1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự khác nhau giữa triết học mác và triết học trong lịch sử trong vấn đề chính trị xã hội

19 57 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 35,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính trị là lợi ích, là quan hệ lợi ích, là sự đấu tranh giai cấp trước hết vì lợi ích giai cấp; Căn bản nhất của chính trị đó là việc tổ chức quyền lực nhà nước, là sự tham gia vào công việc nhà nước, định hướng cho nhà nước, xác định hình thức, nội dung cũng như nhiệm vụ của nhà nước; Chính trị là những biểu hiện tập trung của kinh tế, nhưng không thể chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế; Nghiên cứu về chính trị là nghiên cứu đến lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm và liên quan tới vận mệnh hàng triệu người. Việc giải quyết những vấn đề chính trị vừa được coi là khoa học, vừa được coi là nghệ thuật.

Trang 1

Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây từ khoảng thế kỷ VIII đến thế kỷ VI TCN, tại các quốc gia văn minh cổ đại như: Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc Ngay từ đầu, dù cho ở phương Đông hay phương Tây, triết học cũng đều là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người Mặc dù

có vẻ nằm hoàn toàn trong phạm trù trừu tượng, triết học cũng có áp dụng thực tiễn Điển hình nhất là áp dụng trong nguyên tắc xử thế, như nguyên tắc xử thế trong nghề nghiệp và đặc biệt là triết lý về chính trị - xã hội

Trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử triết học, đã có rất nhiều tư tưởng

về chính trị - xã hội Ở mỗi thời kỳ chính trị - xã hội khác nhau, nó lại được định nghĩa bằng những quan điểm khác nhau, giữa các nhà triết học khác nhau cũng có những tư tưởng không giống nhau

Chính trị là hoạt động trong lĩnh vực quan hệ giữa các giai cấp, cũng như dân tộc và các quốc gia với vấn đề về giành, giữ gìn, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước Chính trị còn là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước và xã hội, bao gồm các hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị,… nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra thỏa mãn lợi ích

Trong đó, các nhà triết học của chủ nghĩa Mác Lênin đã đưa ra những nhìn nhận vô cùng đúng đắn về chính trị, cụ thể: Chính trị là lợi ích, là quan hệ lợi ích, là sự đấu tranh giai cấp trước hết vì lợi ích giai cấp; Căn bản nhất của chính trị đó là việc tổ chức quyền lực nhà nước, là sự tham gia vào công việc nhà nước, định hướng cho nhà nước, xác định hình thức, nội dung cũng như nhiệm vụ của nhà nước; Chính trị là những biểu hiện tập trung của kinh tế, nhưng không thể chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế; Nghiên cứu về chính trị

là nghiên cứu đến lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm và liên quan tới vận mệnh hàng triệu người Việc giải quyết những vấn đề chính trị vừa được coi là khoa học, vừa được coi là nghệ thuật

Trang 2

Để làm rõ hơn về sự đúng đắn về quan niệm chính trị - xã hội của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tác giả lựa chọn đề tài: “Sự khác nhau giữa triết học Mác

và triết học trong lịch sử trong vấn đề chính trị - xã hội” làm đề tài tiểu luận.

NỘI DUNG

I Một số khái niệm

1 Khái niệm triết học

Người Ấn Độ đọc “triết học” là dar sha na, có nghĩa là chiêm ngưỡng (hàm ý

là tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải); "Triết",nghĩa chữ Hán, có nghĩa là trí (bao hàm sự hiểu biết, nhận thức sâu rộng, đạo lý); “triết học” gốc tiếng Hy Lạp cổ khó viết nên người ta chuyển sang tiếng Latinh thành Philosophy- yêu mến (philos) sự thông thái (sophy) Philosophy vừa mang tính định hướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người

Nhà triết học (triết gia) là nhà thông thái, có khả năng làm sáng tỏ bản chất của mọi sự vật, hiện tượng Với quan niệm như vậy, triết học khi mới ra đời không

có đối tượng nghiên cứu riêng mà bao gồm toàn bộ tri thức của nhân loại, là "khoa học của mọi khoa học"

Thuật ngữ triết học bao gồm hai yếu tố: Yếu tố nhận thức (sự hiểu biết về vũ trụ và con người, sự giải thích hiện thực bằng hệ thống tư duy) và Yếu tố nhận định (đánh giá về mặt đạo lý để xây dựng thái độ và hành động đúng)

Quan niệm về môn học triết học ngày càng được hoàn thiện trong lịch sử cho đến khi triết học Mác ra đời Theo quan điểm mácxít, triết học là hệ thống lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vai trò và vị trí của con người trong thế giới đó

2 Khái niệm chính trị xã hội

Thuật ngữ “Chính trị” có lẽ được nhắc đến lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại bởi Aristotle-một triết gia Hi Lạp cổ đại, đặc biệt nó còn là tựa đề cho một tác phẩm nổi tiếng và nhiều ảnh hưởng của ông –cuốn “Politics” (Chính trị luận)

Trang 3

Tuy nhiên từ “Chính trị” và các vấn đề chính trị cơ bản như quyền lực và tổ chức nhà nước đã được tiếp cận bởi các triết gia khác như Khổng Tử, Plato… Dù Aristotle đã khẳng định con người là động vật chính trị, mọi công dân có đạo đức (không phải là nô lệ hay phụ nữ) đều có quyền tham gia chính trị, nhưng một điểm chung lớn trong lý luận của các triết gia cổ đại này là quyền lực chính trị tốt nhất nên được nắm giữ bởi những ông vua thông thái

Vì thế chính trị ở đây có nghĩa là nghệ thuật cai trị và quản lý thành bang của một nhà lãnh đạo lỗi lạc, xuất chúng hay là khoa học giành và nắm giữ vương quyền trong thiên hạ

Dưới nhãn quan này đại bộ phận dân chúng bị gạt ra bên lề của các cuộc chơi chính trị Rồi khi có được quyền lực trong tay những kẻ cầm quyền đã tạo nên bao nhiêu sự tha hóa, mục ruỗng trong bộ máy lãnh đạo và bao nhiêu vấn nạn quốc gia

mà hậu quả của tất cả vấn đề này đổ cả lên đầu người dân Từ đó mặc nhiên chính trị được hiểu như một thứ xấu xa, là đặc quyền của kẻ thống trị, đối kháng với lợi ích và cuộc sống bình dị của người dân

Khi nền văn minh nhân loại đã bước qua một trang mới hoàn toàn khác, cùng với sự ra đời của nhiều luận thuyết cổ vũ cho chủ nghĩa tự do Mà một sự cổ vũ to lớn cho lý tưởng này là sự ra đời của một nhà nước hiến pháp đầu tiên trên thế giới-Nhà nước Mỹ khẳng định quyền sống, quyền tự do, an ninh than thể, quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận…

Hiến pháp Hoa Kỳ là bản hiến pháp lâu đời nhất và nổi tiếng nhất với trên

200 năm lịch sử Từ khi được hiệu lực năm 1789, nó đã được tham khảo nhiều lần

để làm mô hình cho các hiến pháp của những quốc gia khác Thủ tướng Vương quốc Anh William Ewart Gladstone (1809 – 1898) đã miêu tả Hiến pháp này là

"tác phẩm tuyệt vời nhất từng được sản sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí

óc và mục đích của con người"

Từ đây cả thế giới làm quen với một lý thuyết hoàn toàn mới về nguồn gốc

và bản chất của Nhà nước, nhà nước không phải là một thế lực thống trị xã hội mà

Trang 4

chính là một tổ chức quyền lực công, được người dân trao cho quyền lực để đổi lại

họ được sống dưới sự bảo vệ của Nhà nước và một trật tự luật pháp do Nhà nước ban hành (luật pháp không trái với đạo đức và luân lý); và rằng quyền lực chính trị

đó không thể là quyền lực tuyệt đối vì “quyền lực có xu hướng tha hóa, quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối”

Dưới nhãn quan triết học này, quyền lực chính trị xuất phát từ dân chúng, nó được tạo lập để phục vụ xã hội Chính trị là nghệ thuật hay khoa học vận hành và quản lý xã hội bằng quyền lực Nhà nước nhưng nó phải bị hạn chế bằng luật pháp

và được giám sát bởi người dân thông qua các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tôn giáo

Như vậy người dân mọi thành phần có đủ tư cách để tham gia gián tiếp vào nền chính trị quốc gia bằng những hoạt động xã hội cụ thể của mình; quyền tự do báo chí tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên hiệp quốc (10 tháng 12 năm 1948) cho phép người dân phát biểu quan điểm của mình đối với tất cả các vấn đề của quốc gia; hơn nữa mọi công dân đủ tiểu chuẩn pháp quy đều có khả năng tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nước một cách trực tiếp Từ nay chính trị chẳng còn

là vương quyền cha truyền con nối, cũng chẳng còn là đặc quyền của những người thuộc tầng lớp quý tộc

Bên cạnh đó, thuật ngữ xã hội có thể hiểu theo một cách chung nhất là: "Một tập thể hay một cộng đồng những người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa."

Từ các phân tích trên, có thể khái quát định nghĩa về triết học chính trị xã hội là: Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về nhà nước, chính quyền, chính trị, tự do, công bằng, tài sản, quyền, luật và việc thực thi luật pháp bởi các cơ quan thẩm quyền Mục tiêu nghiên cứu của triết học chính trị nhằm lý giải về mối quan hệ cũng như

sự tồn tại của các vấn đề trên một cách thấu đáo bởi các nhà triết học; Trong ngôn ngữ thông thường, “triết học chính trị xã hội” chỉ có nghĩa chỉ quan điểm chung,

Trang 5

hoặc niềm tin hay thái độ đạo đức cụ thể về chính trị trong một xã hội, một tập thể

mà không nhất thiết thuộc về chuyên ngành nào của triết học

II VÀI QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ XÃ HỘI QUA CÁC GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ

1 Đặc điểm chính trị - xã hội của Khổng Tử

Khổng Tử (551 – 479 TCN) là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng người Trung Hoa, các bài giảng và triết lý của ông có ảnh hưởng rộng lớn đối với đời sống và tư tưởng của các nền văn hóa Đông Á Người Trung Hoa đời sau

đã tôn xưng ông là Vạn thế Sư biểu (Bậc thầy của muôn đời) Chính phủ Trung Quốc hiện nay, trong nỗ lực truyền bá văn hóa Trung Hoa ra thế giới, đã cho thành lập hàng trăm Học viện Khổng Tử trên khắp thế giới

Triết học của ông nhấn mạnh trên sự tu dưỡng đức hạnh cá nhân và cai trị bằng đạo đức: “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, sự chính xác của các mối quan hệ xã hội, đạo đức và quy phạm làm người, “Đạo Trung Dung” và các đức tính “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” Các giá trị đó đã có được tầm ảnh hưởng lớn trên mọi học thuyết khác ở Trung Quốc như Pháp gia hay Đạo gia trong suốt triều đại nhà Hán Các tư tưởng của Khổng Tử đã được phát triển thành một hệ thống triết học được gọi là Khổng giáo Khổng giáo được một người Italia là Matteo Ricci đưa vào Châu Âu, ông cũng là người đầu tiên La tinh hoá tên Khổng Tử thành

"Confucius" Khổng giáo còn được xem là một tôn giáo lớn của loài người, nhất là dân tộc Trung Hoa

2 Quan điểm chính trị - xã hội của Lão Tử

Trong các phái Nho gia, Đạo gia, Pháp gia của các tư tưởng Trung Quốc thời

cổ đại, Người đầu tiên đề xướng học thuyết Đạo gia là Lão Tử Về mặt triết học, Lão Tử cho rằng nguồn gốc của vũ trụ là "đạo" Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật Sau khi sự vật được tạo ra thì phải có quy luật để duy trì sự tồn tại của nó, quy luật ấy gọi là "đức" Như vậy, đạo đức ở đây là một

Trang 6

phạm trù thuộc về triết học, khác với đạo đức của Nho gia là thuộc về phạm trù luân lý

Về cách quản lý đất nước, Lão Tử chủ trương vô vi Ông cho rằng cách tốt nhất làm cho đất nước được thái bình là giai cấp thống trị không can thiệp đến đời sống của nhân dân, không thu thuế quá nhiều, không sống xa hoa Đồng thời nên quay lại thời kỳ vừa thoát thai khỏi xã hội nguyên thuỷ, không cần chữ viết, không cần vũ khí, thuyền xe Còn đối với nhân dân thì chỉ cần làm cho tâm hồn họ trống rỗng nhưng bụng họ thì no, chí của họ yếu nhưng xương cốt của họ mạnh Khi đó

họ không biết gì và không có ham muốn Lão Tử chủ trương một chính quyền theo

tự nhiên mà giữ giềng mối, “vô vi nhi trị”, trị mà như không trị tức là trị vậy Theo Đạo mà trị nước vì nếu dùng trí thuật mà trị nước tức là làm hại nước Chính quyền gồm những người chất phác, ăn ở giản dị và cần kiệm, không xa hoa Họ không can thiệp vào chuyện của nhân dân, không tôn quí hiền tài, không vận dụng lý trí để ứng xử với dân Luật pháp phải rộng rãi và uyển chuyển vì càng gia tăng luật lệ thì dân càng bị trói buộc, khổ sở Trọng dụng hiền tài chỉ làm dân tranh nhau để được tiếng là người hiền “Dứt thánh bỏ trí, dân lợi trăm phần Dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại thảo lành Dứt xảo bỏ lợi, trộm cướp không còn” Ở trong nước, chính quyền không nên dùng các hình phạt răn đe, nhất là đem cái chết ra dọa dân vì tới một lúc nào đó dân không còn sợ Đối với bên ngoài, phải cố hết sức tránh nạn binh đao Lão Tử triệt để bác bỏ chiến tranh Cực chẳng đã phải dùng thì nên điềm đạm, chừng mực “Nước lớn mà hạ mình trước nước nhỏ thì được nước nhỏ thần phục; nước nhỏ mà hạ mình trước nước lớn thì tất được nước lớn che chở” Tóm lại, phép trị quốc an dân hay nhất để đem lại phúc lợi cho dân chúng là càng ít can thiệp càng tốt, để mặc cho dân sống tự nhiên, mộc mạc và giản dị

Chủ trương chính trị của Lão không được giai cấp thống trị đương thời chấp nhận, nhưng tư tưởng ấy đã đặt cơ sở cho việc hình thành Đạo giáo ở Trung Quốc sau này

3 Tư Tưởng chính trị - xã hội của Hàn Phi Tử

Trang 7

Hàn Phi Tử (281 TCN - 233 TCN) là học giả nổi tiếng Trung Quốc cuối thời Chiến Quốc theo trường phái pháp gia, sống cuối đời Chiến Quốc, trong giai đoạn Tần Thủy Hoàng đang thống nhất Trung Hoa Hàn Phi tuy là học trò của Tuân Tử, nhưng đã bỏ đạo Nho theo đạo Pháp Hàn Phi phủ định đức tính Nhân nghĩa của nhà Nho, tự sáng lập ra triết lý chính trị riêng, có giá trị rất đáng kể Triết lý chính trị của Hàn Phi, chủ trương hình thành một hệ thống gồm ba chủ điểm là: Pháp, Thuật và Thế

Trong tư tưởng chính trị của Hàn Phi, quyền lực là tất cả “Quyền thế bất khả

dĩ tá nhân, thượng thất kỳ nhất, hạ dĩ vi bách” (Quyền thế chớ có chia sẻ cho người

ta, khi bề trên chia mất một quyền, thì kẻ dưới sẽ lạm dụng thành trăm) Hàn Phi không những coi trọng quyền lực, còn là kẻ sùng bái quyền lực Đó là ý nghĩ chung của kẻ chủ trương độc tài, chuyên chế từ cổ chí kim, từ đông chí tây, họ coi quyền lực như là chân lý, có quyền lực là có tất cả Tư tưởng chủ yếu của Hàn Phi là thuyết Pháp Trị Tư tưởng của Hàn Phi Tử đối nghịch lại với tư tưởng của Nho giáo (vốn cho rằng để quản lý xã hội thì dùng Nhân trị và Đức trị), ông cho rằng cách tốt nhất để quản lý xã hội là dùng pháp luật: “Pháp luật không hùa theo người sang Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không từ, kẻ dũng cũng không dám tranh Trừng trị cái sai không tránh của kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót của kẻ thất phu”

4 Tư tưởng chính trị của Tuân Tử:

Tuân Tử (313 TCN – 238 TCN) là một nhà Nho, nhà tư tưởng của Trung Hoa vào cuối thời Chiến Quốc

Về mặt tư tưởng chính trị của Tuân Tử, một phần là thừa kế chủ thuyết của Khổng - Mạnh; phần khác là thuộc về sáng kiến riêng của Người Trong phần thừa

kế, có hai điểm rõ rệt nhất là “quý dân” và “thượng hiền” Phần sáng kiến độc đáo của Tuân Tử, tức là chủ nghĩa Lễ trị Điều này sở dĩ khác biệt với Khổng - Mạnh, là

vì trong vấn đề trị nước, Khổng - Mạnh định luận theo ý niệm đạo đức, có tính cách

Trang 8

chủ quan; còn Tuân Tử thì định luận theo giáo hóa Lễ, Nghĩa Đó là nền tảng của chính trị quốc gia, chẳng những là pháp chế để thống ngự thần dân, đồng thời còn

là then chốt của cuộc trị loạn, hưng vong của một nước

5 Tư tưởng chính trị - xã hội của Socrates:

Socrate (470 TCN - 399 TCN) là triết gia vĩ đại nhất thời Hy Lạp cổ đại, người được mệnh danh là bậc thầy về truy vấn thuộc phái biện thuyết trong trường phái triết học phương Tây Ngưòi ta xem ông như là người đầu tiên thiết lập nền triết học đạo đức - người đề ra phương pháp tiếp cận chân lý bằng cách liên tục đặt câu hỏi và trở thành con người gây tranh cãi kịch liệt Câu hỏi của Socrates: Công

lý là gì? Quan điểm của ông là chúng ta hãy thương xót kẻ gây ra điều bất công chứ không phải là nạn nhân của bất công Theo ông, Luận điểm cơ bản của đạo đức học duy lý cũng được vận dụng vào lĩnh vực chính trị Phẩm hạnh (đức hạnh) chính là cách diễn đạt khác của tri thức về chính trị Socrates là người muốn duy lý hóa nhà nước, muốn những người điều hành công việc quốc gia phải thật sự có tri thức, hiểu biết Socrates đã nâng sự lý giải vấn đề đạo đức - chính trị lên trình độ khái niệm, chứng minh Về mặt triết học, tính chất khách quan của phẩm hạnh, chính trị, pháp quyền, đối lập với chủ nghĩa tương đối và chủ nghĩa chủ quan của phái biện thuyết Socrates: Luận điểm cơ bản của đạo đức học duy lý cũng được vận dụng vào lĩnh vực chính trị Phẩm hạnh (đức hạnh) chính là cách diễn đạt khác của tri thức về chính trị Socrates muốn duy lý hóa nhà nước, muốn những người điều hành công việc quốc gia phải có tri thức, hiểu biết Socrates có lẽ là người đầu tiên trong lịch sử triết học phương Tây đã phân biệt quyền tự nhiên và quyền công dân, khẳng định sự thống nhất hai quyền đó, chứ không tách rời nhau

6 Tư tưởng chính trị - xã hội của Plato

Plato (428 TCN - 348 TCN) với Republic, Tác phẩm vĩ đại nhất của Plato

và của mọi thời đại, đã bàn về nhiều lĩnh vực: thần học, đạo đức học, siêu hình học, tâm lý học, giáo dục học, chính trị học, và lý thuyết về nghệ thuật Những vấn đề của triết học hiện đại đều được đặt ra từ tác phẩm này: từ những vấn đề của

Trang 9

Nietzsche về đạo đức và quý tộc, những vấn đề về trở lại với thiên nhiên và giáo dục tự do của Rousseau, élan vital của Bergson và phân tâm học của Freud Trong REPUBLIC, Plato bàn tới các vấn đề chính trị như: con người, tổ chức quốc gia, lãnh đạo công quyền “Con người thế nào quốc gia thế ấy”, “Sự sụp đổ sẽ đến khi những con buôn nhờ giàu sang mà trở thành người cai trị”, “Chính quyền cũng biến hóa như tính tình của con người biến hóa”, “Quốc gia được cấu tạo bởi các bản tính của những người đang ở trong nó”, “Tất cả các quốc gia đều gồm có hai quốc gia, quốc gia của người nghèo và quốc gia của người giàu, hai quốc gia ấy xung đột nhau gay gắt”

Cũng như Socrates, mối quan tâm hàng đầu của Platon trong triết học xã hội

là vấn đề phẩm hạnh Bốn phẩm hạnh thường xuyên được nhắc đến là tiết độ, can đảm (gan dạ), khôn ngoan, công bằng, dựa theo cách phân tầng linh hồn, phân tầng

xã hội và quan hệ giữa người với người Tiết độ là phẩm hạnh cần có đối với tất cả các công dân, không phân biệt địa vị xã hội Can đảm không nhất thiết là phẩm hạnh phổ biến Chỉ cần một bộ phận công dân (các chiến binh) có được nó để bảo

vệ an ninh quốc gia Khôn ngoan có thể hiện diện ở tất cả, song xét thực chất nó là đặc quyền phẩm hạnh của các triết gia Có thể gọi công bằng là “đức hạnh xã hội”,

vì nó thể hiện trong đời sống của cá nhân lẫn cộng đồng, đóng vai trò thước đo của chế độ chính trị

7 Học thuyết chính trị - xã hội của Aristotle

Aristotle (428 TCN - 348 TCN) là một triết gia, một nhà chính trị “Chính trị luận” của Aristotle là một tác phẩm kinh điển mang tính chất đột phá trong lịch sử triết học và chính trị học không phải ở mức độ liệt kê quy mô mà ở tầm nhìn Trước Aristotle, chính trị chỉ đơn thuần được xem như mối quan hệ giữa người cai trị và người bị trị trong một quốc gia Thậm chí với Plato, người thầy của Aristotle, chính trị vẫn là một thứ mơ hồ được đóng khung trong mô hình nhà nước lý tưởng Aristotle thì khác, ông là một triết gia hiếm hoi trong lịch sử thế giới thành công trong vai trò chính trị – là người thầy, cố vấn cho vị hoàng đế vĩ đại nhất Hy Lạp cổ

Trang 10

đại: Alexadre Đại Đế Bởi thế, ông nhìn chính trị với con mắt của người trong cuộc

và thấy rằng chính trị là một lĩnh vực tổng thể: “Cũng giống như trong các ngành khác của khoa học, chính trị cũng vậy, một hợp chất luôn luôn có thể được phân giải ra thành những phần tử đơn giản hay nhỏ nhất của tổng thể Do đó, chúng ta phải xem xét các phần tử cấu thành nhà nước, hầu có thể thấy được các luật lệ khác nhau của các loại chính quyền khác nhau như thế nào, và có thể rút ra được một kết luận khoa học nào chăng về mỗi loại chính quyền”

Những tư tưởng cơ bản về chính trị - xã hội của Aristotle: Xây dựng học thuyết nhà nước lý tưởng trên nền tảng bản chất con người; Đặt vai trò và lợi ích của nhà nước lên trên quyền lợi và tầm quan trọng của cá nhân; Chính con người cần đến xã hội vì xã hội là một thực tại có giá trị đạo đức, phát sinh từ những yêu cầu tất yếu của nhân loại; Quyền công dân dành cho tầng lớp thượng; Tầng lớp thấp buộc phải lao động không có cơ hội đạt đến hạnh phúc

8 Triết lý về chính trị - xã hội của Thomas Aquinas

Thomas Aquinas (1225 - 1274) là một triết gia và nhà thần học người Italia Theo ông, Thượng Đế là nhà lập pháp tối thượng (the superme lawgiver), đấng sáng tạo mọi quy luật, siêu nhiên lẫn tự nhiên – bắt nguồn từ những quy luật gốc

ấy, luật pháp của con người được hình hành Thomas Aquinas nhận định rằng trật

tự xã hội và những quy tắc công bằng của nó tuân theo khuôn mẫu mà Thượng Đế

đã định sẵn trong thế giới tự nhiên Những điều luật bất công, vốn không tuân theo khuôn mẫu ấy, không thể được xem là luật pháp đích thực Mặc dù, nói một cách nghiêm chỉnh, con người không có bổn phận phải tuân theo những điều luật bất công, nhưng vẫn có những lý do đạo đức đòi hỏi sự vâng mệnh trước quyền lực, bởi lẽ “mọi quyền lực đều xuất phát từ Ý chúa” Con người phải tuân theo giới cầm quyền, bởi vì không có quyền lực nào nằm ngoài quyền năng của Thượng đế

Nắm quyền thống trị là sở hữu quyền lực, là bước lên cương vị và đảm nhận trách nhiệm cao hơn người khác Đối khán với quyền lực là đối kháng với thiên mệnh, với “trật tự” mà Thượng đế đã định ra Không chỉ quyết định thang bậc tôn ti

Ngày đăng: 30/11/2021, 14:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w