1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CHUYÊN ĐỀ 1 KỸ NĂNG XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH, KẾ HOẠCHPHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

121 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 549,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự cần thiết xây dựng Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật được phê duyệt, ban hành kèmtheo quyết định của người có thẩm quyền nhằm cụ thể

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ 1

KỸ NĂNG XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH, KẾ HOẠCH

PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

I KỸ NĂNG XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH

1 Sự cần thiết xây dựng Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật

Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật được phê duyệt, ban hành kèmtheo quyết định của người có thẩm quyền nhằm cụ thể hóa và thực hiện các chủtrương, chính sách của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý cấptrên, chính quyền cùng cấp và người đứng đầu cơ quan, đơn vị về công tác phổbiến, giáo dục pháp luật trong từng giai đoạn cụ thể Việc xây dựng, banhành Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật theo từng giai đoạn là rất cầnthiết nhằm đáp ứng tình hình thực tiễn của công tác phổ biến, giáo dục phápluật, cụ thể là:

- Sự lãnh đạo của Đảng đối với tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đấtnước nói chung và công tác giáo dục chính trị tư tưởng nói riêng có những điểmkhác nhau trong mỗi thời kỳ để phù hợp với điều kiện lịch sử-xã hội cụ thể

- Các quy định của pháp luật thường xuyên được sửa đổi, bổ sung, hoànthiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội luôn biến động trong đời sống hàng ngày

- Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật được xây dựng, ban hành nhằmkhắc phục những tồn tại, hạn chế hiện có của công tác phổ biến, giáo dục và đápứng yêu cầu mới của thực tiễn xã hội về phổ biến, giáo dục pháp luật

- Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật là cơ sở triển khai công tác phổbiến, giáo dục pháp luật có trọng tâm, trọng điểm góp phần thực hiện thắng lợicông cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung

và công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đồng thời

Trang 2

Chương trình còn là cơ sở xác định vị trí, vai trò và nhiệm vụ của các chủ thểtham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để từ đó nâng cao trách nhiệm,tạo sự chủ động và tăng cường phối hợp về phổ biến, giáo dục pháp luật, tạo căn

cứ để cơ quan có thẩm quyền thực hiện công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra vềphổ biến, giáo dục pháp luật

2 Yêu cầu, căn cứ xây dựng Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật

2.1 Yêu cầu xây dựng Chương trình Phổ biến, giáo dục pháp luật

- Về nội dung: Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật có mục tiêu, nội

dung, giải pháp, thời gian thực hiện và phân công trách nhiệm đối với các cơquan, tổ chức có liên quan

- Về hình thức: Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật do người có

thẩm quyền của cơ quan, tổ chức phê duyệt, ban hành

- Về tính khoa học: Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật là căn cứ

đảm bảo cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả,

có trọng tâm, trọng điểm nhằm đạt được mục tiêu đề ra, góp phần tăng cườngcông tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, xâydựng nếp sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật

2.2 Căn cứ xây dựng Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật

Tùy thuộc vào cơ quan ban hành, mục tiêu, nội dung của Chương trình đểxác định phạm vi các căn cứ xây dựng Chương trình

Căn cứ chính trị, pháp lý (căn cứ lý luận): Là các chủ trương, đường lối,

chính sách của Đảng và Nhà nước được thể hiện rõ trong các văn kiện, nghịquyết Đại hội, hội nghị, cuộc họp thường kỳ, đột xuất về một hoặc một số nộidung có liên quan đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Căn cứ thực tiễn: Là đánh giá thực trạng của công tác phổ biến, giáo dục

pháp luật tại thời điểm xây dựng Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật

Trang 3

Thông thường căn cứ thực tiễn tập trung đánh giá những mặt được, chưa được,những tồn tại cần khắc phục của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

3 Các loại chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật

Việc phân loại Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật có thể dựa trênmột số tiêu chí cơ bản sau:

- Theo thẩm quyền ban hành, có các loại Chương trình phổ biến, giáo dụcsau:

+ Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ;

+ Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của các bộ, cơ quan, ban,ngành, đoàn thể và địa phương

- Theo hiệu lực về thời gian, có các loại Chương trình phổ biến, giáo dụcpháp luật sau:

+ Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật theo từng giai đoạn;

+ Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm

- Theo hiệu lực về không gian, có các loại Chương trình phổ biến, giáo dụcpháp luật sau:

+ Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật áp dụng trên phạm vi cả nước;+ Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật áp dụng cho từng bộ, cơ quan,ban, ngành, địa phương

- Theo hình thức văn bản, có các loại Chương trình phổ biến, giáo dục phápluật sau:

+ Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật ban hành kèm theo Quyết định

là văn bản quy phạm pháp luật;

+ Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật ban hành kèm theo văn bản cábiệt của người có thẩm quyền

Trang 4

Thông thường, để nâng cao tính khả thi, hiệu lực và hiệu quả của Chươngtrình phổ biến, giáo dục pháp luật, khi xây dựng, cơ quan có thẩm quyền sẽ chỉđạo, định hướng hình thức văn bản ban hành kèm theo Chương trình là văn bảnquy phạm pháp luật Thực tế thời gian qua, Chương trình phổ biến, giáo dụcpháp luật chủ yếu được xây dựng, ban hành kèm theo Quyết định của Thủ tướngChính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, Bộ trưởng các bộ, cơ quan ngang

bộ, cơ quan thuộc Chính phủ hoặc người đứng đầu ban, ngành, tổ chức, đoànthể

4 Quy trình xây dựng Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật

4.1.Giai đoạn chuẩn bị

Giai đoạn chuẩn bị chủ yếu thực hiện một số công việc sau:

- Xác định loại Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật trên cơ sở chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; sự chỉ đạo, định hướng của

cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan quản lý cùng cấp; yêu cầu thực tiễn của côngtác phổ biến, giáo dục pháp luật; nhiệm vụ công tác của cơ quan, đơn vị

Sau khi đã xác định loại Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật, cơquan xây dựng tiến hành các công việc chuẩn bị như quyết định việc thành lậpBan soạn thảo, Tổ soạn thảo, Tổ giúp việc hoặc phân công một bộ phận làm đầumối giúp việc; tổ chức đánh giá thực trạng; mời thành viên, chuyên gia tham gia;xây dựng kế hoạch thực hiện, chuẩn bị kinh phí

- Xác định căn cứ xây dựng Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật

- Xác định, đánh giá tác động của xã hội trong đó có nhu cầu tìm hiểu,tiếp cận pháp luật của các đối tượng trong xã hội

4.2 Xây dựng Đề cương Chương trình

Việc xây dựng Đề cương Chương trình do Ban soạn thảo, Tổ soạn thảohoặc bộ phận đầu mối của cơ quan chủ trì thực hiện Sau khi xây dựng xong Đềcương, tiến hành tổ chức lấy ý kiến góp ý vào Đề cương Tùy thuộc nội dung

Trang 5

của Đề cương để xác định phạm vi đối tượng lấy ý kiến, số lần lấy ý kiến tạothuận lợi cho việc xây dựng dự thảo Chương trình chi tiết và đảm bảo tính khảthi, hiệu quả của Chương trình sau khi được ban hành.

Sau khi Ban soạn thảo cho ý kiến nhất trí về nội dung Đề cương, Tổ giúpviệc hoàn thiện Đề cương Chương trình

4.3 Xây dựng dự thảo chi tiết Chương trình

Căn cứ vào loại Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật, cơ quan chủ trìtiến hành xây dựng Dự thảo theo quy trình phù hợp Đối với Chương trình đượcban hành kèm theo Quyết định là văn bản quy phạm pháp luật thì trình tự, thủtục và thể thức của Quyết định phải tuân theo quy định của Luật ban hành vănbản quy phạm pháp luật Chương trình được ban hành kèm theo Quyết định làvăn bản cá biệt thì trình tự, thủ tục và thể thức tuân thủ theo quy định của vănbản cá biệt

Việc thành lập Ban soạn thảo, Tổ soạn thảo, Tổ giúp việc hoặc phân côngmột bộ phận đầu mối giúp việc xây dựng Chương trình sẽ đem lại hiệu quả, chấtlượng cao hơn do huy động được trí tuệ tập thể của các cơ quan, thành viên, cácchuyên gia trong quá trình soạn thảo, góp ý kiến

Xây dựng dự thảo Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật có thể chiatheo nội dung của Chương trình và gồm có các bước sau:

4.3.1 Mục tiêu, yêu cầu của Chương trình

Mục tiêu: đề ra những kết quả phấn đấu đạt được từng năm, từng giai

đoạn và sau khi kết thúc Chương trình Trong đó:

- Mục tiêu chung: tổng quát, định hướng chung cho công tác phổ biến,giáo dục pháp luật trong giai đoạn cụ thể

- Mục tiêu cụ thể: xác định các kết quả cụ thể phấn đấu hoàn thành saukhi kết thúc thời gian thực hiện Chương trình Trong đó chủ yếu xác định đối

Trang 6

tượng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luât, tỷ lệ đối tượng cần được phổbiến pháp luật, nội dung, lĩnh vực pháp luật cần phổ biến cho từng đối tượng.

Yêu cầu: xác định những nguyên tắc đảm bảo cho công tác phổ biến, giáo

dục pháp luật triển khai đúng định hướng, có trọng tâm, trọng điểm và đáp ứngtình hình thực tiễn Các yêu cầu của Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luậttập trung nêu các vấn đề cơ bản sau:

- Vị trí, vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong công tácgiáo dục chính trị, tư tưởng, trong hệ thống chính trị

- Việc kế thừa, phát triển những kết quả đã đạt được trong công tác phổbiến, giáo dục pháp luật trước đây

- Đặt ra yêu cầu cụ thể cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợpvới tình hình thực tiễn, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, địaphương và yêu cầu công tác của ngành, cơ quan, đơn vị

- Sự gắn bó, tác động qua lại giữa phổ biến, giáo dục pháp luật với các yếu

tố về đạo đức, truyền thống, phong tục, tập quán của từng địa bàn, đối tượng cụthể

- Điều kiện về nhân lực, vật lực, sự chênh lệch trình độ, điều kiện kinh

tế-xã hội, đặc thù vị trí địa lý, truyền thống văn hóa, tập quán để thực hiện Chươngtrình khả thi, hiệu quả

4.3.2 Nội dung chủ yếu của Chương trình

Là phần cơ bản, cốt lõi để từ đó xác định các biện pháp, giải pháp thực hiệnChương trình

Nội dung chủ yếu của Chương trình tập trung làm rõ các vấn đề sau:

- Đối tượng của Chương trình: Cần trả lời được các câu hỏi: những đốitượng nào trong xã hội được phổ biến, giáo dục pháp luật; những lĩnh vực phápluật nào, những quy định pháp luật nào sẽ được tuyên truyền, phổ biến ?

- Tổ chức và cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;

Trang 7

- Chính sách, thể chế cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;

- Tổ chức triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượngtuyên truyền, nội dung pháp luật, hình thức, biện pháp phổ biến, giáo dục phápluật đã được xác định và nguồn lực (con người, kinh phí, cơ sở vật chất đầu tưcho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật);

- Các Đề án trọng tâm của Chương trình Căn cứ yêu cầu của công tác phổbiến, giáo dục pháp luật, cơ quan chủ trì xem xét, quyết định hoặc tổ chức họpBan soạn thảo, Tổ soạn thảo, bộ phận giúp việc lấy ý kiến việc có Đề án trongChương trình hay không Sau khi thống nhất, tiến hành xây dựng tên Đề án, sốlượng Đề án, cơ quan chủ trì Đề án và cơ quan phối hợp thực hiện

4.3.3 Giải pháp thực hiện Chương trình

Trên cơ sở nội dung chủ yếu của Chương trình, cơ quan chủ trì xác định cácgiải pháp thực hiện Mục đích của việc xây dựng các giải pháp nhằm giải quyết,triển khai các nội dung, nhiệm vụ trên thực tế để đạt được mục tiêu đề ra Cácgiải pháp cần bám sát mục tiêu, yêu cầu và nội dung đã được xác định Có thểxây dựng giải pháp theo nhóm để thực hiện nội dung của Chương trình hoặcgiải pháp theo thời hạn (dài hạn, ngắn hạn, tạm thời) đối với từng nội dung cụthể

4.3.4 Kinh phí thực hiện Chương trình

Việc quy định kinh phí thực hiện có thể theo hướng xác định rõ mức kinhphí cụ thể cho cả giai đoạn hoặc chỉ quy định nguồn kinh phí, sau khi Chươngtrình được phê duyệt sẽ lập dự toán kinh phí thực hiện theo năm trong kế hoạchhọat động của cơ quan, đơn vị

Đối với kinh phí thực hiện các Đề án của Chương trình: cơ quan chủ trì Đề

án lập khái toán cho cả giai đoạn kèm theo Đề án Trên cơ sở kinh phí được phêduyệt, lập dự toán chi tiết kèm theo Kế hoạch thực hiện từng năm

Trong Chương trình cần xác định rõ nguồn kinh phí thực hiện, trong đó cócác nguồn cơ bản sau:

Trang 8

- Ngân sách Nhà nước

- Đóng góp của các tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài

Việc lập kinh phí thực hiện Chương trình, Đề án của Chương trình, nộidung chi và mức chi cho các họat động triển khai Chương trình thực hiện theoquy định của Bộ Tài chính về quản lý, sử dụng kinh phí trong công tác phổ biến,giáo dục pháp luật Các họat động về phổ biến, giáo dục pháp luật do dự án hợptác với nước ngoài tài trợ thì mức chi, nội dung chi thực hiện theo quy định của

Dự án

4.3.5 Tổ chức thực hiện Chương trình

Quy định thời gian thực hiện, phân công trách nhiệm cho các cơ quan, tổchức có liên quan

II KỸ NĂNG XÂY DỰNG KẾ HOẠCH

1 Khái niệm, mục đích, yêu cầu của việc xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

1.1 Khái niệm kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

V.I Lênin đã từng khẳng định: “Người nào bắt tay vào giải quyết nhữngvấn đề riêng trước khi giải quyết những vấn đề chung, thì người đó trong mỗibước đi sẽ không tránh khỏi những vấp váp một cách không tự giác” “Ở thờiđại chúng ta, bất cứ nền kinh tế nào ít hay nhiều cũng phải kế hoạch hoá”(Những lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, NXB Sự thật, Hà Nội, 1956, tr 56)

Xây dựng kế hoạch là việc đề ra một cách có hệ thống những công việc dự

định làm trong một thời gian nhất định, với cách thức, trình tự, thời hạn tiếnhành cụ thể

Xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên của hoạt

động phổ biến, giáo dục pháp luật, là cơ sở để tổ chức triển khai hoạt động phổbiến, giáo dục pháp luật một cách khoa học, hiệu quả

1.2 Mục đích xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

Trang 9

- Xác định rõ đối tượng, nội dung, hình thức, biện pháp, tiến độ và phâncông thực hiện cụ thể, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật góp phần triển khaicông tác phổ biến, giáo dục pháp luật được thường xuyên, liên tục, khắc phụctình trạng tùy tiện, lúc làm, lúc bỏ.

- Tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật chủ động hơn trong tổ chức công việc

- Kế hoạch phổ biếm, giáo dục pháp luật cũng là cơ sở để các cơ quan,ban, ngành, đoàn thể và địa phương bố trí kinh phí cho công tác này

- Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật là căn cứ để kiểm tra, đánh giá,khen thưởng việc thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo duc pháp luật ở các cơquan, ban, ngành, đoàn thể và các địa phương

1.3 Yêu cầu của kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật trong từng giai đoạn cần phải bảođảm các yêu cầu sau:

- Có mục tiêu, giải pháp, tiến độ cụ thể, sát hợp, có tính khả thi và có hiệuquả

- Các nhiệm vụ đặt ra trong kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật cần phùhợp với tình hình thực tiễn của cơ quan, đơn vị, của ngành, của địa phương; kếthợp giải quyết toàn diện các yêu cầu của công tác phổ biến, giáo dục pháp luậtvới các vấn đề trọng tâm của ngành, địa phương

1.4 Căn cứ xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

Ngoài việc dựa trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật củanhà nước và hệ thống văn bản pháp luật được ban hành trong từng thời kỳ, việcxây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật cần dựa trên một số căn cứ sauđây:

- Trên cơ sở chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật dài hạncủa Chính phủ, hướng dẫn của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục

Trang 10

pháp luật của Chính phủ và của Bộ Tư pháp, các bộ, ngành, địa phương xâydựng Kế hoạch và chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác phổ biến, giáo dụcpháp luật trong phạm vi bộ, ngành, địa phương mình

- Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật ở các cơ quan, ban, ngành, đoànthể và địa phương cần căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, công tác quản lýcủa ngành, đơn vị, địa phương, cũng như điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị,

địa phương mình trong từng giai đoạn

- Nhu cầu tìm hiểu pháp luật của đối tượng được phổ biến, giáo dục phápluật trong từng giai đoạn

1.5 Các loại kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

- Căn cứ theo quy mô phối hợp có các loại kế hoạch như:

+ Kế hoạch của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật;

+ Kế hoạch liên tịch phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật;

+ Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật của từng cơ quan, đơn vị

- Căn cứ thời gian thực hiện có:

+ Kế hoạch dài hạn là kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật với mục tiêu

là phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trongtừng giai đoạn phát triển đất nước Kế hoạch này thường kéo dài trong vài năm(3 – 5 năm)

+ Kế hoạch năm: Để thực hiện tốt kế hoạch dài hạn, phù hợp với mục

tiêu dài hạn cần phải xây dựng những kế hoạch ngắn hạn phù hợp với nhữngmục tiêu trước mắt Đó là những kế hoạch năm Trên cơ sở kế hoạch dài hạn sẽxây dựng kế hoạch của từng năm

+ Kế hoạch theo từng đợt, từng văn bản: Để tổ chức phổ biến các văn bản

pháp luật được ban hành, ví dụ Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật hôn nhân

và gia đình, Luật đất đai…, các cơ quan, tổ chức xây dựng kế hoạch phổ biếnvăn bản pháp luật đó tới các tầng lớp nhân dân

Trang 11

2 Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

2.1 Các bước chuẩn bị xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

Trước khi xây dựng dự thảo kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật, cầnthực hiện một số công việc chuẩn bị sau đây:

- Lựa chọn loại kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật cần xây dựng

- Xác định căn cứ xây dựng kế hoạch

- Xác định mức độ hiểu biết và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của đối tượngđược phổ biến, giáo dục pháp luật

2.2 Xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

2.2.1 Xây dựng dự thảo kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

a) Nội dung chính của kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

Mỗi loại kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật có những nội dung cụ thểkhác nhau, tuy nhiên việc xây dựng những nội dung chính của kế hoạch cần bảođảm yêu cầu sau:

- Mục đích, yêu cầu của kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật: cần nêu

rõ mục đích, kết quả cụ thể cần đạt được cũng như các yêu cầu đặt ra khi triểnkhai kế hoạch

- Đối tượng tác động của kế hoạch: cán bộ, công chức của bộ, ngành hay

cán bộ, công chức trong một cơ quan, đơn vị; cán bộ, nhân dân trên địa bàn hoặcnhóm đối tượng (như phụ nữ, thanh niên )…

- Nội dung pháp luật cần được phổ biến đến đối tượng: việc xác định nội

dung pháp luật cần được phổ biến đến đối tượng căn cứ vào yêu cầu chung của

kế hoạch, hướng dẫn của cơ quan cấp trên và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của đốitượng được phổ biến Nội dung pháp luật không chỉ dừng lại ở các Luật, Pháplệnh mà còn là các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật, Pháp lệnh, văn bản của

Trang 12

chính quyền địa phương, tập trung vào các vấn đề liên quan đến đối tượng đượcphổ biến, như quyền, nghĩa vụ của đối tượng, trình tự, thủ tục, cách thức thựchiện và bảo vệ các quyền, nghĩa vụ đó.

- Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật: trên thực tế, công tác phổ biến,

giáo dục pháp luật được triển khai bằng nhiều hình thức khác nhau như: tuyêntruyền miệng về pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật qua các phương tiệnthông tin đại chúng, qua mạng lưới truyền thanh ở cơ sở; biên soạn, phát hànhtài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật; dạy và học pháp luật trong nhà trường; tổchức các hình thức thi tìm hiểu pháp luật; xây dựng, quản lý và khai thác tủ sáchpháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật,thông qua hoạt động tư vấn pháp luật và trợ giúp pháp lý, hoạt động hoà giải ở

cơ sở, qua các phiên toà xét xử lưu động, qua các loại hình văn hoá văn nghệ,đặc biệt là các loại hình sinh hoạt văn hoá truyền thống… Tuy nhiên phải xuấtphát từ đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật để lựa chọn hình thức phổbiến, giáo dục pháp luật phù hợp

Việc lựa chọn hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cần dựa trên một sốtiêu chí sau:

+ Sự phù hợp với đối tượng được phổ biến ( về trình độ nhận thức, điềukiện sống, phong tục, tập quá…);

+ Tính khả thi trong điều kiện của cơ quan, đơn vị và địa phương (liênquan đến điều kiện, phương tiện, cơ sở vật chất hiện có và sự tham gia hưởngứng của đối tượng với việc thực hiện kế hoạch);

+ Tính hiệu quả của việc thực hiện kế hoạch: Tính hiệu quả của việc thựchiện kế hoạch thể hiện qua các tiêu chí: số lượng đối tượng tham gia kế hoạch,tác tộng của những nội dung pháp luật được phổ biến đến ý thức của đối tượngthể hiện qua tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội, việc giải quyết các mâuthuẫn, tranh chấp trong các quan hệ xã hội, tình hình khiếu nại, tố cáo ở địaphương…

Trang 13

- Tiến độ (thời gian) thực hiện: kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật cần

xác định thời gian thực hiện các công việc đề ra Tiến độ cụ thể vừa đảm bảocông tác phổ biến, giáo dục pháp luạt được kịp thời, phù hợp với điều kiện thực

tế của cơ quan, ban, ngành, đoàn thể và địa phương và cũng là căn cứ theo dõi,kiểm tra việc thực hiện kế hoạch

- Các biện pháp bảo đảm thực hiện:

+ Xác định biện pháp, cách thức thực hiện phù hợp với đặc điểm cụ thể ở

cơ quan, đơn vị, địa phương: có thể tổ chức các hình thức phổ biến, giáo dụcpháp luật độc lập, cũng có thể tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật lồng ghéptrong các chương trình, kế hoạch khác của bộ, ngành, địa phương như phongtrào xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, các chương trình về xoá đói, giảmnghèo, bảo vệ và phát triển rừng, chương trình nước sạch, vệ sinh môi trường

+ Phân công trách nhiệm thực hiện: cần phân công trách nhiệm một cáchhợp lý, rõ ràng, cụ thể cho các chủ thể thực hiện

+ Hoạt động kiểm tra, giám sát; chế độ thông tin, báo cáo; sơ kết, tổngkết, thi đua, khen thưởng trong thực hiện kế hoạch cũng cần được xác định cụthể

- Dự toán kinh phí thực hiện: Lập dự toán kinh phí chi tiết thực hiện kế

hoạch Kinh phí thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật có thể được ghingay trong kế hoạch hoặc được lập thành bản dự toán riêng (kèm theo kếhoạch) Các nội dung chi và mức chi về phổ biến, giáo dục pháp luật thực hiệntheo quy định của Bộ Tài chính và theo hướng dẫn, quy định của bộ, ngành, địaphương về mức chi cụ thể Dự toán kinh phí thực hiện kế hoạch là cơ sở để cáccấp ngân sách xem xét duyệt và phân bổ kinh phí cho hoạt động phổ biến, giáodục pháp luật

b) Thể thức trình bày kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật của cơ quan, ban, ngành, đoàn thể

và của địa phương là một dạng văn bản hành chính Theo quy định tại Thông tư

Trang 14

số 01/2011/TT-BNV của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bàyvăn bản hành chính thì Kế hoạch có thể ban hành kèm theo Quyết định (Mẫu1.2) hoặc ban hành độc lập

2.2.2 Tổ thức lấy ý kiến đóng góp cho dự thảo kế hoạch và hoàn chỉnh nội dung kế hoạch

- Dự thảo kế hoạch được đưa ra lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan, đơn

vị liên quan, những người sẽ trực tiếp tham gia triển khai kế hoạch sau khi đượcphê duyệt

- Sau khi tổng hợp ý kiến đóng góp, hoàn chỉnh nội dung bản kế hoạch đểtrình phê duyệt

2.2.3 Trình lãnh đạo cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, Ủy ban nhân dân

phê duyệt kế hoạch (bao gồm kế hoạch nội dung và dự toán kinh phí thực hiện)

2.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật

Ngay sau khi kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật được phê duyệt, cáccán bộ, bộ phận, đơn vị được phân công trong kế hoạch tổ chức thực hiện kếhoạch theo đúng đối tượng, nội dung, hình thức, biện pháp và thời gian đã xácđịnh Ở cơ quan, ban, ngành, đoàn thể thì tổ chức pháp chế giữ vai trò làm đầumối phối hợp với các cơ quan, đơn vị hữu quan trong triển khai thực hiện kếhoạch Ở các địa phương thì cơ quan tư pháp (đối với cấp xã thì cán bộ tư pháp– hộ tịch) giữ vai trò đầu mối phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan ở địaphương triển khai thực hiện kế hoạch

Trong quá trình thực hiện kế hoạch, phổ biến giáo dục pháp luật, cần chútrọng công tác theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện: cần kiểm tra xem cácnội dung của kế hoạch đã được thực hiện đến đâu? Những gì còn tồn tại?Nguyên nhân, cách khắc phục Trong trường hợp cần thiết có thể kiến nghị cấp

có thẩm quyền có biện pháp phù hợp cho việc tổ chức thực hiện kế hoạch trênthực tế như: điều chỉnh kế hoạch, nội dung, tạo điều kiện về cơ sở vật chất, kinhphí, lực lượng… Đồng thời, thực hiện sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả thựchiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm rút ra những kinh nghiệm cần

Trang 15

thiết để tổ chức thực hiện công tác này ngày càng tốt hơn Trong quá trình đánhgiá cũng cần chú trọng công tác khen thưởng để động viên, khích lệ những điểnhình làm tốt, phát huy kết quả đã đạt được.

Trang 16

CHUYÊN ĐỀ 2

KỸ NĂNG PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT TRỰC TIẾP

I GIỚI THIỆU CHUNG

1 Khái niệm, vị trí, vai trò của phổ biến pháp luật trực tiếp

Phổ biến pháp luật trực tiếp (hay còn gọi tuyên truyền miệng pháp luật)

là một hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mà người nói trực tiếp nói vớingười nghe về lĩnh vực pháp luật trong đó chủ yếu là phổ biến, giới thiệu cácquy định pháp luật nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghe, hướngcho người nghe hành động theo các chuẩn mực pháp luật

Phổ biến pháp luật trực tiếp có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhiềuhình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác; lồng ghép với các hình thức phổbiến, giáo dục pháp luật khác và là một bộ phận quan trọng trong tổng thể cáchình thức phổ biến, giáo dục pháp luật Điều đó được thể hiện như sau:

- Phổ biến pháp luật trực tiếp là một công đoạn không thể thiếu trongphần lớn các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật pháp luật

- Phổ biến pháp luật trực tiếp là hình thức chủ yếu được thực hiện thôngqua hội nghị, hội thảo, tập huấn, sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật; là biện phápchủ yếu của phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tinđại chúng như báo nói, báo hình, qua mạng lưới truyền thanh cơ sở

- Chủ thể thực hiện phổ biến pháp luật trực tiếp là báo cáo viên pháp luậtcác cấp và tuyên truyền viên pháp luật Khi thực hiện phổ biến pháp luật trựctiếp, báo cáo viên pháp luật phải sử dụng lồng ghép với các hình thức phổ biến,giáo dục pháp luật khác, ví dụ như: trước khi phổ biến pháp luật trực tiếp, báocáo viên cần phải biên soạn đề cương mà giá trị của nó được coi như là tài liệutuyên truyền, phổ biến pháp luật; trong khi thực hiện phổ biến pháp luật trực

Trang 17

tiếp, báo cáo viên sử dụng các hình ảnh minh họa có giá trị như là tuyên truyềnthông qua tranh ảnh trực quan.

- Phổ biến pháp luật trực tiếp là hình thức phổ biến, giáo dục pháp luậtlinh hoạt, có nhiều ưu thế, có thể tiến hành ở bất cứ nơi nào, trong bất kỳ điềukiện, hoàn cảnh nào với số lượng người nghe không bị hạn chế Khi thực hiệnphổ biến pháp luật trực tiếp, người nói có đủ điều kiện thuận lợi để giải thích,phân tích, sáng tỏ nội dung cần tuyên truyền

2 Phương thức tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật trực tiếp

- Mở các lớp tập huấn

Ở các lớp tập huấn, giảng viên không chỉ giới thiệu về các nội dung cơbản của văn bản mà phải đi sâu vào những vấn đề liên quan đến các lĩnh vựcnghiệp vụ nhất định: thẩm quyền của các chủ thể, các biện pháp quản lý, thủtục tiến hành các công việc Chú trọng đổi mới phương pháp tập huấn, kết hợpphương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại, lấy người học là trungtâm, áp dụng phương pháp tích cực, mọi người cùng tham gia, có sự trao đổiqua lại giữa học viên và giảng viên, huy động tính tích cực tham gia của họcviên, giảng viên chỉ là người hướng dẫn, định hướng cho học viên vừa học lýthuyết vừa thực hành; kết hợp với các phương tiện hỗ trợ như tranh ảnh, bănghình để buổi tập huấn sinh động, người học dễ tiếp thu, thuộc bài ngay tại lớp

và biết vận dụng thành thạo trong thực tiễn

- Nói chuyện chuyên đề về pháp luật

Một buổi nói chuyện chuyên đề về pháp luật thường là một buổi nói vềmột lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, quản lý gắn với một số chếđịnh, ngành luật Một buổi nói chuyện chuyên đề thường không đóng khungtrong phạm vi pháp luật, trong khuôn khổ một vấn đề khép kín mà mở ra nhiềulĩnh vực có liên quan, nhiều hướng suy nghĩ Chính vì thế, các buổi nói chuyệnchuyên đề thường thu hút được đông đảo báo cáo viên pháp luật, cán bộ nghiên

Trang 18

cứu, cán bộ xây dựng pháp luật, cán bộ tuyên truyền pháp luật, hòa giải viên,thành viên các Câu lạc bộ pháp luật tham gia

- Lồng ghép việc tuyên truyền pháp luật vào một buổi họp

Khi lồng ghép nội dung pháp luật vào một buổi họp, điểm quan trọng bậcnhất là cách đặt vấn đề với người nghe Cần đặt vấn đề sao cho người nghethấy rằng vì sự quan trọng và cấp thiết của việc tuyên truyền văn bản pháp luậtlồng ghép vào hội nghị, cuộc họp này chứ không phải “nhân thể” hội nghị,cuộc họp này mà phổ biến văn bản Nếu có thể được, người nói công bố việctuyên truyền pháp luật là một nội dung trong chương trình cuộc họp hoặc công

bố chương trình cuộc họp trước cho người dự cuộc họp Một việc quan trọngnữa là xác định thời điểm, bối cảnh để phổ biến pháp luật sao cho hợp lý nhất

để người nghe dễ tiếp thu và tạo không khí thoải mái cho người nghe Qua đó,việc lồng ghép tuyên truyền pháp luật vào cuộc họp sẽ đạt được hiệu quả caohơn

3 Phổ biến pháp luật trực tiếp cá biệt

Phổ biến pháp luật trực tiếp cá biệt là hình thức mà đối tượng (người

nghe) chỉ có một hoặc vài ba người, cung cấp cho người nghe những nội dungpháp luật cụ thể; vận dụng pháp luật trong những trường hợp, hoàn cảnh cụ thể

mà người nghe đang quan tâm Hình thức này thường được sử dụng trongtrường hợp người thừa hành pháp luật làm việc với đối tượng của mình; người

tư vấn pháp luật hướng dẫn, giải thích cho người được tư vấn; cán bộ trợ giúppháp lý hướng dẫn, trợ giúp pháp luật cho người được trợ giúp

II KỸ NĂNG PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT TRỰC TIẾP

1 Gây thiện cảm ban đầu cho người nghe

Việc gây thiện cảm ban đầu cho người nghe rất quan trọng Thiện cảmban đầu thể hiện ở nhân thân, tâm thế và biểu hiện của người nói khi bước lênbục tuyên truyền, ở danh tiếng, phẩm chất đạo đức, học hàm, học vị, chức vụcủa người nói Thiện cảm ban đầu còn được tạo ra bởi khung cảnh của hội

Trang 19

trường, khung cảnh của diễn đàn, dáng vẻ bề ngoài, y phục, nét mặt, cử chỉ,phong thái, lời giao tiếp ban đầu Như vậy, báo cáo viên cần phải tươi cười baoquát hội trường, có lời chào mừng, chúc tụng, có câu mở đầu dí dỏm, hài hước,công bố thời gian, chương trình làm việc rõ ràng, thoải mái sẽ gây được thiệncảm ban đầu đối với người nghe Thế nhưng, thiện cảm ban đầu chủ yếu là ởcách đặt vấn đề đầu tiên của người nói Trong những phút đầu tiên của bài giớithiệu, người nói phải nêu được khoảng từ 3, 4 vấn đề chủ yếu mà người nghecần tìm hiểu nhất Việc nêu các vấn đề đó còn tuỳ thuộc ở khả năng thuyết trìnhcủa báo cáo viên Báo cáo viên có thể bắt đầu từ một câu chuyện pháp luậtđược các phương tiện thông tin đại chúng nói đến nhiều thời gian qua hoặc cóthể bắt đầu từ một bộ phim đã chiếu khá phổ biến hoặc cũng có thể bằng cáctình huống xảy ra gần địa bàn nơi tổ chức tuyên truyền

2 Tạo sự hấp dẫn, gây ấn tượng trong khi nói

Nghệ thuật tuyên truyền là tạo nên sự hấp dẫn, gây ấn tượng bằng giọngnói, điệu bộ, ngôn ngữ Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc nhưng truyền cảm.Hết sức tránh lối nói đều đều Giọng nói, âm lượng phải thay đổi theo nội dung

và nhấn mạnh vào những điểm quan trọng, cần phải chú ý Động tác, cử chỉ cầnphải phù hợp với nội dung và giọng nói để nâng cao hiệu quả tuyên truyền củalời nói Sắc thái có tác dụng truyền cảm rất lớn Vẻ mặt của người nói cần thayđổi theo diễn biến của nội dung Khi nói, cần chú ý nhìn vào một nhóm ngườingồi dưới, thỉnh thoảng người nói cần thay đổi vị trí nhìn để tạo sự chú ý của

cử tọa Người nói cần đưa ra số liệu, sự kiện để minh hoạ, đặt câu hỏi để tăngthêm sự chú ý của người nghe

Người nói cũng cần phát huy vai trò thông tin, truyền cảm của ngôn ngữbằng cách sử dụng chính xác, đúng mực thuật ngữ pháp lý, thuật ngữ chuyênngành và ngôn ngữ phổ thông Người nói có thể kết hợp, lồng ghép, sử dụnghợp lý, chính xác ý tứ, ngôn từ trong kinh điển, thơ văn, ca dao, dân ca vàobuổi tuyên truyền pháp luật để tăng tính hấp dẫn, thuyết phục đối với ngườinghe

Trang 20

3 Bảo đảm các nguyên tắc sư phạm trong tuyên truyền miệng

Người nói cần tôn trọng các nguyên tắc sư phạm Từ bố cục bài nói, diễnđạt các đoạn văn, liên kết giữa các đoạn văn đến cách nói đều phải rõ ràng,mạch lạc, lôgic Người nghe cần được dẫn dắt từ dễ đến khó, từ đơn giản đếnphức tạp, từ gần đến xa (phương pháp suy diễn) hoặc từ xa đến gần (phươngpháp quy nạp) và tuỳ từng vấn đề mà dùng lý luận soi sáng cho thực tiễn hoặc

từ thực tiễn mà đi sâu vào lý luận Mục đích cuối cùng vẫn là để người nghehiểu rõ hơn, toàn diện hơn về những vấn đề mà người nói đã nêu ra Tuy nhiên

dù phân tích, diễn giải rộng hay hẹp đều phải luôn bám sát trọng tâm của vấnđề

4 Sử dụng phương pháp thuyết phục trong tuyên truyền miệng

Tuyên truyền miệng về pháp luật chủ yếu dùng phương pháp thuyết phụcvới ba bộ phận cấu thành là chứng minh, giải thích và phân tích

- Chứng minh là cách thuyết phục chủ yếu dựa vào các dẫn chứng xác

thực, khách quan để làm sáng tỏ và xác nhận tính đúng đắn của vấn đề Các dẫnchứng đưa ra gồm số liệu, sự kiện, hiện tượng, nhân chứng, danh ngôn, kinhđiển Để có sức thuyết phục, các dẫn chứng được đưa ra phải chính xác, tiêubiểu, toàn diện và sát hợp với vấn đề nêu ra

- Giải thích là việc dùng lý lẽ để giảng giải giúp người nghe hiểu rõ và

hiểu đúng vấn đề Lập luận trong khi giải thích phải chặt chẽ, chính xác, mạchlạc, khúc triết, không ngụy biện

- Phân tích là diễn giải, đánh giá vấn đề nhằm tìm được đặc điểm, bản

chất, điểm mạnh, điểm yếu, điểm tốt, điểm xấu, sự phù hợp, không phù hợp của vấn đề Việc phân tích phải dựa trên cơ sở khoa học, không được cườngđiệu mặt này hay hạ thấp mặt kia Sau khi phân tích phải có kết luận, đánh giá,hướng người nghe vào định hướng tư duy đúng đắn, không làm cho người nghehoài nghi, dao động, hoang mang

5 Các bước tiến hành một buổi phổ biến pháp luật trực tiếp

Trang 21

5.1 Bước chuẩn bị: gồm 5 nội dung chính sau đây :

- Nắm vững đối tượng phổ biến: Báo cáo viên cần nắm vững đối tượng

tuyên truyền qua các yếu tố về số lượng; thành phần (trí thức, công nhân, nôngdân, học sinh, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, phụ lão ); trình độ văn hoá; tìnhhình thực hiện pháp luật ở cơ sở; ý thức thực hiện pháp luật và nhu cầu tìm hiểupháp luật của đối tượng

- Nắm vững vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh: Đó là

các vấn đề về kỹ thuật nghiệp vụ chuyên ngành, đường lối của Đảng, pháp luậtcủa nhà nước trong lĩnh vực đó, các tài liệu lý luận, giáo khoa, các tài liệu củanước ngoài trong lĩnh vực đó Để nắm vững vấn đề liên quan đến lĩnh vực màvăn bản điều chỉnh đòi hỏi báo cáo viên ngoài trình độ chuyên môn tốt cần phải

có quá trình tích lũy, sưu tầm với một ý thức trách nhiệm và lòng say mê vớinghề nghiệp

- Nắm vững nội dung văn bản, cụ thể là hiểu rõ bản chất pháp lý của vấn

đề được văn bản điều chỉnh, sự cần thiết phải ban hành văn bản; hiểu rõ đốitượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh của văn bản; hiểu rõ ý nghĩa của các quyphạm, đặc biệt là ý nghĩa về mặt quản lý Nhà nước, về tác dụng điều chỉnh củatừng quy phạm cụ thể; nghiên cứu các văn bản hướng dẫn thi hành, tài liệuhướng dẫn tuyên truyền và hệ thống văn bản điều chỉnh lĩnh vực đó

- Sưu tầm tài liệu dẫn chứng, minh họa: Đây là nội dung rất quan trọng

vì nó ảnh hưởng đến chất lượng, độ sâu và sức thuyết phục của buổi tuyêntruyền Tài liệu, dẫn chứng minh họa có tính chính thức, độ tin cậy cao, có thểđược sưu tầm trên Báo Nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xãViệt Nam hoặc các tạp chí chuyên ngành; các công trình khoa học đã đượccông bố; bài viết trên các báo, đặc san khoa học; số liệu, dẫn chứng trên cáctrang thông tin điện tử (trang Web) cần được lựa chọn phù hợp Khi sưu tầm tàiliệu, báo cáo viên cần chú ý đến tính chất, yêu cầu của tài liệu đó, tuyệt đốitránh tài liệu, dẫn chứng minh họa thuộc diện mật của Đảng và Nhà nước; sốliệu, dẫn chứng đã cũ không còn phù hợp với hiện tại

Trang 22

- Chuẩn bị đề cương: Đề cương tuyên truyền miệng (bao gồm đề cương

sơ bộ và đề cương chi tiết) cần đầy đủ về nội dung, thích hợp với đối tượng,chặt chẽ về bố cục, sắc sảo về lập luận

5.2 Tiến hành một buổi phổ biến pháp luật trực tiếp

- Vào đề: Là phần giới thiệu vấn đề, định hướng tư duy, khơi gợi nhu cầu

của đối tượng, thiết lập quan hệ giữa người nói với người nghe Với tuyêntruyền miệng về pháp luật, cách vào đề có hiệu quả thường là gợi ra nhu cầutìm hiểu ý nghĩa, sự cần thiết phải ban hành văn bản pháp luật Báo cáo viên cóthể bắt đầu từ một câu chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đạichúng nói đến nhiều thời gian qua; có thể bằng các tình huống xảy ra gần địabàn nơi tổ chức tuyên truyền hoặc một câu chuyện có liên quan mà tình cờ báocáo viên biết được qua trao đổi trước buổi tuyên truyền với một số ngườinghe

- Nội dung: Là phần chủ yếu của buổi nói, làm cho đối tượng hiểu, nắm

được nội dung, chuyển biến nhận thức, nâng cao ý thức pháp luật cho đốitượng Cần lưu ý là phải nêu được những điểm mới, thời sự để người nghe chúý; khi tuyên truyền không được sao chép, đọc nguyên văn văn bản để tránh sựnhàm chán Khi giảng cần phân tích, giải thích và nêu ý nghĩa của văn bảnpháp luật đó Viết, đọc một đoạn nào đó trong văn bản chỉ có tính chất dẫnchứng, minh họa những gì mà người nói đã phân tích, dẫn chứng ở trước

Trong tuyên truyền văn bản phải chú ý tới hai điều, đó là: lựa chọn cáchtrình bày phù hợp với đối tượng và nêu được vấn đề cơ bản, cốt lõi, trọng tâm

để người nghe thâu tóm được tinh thần văn bản Sử dụng hợp lý kênh ngôn ngữ(nói) và kênh phi ngôn ngữ (cử chỉ, động tác)

Đối tượng phổ biến pháp luật trực tiếp rất phong phú nhưng có thể chiathành 4 loại: Cán bộ quản lý; cán bộ nghiên cứu, xây dựng văn bản; cán bộtuyên truyền; những người phải chấp hành pháp luật (cán bộ, nhân dân) Trên

cơ sở sự phân loại đó, báo cáo viên có thể xác định được mục đích, yêu cầu, nội

Trang 23

dung trọng tâm, phương pháp trình bày cho phù hợp với từng đối tượng, cụ thểlà:

+ Với cán bộ quản lý: Báo cáo viên cần xác định người nghe là cán bộquản lý ở cấp nào để có thể có phương pháp trình bày thiên về khái quát hoặcdiễn giải; thiên về lý luận hoặc thực tiễn Đối với người nghe là cán bộ quản lýcấp tỉnh thì người nói có thể trình bày vấn đề thiên về khái quát có kết hợpphân tích, diễn giải; nhưng nếu người nghe là cán bộ cấp xã thì người nói cầnphải sử dụng phương pháp suy diễn, phân tích cụ thể về thực tiễn rồi sau đókhái quát thành những đánh giá, lý luận Người nói cần làm rõ những quy định

về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ nhànước; nội dung quản lý nhà nước; các hình thức vi phạm và mức độ xử lý; thẩmquyền xử lý; tổ chức thi hành văn bản

+ Với cán bộ nghiên cứu, xây dựng văn bản: Phương pháp khái quátthường đạt hiệu quả tuyên truyền cao vì đối tượng này có trình độ, thường quantâm đến những quan điểm, những vấn đề lý luận chứa đựng trong văn bản.Ngoài ra báo cáo viên cần làm rõ: văn bản đã đáp ứng được những nhu cầu, đòihỏi thực tiễn nào, những gì còn hạn chế, chưa đáp ứng được; những gì đã thốngnhất, những gì tồn tại; các ý kiến khác nhau về những nội dung của văn bảntrước khi được ban hành; các văn bản được ban hành tiếp theo và văn bản để cụthể hóa văn bản này; vị trí của văn bản này trong hệ thống các văn bản thuộclĩnh vực văn bản điều chỉnh

+ Với cán bộ tuyên truyền (bao gồm: báo cáo viên, tuyên truyền viên,phóng viên, biên tập viên các báo, đài): Có thể dùng phương pháp khái quáthoặc diễn giải tuỳ thuộc vào hình thức văn bản nhưng cần tập trung nhấn mạnhnhững nội dung để phục vụ cho công tác tuyên truyền của cán bộ tuyên truyềnnhư: bản chất, ý nghĩa pháp lý của vấn đề; sự cần thiết, mục đích của việc banhành văn bản; những số liệu, tài liệu cần viện dẫn, đối chiếu, so sánh; các vấn

đề chủ yếu cần tập trung phổ biến, tuyên truyền

Trang 24

+ Với những người phải chấp hành pháp luật: Sử dụng phương pháp diễngiải là phù hợp Cần nêu bản chất, ý nghĩa của vấn đề, mục đích, sự cần thiếtphải ban hành văn bản, ý nghĩa của các quy phạm liên quan đến từng đối tượngthi hành trong văn bản Báo cáo viên cần tập trung phân tích quyền và nghĩa vụcủa các chủ thể trong quan hệ xã hội được văn bản điều chỉnh, cơ chế thực hiệnquyền khiếu nại, khởi kiện, thời hiệu khiếu nại, khởi kiện

* Trong thực tiễn tuyên truyền miệng pháp luật, vì nhiều lý do, có thểxảy ra những “trục trặc” ngoài ý muốn khi đang thực hiện buổi tuyên truyềnmiệng pháp luật Những “trục trặc” thường gặp trong thực tế là:

- Nói lắp, nói nhịu: Đôi khi trong khi đang nói vì căng thẳng hay mệt

mỏi báo cáo viên nói lắp, nói nhịu Đây là hiện tượng vô thức xảy ra ngoài ýmuốn của con người Khi xảy ra hiện tượng này, thường sẽ gây nên tiếng cười,

ồn ào trong người nghe Để khắc phục hiện tượng này, báo cáo viên cần phảibình tĩnh, không được mất tinh thần; lấy lại sự tập trung vào bài giảng Báo cáoviên có thể kể một câu chuyện vui hoặc có những câu nói hài hước để tạo nênkhông khí thoải mái, vui vẻ trong buổi tuyên truyền, sau đó khéo léo dẫn dắtvào bài giảng

- Lạc đề: Hiện tượng này xảy ra do báo cáo viên phân tích, diễn giải vấn

đề quá rộng dẫn đến những nội dung báo cáo viên nói không có liên quan hoặc

ít liên quan đến bài giảng Trong trường hợp này, báo cáo viên không được mấtbình tĩnh; sử dụng phương pháp quy nạp, từ những vấn đề đã phân tích, diễngiải rộng ở trên, báo cáo viên khéo léo dẫn dắt người nghe đến những nội dungchính của bài giảng Để kiểm soát được bài giảng của mình đúng trọng tâm,không lạc đề đòi hỏi báo cáo viên phải chuẩn bị kỹ nội dung bài giảng, trongkhi giảng bài cần tập trung, luôn quan tâm theo dõi đến thái độ (phản ứng) củangười nghe để điều chỉnh bài giảng hợp lý

- Thừa giờ hoặc thiếu giờ: Tình huống này thường xảy ra đối với những

báo cáo viên còn thiếu kinh nghiệm trong nghề Đây là trường hợp thời gian dựkiến ban đầu của buổi tuyên truyền miệng vẫn còn nhưng báo cáo viên đã

Trang 25

truyền đạt hết các nội dung văn bản pháp luật hoặc đã hết giờ mà chưa truyềnđạt hết nội dung Nếu gặp phải trường hợp này, tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể

mà báo cáo viên cần phải nhanh nhạy chuyển sang hình thức khác có liên quanđến bài giảng như tổ chức thảo luận về những nội dung của văn bản quy phạmpháp luật, báo cáo viên sẽ trực tiếp giải đáp những thắc mắc của người nghehoặc báo cáo viên chuẩn bị sẵn những câu hỏi liên quan đến nội dung bài giảng

để hỏi người nghe hoặc tổ chức giao lưu, học hỏi kinh nghiệm về công táctuyên truyền, phổ biến pháp luật giữa báo cáo viên và người nghe, nhất là khingười nghe là những cán bộ tuyên truyền pháp luật

Ngoài ra, cần xử lý các tình huống khác trong hội trường như: Học viênngủ gật, nghe điện thoại di động, mất điện, học viên nói chuyện riêng

5.3 Phần kết luận:

Là phần người nói thường điểm lại và tóm tắt những vấn đề cơ bản đãtuyên truyền Tùy từng đối tượng mà nêu những vấn đề cần lưu ý đối với họ.Trong phần này, người nói sau khi đã phân tích, diễn giải cần phải tóm tắt lạinhững nội dung chính của buổi tuyên truyền miệng và những vấn đề cần lưu ý.Tuy nhiên với mỗi một đối tượng khác nhau sẽ có cách thức tóm tắt khác nhaucăn cứ vào nhu cầu, lĩnh vực công tác của đối tượng

5.4 Trả lời câu hỏi của người nghe: Người nói cần dành thời gian cần

thiết trả lời các câu hỏi mà người nghe quan tâm, chưa hiểu rõ Đây là phầnngười nói có thể đánh giá được mức độ hiểu bài của người nghe; là dịp đểngười nói trao đổi những kinh nghiệm, hiểu biết của mình cho người nghe

6 Sử dụng phương tiện hỗ trợ trong phổ biến pháp luật trực tiếp

- Các phương tiện nghe nhìn để hỗ trợ cho người trình bày hiện nay đãngày càng hiện đại và đầy đủ: Bảng đen, bảng trắng, bảng ghim, bảng lật,phim nhựa, băng video, máy projector, overhead, máy chiếu vật thể, datashow,các loại bút chỉ, bút điện tử

Trang 26

- Sử dụng trợ giúp trực quan để hỗ trợ các điểm chính Khi chuẩn bị vàtrình bày trợ giúp trực quan cần chú ý:

+ Dùng mỗi trợ giúp cho một vấn đề;

+ Chia các vấn đề phức tạp thành nhiều trợ giúp;

+ Đặt tiêu đề cho mỗi trợ giúp để thể hiện điểm bạn cần nói;

+ Hạn chế khối lượng thông tin trên mỗi trợ giúp;

+ Sử dụng ít từ ( 35 từ hoặc ít hơn) và các biểu đồ đơn giản;

+ Không đưa ra các trợ giúp khi bạn chưa nói Khi nói không nên tắt đènchiếu hoặc máy chiếu

Trợ giúp trực quan có hiệu quả chỉ khi công nghệ đủ độ tin cậy cao Khitrình bày bạn nên kiểm tra trước các thiết bị Khi bạn trình bày ở một địa điểmhoặc một tổ chức bên ngoài nên đến sớm để có thời gian không chỉ cho kiểmtra thiết bị mà còn liên hệ với nhân viên kỹ thuật để có thể xử lý nếu thiết bịtrục trặc Chuẩn bị một phương án dự phòng nếu bạn không sử dụng được trợgiúp

Trang 27

CHUYÊN ĐỀ 3

KỸ NĂNG BIÊN SOẠN SÁCH PHÁP LUẬT PHỔ THÔNG

1 Phổ biến pháp luật thông qua sách pháp luật

Sách pháp luật là một loại tài liệu phổ biến pháp luật Phổ biến pháp luậtthông qua văn hoá đọc của người đọc sách là hình thức tuyên truyền, phổ biếnpháp luật đặc thù Đặc trưng của hình thức này là truyền bá những nội dung,kiến thức pháp luật thiết yếu trong đời sống cho mọi người thông qua việc đọcsách Người dân có thể chủ động tìm hiểu, nghiên cứu, tiếp cận kiến thức phápluật qua việc đọc sách, nghiên cứu sách để đáp ứng nhu cầu của bản thân

Có nhiều loại sách pháp luật:

- Sách nghiên cứu pháp luật: bình luận khoa học, phân tích, giảithích các vấn đề, bình luận nội dung các điều luật, từ điển luật

- Sách dạy, học pháp luật: sách giáo khoa, sách tham khảo phục vụviệc giảng dạy và học pháp luật trong nhà trường

- Sách pháp luật phổ thông: sách hỏi đáp pháp luật, sách hướng dẫntìm hiểu pháp luật, sách pháp luật bỏ túi…

- Sách hệ thống hoá văn bản pháp luật

Cũng như các hình thức phổ biến pháp luật khác, phổ biến pháp luậtthông qua sách pháp luật có những ưu thế nhất định

2 Yêu cầu chung đối với việc biên soạn sách pháp luật phổ thông

- Thứ nhất về nội dung, nội dung sách phải gồm các vấn đề phổ biến,

thường gặp trong đời sống hàng ngày, được nhiều người quan tâm, liên quanđến việc hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật, đến các trình tự, thủ

Trang 28

tục thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân hoặc có liên quan trực tiếp đếncác lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý xã hội

- Thứ hai về bố cục, sách phải có bố cục rõ ràng, kết cấu lôgic, chặt chẽ,

câu văn ngắn gọn, súc tích; ngôn ngữ giản dị, bình dân, dễ hiểu và chỉ mangmột nghĩa, giúp người đọc hiểu một cách chính xác, thống nhất đúng với cácquy định của pháp luật và dễ thực hiện

- Thứ ba về hình thức, sách cần được trình bày sáng sủa, khổ chữ vừa

phải, dễ đọc, chất lượng in rõ, khổ sách và độ dày vừa phải, gọn gàng, dễ mangtheo, thuận tiện cho người sử dụng Sách phục vụ các đối tượng là trẻ em phải

có tranh minh họa, sách phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số phải được dịch ratiếng dân tộc kèm theo tranh minh hoạ giúp cho người sử dụng dễ hiểu, dễ nhớ,

dễ làm theo

- Thứ tư, giá sách hợp lý, phù hợp với mức thu nhập trung bình của

nhân dân, tạo điều kiện cho nhiều người có nhu cầu có khả năng mua sách

3 Tổ chức biên soạn sách pháp luật phổ thông

Việc tổ chức biên soạn sách pháp luật cần theo các bước sau:

3.1 Xây dựng kế hoạch biên soạn sách

Kế hoạch biên soạn sách cần có các nội dung:

- Mục đích, yêu cầu biên soạn sách: căn cứ mục đích của việc tuyêntruyền, phổ biến pháp luật trong từng giai đoạn, từng địa bàn để xác định mụcđích biên soạn sách: tuyên truyền về những vấn đề, những nội dung pháp luật

gì, tuyên truyền cho đối tượng nào;

- Đối tượng sử dụng sách: chính là đối tượng cần được tuyên truyền đốivới sách pháp luật phổ thông đối tượng thường là những người dân có nhu cầutìm hiểu pháp luật;

- Các nội dung chủ yếu của cuốn sách (dự thảo đề cương sách hoặc kèmtheo kế hoạch là Đề cương chi tiết cuốn sách);

Trang 29

- Thời gian hoàn thành và giao nộp bản thảo;

- Các thông số về cuốn sách: khổ sách, độ dày, số trang, số phát hành,

giá bìa;

- Số lượng in, nơi in;

- Phương thức phát hành;

- Nguồn kinh phí phục vụ việc biên soạn, phát hành sách

3.2 Thành lập Ban biên tập và dự kiến người tham gia biên soạn:

- Trưởng Ban biên tập kiêm Chủ biên cuốn sách - là người chịu tráchnhiệm chính về nội dung cuốn sách, có trách nhiệm đọc, chỉnh lý và duyệt lầncuối cùng trước khi đưa in sách;

- Ban biên tập là những người tổ chức quá trình biên soạn và trực tiếpbiên tập;

- Người tham gia biên soạn sách thường là các chuyên gia trong những

lĩnh vực có liên quan đến nội dung sách

3.3 Tổ chức họp Ban biên tập triển khai việc biên soạn và thống nhất các vấn đề.

- Kế hoạch biên soạn sách, mục đích, đối tượng sử dụng sách;

- Nội dung sách: bố cục sách (mấy phần), nội dung cụ thể trong từngphần (đề cương chi tiết);

- Thống nhất cách biên soạn;

- Dự kiến người tham gia biên soạn;

- Cung cấp các văn bản, tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dungsách

3.4 Biên tập

Biên tập lần một: Sau khi thu bản thảo, Ban biên tập tổ chức biên tập lần

thứ nhất Mục đích của việc biên tập lần thứ nhất là:

Trang 30

-Xác định xem nội dung cuốn sách được biên soạn đã thể hiện đúng mụctiêu, yêu cầu và phù hợp với đối tượng sử dụng như trong kế hoạch đề ra chưa

-Soát lại câu chữ, cách hành văn, ngữ pháp, lỗi chính tả và hình thức thểhiện cho thống nhất

Sau khi biên tập lần thứ nhất nếu thấy bản thảo đạt yêu cầu thì gửi chocác chuyên gia để xin ý kiến thẩm định

Nếu bản thảo chưa đạt yêu cầu Ban biên tập sẽ đề nghị người viết sửa lạitheo đúng mục tiêu, yêu cầu trong kế hoạch đề ra

Biên tập lần hai: trên cơ sở ý kiến của các chuyên gia thẩm định, biên tập

viên đọc lại bản thảo trực tiếp sửa chữa, chỉnh lý lại nội dung đối với nhữngsai sót không nhiều, không ảnh hưởng lớn đến cuốn sách nếu thấy ý kiến củachuyên gia thẩm định là chính xác

Biên tập viên đọc lại và hoàn chỉnh bản thảo sau đó đưa chủ biên đọcduyệt lần cuối

Trường hợp có những sai sót lớn hoặc có ảnh hưởng đến bố cục hay nộidung sách thì cần báo cáo với chủ biên và đề nghị người viết biên soạn lại theocác ý kiến đóng góp

3.5 Thẩm định

Người thẩm định là các chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực pháp luậtliên quan đến nội dung sách Người thẩm định chủ yếu đọc góp ý, sửa chữa nộidung sách, tính chính xác của các phân tích, giải thích và trích dẫn, các quyphạm pháp luật nêu trong sách

3.6 In ấn, phát hành:

Đối với các sách biên soạn theo yêu cầu của nhà xuất bản thì chỉ cầnchuyển bản thảo sang cho nhà xuất bản Việc in và phát hành sẽ do nhà xuấtbản đảm nhiệm Đối với các sách do cơ sở tự biên soạn thì phải làm thủ tụcnhư: xin giấy phép xuất bản, liên hệ với nhà in chuẩn bị các thủ tục in sách

Trang 31

(làm ma két bìa, liên hệ với nhà in ký hợp đồng in có quy định rõ giá thành,phương thức thanh toán, xác định giá bán nếu là sách bán thu tiền) Nộp lưuchiểu sau khi in xong, giới thiệu sách trên các phương tiện thông tin đại chúng

để tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân

4 Kỹ năng biên soạn nội dung sách pháp luật phổ thông

Sách pháp luật phổ thông gồm: sách hỏi đáp pháp luật, sách hướng dẫntìm hiểu pháp luật, sách pháp luật bỏ túi Với mỗi loại sách có những điểmkhác nhau trong kỹ năng biên soạn

4.1 Sách hỏi đáp pháp luật

Sách hỏi đáp pháp luật có thể sử dụng để tuyên truyền, phổ biến một vănbản, một nội dung, một lĩnh vực pháp luật Kỹ năng biên soạn sách hỏi đáppháp luật chủ yếu dựa trên phương pháp đặt câu hỏi và cách trả lời câu hỏi Cócác dạng câu hỏi sau:

- Câu hỏi trực tiếp: hỏi trực tiếp vào nội dung vấn đề Câu hỏi trực tiếpthường dùng trong trường hợp cần giải thích các khái niệm, các thuật ngữ pháp

lý, hoặc các vấn đề có tính lý thuyết

Đối với câu hỏi trực tiếp, câu trả lời thường gồm hai phần: nêu địnhnghĩa (hoặc nội dung) của khái niệm, thuật ngữ; giải thích nội dung các kháiniệm, thuật ngữ sau đó đưa ra một ví dụ minh hoạ

- Câu hỏi gián tiếp: Câu hỏi gián tiếp được xây dựng trên cơ sở thôngqua một tình huống, một sự việc thường xảy ra trong thực tế để đưa ra câu hỏi.Câu hỏi gián tiếp thường được dùng trong các trường hợp tuyên truyền phổbiến các quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của người dân, các thủ tụchành chính trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội Câu hỏi gián tiếp còn được sửdụng trong các trường hợp muốn làm rõ một quy định nào đó của pháp luật

- Câu hỏi mở: thông qua một tình huống, một sự việc để hỏi về một vấn

đề Câu hỏi mở thường áp dụng trong trường hợp hướng dẫn cách giải quyếtmột vụ việc, hướng dẫn việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của công dân

Trang 32

Đối với câu hỏi loại này câu trả lời cần phân tích sự việc, đối chiếu vớiquy định của pháp luật sau đó hướng dẫn cách giải quyết cụ thể.

4.2 Sách hướng dẫn tìm hiểu pháp luật

Sách hướng dẫn tìm hiểu pháp luật thường sử dụng để tuyên truyền, phổbiến các văn bản pháp luật (luật, bộ luật, pháp lệnh, nghị định) mới ban hành,mới sửa đổi, bổ sung

Việc biên soạn sách hướng dẫn tìm hiểu pháp luật phải đảm bảo các yêucầu chung nêu trên

Về nội dung, bố cục sách tìm hiểu pháp luật cần chú ý một số điểm sau:

- Nội dung sách thường chỉ gắn với một văn bản pháp luật hoặc một

số nội dung chính của một văn bản pháp luật

- Bố cục sách có thể như sau:

+ Vài nét về tình hình thực tế liên quan trực tiếp đến các vấn đề thuộcnội dung sách

+ Giải thích các khái niệm, thuật ngữ nêu ra trong nội dung sách;

+ Các quy định của pháp luật về vấn đề nêu trong nội dung sách;

+ Các điểm mới, điểm sửa đổi, bổ sung (nếu có) so với các quy địnhpháp luật trước đây

Nội dung sách pháp luật bỏ túi thường chỉ đề cập đến một hoặc hai vấn

đề Mỗi vấn đề là một phần độc lập Trong từng phần, bố cục như sau:

Trang 33

+ Giải thích các khái niệm, thuật ngữ nêu ra trong nội dung sách;

+ Các quy định của pháp luật về vấn đề nêu trong nội dung sách;

+ Hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật trong nội dung

Nội dung sách phải viết ngắn, gọn Có thể viết chữ to nếu sách dành chotrẻ em, cho đồng bào dân tộc thiểu số, hoặc các đối tượng sau xoá mù chữ

Trang 34

CHUYÊN ĐỀ 4

KỸ NĂNG BIÊN SOẠN TỜ GẤP TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT

1 Khái niệm, vị trí, vai trò của tờ gấp pháp luật

1.1 Khái niệm

Tờ gấp tuyên truyền pháp luật là một loại tài liệu tuyên truyền pháp luậtđược biên soạn một cách ngắn gọn, rõ ràng trên khuôn khổ một tờ giấy nên dễdàng, thuận tiện trong sử dụng, là một trong những hình thức tuyên truyền phápluật hiệu quả

1.2 Đối tượng sử dụng

So với các loại tài liệu phổ biến pháp luật khác như đề cương tuyêntruyền văn bản pháp luật, bản tin thì tờ gấp pháp luật có đối tượng sử dụngrộng rãi hơn, từ cán bộ, công chức, người lao động, người sử dụng lao động,học sinh, sinh viên cho đến toàn thể nhân dân

2 Những kỹ năng chủ yếu trong việc làm tờ gấp tuyên truyền pháp luật.

2.1 Biên soạn nội dung

- Căn cứ vào nhu cầu và đối tượng sử dụng, người được giao nhiệm vụ

có trách nhiệm lựa chọn những nội dung pháp luật phù hợp với từng đối tượng

để đưa vào tờ gấp

Ví dụ: Tờ gấp tuyên truyền về quyền và nghĩa vụ của người lao động

theo quy định của Bộ luật lao động Có thể được chia thành:

Phần chung: Quyền và nghĩa vụ của người lao động

Phần riêng: Quyền và nghĩa vụ của người lao động nữ, lao động chưathành niên, lao động là người cao tuổi

- Cách thức thể hiện nội dung vào tờ gấp:

Trang 35

Nên ưu tiên tờ gấp có kích thước bằng khổ giấy A4, vì có thể dùng tờgấp này làm tờ mẫu phôtô nhân bản trên giấy A4 phát rộng rãi cho đối tượngtuyên truyền Từ kích thước tờ gấp người ta dễ dàng chọn được số bình cho tờgấp sao cho khi gấp lại tờ gấp có hình dáng sát với hình chữ nhật tiêu chuẩn.Vídụ: tờ gấp khổ A4 khi gấp lại được 3 bình với kích thước 21 x 10.

2.3 Bố cục tờ gấp (lên ma két) :

Bố cục tờ gấp gồm bố cục bìa, phần nội dung cho các trang, trám tranh,ảnh cho các trang, đặt tít của tờ gấp, tít của từng phần, chọn chữ, chọn màu vàphân bố, làm vi-nhét cho từng trang

Nếu coi tờ gấp có mặt trong, mặt ngoài và đánh số 1 vào trang đầu củamặt trong rồi lần lượt từ trong ra ngoài thì thường gấp tờ gấp sao cho trang cuốicùng là bìa trước, trang áp cuối là bìa sau Tuy nhiên, với cách gấp khác hoặc

với tờ gấp 5 bình, 7 bình thì việc xác định bìa trước, bìa sau có thể thay đổi Bìa

trước ghi tên của tờ gấp và tranh hoặc ảnh nhằm gây ấn tượng về chủ đề của tờgấp Bìa sau cũng có tác dụng làm tăng tính thẩm mỹ tờ gấp bằng những khẩuhiệu, danh ngôn, tranh, ảnh…

Khi phân nội dung cho các trang, cố gắng để mỗi trang thể hiện đượcmột phần nội dung của tờ gấp và giữa các phần có thứ tự lôgíc với nhau Títcủa từng phần có thể theo tên chương, mục của văn bản hoặc tự đặt sát với nộidung của nó Việc trám tranh, ảnh vào các trang không những gây ấn tượng về

nội dung mà còn làm tăng tính hấp dẫn của tờ gấp Việc thay đổi kiểu chữ, cỡ chữ, chọn màu, phân bố màu, làm vi nhét cho tờ gấp là những việc có tính

Trang 36

chất mỹ thuật; nếu có điều kiện nên mời họa sĩ tham gia để tờ gấp được trìnhbày đẹp và hợp lý.

3 Tổ chức làm tờ gấp tuyên truyền pháp luật

3.1 Xây dựng kế hoạch làm tờ gấp tuyên truyền pháp luật

Thông thường việc làm tờ gấp tuyên truyền pháp luật phải được đưa vào

kế hoạch công tác năm của cơ quan, đơn vị Trên cơ sở các văn bản pháp luậtmới được Quốc hội thông qua, văn bản của địa phương, nhu cầu tuyên truyền,phổ biến pháp luật của ngành, địa phương, gắn với việc thực hiện nhiệm vụchính trị và chủ trương tăng cường quản lý trong ngành hoặc địa phương

Nội dung bản kế hoạch này gồm:

- Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa và sự cần thiết phải phát hành tờ gấp tuyêntruyền pháp luật

- Tổ chức triển khai kế hoạch ( phân công người biên soạn, người biên

tập, duyệt nội dung)

- Tiến độ, thời gian và kinh phí thực hiện.

3.2 Thiết kế tờ gấp tuyên truyền pháp luật

Sau khi đã hoàn chỉnh nội dung của tờ gấp, người được giao nhiệm vụ cótrách nhiệm thực hiện một số công việc sau:

- Liên hệ với họa sĩ để thiết kế mẫu tờ gấp

- Trình lãnh đạo cơ quan, đơn vị duyệt mẫu tờ gấp

3.3 Làm các thủ tục xuất bản tờ gấp tuyên truyền pháp luật:

Trang 37

Mẫu tờ gấp sau khi được phê duyệt, người được giao nhiệm vụ cần tiếnhành một số công việc sau:

- Xin giấy phép xuất bản

- Ký hợp đồng với nhà in, theo dõi việc in ấn

- Nộp lưu chiểu theo quy định của pháp luật

3.4 Tổ chức phát hành tờ gấp tuyên truyền pháp luật

Việc tổ chức phát hành tờ gấp cần căn cứ vào yêu cầu, mục đích và đốitượng cần tuyên truyền đã được xác định trong kế hoạch.Việc phát hành tờ gấp

có thể gửi trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng hoặc thông qua cơ quan, tổ chức

để cấp phát cho đối tượng

Trang 38

- Về nội dung: Nội dung băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật

cần phải phù hợp với đối tượng được tuyên truyền, dễ hiểu, gắn với những vấn

đề thường gặp trong đời sống sinh hoạt, sản xuất hàng ngày của đối tượng đượctuyên truyền

- Về hình thức: Băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật cần được

thể hiện dưới nhiều thể loại khác nhau, phong phú, sinh động để hấp dẫn, thuhút người xem, người nghe Băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật đượcthể hiện dưới các thể loại như:

 Các tiết mục văn nghệ: ngâm thơ, hát…

Ngôn ngữ trong sáng, dễ hiểu; âm thanh, hình ảnh rõ nét, sống động

Trang 39

Những băng tiếng, băng hình dùng để tuyên truyền pháp luật cho đồngbào dân tộc thiểu số cần được xây dựng bằng tiếng dân tộc để bảo đảm hiệuquả tuyên truyền.

2 Tổ chức xây dựng băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật:

2.1 Giai đoạn chuẩn bị:

Bước 1: Xây dựng kế hoạch

Kế hoạch xây dựng băng tiếng, băng hình tuyên truyền pháp luật cần cócác nội dung:

- Mục đích, yêu cầu xây dựng băng tiếng, băng hình;

- Đối tượng được tuyên truyền: xác định rõ đối tượng được tuyên truyền

là ai;

- Nội dung chủ yếu của băng tiếng, băng hình (dự thảo đề cương băngtiếng, băng hình);

- Một số yêu cầu kỹ thuật: Độ dài của băng, loại băng…

- Số lượng, phạm vi, phương thức phát hành;

- Thời gian thực hiện: dự kiến tiến độ thời gian cho từng công đoạn thựchiện từ xây dựng nội dung, biên tập, duyệt nội dung, dàn dựng, thu băng;

- Tổ chức thực hiện: Phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện việc xâydựng, phát hành băng;

- Kinh phí: Dự kiến kinh phí để thực hiện việc xây dựng băng và xác

Trang 40

- Trưởng Ban biên tập - là người chịu trách nhiệm chính về nội dungbăng, có trách nhiệm biên tập và duyệt lần cuối cùng trước khi thu băng;

- Dự kiến người biên soạn nội dung băng;

- Dự kiến người viết (chuyển thể) kịch bản băng;

- Dự kiến người dàn dựng nội dung kịch bản của băng;

- Dự kiến người thu, in băng

Lưu ý: Trên cơ sở nội dung băng đã được Trưởng ban biên tập duyệt, cóthể thuê một đơn vị sản xuất băng tiếng, băng hình thực hiện hợp đồng dịch vụtrọn gói từ viết kịch bản, dàn dựng và thu băng

Bước 3: Tổ chức họp Ban biên tập và các chuyên gia tham gia xây dựng nội dung băng để thống nhất các vấn đề:

- Kế hoạch xây dựng băng, mục đích, đối tượng sử dụng băng; nội dungbăng;

- Thống nhất cách thức xây dựng nội dung băng;

- Dự kiến người tham gia xây dựng nội dung băng, phân công cụ thểphần trách nhiệm của từng người;

- Cung cấp các văn bản, tài liệu tham khảo có liên quan đến nội dungbăng

2.2 Giai đoạn 2: Xây dựng băng

Bước 1: Xây dựng nội dung chi tiết

Trên cơ sở nội dung cơ bản của băng đã được duyệt trong kế hoạch, cácchuyên gia tiến hành xây dựng chi tiết nội dung của băng bảo đảm các yêu cầusau:

 Phù hợp với mục đích, đối tượng, đề tài cần tuyên truyền;

 Bố cục rõ ràng, hợp lý;

 Chính xác về nội dung pháp luật;

Ngày đăng: 30/11/2021, 02:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w