1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng Luật Thủy sản của một số quốc gia trên thế giới

38 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 322,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khai thác thủy sản tại Nauy được quy định thông qua một tập hợp các cơ chếkhác nhau, bao gồm các quy định đầu vào như hạn chế số lượng tàu khai thác, cácquy định về kỹ thuật như quy định

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng Luật Thủy sản

của một số quốc gia trên thế giới

Thực hiện Nghị quyết số 22/2016/QH14 của Quốc hội khóa XIV về điều chỉnhchương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2016 và chương trình xây dựng Luật,Pháp lệnh năm 2017; Quyết định số 1840/QĐ-TTg ngày 23/9/2016 của Thủ tướngChính phủ về phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật,pháp lệnh, nghị quyết được bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm

2016 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017, Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn được phân công chủ trì soạn thảo Luật Thủy sản (sửa đổi)

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức nghiên cứu một số Luật Thủysản của một số nước trên thế giới để học tập kinh nghiệm xây dựng luật của quốc tế.Việc nghiên cứu pháp luật về thủy sản của một số nước trên thế giới sẽ đưa ra nhữngkinh nghiệm quan trọng cho việc tiến hành sửa đổi Luật Thủy sản Việt Nam Kết quảxem xét, đánh giá các luật này có thể được sử dụng như đầu vào hữu ích đối với việcsửa đổi của Luật Thủy sản Việt Nam

Pháp luật Na-uy, Đạo luật Magnus-Stevens (Mỹ), Đạo luật về khai thác và nuôitrồng thủy sản nói chung Chile, Đạo luật về thủy sản của Scotland, và Luật Thủy sảnTrung Quốc, Luật Thủy sản của Thái Lan sẽ được sử dụng để nghiên cứu, minh họacác xu hướng và diễn biến trong pháp luật quốc gia và xu hướng phát triển của thếgiới Luật Thủy sản của một số nước châu Á khác cũng được xem xét để trở thành đầuvào cho việc đánh giá Luật Thủy sản Việt Nam, bởi vì tình trạng về cấu trúc tàu khaithác, thủy sản, và các loài là tương tự như các điều kiện ở Việt Nam Tuy nhiên, kếtquả nghiên cứu, đánh giá pháp luật của các quốc gia có ngành công nghiệp thủy sảnhoặc công nghiệp nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh sẽ là đầu vào, là "các bài họckinh nghiệm" quý báu cho việc soạn thảo Luật Thủy sản Việt Nam (sửa đổi)

1 Pháp Luật về Thủy sản Nauy- Luật và các nguyên tắc

Do phần lớn các nguồn lợi ở vùng nước thuộc thẩm quyền của Nauy bị khaithác, việc phát triển chung ở Na uy là nhằm hướng tới việc giảm số lượng tàu đánhbắt và số tàu này sẽ hoạt động có hiệu quả hơn Từ lâu, đây đã trở thành chính sáchtổng thể Lý do chính là do việc cần thiết phải tạo điều kiện thuận lợi đối với các cánhân tham gia vào khai thác thương mại Mục đích chính trị vẫn là duy trì đội tàuđánh bắt composite về mặt kích cỡ và thể loại, đặc biệt là duy trì đội tàu khai thác ven

bờ có các tàu có kích cỡ nhỏ

Trong năm 2007, số lượng người có nghề nghiệp chính hoặc nghề thứ hai lànghề đánh bắt là vào khoảng 13 000 người và số lượng tàu được sử dụng vào việckhai thác trong cả năm là khoảng 1700 tàu Tuy nhiên, một số lượng lớn các tàu chỉvận hành vào việc khai thác trong một giai đoạn trong năm, và khi bao gồm cả số

Trang 2

lượng này thì số lượng tàu đánh bắt được đăng ký ở Nauy là vào khoảng 7000 Ngoài

ra, 10.000 tàu được sử dụng trong nhà máy chế biến thủy sản

Trong số 1700 tàu vận hành quanh năm, có khoảng 1500 tàu là tàu khai thácven bờ với sức chứa tối đa là dưới 300 mét khối Hầu hết các tàu này có chiều dài tối

đa là 28 mét

Trong khi nghề khai thác thủy sản là một phần của cuộc sống ven biển ở Na uy

và có vai trò cốt lõi đối với cộng đồng ven biển, thì ngành công nghiệp nuôi trồngthủy sản còn khá mới Ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản ở Nauy được thành lậpvào cuối những năm 1960 Kể từ đó đến nay, ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản

đã phát triển để trở thành ngành công nghiệp đa dạng hóa Việc sản xuất, nuôi trồngthủy sản đã phát triển từ ngành công nghiệp nhỏ, sử dụng một số lượng lớn lao độngthủ công, trở thành các công ty quốc tế lớn sử dụng các kỹ thuật sản xuất hiện đại vàphát triển việc sản xuất tự động với quy mô lớn Chỉ có các khu vực nước biển mớiđược giao cho hoạt động nuôi trồng thủy sản, ngoài hoạt động ấp trứng và hoạt độngsản xuất cá giống

Hoạt động nuôi trồng thủy sản diễn ra ở hầu hết các bờ biển Nauy Bờ biển dàiđược bảo vệ, các khu vực được tiếp cận và vùng nước biển sạch với tỷ lệ thay nướccao và chất lượng nước tốt là các điều kiện sinh học tiên quyết đối với sản xuất nuôitrồng thủy sản Cá hồi là loài chủ yếu trong nuôi trồng thủy sản

Trong nuôi trồng thủy sản, số lượng giấy phép đối với các khu vực nuôi trồngtrong năm 2007 là 1509 giấy phép 1157 trong số đó được cấp cho nuôi cá (cá hồi),trong khi số còn lại cấp cho các loài thủy sản và nhuyễn thể

Ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản tại Nauy được quy định bởi các luậtrộng rãi và các quy định cơ bản Các nguyên tắc chính và các quy chế quan trọngđược nêu lên trong các đạo luật, trong khi phạm vi rộng của các điều khoản được nêulên trong các quy định

1.1 Luật nuôi trồng thủy sản

Ngành nuôi trồng thủy sản được quy định bởi Luật ngày 17 tháng 6 năm 2005liên quan đến nuôi trồng thủy sản (Luật Nuôi trồng Thủy sản) Các điều khoản về antoàn thực phẩm và sức khỏe thủy sản áp dụng trong nuôi trồng thủy sản được quyđịnh trong luật thực phẩm, chương 4

Mục tiêu của Luật Nuôi trồng Thủy sản là nhằm cải thiện và nâng cao lợinhuận và tính cạnh tranh của ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản trong khuôn khổphát triển bền vững và đóng góp vào việc tạo nên giá trị của dọc bờ biển Nauy, LuậtThủy sản, phần 1 Luật cũng khuyến khích việc tạo giá trị thông qua việc khai thác cólợi một cách tối ưu về mặt kinh tế xã hội và thông qua việc xem xét môi trường vàviệc sử dụng vùng ven biển

Luật Nuôi trồng thủy sản cũ (Fish Farm Act), được thay thế bởi Luật Nuôitrồng Thủy sản (Aquaculture Act) vào năm 2005, được thông qua vào năm 1985 Tạithời điểm đó, mối quan tâm chính của các nhà chức trách là kết hợp nền công nghiệpsẵn có với hệ thống cấp giấy phép và bảo đảm các hoạt động nuôi trồng thủy sản mớiđược thành lập một cách có trách nhiệm Kể từ năm 1985, ngành công nghiệp nuôitrồng thủy sản đã trải qua sự phát triển rộng rãi Để đáp ứng các nhu cầu của ngànhcông nghiệp này và cùng lúc bảo vệ được sự phát triển bền vững, luật về môi trường,sức khỏe thủy sản và luật mới linh hoạt hơn đã được thông qua vào năm 2005

2

Trang 3

Bộ Thủy sản và các Vấn đề Bờ biển dự tính rằng sẽ có tỷ lệ thay đổi lớn trongngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản trong các năm sắp tới Ngoài ra, những xemxét về môi trường sản xuất thân thiện, an toàn thực phẩm, sức khỏe thủy sản là cácvấn đề sẽ được quan tâm ngày càng nhiều hơn.

a) Yêu cầu về giấy phép

Căn cứ vào Luật Nuôi trồng Thủy sản, giấy phép được yêu cầu phải liên quanđến các hoạt động nuôi trồng thủy sản ở Nauy, làm cho việc hoạt động thủy sản không

có giấy phép trở nên bất hợp pháp, theo phần 4 của Luật Nuôi trồng Thủy sản Giấyphép nuôi trồng thủy sản là tập hợp các quyền và nghĩa vụ của người giữ giấy phép.Các quyền và nghĩa vụ của người giữ giấy phép được nêu lên trong các quy định

chung áp dụng với các hoạt động nuôi trồng thủy sản Ngoài ra, các quyền và nghĩa

vụ sẽ được nêu lên trong giấy phép Các phần chính của giấy phép được nêu lên trong phần 5 của Luật Thủy sản, trong đó chỉ ra rằng: "giấy phép nuôi trồng thủy sản cho phép việc sản xuất một số loài cụ thể tại một số giới hạn khu vực địa lý bị hạn chế sử dụng trong phạm vi của giấy phép" Các nhà chức trách có thể đưa ra các quy

định liên quan đến nội dung của giấy phép nuôi trồng thủy sản

Lý do đằng sau yêu cầu phải có giấy phép khá đơn giản Các nhà chức tráchphải bảo vệ tổng thể các mối quan tâm về xã hội và môi trường, các mối quan tâm nàykhông thể được bảo vệ bởi cá nhân một ngành nào Việc chấp thuận từ trước các hoạtđộng liên quan đến các vấn đề về môi trường và khu vực cũng là những lý do quantrọng để có yêu cầu về giấy phép Hệ thống cấp giấy phép cho các nhà chức tráchtrách nhiệm đánh giá hậu quả đối với môi trường trước khi cấp giấy phép Hạn chế vềcấp giấy phép và các khu vực khai thác tại các vùng địa lý là cần thiết để đảm bảo sứckhỏe thủy sản tốt và phòng chống dịch bệnh

Việc cấp giấy phép là quyết định được các nhà chức trách đưa ra trên cơ sởthực thi chức trách công cộng Nhà chức trách có quyền quyết định khi nào các giấyphép mới sẽ được cấp phát và khu vực nào được cấp giấy phép

Giấy phép cho các hoạt động nuôi trồng thủy sản có tính thương mại nhất, nhưnuôi cá hồi, được cấp trong các cuộc cạnh tranh để được cấp giấy phép mà ở đó, một

số lượng có giới hạn giấy phép được quảng cáo trên cơ sở các tiêu chuẩn cụ thể Điều

đó có nghĩa là các đối tượng xin cấp giấy phép phải cạnh tranh để có được giấy phép.Sau đó, giấy phép được cấp cho đối tượng mà được các nhà chức trách cho là đáp ứngtốt nhất các tiêu chuẩn được cấp giấy phép Tiền chi trả cho các giấy phép nuôi trồng

cá hồi đã được nhận từ năm 2002 Các vòng cấp giấy phép cho phép các nhà chứctrách kiểm soát việc phát triển nuôi trồng thủy sản và đảm bảo việc cấp giấy phép mớiphù hợp với sự phát triển bền vững và quan tâm đến cả vấn đề môi trường và sứckhỏe thủy sản

Liên quan đến các loài khác, giấy phép được cấp tự do, có nghĩa là giấy phépđược cấp cho các đối tượng đáp ứng được các yêu cầu về giấy phép Ghi nhận sự cầnthiết phải quy định một số giấy phép nhằm đạt được sự phát triển bền vững ngànhcông nghiệp nuôi trồng thủy sản, gần đây, Chính phủ đã đề xuất với Quốc Hội sửa đổiLuật Nuôi trồng thủy sản thông qua việc cho các nhà chức trách thẩm quyền ngừngcấp giấy phép nhằm tiến hành đánh giá tác động phù hợp đối với môi trường Nếuđược thông qua, các nhà chức trách sẽ có một công cụ có giá trị để ngăn chặn việc xâydựng các phương tiện trong mỗi vịnh hẹp hoặc khu vực được xác định

Trang 4

Hệ thống cấp giấy phép cho phép các nhà chức trách xem xét các mối quanngại về kinh tế xã hội và môi trường cũng như cho phép việc sử dụng tốt nhất các khuvực ven biển khi cấp giấy phép và khi đưa ra các quy định về xây dựng, vận hành, vàngừng sử dụng các phương tiện nuôi trồng thủy sản

Luật Nuôi trồng thủy sản thiết lập quyền được quy định dưới luật về chuyểnnhượng và thế chấp giấy phép Giấy phép có thể được chuyển nhượng giữa hai bên tưnhân mà không cần sự chấp thuận của cơ quan công quyền hoặc không cần cấp giấyphép mới Điều đó có nghĩa là không có chấp thuận từ trước về việc ai có thể giữ giấyphép sau khi quyết định cấp giấy được nhà chức trách đưa ra Điều này trái với hệthống cấp giấy phép cho tàu khai thác của Nauy Để quản lý các giấy phép và các cánhân giữ giấy phép, một sổ đăng ký đã được lập bởi các nhà chức trách

b) Cơ chế một cửa

Một hệ thống được thiết lập trong đó đối tượng xin được cấp giấy phép chỉ phảilàm việc với Ban giám đốc nghề cá Ban giám đốc nghề cá có trách nhiệm liên hệ vớicác cục khác và các nhà chức trách địa phương Khi xem xét đơn xin cấp giấy phép,

cơ quan thủy sản phải đảm bảo nhận được các quyết định và bản tường trình từ các cơquan địa phương và nhiều nhà chức trách của ngành, như nhà chức trách môi trường,

an toàn thực phẩm và nhà chức trách ven biển, cũng như nguồn nước và năng lượng

Hệ thống này đảm bảo rằng các thông tin thích hợp được xem xét khi cấp giấy phép

và đối tượng đề nghị chỉ phải làm việc với một nhà chức trách công quyền

Giấy phép sản xuất thủy sản chỉ được cấp khi nó có trách nhiệm với môi trường

và không có tranh cãi mang tính quyết định nào từ các nhà chức trách chống lại việccấp giấy phép

c) Cơ chế xử phạt

Để đảm bảo việc tuân thủ các quy định được đề ra trong Luật Nuôi trồng thủysản và trong quy định cơ bản, hệ thống xử phạt cưỡng bức và xử phạt xâm phạm đượcthiết lập, phần 28 và 30 Luật Nuôi trồng Thủy sản

Xử phạt cưỡng bức là xử phạt tiếp diễn có hiệu lực kể từ khi thời hạn được xácđịnh để tuân thủ một mệnh lệnh, nếu không thực hiện đúng thời hạn này (được gọi lànhững thiệt hại trong khi thi hành, theo bản tiếng Anh của Luật Nuôi trồng Thủy sản)

Cơ quan giám sát có thể áp dụng việc xử phạt cưỡng bức đối với một bên liên canhoặc nhiều người có liên quan để đảm bảo việc tuân thủ các quy định trong Luật Nuôitrồng thủy sản

Cơ quan giám sát có thể ra lệnh cho bất kỳ cá nhân nào có chủ ý hoặc sơ suất viphạm các quy định hoặc quyết định được đề ra trong luật phải nộp phạt vi phạm Tiềnnộp phạt vi phạm phải tương xứng với bất kỳ lợi ích nào bên vi phạm thu được từ kếtquả của việc vi phạm Chi phí cho cơ quan giám sát liên quan đến các biện pháp vàcông việc kiểm soát trong trường hợp này cũng phải được xem xét

Ban giám đốc nghề cá đã ra lệnh cho một số công ty vi phạm đối với giới hạn

về sinh khối tối đa được phép trong giấy phép phải trả tiền phạt vi phạm nặng, đểđảm bảo các công ty tuân thủ sản lượng khai thác tối đa cho phép

Ngoài ra, bất kỳ cá nhân nào chủ định hoặc sơ ý vi phạm các điều khoản đượcmiêu tả và căn cứ vào Luật Nuôi trồng thủy sản sẽ phải nộp phạt hoặc phạt tù khôngquá một năm Trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có thể án tù không quá hainăm có thể được áp dụng

4

Trang 5

Ở phạm vi rộng, Luật Thực phẩm là đạo luật có hiệu lực, bao gồm các nguyêntắc cơ bản đối với việc sản xuất thực phẩm và an toàn thực phẩm tại Nauy Các quychế và quy định về các sản phẩm thủy sản được tìm thấy trong Quy định về Chấtlượng đối với các sản phẩm thủy sản và trong Quy định về Sức khỏe Thủy sản LuậtThực phẩm và Quy định về Chất lượng đã thi hành các quy chế của Cộng đồng Châu

Âu về sản xuất và an toàn thực phẩm

Cả Luật Thực phẩm và Quy định về chất lượng đều áp dụng với chuỗi thựcphẩm bao gồm marketing, sản xuất và vận chuyển các sản phẩm thủy sản Quy địnhcũng bao quát các sản phẩm thủy sản có nguồn gốc từ nước ngoài

Theo các quy chế cho các cơ sở, các khu vực sản xuất và khu vực trung chuyểnphải được Nhà chức trách về An toàn Thực phẩm của Nauy phê duyệt sau khi Nhàchức trách đã phê duyệt liệu cơ sở có thực hiện các quy chế trong quy định không.Nhà chức trách giao cho cơ sở một con số chấp thuận đặc biệt và Nhà chức trách giữmột cuốn sổ trong đó ghi lại danh sách các cơ sở được phê duyệt Việc phê duyệt,chấp thuận có thể bị rút lại nếu tất cả hoặc một bộ phận của cơ sở, như nguyên liệuthô, hoặc việc xử lý các sản phẩm không còn đáp ứng các yêu cầu được nêu lên trongquy định

Các cơ sở và các tàu đông lạnh phải có một hệ thống kiểm soát được chấpthuận dựa trên HACCP Hệ thống kiểm soát được sửa đổi thường xuyên bởi NhàChức trách Có thể dễ dàng kiểm soát các bến cảng mà không có các sản phẩm để bántrực tiếp

Quy định về sức khỏe thủy sản: Các dịch bệnh xuất hiện tự nhiên ở các quầnđàn thủy sản tự nhiên cũng có thể được tìm thấy ở các khu vực nuôi trồng thủy sản.Việc phòng ngừa dịch bệnh là rất quan trọng đối với việc duy trì ngành công nghiệpthủy sản có trách nhiệm Ngược lại, việc bùng phát dịch bệnh thủy sản truyền nhiễm

có thể trở nên hủy hoại đối với công nghiệp sản xuất thủy sản trong một quốc gia Ví

dụ gần đây là Chile, nơi mà cả ngành công nghiệp nuôi trồng thủy sản đang gặp khókhăn nghiêm trọng do dịch bệnh do quản lý không bền vững

Theo các điều kiện trong Luật Thực phẩm, một hệ thống riêng rẽ các công cụ

đã được thiết lập liên quan đến các dịch bệnh thủy sản truyền nhiễm mà không thểchữa bằng việc tiêm vaccine hoặc sử dụng thuốc kháng khuẩn Các quy chế và quyđịnh còn mới và đã trở nên phù hợp với luật pháp của EU Các quy chế và quy địnhnày bao gồm theo dõi, kiểm soát, và chống các dịch bệnh liên quan bằng các biệnpháp như thắt chặt, giết mổ, bỏ chống các địa điểm có dịch bệnh cũng như hạn chếvận chuyển và mua bán các mặt hàng thủy sản và nguyên liệu hữu cơ Các điều khoảnnày được quy định trong quy định về Sức khỏe Thủy sản Lý do là nhằm áp đặt các

Trang 6

biện pháp phòng chống công nghiệp nhằm giữ cho việc nuôi trồng thủy sản được lànhmạnh thay vì việc phải sử dụng thuốc.

Một công cụ quan trọng trong ngữ cảnh này là việc sử dụng các chương trìnhgiám sát quốc gia Mục đích của các chương trình giám sát đã có là theo dõi các dịchbệnh lạ và nghiêm trọng chưa xuất hiện ở Nauy Trái lại, việc có được cái nhìn tổngquan về tất cả các dịch bệnh tìm thấy ở bất kỳ thời điểm nào là rất quan trọng.Chương trình báo cáo và theo dõi chung ở cấp quốc gia đối với tất cả dịch bệnh thủysản đang được phát triển trong thời gian hiện tại Cái nhìn tổng quan từ chương trìnhnày có thể tạo nền tảng cho các sáng kiến cộng đồng về các dịch bệnh trong nuôitrồng thủy sản

Các điều khoản về việc bỏ trống các khu vực nuôi trồng thủy sản hơn hai thángsau hai vòng sản xuất là đặc biệt quan trọng trong việc phòng chống dịch bệnh Vìvậy, việc này đã được áp dụng này đối với tất cả các khu vực ngay cả khi không códịch bệnh Mặt khác, nếu tìm thấy dịch bệnh, các nhà chức trách có thể quyết định bỏkhu vực nuôi trồng đó trong khoảng thời gian hơn hai tháng

1.3 Luật về Nguồn lợi Sinh vật Biển

Hoạt động khai thác thủy sản ở Nauy được quy định trong Luật ngày 6 tháng 6năm 2008 về Quản lý Nguồn lợi sinh vật biển sống (Luật Nguồn lợi sinh vật biển).Trong chương này, tôi sẽ nhấn mạnh một số vấn đề mà chúng ta đã tập trung trongsuốt quá trình soạn luật

Việc khai thác nguồn lợi sinh vật biển tại Nauy đã có từ lâu đời và là nền tảngcho sự phát triển ở khu vực dọc bờ biển trong nhiều thế kỷ Tầm quan trọng của việckhai thác và các mâu thuẫn giữa các nhóm ngư dân sử dụng các loại tàu đánh bắt khácnhau và các mâu thuẫn giữa các ngư dân địa phương và các đối tượng ngư dân khác

đã dẫn đến việc pháp luật có tính bao quát rộng được đưa vào hơn một trăm nămtrước Mục đích là để phân chia các khu vực khai thác cho các loại tàu khai thác vàngư cụ khác nhau để tránh mâu thuẫn và đảm bảo rằng các tàu khai thác nhỏ có thểđánh bắt ở vùng nước ven bờ mà không có cạnh tranh từ các tàu lớn hơn và hiệu quảhơn Do đó, luật thủy sản Nauy đã được phát triển hơn một trăm năm

Trong các năm sau, trọng tâm được đặt vào luật về quản lý hạn ngạch, hạn chếtiếp cận và kiểm soát nguồn lợi Luật về Nguồn lợi Sinh vật Biển năm 2008 có hiệulực từ ngày 1 tháng 1 năm 2009 và thay thế Luật Khai thác Thủy sản ở vùng nướcbiển năm 1983

Luật về Nguồn lợi Sinh vật Biển là luật có hiệu lực, tạo hành lang pháp lý choviệc quản lý các nguồn lợi sinh vật biển sống tự nhiên tại Nauy Luật bao gồm vànhấn mạnh một số nền tảng và các nguyên tắc cơ bản trong quản lý nguồn lợi sinh vậtbiển sống tự nhiên

Khai thác thủy sản tại Nauy được quy định thông qua một tập hợp các cơ chếkhác nhau, bao gồm các quy định đầu vào (như hạn chế số lượng tàu khai thác), cácquy định về kỹ thuật như quy định ngư cụ, các khu vực bị hạn chế đánh bắt, vv,… vàcác quy định về sản lượng dưới dạng hạn ngạch đối với các loài thủy sản có giá trịthương mại nhất, sản lượng được quy định bằng hạn ngạch đối với mỗi tàu khai thác

Hệ thống hạn ngạch được áp dụng với khoảng 30 loài, trong khi khoảng 80-90 loàiđược thu hoạch thương mại tại Nauy Đối với các loài mà không xác định hạn ngạch,bao gồm các quy định đầu vào và các quy định về kỹ thuật Đối với mốt số loài,

6

Trang 7

không có biện pháp quy định nào được áp dụng Tuy nhiên, tình trạng này đang thayđổi

a) Các khía cạnh cơ bản của Luật về Nguồn lợi sinh vật biển

Luật về nguồn lợi sinh vật biển mới tiếp tục các hệ thống quy định và các cơchế được thiết lập trong Luật Khai thác Thủy sản ở Vùng nước biển và có trước phápluật Tuy nhiên, có những thành phần cơ bản mới trong luật mà sẽ được nêu bật trongchương này

Trong khi luật về khai thác thủy sản ở vùng nước biển cũ chỉ tập trung vào cá,các loài động vật biển có vú, nhuyễn thể và các loài tôm, luật mới có phạm vi rộng,bao quát tất cả các nguồn lợi sinh vật biển sống tự nhiên và bao gồm cả các nguồn lợigen biển Lý do là nguồn lợi được sử dụng ngày càng nhiều hơn, đặc biệt là các loàihữu cơ và động vật phù du Các loài hữu cơ này có tầm quan trọng lớn do chúng lànguồn thức ăn chủ yếu của cá và các sinh vật biển có vú và các biện pháp điều chỉnhcần phải được thông qua Vì vậy, việc đạo luật mới cho phép các nhà chức trách đưa

ra các quy định đối với nguồn lợi này là rất quan trọng Phạm vi rộng bao quát tất cảcác nguồn lợi sinh vật biển sống cũng tạo sự linh hoạt cho các nhà chức trách trongngữ cảnh là một cuộc thảo luận xem liệu một loài nào đó được bao quát trong luật haykhông được xem là thừa Các nguồn lợi sinh vật biển sống tự nhiên và các nguồn lợigen biển được bao quát trong luật, bất kể kích cỡ và hình dạng như thế nào

Luật áp dụng với tất cả các hoạt động thu hoạch và các loại hình sử dụng cácnguồn lợi sinh vật biển sống tự nhiên và các nguồn gen từ đó Ngoài ra, luật cũng ápdụng với các hoạt động khác có liên quan đến thu hoạch và sử dụng sản lượng, nhưviệc sang mạn, chuyển phát, cập bến, nhận hàng, lưu giữ, sản xuất và đưa ra thịtrường Việc này nhằm đảm bảo thu hoạch và các loại hình sử dụng khác diễn ra theocác điều khoản được quy định trong hoặc theo luật

Mục tiêu của luật là nhằm đảm bảo việc tính bền vững và tiết kiệm của việcquản lý lợi nhuận các nguồn sinh vật biển sống tự nhiên và các nguồn gen từ đó, vànhằm cải thiện công việc và sự ổn định trong các cộng đồng ven bờ, theo Luật vềNguồn lợi Sinh vật biển, phần 1 Điều này thể hiện rằng việc quản lý bền vững cácnguồn sinh vật biển sống tự nhiên chỉ là một trong hai mục tiêu chính cùng với việcquản lý lợi nhuận một cách kinh tế Cụm từ "quản lý lợi nhuận một cách kinh tế" cónghĩa là có lợi ích về mặt kinh tế đối với toàn xã hội chứ không phải đối với mỗi ngưdân

Lý do căn bản là việc quản lý bền vững là điểm khởi đầu đối với tất cả các việcquản lý và cũng là điều kiện cần thiết đối với quản lý lợi nhuận một cách kinh tế vàthời hạn dài, bền vững sinh lợi từ các nguồn lợi Quản lý lợi nhuận một cách kinh tếcác nguồn lợi, đồng thời, thể hiện rằng bản thân việc kinh doanh có lợi nhuận cao làmột mục đích về quản lý quan trọng Đó cũng là chiếc cầu nối với Luật Tham giaKhai thác thủy sản, trong đó có mục tiêu là điều chỉnh cường lực khai thác nguồn lợicủa các tàu đánh bắt nhằm đảm bảo việc khai thác bền vững và hợp lý các nguồn lợithuỷ sản Quy định và hạn chế việc tiếp cận với các nguồn lợi thuỷ sản, vì vậy, có thểvừa có tầm quan trọng về mặt kinh tế lẫn hệ sinh thái

Mục tiêu thứ hai là nhằm cải thiện việc làm và củng cố việc ổn định cuộc sốngcủa các cộng đồng ven biển, trong đó tạo thẩm quyền cho các nhà chức trách cân nhắc

và xem xét các nhân tố kinh tế xã hội khi quản lý các nguồn lợi Việc khai thác thuỷsản có tầm quan trọng quyết định đối với các cộng đồng ven biển dọc bờ biển Nauy,

Trang 8

vì vậy, khi thông qua các biện pháp điều chỉnh, phải chú ý đến đặc điểm này Để cảithiện việc làm và củng cố việc ổn định cuộc sống, các ngư dân cần phải nhận được kếtquả tốt từ việc khai thác, trong đó đòi hỏi quản lý có trách nhiệm các nguồn lợi cũngnhư các cách thức quản lý và hạn chế cường lực khai thác Vấn đề này được khai thácsâu hơn trong chương 4.5 về Luật Tham gia.

Bên cạnh mục tiêu được nêu lên trong phần 1, phần 7 điều thứ hai Luật về cácnguồn lợi biển cũng đặt ra các xem xét cơ bản, trong đó việc quản lý các nguồn lợibiển sống tự nhiên phải được gắn với tầm quan trọng Các xem xét này bao gồm:

Một cách tiếp cận thận trọng, phù hợp với các hiệp định và hướng dẫn quốc tế,cách tiếp cận về hệ sinh thái mà trong đó quan tâm đến các môi trường sống và sự đadạng sinh học, kiểm soát có hiệu quả việc thu hoạch và các hình thức sử dụng nguồnlợi khác, phân chia các nguồn lợi phù hợp, và các cách thức khác, có thể góp phầnđảm bảo việc làm và duy trì việc ổn định cuộc sống của các cộng đồng ven biển, sửdụng tốt nhất các nguồn lợi, thích nghi với môi trường biển, thị trường, và các ngànhcông nghiệp, việc đảm bảo các biện pháp và thu hoạch và cách thức sử dụng ngư cụcũng lưu ý đến nhu cầu giảm tối đa các tác động tiêu cực đối với các nguồn lợi sinhvật biển Việc đảm bảo các biện pháp quản lý góp phần duy trì nền tảng vật chất chovăn hoá bản xứ

Mục tiêu trong phần 1 cùng với các xem xét cơ bản trong phần 7 thiết lậpkhung pháp lý để đưa vào tất cả các quyết định quản lý Theo mục tiêu đó, đạo luậtcần phải đảm bảo rằng việc quản lý bền vững và các xem xét cơ bản trong quản lýphải thể hiện là một cách tiếp cận thận trọng, một cách tiếp cận về hệ sinh thái và cáccách thức kiểm soát có hiệu quả

Trong quá trình soạn thảo Luật về các nguồn lợi biển, trọng tâm được xác định

là mục tiêu và các xem xét cơ bản phải phản ánh tích cực và nhấn mạnh các nghĩa vụcủa Nauy đối với các thỏa thuận , sắp xếp, và hướng dẫn quốc tế, và nhằm đảm bảoviệc quản lý bền vững trong thời gian dài; quản lý phải dựa trên các tư vấn khoa họcsẵn có, lưu ý đến tất cả các phần của hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển

Cách tiếp cận về hệ sinh thái đối với việc quản lý thủy sản

Luật về các nguồn lợi biển cũng chỉ ra rằng bên cạnh các cách tiếp cận khác,cách tiếp cận thận trọng phù hợp với các thỏa thuận và hướng dẫn quốc tế, và cáchtiếp cận về mặt sinh thái lưu ý đến các môi trường sống và đa dạng sinh học khi quản

lý các nguồn lợi biển sống đóng vai trò đặc biệt quan trọng Cách tiếp cận thận trọng

và cách tiếp cận về mặt sinh thái là các nguyên tắc trung tâm trong Luật mới về cácnguồn lợi biển và trong bản thân việc quản lý Ngoài ra, Viện nghiên cứu biển cũng đãđược ghi nhận là lưu tâm đến cách tiếp cận về hệ sinh thái

Cấm thải rác thủy sản

Khía cạnh cơ bản khác được nêu lên trong Luật về các nguồn lợi biển là việcđưa vào luật lệnh cấm thải rác, trong đó phải đảm bảo rằng các chất thải là tối thiểu vàtất cả các loài thủy sản thu hoạch được đưa vào bờ và sử dụng như muột nguồn thựcphẩm tiềm tàng Lệnh cấm rác thải được quy định trong phần 15 của Luật về cácnguồn lợi biển và Lệnh đó chỉ ra rằng tất cả các sản lượng thủy sản cần phải được cậpcảng Bộ Thủy sản có thể đưa ra các quy định miễn nhiệm vụ đối với việc cập cảngcác sản lượng và Bộ cũng có thể cấm việc thải các chất thải sinh học

Lý do cơ bản đằng sau việc cấm thải là do tất cả các nguồn lợi thủy sản đượcthu hoạch phải được sử dụng làm thực phẩm hoặc cho các mục đích khác, và được

8

Trang 9

đăng ký khi thu hoạch Việc thải rác tạo nên một vấn đề lớn trên toàn cầu vì một số lý

do Thải rác hoặc chọn lọc, phân loại kỹ các sản lượng dẫn đến một lượng thủy sảnlớn bị thải hoặc không được đăng ký Trong hầu hết các trường hợp, thủy sản bị đổ đi

đã bị chết hoặc sắp chết Vì vậy, thủy sản bị đổ đi không thể được sử dụng và sẽ nằmnguyên ở đáy biển như rác thải sinh học Ngày nay, lệnh cấm thải rác là một trong cácyếu tố chủ chốt trong việc quản lý các nguồn lợi thủy sản ở Nauy Nauy hiện thờiđang củng cố các quy định quốc tế bằng cách thực hiện quy định này đơn phươnghoặc theo các thỏa thuận hạn ngạch đa phương

Một hệ thống các biện pháp điều chỉnh thứ hai là các quy định hạn ngạch trong

đó cụ thể hóa sản lượng một tàu đánh bắt được phép khai thác Các quy định về hạnngạch tạo các cơ hội khai thác thực sự cho các tàu đánh bắt

Hệ thống điều chỉnh thứ ba bao gồm các quy định về kỹ thuật mà quy địnhviệc khai thác thủy sản được diễn ra ở đâu, khi nào, và như thế nào Các quy định nhưvậy là đặc biệt quan trọng đối với việc bảo tồn và góp phần cấm vận việc thải rác cácloài thủy sản cũng như các khu vực bảo tồn linh hoạt mà có thể bị đóng cửa để khaithác thủy sản nơi mà số lượng thủy sản có kích cỡ nhỏ hơn quy định trong sản lượngvượt quá mức quy định

Luật về các nguồn lợi biển cũng đưa vào một quy định cơ bản mới đối với việcquản lý các nguồn lợi sinh vật biển sống tự nhiên tại Nauy Quy định này có tên làQuy định về quản lý (bền vững) và được phản ánh trong phần 7 điều 1, trong đó chỉ rarằng

“Bộ Thủy sản phải đánh giá xem các loại hình biện pháp quản lý nào là cầnthiết nhằm đảm bảo việc quản lý bền vững các nguồn lợi biển sống tự nhiên”

Quy định này đặt ra nhiệm vụ pháp chế đối với các nhà chức trách về thủy sản

là phải thường xuyên đánh giá xem các biện pháp nào là cần thiết nhằm đảm bảo việcquản lý bền vững các nguồn lợi biển việc thu hoạch các nguồn lợi đó có diễn ra theothẩm quyền của Nauy Điều này có nghĩa là các nhà chức trách phải dựa trên cơ sởcác tư vấn khoa học tốt nhất để đánh giá xem các biện pháp nào nên được thông qua

để điều chỉnh các họat động thủy sản khác nhau

Quy định về quản lý cũng đòi hỏi các nhà chức trách phải thực hiện việc đánhgiá cho phù hợp với các quy định quản lý nguồn lợi hiện đại, bao gồm quản lý hệ sinhthái, cách tiếp cận thận trọng, và việc quản lý dựa vào các ngành khoa học có sẵn Cácquy định như vậy phải được các nhà chức trách áp dụng khi thực hiện việc tiếp cận córủi ro các mối đe dọa đến các loài thủy sản và các hệ sinh thái, như một phần của cácquyết định về quản lý

Kết luận về bản đánh giá các nguồn lợi được nêu ở trên có thể là: cần phải cócác quyết định mới cũng như các quy định mới về quản lý, được thể hiện dưới dạng

Trang 10

một trong số các biện pháp điều chỉnh nêu lên ở trên, hoặc là kết hợp của các biệnpháp đó Quy định về quản lý và các đánh giá và quy định được thực hiện và thôngqua phù hợp, có thể đảm bảo việc sử dụng bền vững các nguồn lợi thủy sản.

Tóm lại, quy định về quản lý chỉ ra rằng việc thu hoạch tất cả các nguồn lợithủy sản dưới quyền tài phán về thủy sản của Nauy và được thực hiện bởi các tàuđánh bắt của Nauy là được cho phép hoạt động trừ khi bị các nhà chức trách cấm vậncông khai Mặt khác, các nhà chức trách cũng có nghĩa vụ pháp lý là phải “để mắt” tớicác nguồn lợi Nguyên tắc này nhiều khả năng sẽ dẫn đến việc có nhiều các quy định

về hạn ngạch hơn trong khai thác thủy sản ở Nauy

c) Số lượng đánh bắt và hạn ngạch- các quy định về đầu ra

Luật về các nguồn lợi biển và Quy định về quản lý được dựa trên một hệ thống

mà trong đó các hoạt động khai thác được cho phép trừ khi bị cấm Như đã nêu lên ởtrên, pháp luật về thủy sản cho phép các nhà chức trách sử dụng ba hệ thống các biệnpháp quy định trong việc quản lý các nguồn lợi thủy sản

Các quy định về đầu ra dưới dạng hạn ngạch là một trong các cơ chế quy địnhquan trọng nhất trong việc quản lý nghề cá ở Nauy Để quy định các hạn ngạch cấpquốc gia và hạn ngạch đối với tàu khai thác một cơ sở pháp lý rõ ràng đã được thôngqua trong Luật về các nguồn lợi biển Căn cứ vào chương 3 của Luật này, các nhàchức trách có thể quy định một số lượng cho phép tối đa (hạn ngạch quốc gia) đối vớicác nguồn lợi sinh vật biển sống tự nhiên mà có thể được thu hoạch, được diễn tảbằng các thuật ngữ: cân nặng, khối lượng, số lượng cá thể, số ngày thu hoạch đượccho phép, hoặc bằng các thuật ngữ khác Khi một hạn ngạch quốc gia được xác định,tổng số lượng nhóm hạn ngạch, các hạn ngạch và nghiên cứu cũng như các hạn ngạchkhác không được phép vượt quá hạn ngạch quốc gia, phần 11

Ngoài ra, các nhà chức trách có thể chia các tàu khai thác thành các nhóm khácnhau và quy định việc thu hoạch được cho phép tối đa đối với mỗi nhóm tàu, nhómngư cụ và các nhóm khác được xác định (nhóm hạn ngạch) Cuối cùng, các nhà chứctrách có thể quy định các hạn ngạch đối với từng tàu được diễn tả bằng các từ như cânnặng, khối lượng, số lượng cá thể, số ngày thu hoạch được cho phép, hoặc bằng các từngữ khác Các hạn ngạch như vậy có thể được quy định trong một khoảng thời gian cụthể, hoặc quy định đối với một nguồn lợi hoặc nhiều nhiều nguồn lợi hợp lại, phần 12.Cần lưu ý rằng nên quy định khu vực địa lý nơi có thể khai thác

Việc quy định các hạn ngạch đối với các tàu khai thác có giấy phép tham giavào các hoạt động thủy sản khác nhau là một nền tảng trong việc quản lý các bày đàn

có giá trị thương mại quan trọng nhất tại Nauy Việc quy định này được sử dụng đốivới cả nguồn thủy sản tổng hợp và một nguồn lợi riêng biệt Việc quy định hạn ngạchquốc gia và hạn ngạch đối với cá nhân các tàu là yếu tố then chốt nhằm đảm bảo rằngcác bày đàn được thu hoạch với số lượng được cho là ổn định và tuân theo tư vấnkhoa học

Vì vậy, việc quy định hạn ngạch cùng với hạn chế tiếp cận là yếu tố quan trọngnhằm đảm bảo rằng các nguồn lợi không bị khai thác quá mức và đảm bảo các tàuđánh bắt của Nauy đều có hạn ngạch, tạo cơ hội cho họ phát triển và khai thác trongcác điều kiện kinh tế có sức hấp dẫn

Việc thông qua các biện pháp quản lý đòi hỏi phải có một cơ sở pháp lý rõràng, được quy định trong Luật quản lý các nguồn lợi, điều 11, 12 và 13:

Phần 11, Hạn ngạch quốc gia, hạn ngạch nhóm và hạn ngạch địa phương

10

Trang 11

Bộ Thủy sản có thể cấp số lượng cho phép tối đa (hạn ngạch quốc gia) đối vớicác nguồn lợi sinh học biển sống tự nhiên mà có thể được thu hoạch, được diễn tảbằng các từ: cân nặng, khối lượng, số cá thể, số ngày được phép thu hoạch, hoặc bằngcác từ khác Một hạn ngạch quốc gia phải được xác định trong khoảng thời gian cụthể Khi một hạn ngạch quốc gia được xác định, tổng số lượng các hạn ngạch nhóm,hạn ngạch nghiệ cứu và đào tạo và các hạn ngạch khác được cấp không được phépvượt quá hạn ngạch quốc gia.

Bộ Thủy sản có thể cấp hạn ngạch thu hoạch cho phép tối đa đối với nhóm tàukhai thác, nhóm ngư cụ và các nhóm khác được xác định (hạn ngạch nhóm) Một hạnngạch nhóm phải được xác định trong khoảng thời gian cụ thể

Bộ có quy định rằng một bộ phận hạn ngạch quốc gia hoặc một bộ phận hạnngạch nhóm của các nhóm tàu đánh bắt phải được phân bổ vào việcxử lý tại các cơ sở

xử lý trên bờ tại các địa phương nhất định (hạn ngạch địa phương) Bộ có thể thôngqua các quy định về việc cấp phát các hạn ngạch địa phương và các điều kiện sử dụngcác hạn ngạch đó

Bộ có thể quy định rằng một bộ phận hạn ngạch quốc gia hoặc một bộ phận hạnngạch nhóm của các nhóm tàu đánh bắt phải được phân bổ vào việc sử dụng cụ thể vàtrong hoàn cảnh nhất định

Trong trường hợp một nhóm tàu khai thác được tạo cơ hội khai thác tổng thể,

Bộ có thể quy định các hạn chế về đánh bắt đối với các nhóm tàu hoặc quy định rằngcác tàu thuộc nhóm đó không được phép tham gia vào một số họat động thủy sản nhấtđịnh

Đối với hoạt động được quản lý theo Luật ngày 16 tháng 3 năm 1999 số 15 liênquan đến quyền lợi tham gia vào hoạt động đánh bắt, hạn ngạch tàu chỉ có thể đượcphân bổ nếu tàu sử dụng là tàu đã nhận được giấy phép thương mại, và tàu đó có thểđược sử dụng trong các hoạt động còn gây nghi ngờ theo các điều khoản của luật vềquyền tham gia vào hoạt động đánh bắt

Đối với họat động không chịu sự quản lý của Luật về quyền tham gia vào cáchoạt động đánh bắt, hạn ngạch có thể được cấp cho cá nhân hoặc cơ quan thương mạithực hiện việc khai thác Việc cấp phát như vậy có thể được tiến hành có điều kiệntrên cơ sở đăng ký trong sổ đăng ký riêng biệt Bộ có thể thông qua các điều khoảnkhác về việc đăng ký

Phần 13 Các hạn ngạch về nghiên cứu, giám sát, đào tạo và kiểm tra tính thựctiễn của ngư cụ

Các hạn ngạch có thể được cấp cho các hoạt động/đối tượng sau: Các cơ quannghiên cứu, bất kỳ cá nhân nào được cấp giấy phép để thực hiện kiểm tra thực tiễnliên quan đến sự phát triển của ngư cụ, các biện pháp đánh bắt, vv… quy định trongphần 66, giám sát các cơ sở khai thác, các cơ quan giáo dục được phê duyệt chínhthức

Trang 12

Bất kỳ cá nhân nào thu hoạch từ các hạn ngạch được nêu lên trong phần 1 cóthể sử dụng tàu của riêng họ, hoặc thuê các tàu mà có giấy phép thương mại trongtrường hợp các hoạt động còn bị nghi vấn có thể được quản lý theo Luật về quyềntham gia vào hoạt động đánh bắt

Hạn chế về việc sử dụng ngư cụ đối với các tàu khai thác mà không có têntrong danh sách các tàu đăng ký, phần 22, không áp dụng đối với việc thu hoạch căn

cứ vào quy định này

Hệ thống hạn ngạch Nauy được dựa vào các hạn ngạch tàu riêng biệt, có nghĩa

là hạn ngạch được cấp cho tàu đánh bắt chứ không phải cho chủ sở hữu tàu Căn cứvào điều 11, các tàu có thể được chia thành các nhóm khác nhau trước khi phân pháthạn ngạch đến tàu ở các nhóm khác nhau theo điều 12 Lưu ý rằng khi một hạn ngạchquốc gia được thông qua, các nhà chức trách không thể cấp nhiều hạn ngạch hơn hạnngạch quốc gia Việc này sẽ đảm bảo rằng các nhà chức trách thực hiện quyết địnhcủa họ sau khi quyết định quốc gia

Điều 13 Luật về nguồn lợi sinh vật biển tạo thẩm quyền cho các nhà chức tráchcấp hạn ngạch cho các loại mục đích khác nhau thay vì việc khai thác thương mại, ví

dụ như hạn ngạch nghiên cứu, hạn ngạch giáo dục và các cơ sở theo dõi và đánh bắt

Các nhà chức trách Nauy có thẩm quyền rộng rãi trong việc sử dụng hạn ngạch

để quản lý nghề cá Nghề cá cần phải được quản lý sao cho phù hợp với mục tiêu củaLuật về các nguồn lợi (đảm bảo việc quản lý lợi nhuận một cách kinh tế và ổ định cácnguồn lợi sinh vật biển sống tự nhiên, và nhằm cải thiện việc làm và củng cố việc ổnđịnh cuộc sống của các cộng đồng ven biển) Quy định về Quản lý bền vững đặt rayêu cầu là các nhà chức trách phải thường xuyên dựa vào các tư vấn khoa học tốt nhất

để xem xét biện pháp quản lý nào là cần thiết để đảm bảo việc quản lý bền vững cácnguồn lợi sinh vật biển sống tự nhiên

Trên cơ sở các đánh giá như vậy, một số lượng ngày càng tăng các loài thủysản Nauy có thể được đưa vào biện pháp quản lý hạn ngạch Tại Nauy, cơ sở pháp lý

rõ ràng và không thể tranh cãi được xem là yêu cầu cơ bản để có được hệ thống quản

lý như vậy

d) Các quy định về kỹ thuật

Các quy định về kỹ thuật được sử dụng để xác dịnh các hoạt động thủy sảnkhác nhau có thể được khai thác ở đâu, khi nào, và như thế nào Mục tiêu là nhằm gópphần vào việc khai thác có hiệu quả thông qua việc xác định các loại ngư cụ có thểđược sử dụng trong các loại hình khai thác khác nhau, kích cỡ tối thiểu loài thủy sảnđược khai thác, việc thiết lập các khu bảo tồn và các vùng cấm để tiến hành việc khaithác trong thời điểm nhất định, vv,…

Các quy định về kỹ thuật thường xuyên được đánh giá và sửa đổi nhằm tránhcác họat động khai thác không mong muốn cũng như góp phần vào việc phân chia cácvùng khai thác giữa các nhóm tàu khai thác khác nhau, ví dụ như cấm tổ chức khaithác với tàu khai thác cỡ lớn tại các vùng ven biển nhằm đảm bảo rằng các tàu nhỏcũng có cơ hội thu hoạch trong khu vực này

Cơ sở pháp lý của các quy định về kỹ thuật được thông qua kể từ vài năm qua.Các áp dụng tương tự đối với các quy định kỹ thuật được nêu lên trong các điềukhoản Khi soạn thảo Luật về các nguồn lợi sinh vật biển sống, trọng tâm được đặtvào việc soạn thảo các điều khoản một cách linh hoạt để xây dựng một cơ sở pháp lý

rõ ràng cho việc đưa vào các quy định kỹ thuật khác nhau

12

Trang 13

Một ví dụ về cách sử dụng các quy định kỹ thuật nhằm củng cố việc khai thácbền vững là việc đóng cửa các khu vực mà có quá nhiều loài thủy sản có kích cỡ dướikích cỡ tối thiểu, hoặc có quá nhiều loài không được phép khai thác

Luật về nguồn lợi sinh vật biển phần 16 quy định:

Phần 16 Việc tổ chức thu hoạch

Tất cả việc thu hoạch và sử dụng các nguồn sinh vật biển sống tự nhiên phảiđược thực hiện theo cách mà có ảnh hưởng tối thiểu

Bộ có thể thông qua các quy định về việc tổ chức thu hoạch, bao gồm các điều

khoản sau đây: Các giai đọan mà việc thu hoạch được cho phép và thời điểm được rời bờ, số lượng tàu khai thác từ các nhóm tàu khác nhau mà có thể thu hoạch cùng một thời gian, tại cùng một khu vực, cấm thu hoạch tại một số khu vực nhất định, một

số loài nhất định hoặc sử dụng một số loại ngư cụ nhất định, việc thiết kế, đánh dấu,

sử dụng và vận chuyển ngư cụ và các loại và các công cụ khác liên quan đến thu hoạch, các kích cớ tối đa và tối thiểu của các loài hữu cơ riêng biệt, và các yêu cầu đối với một phần trong số được thu hoạch mà chi có con đực hoặc con cái, sản phẩm phụ được cho phép, việc thiết kế và sử dụng các công cụ thu hoạch để giảm thiệt hại cho các loài không bị khai thác

Theo phần 16 của Luật, các quy định kỹ thuật chi tiết về kích cỡ tối thiểu, kích

cỡ mắt lưới và các quy định về công cụ, sản phẩm phụ cho phép, các quy định về khuvực và loại tàu khai thác cũng như công cụ được sử dụng, khu vực cấm, vv,… đượcnêu lên trong Quy định về khai thác thủy sản ở vùng nước biển tại Khu Kinh vế Nauy.Quy định áp dụng với người dân Nauy và các tàu đánh bắt

2 Luật Thủy sản của Mỹ năm 2006

Vùng đặc quyền kinh tế của Mỹ rộng nhất trên thế giới, 11 351 000 km2 Tổngsản lượng từ nghề khai thác của Mỹ khoảng 4.2 triệu tấn trong năm 2007

Luật quản lý và bảo tồn nghề cá Magnuson-Stevens lần đầu được ban hành vàonăm 1976 là đạo luật cơ bản về quản lý nguồn lợi thủy sản biển ở các vùng nước liênbang của Mỹ Đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế Mỹ chỉ do các tàu được cấp phépthực hiện, nhằm cạnh tranh thị phần hạn ngạch quốc gia Cuối những năm 70 và 80,nếu tàu Mỹ không đủ năng lực khai thác thì sẽ để ngỏ cơ hội này cho các tàu cá nướcngoài Từ năm 1987, việc đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế chỉ dành cho côngdân Mỹ và các liên doanh, từ năm 1991, các liên doanh không được phép khai tháctrong vùng này nữa Do đó, luật Magnusson-Stevens giúp phát triển ngành khai tháctrong nước bằng cách không cho tàu nước ngoài vào khai thác

Theo Luật Magnuson-Stevens, nguồn lợi thủy sản thuộc về công dân Mỹ vàviệc phân bổ phải xem xét ở cấp liên bang Để quản lý nghề cá và tăng cường bảo tồnnguồn lợi, luật Magnuson-Stevens thành lập tám Hội đồng quản lý nghề cá khu vực

Luật quy định việc quản lý nguồn lợi thủy sản trong Vùng đặc quyền kinh tếtheo kế hoạch do các hội đồng khu vực xây dựng và được Bộ trưởng Bộ thương mạiđánh giá và phê duyệt Thành viên hội đồng gồm các ngư dân tham gia đánh bắtthương mại và giải trí, các nhà khoa học biển, nhà chức trách quản lý nghề cá củabang và liên bang, có kiến thức để xây dựng kế hoạch thủy sản bảo vệ nguồn lợi thủysản ở các vùng địa lý

Kế hoạch quản lý có thể hạn chế cường lực, mùa khai thác, ngư cụ, số lượngngư dân tham gia đánh bắt một loài nhất định và tổng sản lượng thủy sản được phép

Trang 14

khai thác Luật cũng quy định việc sử dụng giới hạn sản lượng hàng năm và các biệnpháp có trách nhiệm (sau khi sửa đổi vào năm 2006).

Luật quy định về tàu đánh cá nước ngoài trong vùng quản lý theo các hiệp địnhnghề cá quốc tế và giấy phép khai thác cấp cho tàu cá Luật được sửa đổi nhiều lần.Luật được sửa đổi vào năm 1996 (Luật nghề cá bền vững) và việc sửa đổi tập trungvào việc tái tạo nguồn lợi đã bị khai thác quá mức, bảo vệ môi trường sống của thủysản và giảm thiểu sản lượng phụ

Cách tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý

Ở Mỹ, Hội đồng tư vấn nguyên tắc hệ sinh thái nộp báo cáo lên Nghị viện vàonăm 1999 khuyến nghị chính phủ áp dụng các nguyên tắc hệ sinh thái, mục tiêu vàchính sách quản lý nghề cá và xây dựng Kế hoạch hệ sinh thái thủy sản Tài liệuhướng dẫn này do nhóm biên tập chịu trách nhiệm biên soạn Để thực hiện khuyếnnghị và tài liệu hướng dẫn, người ta đã thực hiện nhiều kế hoạch hệ sinh thái thủy sản

Giới hạn sản lượng hàng năm và chương trình ưu tiên tiếp cận hạn chế

Mục đích của việc sửa đổi năm 2006 và quyền hạn của Luật nghề cá là chấmdứt nạn khai thác quá mức, tăng việc sử dụng công cụ dựa vào thị trường, lập sổ đăng

ký khai thác biển và đánh cá giải trí, tập trung vào cách tiếp cận hệ sinh thái trongquản lý 1

Nhiều công cụ chính được áp dụng, đó là việc áp dụng giới hạn sản lượng như

là một yêu cầu mới trong Kế hoạch quản lý nghề cá Theo Luật, mỗi nghề cá sẽ cógiới hạn sản lượng đến năm 2010 đối với nguồn lợi bị khai thác quá mức và đến năm

2011 với mọi nguồn lợi được quản lý khác Kế hoạch quản lý nghề cá thành lập cơchế quy định cụ thể giới hạn sản lượng trong kế hoạch, thực hiện các quy định, quyđịnh cụ thể hàng năm và mức độ để không xảy ra tình trạng khai thác quá mức trongnghề cá, gồm cả các biện pháp đảm bảo tính trách nhiệm

Những sửa đổi thực hiện trong năm 2006 áp dụng công cụ khác gắn với giớihạn sản lượng; và các chương trình ưu tiên tiếp cận hạn chế Luật nghề cá trao quyềncho hội đồng khu vực được trình chương trình ưu tiên tiếp cận hạn chế lên Bộ trưởng

để phê duyệt với điều kiện nghề cá được quản lý bằng hệ thống tiếp cận hạn chế Việc

ưu tiên tiếp cận hạn chế là giấy phép của liên bang được cấp trong hệ thống tiếp cậnhạn chế cho phép người được cấp phép khai thác lượng thủy sản theo đơn vị hoặc cácđơn vị thể hiện phần trăm trong tổng sản lượng cho phép của nghề cá (gồm hạn ngạchkhai thác riêng biệt) Giấy phép này có thể chuyển giao được, nhưng giấy phép có thể

bị thu hồi, hạn chế hoặc chỉnh sửa mà không phải bồi thường vào cứ thời điểm nàotheo Luật nghề cá

Các cá nhân, tổ chức, cộng đồng và hiệp hội thủy sản có thể được ưu tiên Luậtnghề cá quy định rằng việc phân bổ ưu tiên đầu tiên phải “công bằng và bình đẳng”.Xem phần sau để biết thêm thông tin về hạn ngạch phát triển cộng đồng

Tập trung cao hơn vào khoa học

Thông qua những sửa đổi vào năm 2006, người ta tập trung hơn vào tầm quantrọng của việc cung cấp số liệu đáp ứng nhu cầu quản lý Các uỷ ban thống kê của hộiđồng khu vực tư vấn khoa học cho Hội đồng về các quyết định quản lý nguồn lợi,gồm khuyến nghị về sản lượng sinh học có thể chấp nhận được, ngăn chạn tình trạng

14

Trang 15

khai thác quá mức, sản lượng bền vững tối đa, mục tiêu tái tạo nguồn lợi và báo cáonguồn lợi thủy sản và sức khoẻ thuỷ sản, sản lượng phụ, tình trạng môi trường, tácđộng kinh tế xã hội của các biện pháp quản lý, tính bền vững của hoạt động khai thác.Như đã nêu trên, giới hạn sản lượng hàng năm do các hội đồng khu vực xây dựng đốivới từng nguồn lợi có thể không vượt quá khuyến nghị về mức độ khai thác của uỷban thống kê và khoa học đưa ra

Ngoài ra, các hội đồng khu vực còn được yêu cầu xây dựng ưu tiên nghiên cứu

5 năm đối với nghề cá, tương tác nghề cá, môi trường và các lĩnh vực nghiên cứu cầnthiết phải quản lý

Luật nghề cá cũng tăng cường việc thu thập số liệu từ ngành khai thác thươngmại và giải trí để đáp ứng nhu cầu quản lý

Các biện pháp IUU : Những sửa đổi liên quan đến IUU cho phép cơ quan cóthẩm quyền cấm nhập khẩu sản phẩm thủy sản từ các nước mà tàu cá mang quốc tịch

có liên quan đến hoạt động IUU và các quốc gia không áp dụng những biện pháp phùhợp để giải quyết vấn đề Tàu cá từ các quốc gia này có thể bị từ chối ưu tiên/đặcquyền tại cảng

Ngoài ra, các quy định tổng thể về giám sát và tuân thủ quốc tế cũng được ápdụng trong Luật nghề cá, gồm nghĩa vụ phải cung cấp cho Nghị viện báo cáo hai nămmột lần về việc tuân thủ quốc tế và các hoạt động IUU

Hạn ngạch phát triển cộng đồng:

Theo Luật Magnuson-Stevens, các nguồn lợi thủy sản thuộc về công dân Mỹ vàviệc phân bổ phải được xem xét ở cấp liên bang Về tranh luận liên quan đến việcphân bổ nguồn lợi, cộng đồng ven biển dọc bờ biển nộp đề xuất rằng một phần trongtổng hạn ngạch cần được phân bổ cho cộng đồng địa phương

Năm 1992 người ta quyết định xây dựng hạn ngạch phát triển cộng đồng và hạnngạch này cần được đưa vào một phần của hạn ngạch dành cho đội tàu ven biển vàđội tàu chế biến Đây là chương trình thử nghiệm Ban đầu, quyết định này có nghĩa là7,5% hạn ngạch loài pollock sẽ là hạn ngạch phát triển cộng đồng Hạn ngạch này cóthể được khai thác ngoài những mùa chính của nghề cá, do đó rất hấp dẫn

Để được hạn ngạch này, cộng đồng địa phương phải được nằm dọc vùng biển,phải đăng ký là cộng đồng bản địa theo Luật giải quyết tranh chấp bản địa Alaska, vàngười dân phải thực hiện tối thiểu 50% hoạt động khai thác ở biển Bering, khôngtham gia khai thác hoặc chế biến thủy sản thuộc nguồn lợi cá đáy ở vùng này Do đó,gần như các cộng đồng địa phương dọc bờ biển phía tây Alaska ở biển Bering vềnguyên tắc có thể xin hạn ngạch phát triển cộng đồng

Hạn ngạch phát triển cộng đồng có thể cho đối tượng khai thác thương mạithuê lại hoặc cho ngư dân địa phương thuê để phát triển doanh nghiệp riêng Hạnngạch có thời hạn 2 năm 56 cộng đồng địa phương chính thực hiện chương trình này

và được tổ chức thành sáu tổ chức khu vực Các tổ chức này gồm đại diện của cáccộng đồng địa phương có liên quan

Hạn ngạch phát triển cộng đồng được phân bổ cho nhiều loài thủy sản khácnhau với tỉ lệ % khác nhau trong tổng hạn ngạch, các cộng đồng địa phương khácnhau nhận được tỉ lệ phần trăm cố định trong hạn ngạch phát triển cộng đồng Thờigian trôi qua và hạn ngạch phát triển cộng đồng cộng dồn giá trị đáng kể Ví dụ, tiềnthu được trong năm 2000 từ nguồn lợi cá pollock là US$33 triệu, trong đó thu nhập

Trang 16

từ các loài khác khoảng US$7.5 triệu Giả sử thực tế dân số vùng này là 21 000 ngườivào năm 1989 thì rõ ràng hạn ngạch phát triển cộng đồng rất quan trọng

Nhờ hạn ngạch phát triển cộng đồng, các công ty phát triển được nhiều lợinhuận từ tàu cá và nhà máy chế biến và tập trung phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo vàgiáo dục Năm 2002, các công ty phát triển khu vực kiểm soát gần 27% sản phẩm khaithác đáy trong vùng Người ta cho rằng chương trình hạn ngạch phát triển cộng đồngđem lại cho người dân công việc mùa vụ tốt khi tham gia khai thác thủy sản Do đó,

họ có thể duy trì lối sống dựa vào nên kinh tế tự cung tự cấp và kết hợp các ngànhnghề

3 Chilê – lập vùng đánh cá ven biển

a) Giới thiệu chung

Chilê có ngành thủy sản công nghiệp lớn và là nước nuôi trồng thủy sản lớn Ởđây tôi chỉ tập trung vào khía cạnh khác của quản lý nghề cá Chilê: khai thác ven biển

và khai thác quy mô nhỏ, thành lập vùng đánh cá ven biển riêng và xây dựng mô hìnhquản lý dựa vào quyền lợi và quá trình ra quyết định hợp tác

Chilê là nước khai thác thủy sản lớn, năm 2006 có 4.2 triệu tấn được khai tháctrong vùng nước của Chilê Có 57 000 ngư dân ven biển và khoảng 14 000 tàu khaithác ven biển ở Chilê, khoảng 6 000 công nhân làm việc cho 350 tàu cá đại dương

Tuy nhiên, nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản là những ngành khá mới mẻ ởChilê và trong những năm 1900 thì săn cá voi quan trọng hơn là đánh cá Mặt khác,người dân bản xứ và dân cư sống dọc bờ biển sử dụng nguồn lợi thuỷ sản vì mục đíchcủa mình

Khi nghề khai thác cá nổi, loài cá cơm và các loài cá nổi khác bắt đầu xuất hiệnvào những năm 50 thì dân cư sống dựa vào sản phẩm thịt cá và dầu cá Trong nhữngnăm 70, khai thác cá đáy phát triển và sản lượng của nghề này chủ yếu để xuất khẩu

Nghề khai thác quy mô nhỏ (thương mại và sinh kế) ở Chilê có những thànhphần mới tham gia vào những năm 1980 và 1990 Những nghề cá này khai thác nhiềuloài cá đáy, cá mòi, cá thu, cá cơm và nhuyễn thể

Do đó từ năm 1976 đến 1989, nghề cá nổi và cá đáy ở một số khu vực bị cấm

và người ta không cấp phép khai thác Nguồn lợi đã bị sử dụng hết Nó đòi hỏi phải có

cơ chế mới để quản lý nguồn lợi và trong giai đoạn 1989 đến 2001, một cơ chế mớiđược thành lập để quản lý nguồn lợi biển Theo hệ thống này, nghề cá Chilê đượcquản lý theo chế độ kiểm soát cường lực và đăng ký riêng rẽ nghề khai thác côngnghiệp và khai thác quy mô nhỏ

b) Thành lập vùng khai thác ven biển

Mặc dù Chilê thành lập vùng nghề cá 200 hải lý từ năm 1947, tình trạng khaithác quá mức vẫn là một vấn đề Đồng thời việc kiểm soát sản lượng không hiệu quảnên vấn đề này càng rõ ràng Cuối cùng, nhu cầu phải xây dựng quy định chặt chẽ nảysinh

Giữa năm 1989 và 1991 có ba luật quản lý nguồn lợi thủy sản được ban hành.Năm 1991 những luật này được kết hợp thành một có tên gọi là Luật chung về nghề

cá và nuôi trồng thủy sản Luật đưa ra những sáng kiến về việc khai thác dựa vàoquyền lợi Hạn ngạch khai thác riêng lẻ và hạn ngạch có thể trao đổi được áp dụng.Những nghề cá còn lại chưa được quy định thì sẽ thuộc cơ chế kiểm soát cường lựckhai thác

16

Trang 17

Quyền lợi vùng khai thác địa phương được áp dụng để thu hoạch nhuyễn thể vànhiều nguồn lợi cá đáy, vùng nghề cá đặc quyền, đặc biệt dành cho nghề cá quy mônhỏ được thành lập

Ở Chilê, nghề cá quy mô nhỏ được định nghĩa là việc khai thác bằng tàu có độdài dưới 18 mét và công suất 50 GRT Mỗi ngư dân có thể sở hữu hai tàu cá và cóquyền tham gia đánh cá theo giấy phép cấp cho cá nhân chứ không phải cấp cho tàu,đây là trường hợp áp dụng đối với đội tàu khai thác đại dương Do đó tàu ven biển sẽ

bị mất phép nếu nó được bán cho người không đăng ký đánh cá quy mô nhỏ

Sổ đăng ký này được thành lập vào năm 1991 và hiện có 60 000 thành viên Sổđăng ký được chia theo hoạt động và cùng một người có thể thực hiện nhiều hoạtđộng khác nhau Do đó, sổ đăng ký trong thực tế có ít hơn 60 000 người đăng ký

Nhóm ngư dân khai thác quy mô nhỏ thực hiện nhiều hoạt động hỗn hợp, gồmviệc gom cỏ biển trên bãi biển tới các doanh nghiệp quy mô vừa có vốn Phân loạingư dân quy mô nhỏ chỉ là phân loại hành chính mà không tham khảo về nghề cá thực

tế hoặc các nhóm xã hội thực tế

Luật chung về khai thác và nuôi trồng thủy sản trao quyền đặc quyền cho ngưdân quy mô nhỏ được đánh cá ở vùng biển từ bờ ra xa 5 hải lý ở khu vực tính từ biêngiới với Peru đến miền bắc khoảng 41°S Miền nam của khu vực ngày thì ngư dânquy mô nhỏ có quyền đặc quyền được khai thác ở vùng nội thuỷ, nghĩa là ở các vịnhhẹp ở miền nam đất nước thuộc vùng đánh cá quy mô nhỏ

Quy định về đánh cá ven biển quy mô nhỏ trong luật chung có quy định việchạn chế vùng biển ven bờ mà ngư dân có thể đánh cá Khi trước đây vùng này chưađược quy định thì bây giờ ngư dân phải đăng ký những vùng họ sinh sống và có thểđánh cá ở vùng ven biển thuộc những vùng này Nếu họ muốn đánh cá ở những khuvực khác trong vùng đánh cá ven biển, họ phải thoả thuận với tổ chức nghề cá ở vùng

đó Vùng đánh cá quy mô nhỏ được chia thành 12 khu vực

Khu vực hoá nguồn lợi thủy sản đối mặt với thách thức Quốc gia chia thành 15khu vực, ngư dân quy mô nhỏ và đội tàu khai thác công nghiệp ở những khu vực này

có thể gây áp lực cao đối với nguồn lợi, và làm tăng sự chú ý tới việc phân bổ nguồnloịư và mùa khai thác ngắn hơn

Việc xây dựng vùng đánh cá quy mô nhỏ đảm bảo rằng những người tham giađánh cá ven biển và quy mô nhỏ có thể đánh cá mà không phải cạnh tranh về nguồnlợi với những tàu to, đánh cá hiệu quả hơn Hơn nữa, một số người cho rằng việcthành lập vùng này thể hiện việc chuyển nhượng nguồn lợi từ đội tàu công nghiệpsang đội tàu ven bờ

c) Xây dựng quyền lợi dựa vào khu vực đối với nguồn lợi đáy

Luật chung về nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản cũng thiết lập hệ thốngquyền lợi dựa vào khu vực đối với nguồn lợi đáy Mục đích không phải là bảo vệnhững người tham gia hoạt động thương mại mà để kiểm soát việc thu hoạch thủy sản

và các loài thủy sản đáy khác

Hệ thống quyền lợi dựa vào khu vực dựa trên cơ sở phân bổ quyền thu hoạchđặc quyền cho một số nhóm ngư dân cụ thể ở những vùng nhất định Các vùng quản

lý có diện tích khác nhau nhưng nhỏ nhất có thể là 0.5 km vuông Những vùng nàykhông được vào tự do và phải trả thuế hàng năm tuỳ theo diện tích khu vực

Trang 18

Căn cứ để xây dựng hệ thống này là hầu hết bào ngư được thu hoạch một cáchtuỳ tiện trong những năm 80 khiến sụt giảm nguồn lợi ở dọc bờ biển Nghề lặn khaithác bào ngư đã bị tạm ngừng trong 3 năm và khi phục hội, thì việc thu hoạch phảidựa vào tổng hạn ngạch áp dụng cho các vùng khác nhau Hạn ngạch được phân bổcho những ai đăng ký làm nghề lặn vào một ngày nhất định Việc quản lý dựa vào hệthống trong đó có sự tham gia của các nhà khoa học, nhà quản lý và người được chiahạn ngạch Hệ thống này rất thành công Nguồn lợi được phục hồi và sản lượng tănglên, mùa khai thác cũng được kéo dài

Luật chung về nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản còn xây dựng hệ thốngtrong đó các nhóm ngư dân/thợ lặn được trao quyền đặc quyền để khai thác nguồn lợiđáy như nhuyễn thể hai mảnh vỏ, hải sâm, nhím biển và các loài khác ở những vùngquản lý hạn chế Quyền này được trao cho các nhóm, thường là hội ngư dân, hội chủtàu chứ không trao cho cá nhân

Nhóm này phải đánh giá nguồn lợi và xây dựng kế hoạch quản lý có tính đếnsản lượng khai thác hàng năm Nhóm này phải giám sát nguồn lợi Dựa vào đó, cơquan có thẩm quyền quyết định phê duyệt kế hoạch quản lý và hạn ngạch hàng năm

Vào năm 2007, có 568 vùng quản lý như vậy được xây dựng và 395 hoạt độnghiệu quả Ngoài ra, số người tham gia vào vùng quản lý đang tăng lên Vì nhiều người

có thể tham gia vào một vùng quản lý, nên thời gian mùa vụ khai thác của từng ngườikhông dài Ngoài ra, các nhóm này phải thuê chuyên gia xây dựng kế hoạch quản lý

và trả thuế sử dụng vùng cho cơ quan có thẩm quyền Điều này có nghĩa là sản lượng

từ hoạt động này khá hạn chế

Tuy nhiên, ở một số vùng có nhiều nguồn lợi, việc quản lý thuận lợi và có ítngười tham gia thì việc thu hoạch có thể đem lại nhiều lợi nhuận Khi đó, quyền thamgia vào tổ chức địa phương có thể có giá rất cao

4 Scotland –Luật nuôi trồng thủy sản và nghề khai thác năm 2007

Scotland là nước sản xuất cá hồi nuôi đứng thứ ba trên thế giới sau Nauy vàChilê Scotland là nước sản xuất cá hồi nuôi lớn nhất EU, sản lượng 130 000 tấn trongnăm 2007 Ngành nuôi trồng thuỷ sản ở Scotland bắt đầu với việc nuôi thử nghiệm cáhồi vào năm 1969 và từ đó phát triển thành ngành sản xuất chính ở vùng ngoại ô 2

Giống như Nauy, hệ thống cấp phép được xây dựng cho những người muốn lậptrại nuôi biển, người làm đơn phải nộp đơn lên Cơ quan địa chính (The Crown Estate)

để thuê đáy biển và bãi biển để vận hành trại nuôi cá biển

Gần đây (2007) Scotland thông qua Luật nuôi trồng thủy sản và nghề cá mới,tập trung vào việc duy trì sức khoẻ thủy sản và ngăn chặn thủy sản thoát khỏi trạinuôi Ngoài ra, các quy định cũng được xây dựng để trao quyền cho cơ quan quyhoạch về việc phát triển nuôi trồng thủy sản ở nước biển Người ta đã tham vấn vàđánh giá tác động môi trường trước khi phê duyệt vùng nước để nuôi trồng thủy sản

Thực hiện đánh giá tác động môi trường là hoạt động không thể thiếu khi xemxét các đơn xin cấp vùng nuôi trồng thủy sản Việc này cũng được áp dụng khi chothuê mới các vùng này

Luật nuôi trồng thủy sản và nghề khai thác có các quy định về loài rận biển (sealice) và bảo vệ thủy sản, các thanh tra có quyền thanh tra trại nuôi thủy sản để đảmbảo rằng các trại này phải áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm kiểm soát loài rận

18

Trang 19

biển, bảo vệ cá nuôi và ngăn chặn cá trốn thoát khỏi trại nuôi và tìm lại được thủy sảntrốn thoát Luật còn có quy định về việc thông báo sự tuân thủ và việc không thựchiện thông báo này sẽ coi là vi phạm pháp luật

6 Luật nghề cá Trung Quốc

a) Giới thiệu chung

Trung Quốc là quốc gia có nghề khai thác thủy sản và nuôi trồng thủy sảnmạnh Năm 2007, sản phẩm nuôi trồng thủy sản của Trung Quốc chiếm 62% tổng sảnphẩm nuôi trồng thủy sản trên thế giới 3 Tàu khai thác của Trung Quốc gồm 279 937tàu lắp máy vào năm 2004, ít thay đổi so với năm 1999 Trung Quốc là nhà sản xuấtthủy sản lớn nhất thế giới, theo báo cáo thì sản phẩm thủy sản là 51.5 triệu tấn trongnăm 2006 Nghề khai thác thủy sản thu được 17.1 triệu tấn và sản phẩm nuôi trồngthủy sản là 34,4 triệu tấn.4

Phát triển chính sách nghề cá của Trung Quốc được mô tả trong Thông tư nghề

cá của FAO số 1029, Đánh giá thông tin nghề cá và hệ thống thu thập số liệu ở TrungQuốc Sự phát triển chính sách nghề cá được mô tả như sau:

Vào những năm 1980 chính phủ Trung Quốc đánh giá chính sách phát triểnnghề cá Trung Quốc đặt ưu tiên đối với nuôi trồng thủy sản để tái tạo nguồn lợi thủysản tự nhiên và sử dụng chúng một cách bền vững Để làm được điều này, chính phủ

đã có những sửa đổi mang tính chiến lược đối với cơ cấu truyền thống của ngành thủysản, chuyển đổi từ mô hình sản xuất chính là khai thác sang nuôi trồng thủy sản Mụcđích là sử dụng tối đa nguồn nước nội đồng và những vùng nước ven biển chưa khaithác hết cũng như sử dụng bờ biển để phát triển nuôi trồng thủy sản Điều này nhằmđảm bảo liên tục cung cấp sản phẩm thủy sản và giảm áp lực đối với nguồn lợi ven

bờ Trung Quốc cũng thực hiện phát triển nghề cá của mình, tăng năng lực sản xuấtthủy sản và sản phẩm của nghề cá Đến năm 2005, tổng sản phẩm thủy sản của TrungQuốc đạt 51 triệu tấn Trong khi nguồn lợi thủy sản giảm trên toàn cầu thì thủy sảnTrung Quốc duy trì phát triển ổn định bằng cách dựa vào phát triển chiến lược nuôitrồng thủy sản

Lĩnh vực khai thác thuỷ sản biển có nhiều thay đổi cơ bản và nhanh trong vàithập kỷ qua Thông tư nghề cá của FAO mô tả như sau:

Trong khi ngành này phát triển dần dần từ những năm 50 đến 70 thì vào nhữngnăm 80 phát triển rất nhanh, chính phủ Trung Quốc bắt đầu hướng dẫn ngành thủy sảntheo hướng sử dụng hiệu quả và quản lý nguồn lợi vào những năm 90 Việc này đượcthực hiện bằng cách áp dụng các biện pháp kiểm soát cường lực và khả năng khai thác

và từ năm 1999 sản lượng khai thác cá biển dần ổn định Năm 2002 Bộ Nông nghiệpđưa ra quy định về cấp phép khai thác thủy sản nhằm khuyến khích ngư dân khôngkhai thác nữa Quy định này có tác dụng làm giảm lượng tàu cá và năng lực khai thácthực tế Đến tháng 11 năm 2004, 7 850 tàu cá không hoạt động và 40 000 ngư dânkhông tham gia vào ngành khai thác Trong giai đoạn này, 22 000 ngư dân được dạynghề để chuẩn bị cho việc từ bỏ khỏi nghề khai thác

Tháng 11 năm 2003, Bộ Nông nghiệp ban hành quy định kiểm soát tàu cá vàđặt ra mục tiêu như sau: Tàu khai thác biển giảm từ 222 000 tàu trong năm 2002xuống còn 192 000 tàu vào năm 2010 Tổng công suất của tàu cá giảm từ 12.7 triệu

kW xuống còn 11.4 triệu kW

Ngày đăng: 29/11/2021, 23:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w