CƠ SỞ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC .... XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC .... Phương hướ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
ĐỀ TÀI BÀI TẬP LỚN:
Lớp Học phần: 2031101113611
Nhóm Hè Tháng 7
Học kì hè, năm 2021
Trang 2M ỤC LỤC
M ỤC LỤC 1
M Ở ĐẦU 2
N ỘI DUNG 3
I KHÁI NIỆM VÀ VỊ TRÍ CỦA GIA ĐÌNH 3
I.1 Khái niệm 3
I.2 Vị trí của gia đình 3
II CƠ SỞ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 5
II.1 Cơ sở kinh tế - xã hội 5
II.2 Cơ sở chính trị - xã hội 5
II.3 Cơ sở văn hóa 6
II.4 Hôn nhân bình đẳng và tiến bộ tại Việt Nam 6
III XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC 8
III.1 Gia đình Việt Nam trước thời điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực trạng hiện nay 8
III.1.1 Về quy mô, kết cấu của gia đình 8
III.1.2 Các chức năng của gia đình 9
III.1.3 Chức năng giáo dục (xã hội hóa) 9
III.1.4 Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm 9
III.1.5 Các mối quan hệ gia đình 10
III.2 Phương hướng xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 10
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 12
Trang 3M Ở ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là môi trường đầu tiên trong quá trình xã hội hoá của mỗi con người Chính thông qua gia đình, các thành viên chuẩn bị những hành trang để hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng Thông qua xây dựng trong gia đình, mỗi con người từ khi còn nhỏ đã biết điều chỉnh mình trong các mối quan hệ Song thực tế hiện nay cho thấy,
vấn đề gia đình nói chung và xây dựng gia đình nói riêng đang bị tác động của cơ chế thị trường với cả mặt tích cực và cả những yếu tố còn hạn chế Thực tế đó đã làm cho vấn đề gia đình cũng như xây dựng gia đình trở thành vấn đề cấp bách và thu hút sự quan tâm chú ý của mọi người
Trong tình hình chung của đất nước, khi xã hội đẩy mặt quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gia đình cũng có những biến đổi sâu sắc về mọi mặt Gia đình là tế bào của xã hội, vậy khi tiến theo quá trình phát triển mới càng phải chú ý đến việc xây dựng gia đình Việt Nam Xuất phát từ lý do trên đây, nhóm “Hè Tháng 7” lựa
chọn đề tài: “Xây dựng gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
2 Mục tiêu
Làm nổi bật vị trí của gia đình Việt Nam trong sự phát triển của xã hội Làm
rõ cơ sở xây dựng gia đình Việt Nam và đề xuất một số phương hướng xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
3 Phương pháp
Bài tập lớn sử dụng phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết; phương pháp lịch sử; phương pháp thực nghiệm khoa học
4 Kết cấu
Bài tập lớn gồm 3 phần:
I Khái niệm và vị trí của gia đình
II Cơ sở xây dựng gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
III Xây dựng gia đình Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước
Trang 4N ỘI DUNG
I KHÁI NIỆM VÀ VỊ TRÍ CỦA GIA ĐÌNH
I.1 Khái niệm
“Gia đình là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và c ủng cố chủ yếu dựa trên cơ sở hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng, cùng với những quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình” 1
Chỉ thị số 49-CT/TW về xây dựng gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước đã đề cập: “Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ
n ạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”2 Đảng và Nhà nước rất coi trọng vai trò của gia đình trong việc phát triển đất nước trong tương lai, vì vậy cần nhận thức rõ gia đình là một nhân tố quan trọng quyết định
sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội
I.2 Vị trí của gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội:
Gia đình như một tế bào tự nhiên, là đơn vị nhỏ nhất để tạo nên xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình" Chính vì vậy, muốn xã hội tốt thì phải bắt đầu từ xây dựng gia đình tốt
Đại hội IX năm 2001 của Đảng tiếp tục nhấn mạnh đến vai trò của gia đình với sự phát triển kinh tế xã hội, sự hình thành nhân cách, lối sống của mỗi người:
“Nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là
tế bào lành mạnh của xã hội”3 Như vậy, trước yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, bên
1 (Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, 2019)
2 (Chỉ thị số 49-CT/TW, 2005)
3 (Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, 2001)
Trang 5cạnh những chính sách là điều kiện để xây dựng gia đình hạnh phúc thì Đảng đã khẳng định chính mỗi gia đình phải là chủ thể quan trọng nhất, quyết định đến việc xây dựng gia đình hạnh phúc, để gia đình không chỉ là tế bào của xã hội mà phải là những tế bào lành mạnh, là tổ ấm thực sự của mỗi người
Gia đình là tổ ấm, mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống
cá nhân c ủa mỗi thành viên
Chỉ trong gia đình, con người mới thể hiện mối quan hệ tình cảm thiêng liêng giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái Gia đình là nơi nuôi dưỡng, chăm sóc những công dân tốt cho xã hội Trong Cương lĩnh của Đảng năm 2011 đã khẳng định: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”4
. Sự
hạnh phúc gia đình là tiền đề để hình thành nên nhân cách tốt cho những công dân của xã hội Vì vậy muốn xây dựng xã hội thì phải chú trọng xây dựng gia đình
Ngược lại, nhiều hiện tượng của xã hội cũng thông qua gia đình mà có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển của mỗi cá nhân Nhiều trẻ do không được cha mẹ quan tâm, giáo dục nên đành làm bạn với game, có biểu hiện nhút nhát, khó hòa nhập, những mặt trái của xã hội rất dễ thâm nhập vào gia đình, trẻ em dễ bị
sa vào tệ nạn Những điều này cho thấy việc giáo dục trẻ em ngay tại gia đình là vô cùng quan trọng, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của trẻ em trong tương lai
Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội
Gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự hình thành
và phát triển tính cách của mỗi cá nhân Và cũng chính trong gia đình, mỗi cá nhân
sẽ học được cách cư xử với người xung quanh và xã hội Xây dựng gia đình là một trách nhiệm, một bộ phận cấu thành trong chỉnh thể các mục tiêu phấn đấu của xã hội, vì sự ổn định và phát triển của xã hội Thế nhưng, mỗi cá nhân không chỉ là thành viên của gia đình mà còn là thành viên của xã hội Vì thế, mỗi người phải phấn đấu xây dựng một xã hội tốt đẹp, công bằng, văn minh hơn
4 (Cương lĩnh của Đảng, 2011)
Trang 6II CƠ SỞ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHI ỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
II.1 Cơ sở kinh tế - xã hội
Cơ sở kinh tế - xã hội để xây dựng gia đình trong thời kì CNH, HĐH là sự phát triển của lực lượng sản xuất và tương ứng trình độ của lực lượng sản xuất là quan
hệ sản xuất mới Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy sự phát triển của nền kinh
tế Xong, lực lượng lao động nước ta hiện nay chưa đủ trình độ để tiếp cận những kĩ thuật hiện đại Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc giáo dục, không chỉ ở trường học mà ngay tại gia đình, góp phần rất lớn trong sự phát triển của đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH và trong tương lai
Để đảm bảo về đời sống vật chất cho gia đình, bên cạnh những chính sách vĩ
mô, Đảng đã chủ trương “khuyến khích phát triển kinh tế gia đình” Điều này cho thấy nhận thức của Đảng về chức năng kinh tế của gia đình đã có sự thay đổi tích cực, muốn bảo đảm gia đình hạnh phúc thì phải có nền tảng kinh tế, vật chất nhất định Tuy nhiên bên cạnh đó, những mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự xuống cấp của một số mối quan hệ ứng xử văn hoá trong gia đình, đạo đức gia đình và xã hội ngày càng trở nên nghiêm trọng Gia đình Việt Nam vẫn đang xuất hiện nhiều phong tục
cổ hủ Trong thời kì CNH, HĐH sẽ dần xóa bỏ sự bất bình đẳng trong gia đình và xã hội, tạo cơ sở kinh tế cho việc xây dựng quan hệ bình đẳng trong gia đình
II.2 Cơ sở chính trị - xã hội
Cơ sở chính trị để xây dựng gia đình trong thời kỳ CNH, HĐH là thiết lập chính quyền Nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động nhà nước xã hội
chủ nghĩa (XHCN), trong đó lần đầu tiên trong lịch sử nhân dân lao động được thực hiện quyền lực của mình không có sự phân biệt giữa nam nữ
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ: “Xây
d ựng gia đình no ấm, bình đẳng tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành m ạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người.”5 Cơ sở của việc xây dựng gia đình trong thời kỳ CNH, HĐH thể hiện rõ nét trong “Luật Hôn nhân và Gia đình”
5 (Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng , 1996)
Trang 7Cùng với hệ thống chính sách xã hội đảm bảo lợi ích của công dân, các thành viên trong gia đình, thực hiện hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, đảm bảo
sự bình đẳng giới, cuộc sống gia đình, hạnh phúc bền vững Tuy nhiên, hệ thống chính sách pháp luật nước ta chưa hoàn thiện nên việc xây dựng gia đình và đảm bảo hạnh phúc gia đình còn hạn chế Việc thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình còn nhiều thiếu sót và bất cập Theo chỉ thị 49-CT/TW của Ban Bí thư, nhiệm vụ đầu tiên trong
sự nghiệp xây dựng gia đình trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước là “Xây dựng gia
đình luôn gắn với sự nghiệp giải phóng phụ nữ”6 Ở Việt Nam, phụ nữ ngang quyền
với đàn ông, được đi bầu cử và thực tế, trong cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, “phụ nữ là tầng lớp đi bỏ phiếu hăng hái nhất” Xong, để thực sự bình đẳng, người phụ nữ Việt Nam không chỉ thụ động mà tự bản thân mình cũng
phải bền bỉ đấu tranh, quyết tâm học tập, tham gia các cấp Hội phụ nữ và nâng cao tinh thần tập thể, đoàn kết giúp đỡ nhau giải quyết mọi khó khăn để cùng tiến bộ
II.3 Cơ sở văn hóa
Ở thời đại nào văn hóa gia đình cũng là nền tảng cho văn hóa xã hội, gia đình truyền thống Việt Nam xưa rất chú trọng xây dựng gia đình Văn hóa gia đình giàu tính nhân văn, đề cao giá trị đạo đức, xây dựng nếp sống văn hóa, kỷ cương, hun đúc tâm hồn, bản lĩnh cho con người trong từng tế bào của xã hội Bởi vậy, gia đình tốt là bảo đảm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội lành mạnh, văn minh Việc đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa không thể tách rời việc nghiên cứu, xem xét, đánh giá
từ góc độ văn hóa gia đình Nghĩa là, cuộc vận động xây dựng gia đình văn hóa và tiêu chí gia đình văn hóa hiện nay phải dựa trên những giá trị văn hóa truyền thống
của gia đình Việt Nam, đồng thời kết hợp với những giá trị tiên tiến của gia đình hiện đại để phù hợp với sự vận động phát triển tất yếu của xã hội
II.4 Hôn nhân bình đẳng và tiến bộ tại Việt Nam
Hôn nhân là quan hệ giữa vợ chồng sau khi đã kết hôn, thể hiện nghĩa vụ, quyền lợi, của vợ chồng đối với nhau, được pháp luật công nhận và bảo vệ
Hôn nhân tự nguyện
6 (Chỉ thị số 49-CT/TW, 2005)
Trang 8Hôn nhân tự nguyện là nói đến việc đôi nam nữ tự bản thân mình quyết định việc hôn nhân mà không chịu bất kì sự ép buộc hay cản trở nào Đồng thời cũng được pháp luật bảo vệ thông qua việc nghiêm cấm mọi hành vi ép buộc hay cản trở hôn nhân vợ chồng Tại điểm b khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có quy
định; “Cấm các hành vi sau đây: Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở
phong kiến lạc hậu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”
Theo Ph.Ăngghen:“Nghĩa vụ của vợ và chồng là phải yêu thương nhau và
không được kết hôn với người khác 8” Hôn nhân tự nguyện là đảm bảo cho nam nữ
có quyền tự do lựa chọn người kết hôn, không chấp nhận sự áp đặt của cha mẹ Tất nhiên, hôn nhân tự nguyện không bác bỏ việc cha mẹ quan tâm, hướng dẫn giúp đỡ con cái có nhận thức đúng, có trách nhiệm trong việc kết hôn
Hôn nhân một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng
Trong thời kỳ CNH, HĐH nước ta đã xác định: “Gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội” Vì vậy thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng trong đó vợ và chồng đều có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau về mọi vấn đề của cuộc sống gia đình, có sự thống nhất trong việc giải quyết những vấn đề chung của gia đình nhằm xây dựng gia đình hạnh phúc Ngoài ra, quan hệ vợ chồng bình đẳng
là cơ sở cho sự bình đẳng trong quan hệ giữa cha mẹ với con cái và quan hệ giữa anh chị em với nhau
Hôn nhân được đảm bảo về pháp lý
Quan hệ hôn nhân và gia đình thực chất không phải vấn đề riêng tư của mỗi
gia đình mà là quan hệ xã hội “Thực hiện thủ tục pháp lý trong hôn nhân, là thể hiện
sự tôn trọng trong tình yêu, trách nhiệm giữa nam và nữ, trách nhiệm của cá nhân
v ới gia đình, xã hội và ngược lại” 9 Đây cũng là biện pháp ngăn chặn những cá nhân lợi dụng quyền tự do kết hôn, tự do ly hôn để thỏa mãn những nhu cầu không chính
7 (Luật Hôn nhân và gia đình, 2014)
8 (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập - tập 21, 1995)
9 (Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, 2019)
Trang 9đáng, để bảo vệ hạnh phúc của cá nhân và gia đình Thực hiện thủ tực pháp lý trong hôn nhân không ngăn cản quyền tự do kết hôn và ly hôn chính đáng, mà ngược lại, là
cơ sở để thực hiện những quyền đó một cách đầy đủ nhất
Hôn nhân tiến bộ
Nguyên tắc “Hôn nhân tiến bộ” có thể hiểu là những quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hôn nhân có sự đổi mới so với những quy định trước đây Những sự thay đổi này phù hợp với hoàn cảnh thực tế cũng như xu hướng phát triển hiện đại, đẩy lùi cái lạc hậu và tiếp thu cái tiến bộ Tại Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình 1959,
nguyên tắc được thể hiện rõ nhất: “Xoá bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái” 10
Hôn nhân tiến bộ còn bao hàm cả quyền tự do ly hôn, Ph.Ăngghen đã viết:
“Nếu tình yêu đã hoàn toàn phai nhạt hoặc bị một tình yêu say đắm mới át đi, thì ly hôn sẽ là điều hay cho cả đôi bên cũng như cho xã hội”11 Tuy nhiên, hôn nhân tiến
bộ không khuyến khích việc ly hôn, vì nó để lại hậu quả nhất định cho xã hội, cho cả vợ và chồng đặc biệt là con cái Vì vậy, cần ngăn chặn những trường hợp nông nổi ly hôn, lợi dụng quyền ly hôn và những lý do khác
III XÂY DỰNG GIA ĐÌNH VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HI ỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
III.1 Gia đình Việt Nam trước thời điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
th ực trạng hiện nay
III.1.1 Về quy mô, kết cấu của gia đình
Gia đình truyền thống xưa có thể tồn tại đến ba bốn thế hệ cùng chung sống dưới một mái nhà, và thường là đông con Trong khi đó, quy mô gia đình hiện đại ngày càng được thu nhỏ lại Gia đình Việt Nam hiện đại chỉ có hai thế hệ cùng sống chung: cha mẹ - con cái, số con trong gia đình cũng không nhiều như trước, cá biệt còn có số ít gia đình đơn thân
10 (Luật Hôn nhân và gia đình, 1959)
11 (C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập - tập 21, 1995)
Trang 10III.1.2 Các chức năng của gia đình
Chức năng tải sản xuất ra con người
Hiện nay việc sinh đẻ được các gia đình tiến hành một cách chủ động khi xác định số lượng con cái, thời điểm sinh con đồng thời, chịu sự điều chỉnh bởi chính sách xã hội của Nhà Đầu thế kỷ XXI, để đảm bảo lợi ích của gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội, thông điệp mới trong kế hoạch hóa gia đình là mỗi cặp vợ chồng chỉ nên sinh hai con Nếu như trước kia, do ảnh hưởng của phong tục, tập quán
và nhu cầu sản xuất nông nghiệp, trong gia đình Việt Nam truyền thống, nhu cầu về con cái càng đông càng tốt và nhất thiết phải có con trai nối dõi
Chức năng kinh tế và tổ chức tiêu dùng
Nếu như trước đây là nền kinh tế tự túc để đáp ứng nhu cầu gia đình, thì trong thời đại CNH, HĐH hiện nay, kinh tế gia đình đang trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, trong bối cành hội nhập kinh tế thế giới, kinh
tế gia đình gặp rất nhiều khó khăn trong việc chuyển sang hướng sản xuất kinh doanh hàng hóa theo hướng chuyên sâu trong kinh tế thị trường hiện đại Nguyên nhân là
do kinh tế gia đình phần lớn có quy mô nhỏ, lao động ít và tự sản xuất là chính
III.1.3 Chức năng giáo dục (xã hội hóa)
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, giáo dục gia đình là cơ sở của giáo dục
xã hội Ngày nay, giáo dục xã hội bao trùm lên giáo dục gia đình và đưa ra những mục tiêu, những yêu cầu của giáo dục xã hội cho giáo dục gia đình Nội dung giáo dục gia đình hiện nay không chỉ nặng về giáo dục đạo đức, ứng xử trong gia đình, dòng họ, làng xã mà còn hướng đến giáo dục kiến thức khoa học hiện đại, trang bị công cụ để con cái hòa nhập với thế giới
III.1.4 Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý, duy trì tình cảm
Trong xã hội truyền thống, độ bền vững của gia đình phụ thuộc vào sự ràng buộc cùa các mối quan hệ về trách nhiệm và nghĩa vụ Tuy nhiên hiện nay, các gia đình đang đối mặt với rất nhiều khó khăn trong việc bảo vệ chăm sóc trẻ em và người cao tuổi Đặc biệt, khi mà tỷ lệ các gia đình chỉ có một con tăng lên thì đời sống tâm
lý - tình cảm của các thành viên cũng sẽ kém phong phú hơn do thiếu đi tình cảm về anh, chị em trong cuộc sống gia đình