường không dễ dàng chấp nhận những gì đã có mà luôn tìm tòi những cách giảiquyết mới, biện pháp mới
Thứ ba, khả năng phát hiện ra những điều bất hợp lí, những bất ổn hay những
quy luật phổ biến trong những hiện tượng, sự vật cụ thể dựa trên sự tinh tế, nhạy cảm
và khả năng trực giác cao của chủ thể
Năng lực sáng tạo còn được biểu hiện ở khả năng quan sát, phân tích vấn đề ởnhiều điểm nhìn, nhiều phương diện khác nhau Nói cách khác, người có năng lựcsáng tạo phải có tư duy mềm dẻo, linh hoạt trong việc tiếp cận, giải quyết vấn đề
2.2.1 Khuyến khích học sinh sử dụng thao tác tư duy tương tự hóa:
Theo G Polya, tương tự là một kiểu giống nhau nào đó Có thể nói tương tự là
giống nhau nhưng ở mức độ xác định hơn và mức độ đó được phản ánh bằng kháiniệm Ông giải thích điều trên như sau: "Sự khác nhau căn bản giữa tương tự vànhững loại giống nhau khác là ở ý định của người đang suy nghĩ Những đối tượnggiống nhau phù hợp với nhau trong một quan hệ nào đó Nếu bạn có ý định quy mốiquan hệ trong đó các đối tượng phù hợp với nhau về những khái niệm đã định thì bạn
sẽ xem những đối tượng giống nhau ấy như là những đối tượng tương tự Và nếu bạnđạt tới những khái niệm rõ ràng, thì tức là bạn làm sáng tỏ sự tương tự"
Trang 13Theo Đ P Goocki cho rằng: "Tương tự là phép suy luận trong đó từ chỗ hai
đối tượng giống nhau ở một số dấu hiệu, ta rút ra kết luận rằng các đối tượng nàygiống nhau ở các dấu hiệu khác Nếu đối tượng A có dấu hiệu là a, b, c, d và đốitượng B cũng có các dấu hiệu a, b, c thì ta rút ra kết luận giả định rằng đối tượng Bcũng có tính chất d Ta có thể biểu diễn sơ đồ của phép suy luận tương tự như sau: A
có tính chất a, b, c, d; B có tính chất a, b, c; Kết luận B cũng có tính chất d"
"Tương tự là chuyển từ một trường hợp riêng này sang một trường hợp riêng
khác của cùng một cái tổng quát"
Nhiều tác giả cho rằng: “Tương tự hóa là quá trình dùng trí óc để kết luận về
sự giống nhau của các đối tượng ở một số dấu hiệu, thuộc tính khác từ sự giống nhau của các đối tượng ở một số dấu hiệu, thuộc tính nào đó nhằm mục đích tạo ra một kết quả mới, vượt qua một trở ngại”.
Như vậy, việc tập luyện cho học sinh kỹ năng tương tự hóa sẽ góp phần vàoviệc bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh
Ví dụ 1: Xuất phát từ bài toán: Cho tập
nhiêu số gồm 6 chữ số khác nhau từ tập A.
6 Hỏi có thể tạo bao
Nếu giữ nguyên các đặc tính của bài toán, ta thay đổi đối tượng thì được các bài toán tương tự:
1, Có bao nhiêu cách xếp 6 học sinh thành một hàng dọc?
2, Một đoàn khách du lịch dự định tham quan 6 điểm A, B, C, D, E ở thủ đô
Hà Nội Hỏi họ có bao nhiêu cách chọn?
3, Bạn An có 3 quyển sách Toán khác nhau và 3 quyển sách Văn khác nhau.Hỏi bạn An có bao nhiêu cách xếp chồng 6 quyển sách lên nhau?
15 2
Sự dụng thao tác tư duy ương tự hóa ta có các bài toán:
2.2.2 Khuyến khích học sinh sử dụng thao tác tư duy khái quát hóa:
Có nhiều định nghĩa về khái quát hóa, chẳng hạn:
Trang 1413
Trang 15G Polya cho rằng: "Khái quát hóa là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp
đối tượng đã cho đến việc nghiên cứu một tập hợp lớn hơn, bao gồm cả tập hợp banđầu"
Tác giả Đào Văn Trung đã viết: "Từ trong những sự vật khác nhau, tìm ranhững tính chất chung của chúng và quy kết lại, phương pháp tư duy này gọi là kháiquát"
Khái quát hóa là chuyển từ một tập hợp đối tượng sang một tập hợp lớn hơn
chứa tập hợp ban đầu bằng cách nêu bật một số đặc điểm chung của các phần tử trongtập xuất phát
Tác giả thống nhất với Nguyễn Bá Kim về hai dạng khái quát hóa thường gặptrong môn Toán và có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Khái quát hóa
Khái quát hóa từ cái riêng lẻ
- Từ nhà Ngọc đến nhà Khánh có 4 con đường đi, từ nhà Khánh đến nhà Khải
có 3 con đường đi Do đó, để đi từ nhà Ngọc đến nhà Khảicó tất cả 3.412 cách đi;
từ nhà Ngọc đến nhà Khánh có m con đường đi, từ nhà Khánh đến nhà Khải có n con đường đi Do đó, có m n cách đi từ nhà Ngọc đến nhà Khải;
- Giả sử để thực hiện một công việc nào đó cần trải qua hai công đoạn A và B
Công đoạn A có thể làm theo n cách, với mỗi cách thực hiện công đoạn A thì công đoạn B có m cách Khi đó công việc có thể thực hiện theo n.m cách khác nhau Đó là
một kết quả tổng quát
- Chúng ta tiếp tục đi đến một kết quả tổng quát hơn từ kết quả tổng quát ở trên:
, công đoạn A k có thể thực hiện theo n k cách Khi đó công việc có thể thực hiện theo
n1n2 n k cách khác nhau
14
Trang 16Cả hai trường hợp trên đều là sự khái quát đi đến kiến thức mới, tổng quát.Bên cạnh đó còn có dạng khái quát hóa đi đến kiến thức đã biết, dạng này được tiếnhành chẳng hạn khi giải những bài tập cụ thể, trong đó khái quát hóa thể hiện ở việc
liên hệ những tình huống cụ thể của bài tập với những tiên đề, định nghĩa, định lý thích hợp, ở việc nhận biết cái tổng quát đã biết trong những cái cụ thể.
Dạng khái quát hóa đi đến cái tổng quát chưa biết, tức đi đến kiến thức mới, cóthể là một khái niệm, một định lý hay một bài tập nào đó mà ta muốn hình thành hoặc
mở rộng Quy trình thực hiện thao tác này như sau:
Bước 1: Xác định vấn đề cần khái quát;
Bước 2: Xác định các đặc điểm của các đối tượng riêng lẻ;
Bước 3: So sánh các đặc điểm đó để tìm ra đặc điểm giống nhau và khác nhau; Bước 4: Trong các đặc điểm giống nhau đó giữ lại cái bản chất và trừu xuất chúng ra khỏi đối tượng;
Bước 5: Chuyển từ việc nghiên cứu các đối tượng riêng lẻ sang nghiên cứu một tập lớn hơn chứa các đối tượng riêng lẻ đó;
Bước 6: Chứng minh các đặc điểm vừa tách ra ở bước 4 cũng thỏa mãn trong tập lớn hơn ở bước 5;
Bước 7: Phát biểu kết quả tổng quát vừa chứng minh được.
Dạng khái quát hóa này đi đến kiến thức mới, chẳng hạn như hình thành kháiniệm theo con đường quy nạp, mở rộng một khái niệm, mở rộng một định lý, mởrộng một bài toán,
Ví dụ : Sau khi học công thức nhị thức Newton, có thể cho học sinh làm các bài
Trang 17của x
có các đẳng thức:
15
Trang 18Bước 1: Xác định vấn đề cần khái quát hóa
- Hãy tìm bài toán tổng quát cùng với phương pháp giải!
Bước 2: Xác định các dấu hiệu, các đặc điểm, các thuộc tính, các mối liên hệ của các đối tượng riêng lẻ.
Bước 3: So sánh các dấu hiệu, các đặc điểm, các thuộc tính, các mối liên hệ đó
để tìm ra dấu hiệu giống nhau và khác nhau.
So sánh các đặc điểm trên, học sinh thấy rằng:
Trang 194 đều có dạng C 2 n
Bước 4: Giữ lại các đặc điểm chung:
+ Vế trái của1 và2 đều là một tổng mà mỗi số hạng có