1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THÔNG QUA NHỮNG THÀNH tựu CHÍNH của nền văn MINH ấn độ cổ đại đã đạt đƣợc hãy PHÂN TÍCH và CHỨNG MINH ấn độ cổ đại là một TRONG NHỮNG nền văn MINH sớm NHẤT của LOÀI NGuỜI

21 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 598,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ấn Độ là một trong những trung tâm văn hóa và tƣ tƣởng lớn của Phƣơng Đông cổ đại. Nơi đây đƣợc biết đến là cái nôi sớm nhất của nền văn minh nhân loại. Nền văn minh Ấn Hằng xuất hiện từ 3000 năm trƣớc CN. Ấn Độ đƣợc biết đến là cái nôi của tôn giáo lớn trên thế giới. Tôn giáo giữ vai trò trung tâm, có tầm ảnh hƣởng rộng khắp và chi phối mọi mặt đời sống từ văn hóa, chính trị, đời sống của con ngƣời nơi đây. Đặc biệt, Ấn Độ là một trong những cái nôi của triết học phƣơng Đông, khi triết học Ấn và tôn giáo đan xen với nhau, tạo nên vẻ đẹp thâm trầm và bí ẩn. Đời sống văn học, nghệ thuật của nền văn minh Ấn Độ phong phú đại diện cho tƣ tƣởng, sức sống tiềm tàng với những giá trị tinh thần, đạo đức của con ngƣời Ấn Độ đến nay vẫn đƣợc tìm tòi, khám phá. Bên cạnh đó, kiến trúc là một trong những thành tựu nổi bật nhất của lịch sử văn minh Ấn Độ. Kiến trúc Ấn mang sắc thái riêng độc đáo với các kiểu loại hình: Cột đá, mộ tháp, chùa chiền, hình tháp, cung điện… Điêu khắc Ấn Độ cũng mang đậm bản sắc dân tộc với việc khắc tƣợng Phật và các tƣợng thần của đạo Hindu. Những thành tựu rực rỡ ở nhiều lĩnh vực đã giúp Ấn Độ trở thành một trung tâm văn minh lớn của thế giới trong thời cổ đại, mà còn có những ảnh hƣởng nhất định vào sự phát triển của xứ Ấn trong các giai đoạn tiếp theo. Xuất phát từ những điều trên em lựa chọn chủ đề: “Thông qua những thành tựu chính của nền văn minh Ấn Độ cổ đại đã đạt được. Hãy phân tích và chứng minh Ấn Độ cổ đại là một trong những nền văn minh sớm nhất của loài người.” làm đề tài nghiên cứu cho mình.

Trang 1

BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI

TÊN ĐỀ TÀI : THÔNG QUA NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH CỦA NỀN VĂN MINH ẤN

ĐỘ CỔ ĐẠI ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC HÃY PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH ẤN

ĐỘ CỔ ĐẠI LÀ MỘT TRONG NHỮNG NỀN VĂN MINH SỚM NHẤT

CỦA LOÀI NGƯỜI

BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN

Học phần: Lịch sử văn minh thế giới

Mã phách:………

Hà Nội, 2021

Trang 2

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

2.1 Mục đích 2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục 2

PHẦN NỘI DUNG 3

CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN MINH ẤN ĐỘ 3

1.1 Quá trình hình thành 3

1.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên 3

1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 3

1.1.3 Cơ sở hình thành nên nền văn minh Ấn Độ 4

1.2 Các giai đoạn lịch sử chính 5

1.2.1 Thời kì văn minh lưu vực sông Ấn( khoảng 3000 năm đến 1500 năm TCN) 5

1.2.2 Thời kì Vêđa ( khoảng 1500 năm TCN đến thế kỉ VI TCN) 5

1.2.3 Giai đoạn từ thế kỉ VI TCN đến thế kỉ XII 6

1.2.4 Ấn Độ từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX 6

CHƯƠNG II: NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH CỦA NỀN VĂN MINH ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 7

2.1 Chữ viết và ngôn ngữ 7

2.2 Tôn giáo 8

Trang 3

2.2.1 Đạo Bà Lamôn và Ấn Độ giáo(đạo Hindu) 8

2.2.2 Đạo phật 9

2.2.3 Đạo Silk và đạo Jain 10

2.2.3 Các trào lưu triết học của Ấn Độ 10

2.4 Văn học 11

2.5 Kiến trúc và điêu khắc 12

2.6 Khoa học – kĩ thuật 13

CHƯƠNG III: ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI LÀ MỘT TRONG NHỮNG NỀN VĂN MINH SỚM NHẤT CỦA LOÀI NGƯỜI 15

3.1 Ấn độ cái nôi của nền văn minh 15

3.2 Vai trò của những thành tựu tạo nên nền văn minh sớm nhất loài người 16 KẾT LUẬN 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 4

Ấn Độ được biết đến là cái nôi của tôn giáo lớn trên thế giới Tôn giáo giữ vai trò trung tâm, có tầm ảnh hưởng rộng khắp và chi phối mọi mặt đời sống từ văn hóa, chính trị, đời sống của con người nơi đây Đặc biệt, Ấn Độ là một trong những cái nôi của triết học phương Đông, khi triết học Ấn và tôn giáo đan xen với nhau, tạo nên vẻ đẹp thâm trầm và bí ẩn Đời sống văn học, nghệ thuật của nền văn minh Ấn Độ phong phú đại diện cho tư tưởng, sức sống tiềm tàng với những giá trị tinh thần, đạo đức của con người Ấn Độ đến nay vẫn được tìm tòi, khám phá Bên cạnh đó, kiến trúc là một trong những thành tựu nổi bật nhất của lịch sử văn minh Ấn Độ Kiến trúc Ấn mang sắc thái riêng độc đáo với các kiểu loại hình: Cột đá, mộ tháp, chùa chiền, hình tháp, cung điện… Điêu khắc Ấn Độ cũng mang đậm bản sắc dân tộc với việc khắc tượng Phật và các tượng thần của đạo Hindu

Những thành tựu rực rỡ ở nhiều lĩnh vực đã giúp Ấn Độ trở thành một trung tâm văn minh lớn của thế giới trong thời cổ đại, mà còn có những ảnh hưởng nhất định vào sự phát triển của xứ Ấn trong các giai đoạn tiếp theo Xuất

phát từ những điều trên em lựa chọn chủ đề: “Thông qua những thành tựu

chính của nền văn minh Ấn Độ cổ đại đã đạt được Hãy phân tích và chứng minh Ấn Độ cổ đại là một trong những nền văn minh sớm nhất của loài người.” làm đề tài nghiên cứu cho mình

Trang 5

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan về Ấn Độ cổ đại

- Phân tích những thành tựu chính của văn minh Ấn Độ Đưa ra các dẫn chứng cụ thể về thành tựu trên các lĩnh vực khác nhau Khẳng định Ấn Độ là cổ đại là một trong những nền văn minh sớm nhất của loài người

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Những thành tựu chính của nền văn minh Ấn Độ cổ đại trên các lĩnh vực đã đạt được

- Phạm vi nghiên cứu: Nền văn minh Ấn Độ cổ đại

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phân tích tiếp cận tài liệu để thu thập thông tin

- Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh

5 Bố cục

Ngoài Mục lục, lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo… Bài tập lớn bao gồm 3 chương:

Chương I: Quá trình hình thành và phát triển nền văn minh Ấn Độ

Chương II: Những thành tựu chính của nền văn minh Ấn Độ cổ đại

Chương III: Ấn Độ cổ đại là một trong những nền văn minh sớm nhất của loài người

Trang 6

3

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN

MINH ẤN ĐỘ 1.1 Quá trình hình thành

1.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên

Là một quốc gia thuộc Nam Á, Ấn Độ là một đất nước vô cùng phong phú

đa dạng, hội đủ mọi sắc thái về điều kiện tự nhiên Đó là một bán đảo hình tam giác tưởng chừng như một khối thống nhất đơn giản về địa hình, khí hậu nhưng

đi sâu vào tìm hiểu mới thấy được sự đa dạng và phức tạp của điều kiện tự nhiên

Ấn Độ là một tiểu lục địa vừa cách biệt với bên ngoài vừa chia cắt ở bên trong Tuy nhiên, đây lại là một yếu tố giúp cho đất nước này bảo tồn được bản sắc văn hóa của mình – những yếu tố văn hóa truyền thống cổ xưa nhất thế giới Với vị trí địa lý tương đối biệt lập so với thế giới xung quanh do bị ngăn cách bởi đồi núi hiểm trở, đại dương mênh mông, văn minh Ấn Độ có những bước thăng trầm của nó

1.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

Đặc trưng nổi bật của nền kinh tế Ấn Độ thời kỳ này đó là sự xuất hiện sớm và tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn Đó là một hình thức sản xuất vật chất mang tính cộng đồng kiểu công xã nguyên thủy và chế độ quốc hữu về ruộng đất được thiết lập trên cơ sở của nền sản xuất công xã

Về mặt xã hội, thời kỳ này đã xuất hiện chế độ đẳng cấp góp phần quy định cơ cấu xã hội và ảnh hưởng đến hình thái tư tưởng Ấn Độ cổ đại Đó là chế

độ xã hội dựa trên sự phân biệt về chủng tộc, màu da, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo, quan hệ giao tiếp, tục cấm kỵ hôn nhân Xã hội Ấn Độ cổ không chỉ bị đè

Trang 7

4

nặng bởi nỗi khổ do quan hệ bất công và sự bóc lột hà khắc của giai cấp qúy tộc

chủ nô đối với giai cấp nô lệ và những kẻ tôi tớ, mà còn bị bóp nghẹt bởi chế độ

phân biệt chủng tính, màu da, sắc tộc, còn gọi là chế độ đẳng cấp hết sức nghiệt

ngã gây nên Chế độ đẳng cấp không chỉ góp phần qui định cơ cấu, trật tự xã hội

Ấn Độ mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến các quan điểm triết lý tôn giáo Ấn Độ cổ

đại

1.1.3 Cơ sở hình thành nên nền văn minh Ấn Độ

1.1.3.1 Điều kiện tự nhiên và dân cư

Văn minh Ấn cổ hình thành ở lưu vực 2 sông: sông Hằng và sông Ấn, 2

con sông rộng lớn tạo nên những vùng đồng bằng rộng lớn thuận lợi cho phát

triển kinh tế nông nghiệp Đặc biệt sông Hằng là con sông linh thiêng đối với cư

dân Ấn Độ cổ Vùng mỏm phía Nam của tiểu lục địa lại có nhiều dãy núi với hơi

nóng phả rất khắc nghiệt, khiến cư dân khó sinh sống ở nơi đây Biên giới Ấn

vừa đóng vừa mở

Do tính cách biệt của các vùng địa lí và các biến động lịch sử đã làm cho

cấu trúc cư dân của Ấn Độ khá phức tạp Ấn Độ là nơi tụ hội của nhiều dân tộc

khác nhau sinh sống Trong đó có hai bộ tộc chính: Người Dravida được coi là

cư dân bản địa chủ yếu sinh sống ở miền Nam (3000 năm TCN) Người Arian

(Bắc) do một bộ tộc Capcadơ và Caxpiên tràn xuống định cư tại miền Bắc

Ngoài ra ở Ấn Độ còn có người Môn gôn, Hy Lạp và Hồi giáo Do vậy, ngôn

ngữ Ấn Độ cũng đa dạng và phong phú, rất khó có thể kể chính xác nơi này đã

từng tồn tại bao nhiêu ngôn ngữ và thổ ngữ

Trang 8

5

1.1.3.2 Văn minh sông Ấn

Đầu thế kỉ XX, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra nền văn minh sông Ấn (TNK III-1/2 TNK II TCN) Di chỉ khảo cổ của hai thành phố Harappa và Môhengiơ Đarô đã chứng minh rằng thành phố được chia làm thành 2 khu tách biệt: khu “thánh” và khu “phố”

Qua các tài liệu khảo cổ học, có thể thấy thời kì văn minh sông Ấn là thời

kì Ấn Độ đã bước vào xã hội có giai cấp, có nhà nước, có sự mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, có sự phân biệt giữa thành thị và nông thôn Sau một thời gian tồn tại, nền văn minh sông Ấn bị hủy diệt bởi sự tàn phá của thiên tai, chủ yếu là những trận lụt dữ dội ở vùng hạ lưu sông Ấn

cổ người ta có thể suy ra phần nào sự phát triển kinh tế, văn hoá, và đây là thời

kì đã xuất hiện bộ máy nhà nước Còn về lịch sử tương đối cụ thể của nó thì chưa biết Người ta tạm đặt cho nó cái tên là nền văn hoá Harappa-Môhenjô Đarô Có người gọi đây là nền văn minh sông Ấn

1.2.2 Thời kì Vêđa ( khoảng 1500 năm TCN đến thế kỉ VI TCN)

Đây là thời kì những bộ lạc du mục người Aria từ Trung Á tràn vào xâm nhập Bắc Ấn Thời kì này được phản ánh trong bộ kinh Vêđa cho nên được gọi

Trang 9

6

là thời kì Vêđa Đây là thời kì có hai vấn đề quan trọng ảnh hưởng lâu dài đến lịch sử Ấn Độ sau này: đó là vấn đề đẳng cấp ( Vacna ) và đạo Balamôn

1.2.3 Giai đoạn từ thế kỉ VI TCN đến thế kỉ XII

Từ thế kỉ VI TCN Ấn Độ mới có sử sách ghi chép Lúc đó, ở miền Bắc Ấn

có tới 16 nước trong đó vương quốc Mađaga ở hạ lưu sông Hằng là nước hùng mạnh nhất Năm 327 TCN, Ấn Độ bị đội quân của Alêchxănđrơ xâm lược trong một thời gian ngắn

1.2.4 Ấn Độ từ thế kỉ XIII đến thế kỉ XIX

Trong giai đoạn này, Ấn Độ bị người Apganixtan theo đạo Hồi xâm nhập, sau đó, thế kỉ XVI đến thế kỉ XVIII lại bị người Mông Cổ xâm lược Người Mông Cổ đã lập ra ở đây triều Môgôn Đến giữa thế kỉ XIX, Ấn Độ bị Anh xâm lược tới năm 1950 mới giành độc lập

Trang 10

7

CHƯƠNG II: NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH CỦA NỀN VĂN MINH ẤN

ĐỘ CỔ ĐẠI 2.1 Chữ viết và ngôn ngữ

Chữ viết đầu tiên ở Ấn được sáng tạo từ thời văn hóa Harappa, tại các di chỉ thuộc nền văn minh lưu vực sông Ấn đã phát hiện hơn 3.000 con dấu khắc chữ đồ họa Nên có thể khẳng định vào khoảng 3.500 năm TCN, ở nền văn minh sông Ấn đã có chữ viết riêng của mình, người ta thường gọi đó là chữ hình dấu

(hình chữ nhật, vuông, tam giác, thoi)

Ở phía Bắc của nền văn minh sông Hằng, khoảng năm 500 TCN đã có chữ viết là chữ Kharôsthi và chữ Brathmi (các văn bia của Ashoka đều viết bằng loại chữ này) Cả 2 chữ đều có nguồn gốc từ chữ viết của người Lưỡng Hà cổ đại (các thương nhân của người Lưỡng Hà mang đến nơi đây những loại chữ đó và sáng tạo chữ bằng đất sét - thư viện chữ bằng đất sét) Trên cơ sở chữ Brathmi, người Ấn lại đặt ra chữ Đêvanagari có cách viết đơn giản thuận tiện hơn - đó là thứ chữ mới để viết tiếng Xancrit

Khi đạo Hindu phát triển cực thịnh với thời kỳ Bàlamôn, tôn giáo này đã sáng tạo 1 thể loại chữ viết mới (chữ Sanscrit - chữ Phạn), có hệ thống ngữ pháp phức tạp thường không có quy tắc, vì vậy nó đã được cải tiến và chỉnh sửa rất nhiều lần Ngôn ngữ Ấn Độ rất phức tạp, nhưng đó là những đóng góp đặc sắc của cư dân nền văn minh sông Ấn là tạo ra chữ viết khắc trên 3.000 con dấu Loại chữ viết này là chữ ghi âm và ghi vần, viết từ phải sang trái, có 62 dấu sau còn 22

Cùng với Sankrit, cư dân Ấn Độ còn dùng tiếng Pali, mà cơ sở của nó là khẩu ngữ vùng Magada để viết kinh Do sự phát triển của khẩu ngữ này mà tiếng Pali trở thành một loại từ ngữ như tiếng Phạn

Trang 11

8

Trên cơ sở chữ viết của Ấn Độ, một số quốc gia ở Đông Nam Á đã lấy đó làm nền tảng cho sự ra đời chữ viết của dân tộc mình Chữ Phạn là chữ viết rất quan trọng của nền văn minh sông Ấn, nó lưu giữ toàn bộ các bộ kinh Vêđa, bộ luật Manu, bộ kinh Upanisad… kể cả 2 tác phẩm văn học rất nổi tiếng của Ấn, được coi là 2 viên ngọc sáng nhất của văn học phương Đông: Trường ca Ramajana và Mahabrahata Đến nay, Ấn Độ là một trong những quốc gia có hệ thống chữ viết phức tạp nhất trên thế giới (Ấn Độ có 5 chữ viết được coi là chữ quốc gia trong đó có tiếng Anh)

2.2 Tôn giáo

2.2.1 Đạo Bà Lamôn và Ấn Độ giáo(đạo Hindu)

* Đạo Bà Lamôn: là tôn giáo đa thần cổ xưa nhất của Ấn độ, không có người sáng lập, không có tổ chức giáo hội Tôn giáo này có những lễ nghi hà khắc: Nhân tế, Mã tế, tục Sa ti Đối tượng thờ cúng của tôn giáo này là đa thần trong đó quan trọng nhất là Thần sáng tạo, Thần hủy diệt và Thần bảo vệ Giáo

lý là các tập kinh Vê đa sớm và Vê đa muộn

Do sự bảo vệ đặc quyền, đặc lợi cho các đẳng cấp Bà Lamôn, bảo vệ sự không bình đẳng trong xã hội vì vậy mặc dù Bà Lamôn lúc đầu được truyền bá rộng rãi trong cư dân Ấn Độ buộc phải nhường chỗ cho một tôn giáo mới là Đạo Phật Nhưng sau đó, Đạo Phật phải nhường chỗ cho Hindu - tôn giáo lớn nhất ở

Ấn Độ- đó là Ấn Độ giáo

* Ấn Độ giáo(đạo Hindu):là đạo Balamôn phát triển lên Trên cơ sở đạo

Ba la môn, đạo Hin đu là sự phát triển cả về kinh điển, giáo lý, những lễ nghi, con đường giải thoát Điểm đặc sắc nhất của Hinđu giáo : đó là một tôn giáo mở,

nó không ngừng tiếp thu những yếu tố ngoài Con đường giải thoát với 2 xu hướng song song vừa túng dục vô độ vừa cao cả thanh tịnh cũng chính là một

Trang 12

9

điểm độc đáo của nó, vì thế nó “Vừa là một tôn giáo của nhà sư vừa là một tôn giáo của vũ nữ” Đạo Hinđu vừa phản ánh đúng thực tại xã hội lại vừa có những điểm có lợi cho giai cấp thống trị nên nó bắt rễ sâu vào đời sống xã hội Ấn độ

- Ấn Độ giáo thờ ba vị thần thượng đẳng: Brama (sáng tạo), Vishnu (bảo tồn) và Shiva (hủy diệt) Ngoài các vị thần nói trên, các loài động vật như khỉ,

bò, rắn, hổ, cá sấu, chim công, vẹt, chuột v.v cũng là các thần đạo Hindu, trong

đó được tôn sùng hơn cả là thần khỉ và thần bò

- Đạo Hinđu cũng chú trọng thuyết luân hồi, cho rằng con người sau khi chết, linh hồn sẽ đầu thai nhiều lần Về tục lệ, đạo Hinđu cũng hết sức coi trọng

sự phân chia đẳng cấp Đến thời kì này, do sự phát triển của các ngành nghề, trên

cơ sở 4 đẳng cấp cũ (varna) đã xuất hiện rất nhiều đẳng cấp nhỏ mới gọi là jati

* Tổng quan: Trong suốt chiều dài lịch sử, từ thời kì đạo Phật thịnh hành, đạo Bàlamôn – đạo Hinđu là tôn giáo chủ yếu ở Ấn Độ Tôn giáo này còn truyền

bá sang một số nước Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia từ thời Ăngco về trước Ngày nay, ở Ấn Độ có khoảng 84% tổng số cư dân theo đạo Hinđu Ngoài

Ấn Độ, đa số dân Nêpan và đảo Bali ở Inđônêxia, gần 20% dân Bănglađét và Xri Lanca vẫn theo đạo Hinđu

2.2.2 Đạo phật

Ra đời từ thế kỉ VI TCN Nội dung học thuyết của Đạo Phật là lí giải về nỗi khổ đau và giải thoát nổi khổ đau chỉ chủ yếu là sự cứu vớt Tập trung trong tứ diệu đế (bốn nghĩa lí siêu cao) bao gồm: khổ đế, tập đế, diệt đế và đạo

đế

Sau khi Phật tịch, đạo Phật được truyền bá nhanh chóng ở miền Bắc Ấn

Độ Đến khoảng năm 100 sau CN, đạo Phật triệu tập đại hội lần thứ tư tại nước Cusan ở Tây Bắc Ấn Độ Đại hội này thông qua giáo lí của đạo Phật cải cách, và

Trang 13

10

phái Phật giáo mới này được gọi là phái Đại thừa để phân biệt với phái Phật giáo

cũ gọi là phái Tiểu thừa Sự phân biệt giữa phái Đại thừa và Tiểu thừa còn thể hiện: Phái Đại thừa mặc áo nâu, tự lao động kiếm sống Phái Tiểu thừa mặc áo vàng, đi khất thực Đến thời Gúpta, thế kỉ V SCN, đạo Phật không giữ được vị trí như các thời kì trước mà dần dần nhường chỗ cho Ấn Độ giáo - Đạo Hindu

2.2.3 Đạo Silk và đạo Jain

Đạo Sikh - Xích xuất hiện ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ XV Giáo lí của đạo Xích có sự kết hợp giáo lí của đạo Hinđu và giáo lí của đạo Islam Tín đồ đạo Xích tập trung rất đông ở bang Punjap và ngôi đền thiêng liêng của họ là ngôi đền Vàng ở Punjapd

Đạo Jain - Kỳ Na cũng xuất hiện vào khoảng thế kỉ VI Trước công nguyên Đạo này chủ trương bất sát sinh một cách cực đoan và nhấn mạnh sự tu hành khổ hạnh

2.2.3 Các trào lưu triết học của Ấn Độ

Ấn Độ là một trong những cái nôi của triết học phương Đông Hệ thống triết học hoàn chỉnh của Ấn Độ bao gồm các quan niệm về tôn giáo, vũ trụ, nhân sinh, tư duy, tình cảm đến các hoạt động của các thế hệ triết gia

Đặc điểm của triết học Ấn độ:

+ Đề cập đến tất cả các vấn đề cơ bản của triết học hiện đại, trong đó phần sinh động và giàu sức sống nhất là phần triết học nhân bản

+ Triết học Ấn độ có hình thức biểu đạt, Triết học Ấn và tôn giáo đan xen với nhau, tạo nên vẻ đẹp thâm trần và bí ẩn Tư tưởng đặc sắc nhất trong triết học Ấn là tư tưởng về con đường giải thoát

Ngày đăng: 30/11/2021, 14:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w