1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CHUYÊN ĐỀ:“ Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp phát huy tính tích cực học sinh trong dạy học buổi 2 môn Toán Tiểu học với HS lớp 4, 5”

25 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 12,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ Như chúng ta đã biết, chương trình học 2 buổi/ngày là chương trình mở, điều đó chophép người dạy linh hoạt, sáng tạo trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình

Trang 1

Tên chuyên đề:

“ Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp phát huy tính tích cực học sinh trong dạy học buổi 2 môn Toán Tiểu học với HS lớp 4, 5” - Tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông 2018

Người báo cáo: Phạm Thị Minh LuyênTổ: 4+5 - trường Tiểu học Văn Tố

A LÍ DO CHỌN CHUYÊN ĐỀ

Như chúng ta đã biết, chương trình học 2 buổi/ngày là chương trình mở, điều đó chophép người dạy linh hoạt, sáng tạo trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thứcdạy học để cung cấp, củng cố kiến thức, rèn kỹ năng phù hợp với trình độ, khả năng, sởtrường của học sinh và giúp các em phát triển toàn diện Ở buổi 2, khi dạy tiết tự chọnToán hoặc Tiếng Việt, giáo viên có cơ hội tốt nhất để thực hiện việc dạy phân hoá HS, cóthời gian bù đắp lỗ hổng kiến thức cho HS chậm hoàn thành, có điều kiện tốt nhất để pháttriển năng lực tư duy cho HS năng khiếu Ngoài ra, ở buổi 2 tiết tự chọn, GV có thể tạonhững sân chơi thật bổ ích cho việc phát triển toàn diện nhân cách học sinh Lâu nay,trong dạy học GV đã thực sự đổi mới từ việc chọn nội dung, hình thức, thời lượng, đồdùng dạy học, cách đánh giá,… cho phù hợp với đối tượng nhằm nâng cao chất lượnggiáo dục Song hầu như GV đã giành hết thời gian và tâm huyết cho dạy học buổi 1- buổidạy học các tiết được cơ cấu sẵn trong chương trình Còn vấn đề dạy học buổi 2 chưađược nhiều GV quan tâm, không ít GV xem nhẹ hình thức dạy học buổi 2, nhiều GV xembuổi 2 như là giờ tự học, tự làm bài tập, tự kiểm tra kiến thức, kỹ năng của HS Bên cạnhmột số tiết tự chọn buổi 2 thực sự có hiệu quả thì có không ít những tiết tự chọn ở buổi 2

GV giao cho HS một số bài tập đồng loạt HS giải quyết hết các bài tập đó là hết nhiệm vụcủa tiết học Còn trong tiết đó, bao nhiêu HS cần rèn kiến thức, kỹ năng gì? Cần rèn đếnđâu? Các em có hứng thú học không? Có nhu cầu học hay không thì GV ít chú ý đến nênphần nào chất lượng tiết tự chọn buổi 2 hiệu quả chưa cao Chính vì lẽ đó Tổ chuyên môn

4+5 chúng tôi chọn chuyên đề: “ Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp phát huy tính tích cực học sinh trong dạy học buổi 2 ở môn Toán Tiểu học với HS lớp 4, 5”- Tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông 2018.

Trang 2

B NỘI DUNG

I THỰC TRẠNG

Trong thực tế dạy học, có lúc GV còn ngại khi lên lớp buổi 2 nhất là dạy tiết mànội dung GV phải tự nghiên cứ, không có văn bản SGK có sẵn GV chưa tự tin với việclựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp dạy Hình thức dạy tiết tự chọn buổi 2 nghèonàn, chưa phong phú, chưa hấp dẫn, chưa tạo cho HS thích học và say học Một số tiếtchưa dạy theo nhu cầu của HS, chưa giúp được HS chậm hoàn thành rèn kiến thức, kỹnăng; HS năng khiếu chưa có nhiệm vụ riêng, HS cá biệt chưa được quan tâm đúng mứcnên nề nếp lớp học chưa nghiêm túc, không khí lớp học chưa sôi nổi, HS chán học, hiệuquả không cao

II NGUYÊN NHÂN

Việc dạy học buổi 2 có những khó khăn nhất định:

1 Về phía giáo viên:

- Một số giáo viên còn lúng túng, chưa tự tin với việc lựa chọn nội dung,phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động học tập cho từng đối tượng học sinh ởbuổi 2

- Một số giáo viên chưa có sự đầu tư cho việc soạn giảng buổi 2; lựa chọnnội dung đơn điệu, chưa phong phú các dạng bài tập, chưa thể hiện sự phân hóa đối tượngHS

- Hình thức dạy buổi 2 nghèo nàn, chưa phong phú, chưa hấp dẫn, chưa tạođược hứng thú cho học sinh

- Còn một số GV chưa coi trọng việc dạy buổi 2, xem dạy buổi 2 như là giờlàm bài tập của học sinh và học sinh giải quyết hết bài tập đó là hết nhiệm vụ củatiết học Còn trong tiết đó, có bao nhiêu học sinh cần rèn kiến thức, kĩ năng? Cầnrèn đến đâu? Các em có hứng thú học không? Có nhu cầu học hay không thì giáoviên ít chú ý đến vì thế chưa giúp được học sinh yếu rèn kiến thức, kĩ năng cũngnhư phát triển được năng lực cho học sinh khá giỏi Vì vậy chất lượng dạy họcbuổi 2 chưa được theo mong muốn

- GV hiểu máy móc tinh thần chỉ đạo theo “Hướng dẫn dạy học 2 buổi/ngày” làkhông đưa thêm nội dung, kiến thức mới vào dạy buổi 2 mà chủ yếu là khai thác kiếnthức đã có trong SGK, củng cố và rèn luyện các kiến thức kỹ năng đã học Vậy là trongdạy học buổi 2 GV chưa mạnh dạn đưa các loại bài phù hợp với từng đối tượng HS

- Thời gian giành cho việc soạn bài của GV Tiểu học bị hạn chế Ở dạy học buổi 2không có những thiết kế bài soạn sẵn cho từng tiết cho giáo viên tham khảo nên để thiết

Trang 3

kế được những giáo án buổi 2 thực sự phù hợp với các đối tượng và phương pháp, hìnhthức dạy học phong phú đòi hỏi giáo viên phải thực sự dày công Trong khi đó, cường độlao động của giáo viên Tiểu học cao, thời gian hạn chế Vì vậy việc tiếp cận thông tinmới, việc nghiên cứu các tài liệu, soạn giáo án có phần hạn chế.

- Có giáo viên không dạy buổi 1 ở lớp đó nên học sinh nào nắm kiến thức kỹ năngnào ở mức độ nào, buổi 2 cần rèn cho em đó đến đâu là chưa thực sự sát bằng giáo

C CÁC GIẢI PHÁP

* GIẢI PHÁP 1: Sự thay đổi nhận thức của GV

- Mỗi giáo viên phải nắm bắt, hiểu thấu đáo nội dung và tinh thần chỉ đạo củangành về vấn đề tự chủ, linh hoạt, sáng tạo trong dạy học về lựa chọn nội dung để phùhợp đối tượng và đảm bảo chuẩn kiến thức và kỹ năng của từng lớp, ý thực được tráchnhiệm của mình khi thực hiện sự chỉ đạo đó

- Giáo viên phải hiểu về mục tiêu, nguyên tắc của dạy học buổi 2 để từ đó địnhhướng cho những thiết kế bài dạy phù hợp

- Hiện nay, GV phải quan niệm SGK, phân phối chương trình có thể sử dụng mộtcách linh hoạt nên khoảng sáng tạo hợp lý của GV rất lớn

- GV phải ý thức được rằng HS Tiểu học tiềm ẩn nhiều khả năng phát triển, song

do chưa có kinh nghiệm về cuộc sống nên các em tiếp thu không chọn lọc Bởi vậy: GVTiểu học giữ vai trò quyết định đến sự phát triển đúng hướng của các em, là nhân tốquyết định đối với chất lượng GD của mỗi lớp tiểu học, của từng HS tiểu học Hiểu điều

đó để GV định hướng cho mình trong công tác chuẩn bị

* GIẢI PHÁP 2: Dạy đến từng đối tượng HS, dạy theo nhu cầu người học một cách hợp lý

Trang 4

- Khi mọi đối tượng HS đều được học, mỗi một học sinh được giao từng công việc

cụ thể phù hợp với năng lực, sở trường thì các em sẽ hăng hái thực hiện, không khí lớphọc sôi nổi Muốn đạt được mục tiêu này giáo viên phải:

a Tìm hiểu, nắm bắt, phân loại đối tượng HS:

Đây là việc làm rất quan trọng, bởi lẽ khi phân loại được HS của lớp, giáo viên đóhình dung ra nhóm học sinh nào cần gì để giáo viên có kế hoạch Những nhóm HS nàocần phụ đạo gì? những nhóm HS nào cần bồi dưỡng gì?

b Chọn nội dung cho phù hợp với từng nhóm đối tượng HS:

Song song với việc nắm bắt, phân loại học sinh, giáo viên phải quan tâm đếnchuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt của từng bài, từng phần trong từng tiết học chính khóa ởbuổi 1 Với nội dung đó, ở buổi 2 học sinh chậm hoàn thành cần luyện kỹ năng gì? Emnào chưa nắm được chuẩn? Em nào hổng kiến thức, kỹ năng gì? Do nguyên nhân nào,cần đưa nội dung vào dạy và với lượng bài bao nhiêu còn HS khá giỏi cần mở rộng, khắcsâu hoặc nâng cao đến đâu Nên đưa dạng bài nào vào dạy ở phần nào là hợp lý, là tạođược điều kiện tốt nhất cho các em được cọ xát, phát triển năng khiếu Trong thực tế lênlớp, có những đơn vị kiến thức khi dạy buổi 2 HS chậm hoàn thành các em luyện để đạtchuẩn vững chắc một cách tự giác, hứng thú với nhiều biện pháp của giáo viên là xemnhư thành công Còn nhóm HS năng khiếu các em đó nắm chắc kiến thức cơ bản thìnhiệm vụ của giáo viên không được gò ép các em làm thui chột năng khiếu của HS Lúcnày giáo viên phải tạo cho các em cơ hội được tiếp xúc, được làm quen, được chủ độngchiếm lĩnh kiến thức ở mức độ cao hơn Điều đó đặt ra cho giáo viên phải chọn nội dungphù hợp với từng đối tượng

Ví dụ về một tiết dạy học buổi 2:

Luyện tập về dấu hiệu chia hết cho 2 và 5

( Toán lớp 4)

I Mục tiêu:

* Đối với học sinh yếu:

- Biết dấu hiệu chia hết cho 2 và 5

- Biết kết hợp dấu hiệu

Trang 5

chia hết cho 2 và 5.

* Đối với học sinh trung bình

- Biết dấu hiệu chia hết cho 2 và 5

- Biết kết hợp dấu hiệu chia hết cho 2 và 5

- Luyện kĩ năng làm bài

* Đối với học sinh khá, giỏi: Ngoài những mục tiêu như học sinh trung bìnhcòn yêu cầu cao hơn đó là: Vận dụng kiến thức về dấu hiệu chia hết cho 2 và 5 để

Làm những bài về chia có dư

- Đại diện Ban học tập đưa câu hỏi và gọi bạn trả lời:

+ Những số chia hết cho 2 là những số nào? Lấy ví dụ

+ Những số chia hết cho 5 là những số nào? Lấy ví dụ

+ Bạn có nhận xét gì về số vừa chia hết cho 2, vừa chia hết cho 5

- HS nx

- Giáo viên chốt lại kiến thức ôn

2 Hoạt động 2: Luyện kỹ năng và phát triển tư duy

Chia lớp thành các nhóm đối tượng: Học sinh yếu, trung bình, khá giỏi

* Đối với học sinh yếu: Củng cố lại kiến thức cơ bản của tiết chính khóa

Bài 1: Cho các số sau:

125; 678; 645; 1254; 1780; 1426; 575; 2170

a) Những số nào chia hết cho 2?

b) Những số nào chia hết cho 5?

c) Những số nào vừa chia hết cho cả 2 và 5?

+ Tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: Đố bạn ( Một bạn nêu câu hỏi, một bạn trảlời)

Trang 6

+ Cho học sinh chia sẻ để khắc sâu cách nhận biết về dấu hiệu chia hết cho 2 và 5.

* Đối với học sinh trung bình: Luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào làm bài tập.Ngoài bài tập của học sinh yếu thì làm thêm bài tập sau:

Bài 2: Với bốn chữ số 2; 4; 5; 0 hãy viết tất cả các số có 4 chữ số vừa chia hết cho

2 và 5

+ Tổ chức cho học sinh hoạt động theo hình thức cá nhân, sau khi học sinh hoànthành bài tập thì chuyển sang hình thức thi đua xem ai viết nhanh và đúng nhất.+ Chốt kiến thức

+ Lưu ý: Đối với những dạng bài mang tính củng cố kiến thức giáo viên nên gọinhững học sinh trung bình và học sinh yếu trình bày

* Đối với học sinh khá, giỏi: Ngoài việc luyện kĩ năng thì giúp học sinh phát triểnnăng lực tư duy Vì vậy ngoài các bài tập như học sinh trung bình thì giáo viên đưathêm bài tập sau:

Bài 3: Tìm số lớn nhất có 2 chữ số mà khi chia cho 2 và 5 đều dư 1.

+ Tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm 2

* GIẢI PHÁP 3: Đa dạng hóa các hình thức dạy học

Khi lên lớp dạy học ở buổi 2 nếu hình thức dạy học đơn điệu, nghèo nàn, học sinh

sẽ rất ngại học, chán học Bởi thế, bên cạnh việc chủ động chọn nội dung, thời lượngthích hợp thì giáo viên quan tâm đến việc làm phong phú các hình thức dạy học nhằmchống chán, tạo nhu cầu học cho học sinh và để phát huy tốt nhất vai trò chủ động sángtạo, ý thức tự học, tự rèn của học sinh Chẳng hạn, trong một tiết học buổi 2, giáo viên cóthể đan xen giữa hình thức học cá nhân, học nhóm, học cả lớp, thay đổi giữa các bài tậpdạng trắc nghiệm, bài tập tự luận, câu đố, xen kẽ giữa việc dùng các đồ dùng học tập nhưbảng con, phiếu bài tập, vở ô ly,…Cụ thể 1 số tiết trên lớp, 1 số tiết ngoài không gianphòng học, hay qua các sân chơi trí tuệ, qua các cuộc thi,… Thế nhưng dù ở hình thứcnào, dù phương pháp nào cũng cần đảm bảo:

+ Không ảnh hưởng đến thời lượng các tiết đó được cơ cấu cứng ở buổi 2

Trang 7

+ Tạo niềm tin, ổn định tâm lý, tạo tâm thế, nhu cầu học cho học sinh

+ Cách thức dạy học kết hợp nghệ thuật chủ nhiệm phù hợp với tính cách, năng lực, đặcđiểm tâm lý, hoàn cảnh từng học sinh để mọi học sinh đều thích học như Bác Hồ đã căndặn giáo viên tiểu học: “Tiểu học cần giáo dục các cháu thiếu nhi yêu Tổ quốc, yêu nhândân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công Cách dạy nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò

ép vào khuôn khổ người lớn, phải đặc biệt chú ý gìn giữ sức khỏe của các cháu” Đúngvậy, ta phải giáo dục HS có lòng nhân ái, có kiến thức, kỹ năng nhưng bằng phương phápnhẹ nhàng hiệu quả

*GIẢI PHÁP 4: Mạnh dạn điều chỉnh thời lượng, kết hợp đan xen các tiết học một cách hợp lý, tích hợp các kiến thức ở các lĩnh vực qua các sân chơi trí tuệ cho HS.

Ngoài những tiết Ôn luyện riêng biệt cho từng phân môn mà GV đó linh hoạt chọncác phương pháp, đa dạng hóa các hình thức lên lớp thì việc tạo những sân chơi trí tuệcho HS cũng vô cùng quan trọng bởi lúc đó các em được ôn kiến thức, được luyện kỹnăng, được phát triển toàn diện trong không khí thi đua sôi nổi, vui tươi, lành mạnh

Thực tế,thời khóa biểu nhà trường đó xây dựng nhằm đảm bảo mục tiêu giáo dụctoàn diện cho HS rất cụ thể cho từng lớp Song, trong quá trình dạy học ở buổi 2, ở một

số buổi học (có thể 1 tháng 1 lần) ta có thể đan xen các tiết vào nhau, xâu chuỗi các tiếttạo thành 1 buổi sinh hoạt câu lạc bộ (câu lạc bộ toán học, câu lạc bộ Tiếng Việt, câu lạc

bộ Khoa học, Lịch sử và Địa lí ), 1 buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp, 1 sân chơi trí tuệcho HS rất thú vị và hiệu quả

Ví dụ về một tiết dạy học buổi 2:

Cuộc thi: Rung chuông vàng ( Tổ chức vào tuần 27- Ôn tập giữa học kì II)

I Mục tiêu:

- Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cũng như khả năng ghi nhớ kiến thức của HS ở nhiềuphân môn bằng việc tổ chức 1 sân chơi trí tuệ Qua đó góp phần giáo dục toàn diện cho HS

Trang 8

III.Các hoạt động dạy - học:

1 Giới thiệu cách thức chơi( 1’)

2 Tổ chức cho HS trả lời các câu hỏi theo hình thức trò chơi rung chuông vàng

( 25-30’)

1.Từ ” cổ kính “ thuộc loại từ nào?

2.Mua 5m vải hết 600 000 đồng Hỏi mua 10m vải như thế hết bao nhiêu tiền?

3.Quá trình trứng kết hợp với tinh trùng gọi là gì?

4.Xác định chủ ngữ trong câu sau: Mùa xuân, trăm hoa đua nở

A.Mùa xuân B.trăm hoa C Mùa xuân,trăm hoa

A.tối B đêm C.khuya

8.Một năm có mấy tháng có 31 ngày?

9.Con sông lớn nhất miền Bắc là con sông nào?

10.Quốc Tử Giám nằm ở thành phố nào?

A Thành phố Hồ Chí Minh B Hà Nội C Hải Phòng

11.Tác giả của bài “Hạt gạo làng ta” là ai?

12 5giờ 30 phút bằng bao nhiêu phút?

13.Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta vào ngày, tháng, năm nào?

14 “Công danh trước mắt trôi như nước

Nhân nghĩa trong lòng chẳng đổi phương”

Em hãy cho biết đây là hai câu thơ của ai?

15 Tích của tất cả các số lẻ từ 1 đến 2007 có chữ số tận cùng là chữ số nào?

3 Tổng kết điểm và khen thưởng HS

* GIẢI PHÁP 5: Tăng cường các bài tập ứng dụng thực tế và các hoạt động trải nghiệm cho HS:

Trang 9

5.1 Đa dạng hóa các hình thức dạy học;Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học.

Khi lên lớp dạy học nếu hình thức dạy học đơn điệu, nghèo nàn, học sinh sẽ rấtngại học, chán học Bởi thế, bên cạnh việc chủ động chọn nội dung, thời lượng thích hợpthì giáo viên quan tâm đến việc làm phong phú các hình thức dạy học nhằm chống chán,tạo nhu cầu học cho học sinh và để phát huy tốt nhất vai trò chủ động sáng tạo, ý thức tựhọc, tự rèn của học sinh Giáo viên cần vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp dạyhọc nhằm tránh sự đơn điệu, nhàm chán đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động,tinh thần hợp tác,… cho học sinh Giáo viên có thể đan xen giữa hình thức học cá nhân,học nhóm, học cả lớp, thay đổi giữa các bài tập dạng trắc nghiệm, bài tập tự luận, câu đố,xen kẽ giữa việc dùng các đồ dùng học tập như bảng con, phiếu bài tập, vở ô ly; Cácphương tiện dạy học có kết nối Internet,…cùng các hình thức: dạy học cá nhân, dạy theonhóm, lớp, dạy ngoài lớp học,

Khi hoạt động nhóm, giáo viên có thể vận dụng linh hoạt bố trí nhóm từ 2 đến 6học sinh tùy theo điều kiện thực tế về không gian lớp học Giáo viên cần tạo mọi điềukiện để học sinh tự bộc lộ quan điểm của bản thân, quan sát, giúp đỡ các nhóm, các cánhân đặc biệt là những học sinh gặp khó khăn để phát huy hết năng lực của học sinh.Được như vậy tiết dạy sẽ đảm bảo 100% học sinh trong lớp đều hoàn thành công việccủa mình

5.2 Khuyến khích giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học, thiết kế bài tập mạnh dạn thoát ly thay đổi dữ liệu sách giáo kho khoa phù hợp, gắn với thực tế cuộc sống, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm; tổ chức tiết dạy ngoài không gian lớp học;

Hiện nay người giáo viên được chủ động trên bục giảng để hướng đến nhữngphương pháp giảng dạy sáng tạo, kích thích tính tích cực, chủ động, sáng tạo của họcsinh Với từng bài học cụ thể, căn cứ vào mục tiêu và chuẩn kiến thức kĩ năng, căn cứ vàonội dung dữ liệu trong sách giáo khoa mà giáo viên có thể xây dựng kế hoạch dạy họcthoát ly dữ liệu SGK từng phần hoặc thoát ly hoàn toàn Khi xác định được các nội dungdạy học có thể thoát ly SGK, người giáo viên chủ động, linh hoạt lựa chọn “con đường”

đi cho mình, có thể sử dụng những nguồn tài liệu gần gũi với cuộc sống học sinh Có thể

Trang 10

kết hợp nhiều phương pháp và cách thức tổ chức dayh học cho phù hợp với đặc điểm nộidung và trình độ học sinh trong lớp( dạy học tích hợp, phân hóa, học qua trải nghiệm(thảo luận, thực hành cân, đong, đo đếm,cắt ghép )) như thế nào để có dữ liệu phục vụcho việc giảng dạy đảm bảo đúng chuẩn kiến thức kĩ năng của bài học, môn học, họcsinh tiếp thu một cách nhẹ nhàng, hiệu quả, thích thú và ghi nhớ bài học qua hoạt độngthực hành…

* Với một số bài tập giáo viên có thể thay đổi ngữ liệu; dữ liệu

(Tùy theo bài học có các dữ liệu và ngữ liệu có thể phù hợp với đối tượng học sinhvùng này nhưng không phù hợp với đối tượng học sinh vùng khác; một số sự vật, hiệntượngchưa gần gũi với các em, giáo viên có thể lựa chọn các ngữ liệu tương đồng vớiSGK để thay thế)

Ví dụ: Bài: Luyện tập (trang 83, lớp 4)

Mỗi bánh xe đạp cần có 36 nan hoa Hỏi có 5260 nan hoa thì lắp được nhiều nhất bao nhiêu chiếc xe đạp 2 bánh và còn thừa bao nhiêu nan hoa?

Do phương ngữ vùng miền, địa phương nơi học sinh sống và học sinh thường gọi

tên đũa xe (chứ không gọi đó là nan hoa) nên khi dạy giáo viên giới thiệu cách gọi khác

nhau và thay mới ngữ liệu cho phù hợp với học sinh

** Có thể thay bằng ngữ liệu sau:

Mỗi bánh xe đạp cần có 36 đũa xe Hỏi có 5260 đũa xe thì lắp được nhiều nhất bao nhiêu chiếc xe đạp 2 bánh và còn thừa bao nhiêu chiếc đũa xe?

Thông qua việc thay đổi ngữ này giúp học sinh:

- Tăng cường khả năng quan sát thực tế và vận dụng toán học

- Phát triển năng lực tính toán, năng lực giao tiếp

Ví dụ ở tiết Luyện tập (trang 101, toán 4 về ki-lô-métvuông)

Trang 11

** Có thể thay bằng ngữ liệu sau:

Bài 2: Tính diện tích khu đất hình chữ nhật:

a) Khu đất quy hoạch chung cư mới ngay cạnh trường học của em có chiều dài3km và chiều rộng 2km

b) Khu cánh đồng làng em có chiều dài 2km, chiều rộng là 1000m

Bài 3: GV cung cấp thay số liệu diện tích hiện nay(đảm bảo tính thực tế)

Cho biết diện tích của 3 thành phố là: (theo số liệu năm 2019)

a) So sánh diện tích của: Hà Nội và Đà Nẵng; Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh;Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội

b) Thành phố nào có diện tích lớn nhất ? có diện tích bé nhất?

(GV có thể cung cấp thêm về diện tích của tỉnh Hải Dương là 1648 km2 và huyện

là 165km2 và xã là gần 8km2)

Trang 12

Lưu ý: Bảng số liệu về diện tích của 3 thành phố này còn dùng để thay dữ liệu cho bài tập số 2 trong tiết ôn tập về biểu đồ, tr164, Toán 4

Bài 5: GV thay số liệu về mật độ dân số

Mật độ

(người/km2)

2.398 người/km2(Quận trung tâmnội thành khoảng

30500 người/km2

1.045 người/ km2(phố trung tâmkhoảng:

4552người/km2

4.292 người/ km2(Quận trung tâmnội thành khoảng:

40800 người/km2

Từ đó học sinh trả lời các câu hỏi theo nội dung sách giáo khoa đã định hướng và

theo số liệu giáo viên cung cấp học sinh hiểu rõ hơn về khái niệm mật độ dân số

Thông qua việc thay đổi dữ liệu này giúp học sinh:

- Tăng cường khả năng tìm hiểu thực tế và vận dụng toán học

- Phát triển năng lực tính toán, năng lực giao tiếp, mô hình toán học…

Ví dụ ở tiết Luyện tập về diện tích hình thoi (trang 141, toán 4)

Bài 2: Một miếng kính hình thoi có độ dài các đường chéo là 14cm và 10 cm Tính

ô hình thoi đó (Khuyến khích tính diện tích tất cả các ô hình thoi có trong mỗi khung cửa sổtại lớp em)

Thông qua việc thay đổi ngữ này giúp học sinh:

- Tăng cường khả năng quan sát thực tế và vận dụng toán học

- Phát triển năng lực tính toán, năng lực giao tiếp

- Phát triển năng lực tư duy hình học, trí tưởng tượng không gian, năng lực tínhtoán, mô hình hoá toán học…

Khi giảng dạy, giáo viên cần đưa ra những ví dụ cụ thể, quen thuộc và dễ hiểu đểgiúp học sinh hiểu kiến thức Về ý tưởng thiết kế các bước dạy học, ban đầu, giáo viên

Ngày đăng: 30/11/2021, 01:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w