1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận phật giáo mỹ học thiền trong thơ kệ của chân nguyên thiền sư

17 149 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 131,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỹ học thiền là một lĩnh vực khá thú vị của văn học cổ điển phương Đông và năm tác phẩm của thiền sư Chân Nguyên: Nam Hải Quan Âm bản hạnh, Thiền tông bản hạnh, Đạt – na thái tử hạnh, Hồng mông hạnh và Thiền tịch phú là những tác phẩm văn học Phật giáo cũng nằm trong dòng chung của thiền Đông Á, nên có những chất liệu mỹ học riêng. Những sáng tác này ra đời vào thời đại Lê – Nguyễn, nên chịu ảnh hưởng của văn hoá văn học của giai đoạn này đó là thời kỳ Nho giáo làm nồng cốt, nhưng văn học Phật giáo lúc này đã đồng hành cùng với sự phát triển ý thức ngôn ngữ dân tộc là chữ Nôm, cũng như đại diện cho tiếng nói thường nhật của tầng lớp bình dân. Trào lưu văn học lúc này có khuynh hướng ca ngợi đạo Phật và đức Phật. Văn học mang tính sáng tạo với đặc điểm diễn ngôn bằng truyện thơ Nôm, tất nhiên thơ lại chiếm ưu thế hơn phú.

Trang 1

MỸ HỌC THIỀN TRONG THƠ KỆ CỦA CHÂN NGUYÊN THIỀN SƯ

2

MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 4

1 Những hình ảnh mang biểu tượng tâm linh 4

1.1 Hoa sen 5

1.2 Trăng 7

2 Điển cố, điển tích 9

3 Nghịch ngữ phi logic 12

KẾT LUẬN 14

7 Lê Thị Thanh Tâm (2016) Thơ ca Phật giáo Việt Nam - Đông Á nhìn từ mỹ học Thiền Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội 15

Trang 2

MỞ ĐẦU

Mỹ học thiền là một lĩnh vực khá thú vị của văn học cổ điển phương Đông và năm

tác phẩm của thiền sư Chân Nguyên: Nam Hải Quan Âm bản hạnh, Thiền tông bản hạnh, Đạt – na thái tử hạnh, Hồng mông hạnh và Thiền tịch phú là những tác phẩm văn học Phật giáo cũng nằm trong dòng chung của thiền Đông Á, nên có những chất liệu mỹ học

riêng Những sáng tác này ra đời vào thời đại Lê – Nguyễn, nên chịu ảnh hưởng của văn hoá văn học của giai đoạn này đó là thời kỳ Nho giáo làm nồng cốt, nhưng văn học Phật giáo lúc này đã đồng hành cùng với sự phát triển ý thức ngôn ngữ dân tộc là chữ Nôm, cũng như đại diện cho tiếng nói thường nhật của tầng lớp bình dân Trào lưu văn học lúc

này có khuynh hướng ca ngợi đạo Phật và đức Phật Văn học mang tính sáng tạo với đặc

điểm diễn ngôn bằng truyện thơ Nôm, tất nhiên thơ lại chiếm ưu thế hơn phú

Cái đẹp trong văn bản văn học Phật giáo thường ít được chú ý, cho nên nếu có chăng chỉ phục vụ cho số ít giới trí thức như: thiền sư, nho sĩ, đạo sĩ, vua quan, quý tộc,

cư sĩ trí thức Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý là hoạt động văn học đã được mở rộng thêm hướng đến phục vụ cho số đông quần chúng nhân dân, họ cần sự dễ hiểu, đễ tiếp thu Do

đó, lối sử dụng ngôn ngữ có khi cần gãy gọn, rõ ràng, có khi lại hàm súc sâu xa để chyển

2

Trang 3

tải nội dung và mỹ học nghệ thuật đến với mọi tầng lớp một cách chính xác, hiệu quả.

Cho nên, việc chọn đề tài: “Mỹ học thiền trong thơ phú của thiền sư Chân Nguyên” là

nhằm làm sáng tỏ những cái đẹp, cái hay của giá trị thẩm mỹ trong thơ, phú của thiền sư Chân Nguyên Mặc dù ở thời điểm này cả người sáng tác và tiếp nhận vẫn chưa có ý thức

rõ ràng về thưởng thức mỹ học thiền hay lí luận thiền thi như phía Trung Quốc gồm những các tên tuổi lớn như Thích Hiệu Nhiên, Nghiêm Vũ, Lưu Hiệp, Viên Mai, v.v Nhưng vốn trong thơ, phú của các thiền sư nói chung và của thiền sư Chân Nguyên nói riêng đã phảng phất những hương vị thiền thi và mỹ học thiền

Qua khảo sát vấn đề mỹ học thiền trong thơ phú của văn học trung đại Việt Nam vẫn được tìm hiểu ở một chừng mực tương đối Có thể liệt kê một số công trình tiêu biểu

như: Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ thiền Việt Nam thế kỷ XI - XIV (Đoàn Thị

Thu Vân) là luận án phó tiến sĩ của tác giả, khảo sát khá công phu về đặc trưng thơ thiền;

Thơ ca Phật giáo Việt Nam – Đông Á nhìn từ mỹ học thiền (Lê Thị Thanh Tâm), đây là

một cuốn sách của tác giả tập hợp nhiều bài viết về nội dung mỹ học thiền của Phật giáo

Việt Nam – Đông Á; hai bài viết của Thích Hạnh Tuệ: Thi pháp thơ thiền; Tuyệt tác đích thực của văn học Phật giáo, hai bài viết này của tác giả có bàn đến tính mỹ học của thơ

thiền thời Lý – Trần, v.v Như vậy cho thấy việc nghiên cứu mỹ học thiền trong thơ, phú của thiền sư Chân Nguyên chưa được thực hiện Nên bài viết này hứa hẹn sẽ là sự tìm hiểu thú vị và sự góp phần làm phong phú thêm việc nghiên cứu thuộc phạm vi này Bài viết sẽ đi vào tìm hiểu nội dung mỹ học thiền ẩn tàng sau lớp ngôn ngữ mang yếu tố tam giáo đầy uyên áo và sẽ trích dẫn thơ, phú khi cần từ 5 tác phẩm kể trên của thiền sư để minh hoạ Bài viết ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính sẽ được trình bày như sau:

1 Những hình ảnh mang biểu tượng tâm linh

2 Điển cố, điển tích

3 Nghịch ngữ phi logic

3

Trang 4

NỘI DUNG

Tư tưởng lý luận văn học ở giai đoạn trung kỳ trung đại (thế kỷ XV - cuối thế kỷ XVII) chủ yếu bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo, tuy nhiên cũng song hành cùng với

nó nhiều tính chất “phi nho” Một điểm đáng nói là tư tưởng lý luận văn học Phật giáo và

Lão - Trang bị hòa lẫn trong tư tưởng lý luận của nho gia để làm phong phú thêm cho tư tưởng này Có thể thấy giai đoạn này bao gồm 3 vấn đề lớn:

- Văn học phải gắn bó với vận mệnh của đất nước và nhân dân

- Văn học là phương tiện để thể hiện chí, tâm, đạo của kẻ sĩ quân tử

- Đề cao hứng, thần và vẻ đẹp cao, cổ, hùng đạm, nhã, hậu (Đoàn Lê Giang, 2020, tr.45)

Xem xét 5 tác phẩm của thiền sư Chân Nguyên thì nội dung nằm trong phạm vi

của vấn đề thứ ba, có thể xếp những sáng tác này thuộc khuynh hướng cảm hứng Chẳng hạn Thiền tông bản hạnh nói về thế đạo, một loại ảm hứng đạo đức; Hồng mông hạnh nói

về lịch sử của dân tộc Việt Nam, trình bày tư tưởng thế giới quan Phật giáo; Đạt-na Thái

tử hạnh nói về nhân vật chính Đạt-na ước mơ một xã hội thịnh vượng và bình đẳng; Nam Hải Nam Âm bản hạnh đưa ra quan niệm trung hiếu và việc tu hành của bản thân; Thiền tịch phú bàn về đời sống tu tập của tăng sĩ thế kỷ XVII - XVIII Dẫu thiền sư nằm trong

thời kỳ trung kỳ trung đại, chịu ảnh của yếu tố thời đại, song sáng tác của thiền sư thuộc tác phẩm văn học Phật giáo, nên qua lăng kính lỹ học thiền các tác phẩm này có nét độc đáo và giá trị văn học riêng không giống các bộ phận khác Do đó qua khảo sát bằng cảm quan Thiền Phật nhất là mỹ học thiền thì có những vấn đề nổi bật sau đây:

1 Những hình ảnh mang biểu tượng tâm linh

Những hình ảnh, biểu tượng trong 5 tác phẩm ẩn dụ bản thể tánh giác, trí tuệ, cõi thiền, quả vị chứng ngộ, v.v Những ẩn dụ này đều mang đặc trưng ngôn ngữ Phật giáo

4

Trang 5

với những phạm trù triết lý, tư tưởng Thiền Phật đặc thù Do đó, những ẩn dụ này vừa mang chất nghệ thuật ngôn từ vừa chuyển chở nội dung giáo lý Phật giáo Đây là điểm đáng chú ý của loại hình văn học tôn giáo, ở đây là thơ, phú của thiền sư Chân Nguyên

1.1 Hoa sen

Trong Phật giáo hoa sen luôn luôn là biểu tượng tâm linh giác ngộ, vì hoa sen

thanh tao, thuần khiết và như thế nó nghiễm nhiên là biểu trưng cho phẩm chất cao đẹp, tiết hạnh thanh khiết của con người đạo đức theo giới luật nhà Phật Do đó, hoa sen trở thành một biểu tượng quen thuộc với vẻ đẹp tuyệt vời trong kinh điển và thơ kệ của Phật

giáo Trong Nam Hải Quan Âm bản hạnh, thiền sư Chân Nguyên giới thiệu một thế giới

sắc màu đầy sức sống và lý tưởng, đó là chùa Hương Sơn của nước ta, nơi có vẻ đẹp yên lành đến là lùng, tựa chốn cực lạc:

Cảnh vật chiều người chốn chốn đua khoe/ Liên trì tán rợp phủ che

Làu làu minh nguyệt dãi kề thiền quan/ Yên hà nghi ngút đòi ngàn Suối chảy dường đàn,/ trúc rặn dường ca (Lê Mạnh Thát, 2018, tr.641) Hòa thượng Phụng Sơn trong Những nét văn hóa đạo Phật cho rằng: “Mỗi cành hoa hiện hữu tự nó đầy đủ, thoải mái, an nhiên, tự tại, tỏa ánh sáng những màu sắc kỳ diệu” (Hòa thượng Phụng Sơn, 2015, tr.79) Nên khi cái tâm của con người trong sạch

tròn đầy, thì đó là hoa sen, là biểu tượng tốt đẹp nhất Hoa sen có hương thơm thanh thoát, được ví với sự tĩnh tâm giải thoát Cho nên khi công viên quả mãn thì Diệu Thiện

được kính ngưỡng và tôn xưng cho đạo quả của mình: Trước sau khể thủ quy y/ Cùng tôn

Diệu Thiện chính vì hoa sen (Lê Mạnh Thát, 2018, tr.642)

Hoa sen có thể biểu hiện tùy thời gian để chín muồi đó là hoa sen đã nở, đang nở

và sẽ nở Nên Lê Thị thanh Tâm trong bài viết “Thiên nhiên và bản thể luận Phật giao

1 Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Thích Trí Tịnh (dịch), NXB Tôn giáo, TP.HCM, tr.93: Hoa sen sánh với các hoa khác

có 5 điều đặc biệt: 1 Có hoa là có gương: nhân quả đồng thời; 2 Mọc trong bùn lầy mà vẫn trong sạch thơm tho; 3 Cọng bông từ gốc tách riêng không chung cành với lá; 4 Ong bướm không bu đậu; 5 Không bị người dùng làm trang điểm (xưa, đàn bà Ấn Độ quen dùng hoa kết thành tràng để đeo đội v.v )

5

Trang 6

qua thơ Thiền Lý - Trần và Đường - Tống” cho rằng: “Trong nguồn gốc văn học tôn giáo

Ấn Độ, truyền thống lấy hoa sen làm biểu tượng tâm linh có từ thời Veda Ngay từ những cảm nghiệm tôn giáo sơ khai nhất, hoa sen đã gắn liền với sự thể hiện một bản thể vĩnh hằng - một bản thể nằm yên trong hứa hẹn bừng nở và tỏa hương nơi tâm linh con người” (Lê Thị Thanh Tâm, 2016, tr.72) Điều này cũng được thiền sư Chân Nguyên khẳng định trong Thiền tịch phú:

Quả bồ - đề ăn ngọt xớt, muôn kiếp hằng no

Hoa ưu - bát 2 ngửi thơm tho, ngàn đời chẳng dịch (Lê Mạnh Thát, 2018,

tr.728)

Nếu các thiền sư đời Lý - Trần xem hoa sen là bản thể, chân tính: “lô trung hoa nhất chi” của thiền sư Đạo Huệ, “Liên phát lô trung thấp vị can” của thiền sư Ngộ Ấn, một giá trị bất biến của con người thật không địa vị còn nguyên vẹn, thì trong Thiền tông bản hạnh thiền sư Chân Nguyên hướng đến hoa sen của hạnh nguyện tu hành và giải

thoát:

Cửu liên đài thượng hoa khai/ Những người niệm Bụt Di - đà Phật danh

Cùng về cực lạc hóa sanh/ Mình vàng vóc ngọc quang minh làu làu (Lê

Mạnh Thát, 2018, tr.806)

Sen trong cái nhìn đa diện, thiền sư Chân Nguyên đã đưa vấn đề diệu ngộ bản thể cũng như thực nghiệm chứng đắc vào trong thơ ca, làm cho biểu tượng sen đạt được diệu dụng ở mọi cấp độ Như thế mới đạt đến chỗ vô cùng như Nghiêm Vũ đã xác định sự

diệu ngộ giữa thơ và thiền: “Chỗ kì diệu của nó thấu triệt lung linh, không thể nắm bắt, như thanh âm giữa trời, sắc đẹp trong dung nhan, khuôn trăng dưới đáy nước, hình ảnh trong gương, lời có hạn mà ý vô cùng” (Phương Lựu (chủ biên), 2017, tr.87).

2 Dẫn theo Lê Mạnh Thát (2018) Toàn tập Chân Nguyên Tuệ Đăng tập 2 TP.HCM: Hồng Đức, tr.728: Hoa ưu bát,

phiên âm chữ phạn “utpala”, tức hoa sen xanh, một thứ hoa rất thơm quý.

6

Trang 7

Tựu trung, hình ảnh hoa sen được thể hiện trong thơ phú của thiền sư Chân Nguyên là biểu tượng văn hóa Phật giáo mang tính phổ quát, tuy nhiên mang nội hàm của những con người Phật giáo Việt Nam, đó là hoa sen trọn vẹn vừa ở phương diện tư tưởng bản thể luận và giải thoát luận, vừa ở phương diện thực tiễn nhập thế tích cực

1.2 Trăng

Trong thơ ca của nhân loại kể cả văn học nói chung và văn học tôn giáo nói riêng

trăng luôn là đối tượng văn học mỹ học của thơ ca Thật vậy, trăng là hỉnh ảnh đẹp diệu

kỳ và miên viễn, có thể nói phi thời gian và không gian Trăng trong thơ thiền của Tuệ

Trung đời Trần là vầng trăng của thực tướng, phi không - thời gian “Đêm qua trăng sáng, trăng đêm nay”, hay đến với Hàn Mặc Tử trong thơ mới đầu thế kỷ XX, trăng là vừa mộng vừa thực giàu chất xúc cảm giữa những mối tình thâm “Thuyền ai đợi bến sông trăng đó,/ Có chở trăng về kịp tối nay?”; thì trăng trong thơ phú của thiền sư Chân

Nguyên là sự chiêm ngưỡng vẻ đẹp giản dị trong đời sống thường tại:

Thanh phong minh nguyệt vô biên thú

Thánh chỉ tuy nghiêm bất cải tình (Lê Mạnh Thát, 2018, tr.619)

Ánh sáng trăng trong ngôn ngữ thiền là ánh sáng tâm linh, nét linh quang ấy là diệu thể, vừa là biểu tượng của chân tâm vừa là vẻ đẹp của thiên nhiên mà trong thơ ca Thiền tông nói chung và thơ, phú của thiền sư Chân Nguyên riêng thường hay xuất hiện:

Tu hành nhất niệm bản tâm thành/ Thọ biếm viên trung lễ Phật kinh

Phất phất hương phong hoa cảnh loạn/ Đoàn đoàn dạ nguyệt liễu âm

thanh (Lê Mạnh Thát, 2018, tr.621)

Có thể nói ở thế kỷ XVII - XVIII lịch sử xã hội đầy biến động về chính trị, cho nên trăng trong thơ của Chân Nguyên ít trình bày liên quan đến ý nghĩa bản thể, mà thiền

sư trực tiếp giới thiệu ánh sáng quen thuộc ấy trong đời sống thiền môn thường nhật Ánh sáng trăng ở đây là thứ ánh sáng phản chiếu cuộc sống hiện tại chân thật

1.3 Bồ đề

7

Trang 8

Bồ đề là một biểu tượng phổ biến trong kinh văn và văn hóa Phật giáo, nó mang nhiều tầng ý nghĩa, khi đạt được giác tánh thì Bồ đề là giác ngộ, khi đang giai đoạn tu tập thì Bồ đề chỉ được hiểu tánh giác, là bản thể vốn có sẵn trong mỗi chúng sanh Theo từ

điển Phật học của Đoàn Trung Còn: “Bồ đề, tiếng Phạn dịch là, đạo, giác, tri, thông đạo

lý, giác ngộ đạo lý, hiểu rõ hai cảnh của pháp: lý và sự Đắc Bồ đề thì diệt hết phiền não chứng Niết bàn Đắc Bồ đề đầy đủ thì thành bậc Như Lai Ấy là đại Bồ đề, Vô thượng Bồ

đề, Vô thượng trí huệ, chánh giác vô tướng, v.v ” (Đoàn Trung Còn, 2011, tr.219) Bồ đề

là hình ảnh rất quen thuộc trong kinh văn cả Nam truyền (Nikaya) và Bắc truyền (A -Hàm) cũng như trong kinh điển Đại thừa Do đó, thơ văn Phật giáo thường sử dụng thuật ngữ này để chuyển tải thông tin mang tư tưởng cả lý và sự

Bồ đề bản thể, thì trong Thiền tông bản hạnh tác giả đã nói đến Bồ đề là chánh giác, đạt

được quả vị giác ngộ:

Lòng thiền nghiên cẩn ai hay/ Quả Bồ đề chín đến ngày thu công

Thiên hạ nam bắc tây đông/ Thấy vua đắc đạo trong lòng vui thay (Lê Mạnh Thát,

2018, tr.788)

Hay ở một đoạn khác:

Ai khôn có trí có công/ Tu hành ngộ được tâm tông mới mầu

Nhân duyên có trước có sau/ Ai ai cũng có tính châu bồ - đề (Lê Mạnh Thát,

2018, tr.805)

Bồ đề hạt giống trong ai cũng có, nhưng cần phải gieo trồng thiện căn và làm điều phước thiện Tuy nhiên, căn tánh của mỗi chúng sanh lại khác nhau, nên đối riêng mỗi người để làm nảy nở hạt giống bồ đề giác ngộ ắt có nhanh có chậm khác nhau Việc ngộ

3 Đạo Nguyên Tổ sư soạn (2013) Cảnh Đức truyền đăng lục, tập 1 Lý Việt Dũng dịch Hà Nội: Hồng Đức, tr.264:

Thân thị Bồ-đề thọ/ Tâm như minh kính đài/ Thời thời cần phất thức/ Mạc khiển hữu trần ai.

4 Đạo Nguyên Tổ sư soạn (2013) Cảnh Đức truyền đăng lục, tập 1 Lý Việt Dũng dịch Hà Nội: Hồng Đức, tr.265:

Bồ-đề bổn phi thọ/ Minh kính diệc phi đài/ Bổn lai vô nhất vật/ Hà sự phạ trần ai?

8

Trang 9

tánh là không dễ, do đó thiền sư Chân Nguyên hết sức tự hào trong lịch sử Phật giáo đời Trần, sự nghiệp vững bền của giang sơn gắn liền với những ông vua tu Phật giác ngộ:

Đại Đăng quốc sư là thầy/ Thánh Tông đắc đạo mừng thay thốt rằng

“Tiền đăng lại điểm hậu đăng/ Mộng bồ đề nở những lòng ông cha” (Lê

Mạnh Thát, 2018, tr.794)

Qua ba biểu tượng hoa sen, trăng, bồ đề trong thơ, kệ của thiền sư đã gợi cho

người đọc những cảm nhận sống động, mang tầng nghĩa uyên áo tâm linh của Phật giáo

Từ cái nhìn mỹ học thiền tác giả đã đưa người đọc có cơ hội trực nhận thế giới tâm linh trong trường thơ ca Phật giáo Ngoài ra còn nhiều hình ảnh khác được sử dụng ít phổ biến

hơn như: thuyền bát nhã, bè từ bi, hoa ưu bát, trà bát đức, bánh tam thừa, v.v

2 Điển cố, điển tích

Ngôn ngữ nghệ thuật của văn học phương Đông thời trung đại nói chung và văn học Phật giáo thời kỳ này nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Tam giáo Xuất phát từ quan điểm thẩm mỹ đương thời là đối tượng được đưa vào văn thơ nghệ thuật thì

trước hết phải đẹp và cao sang Từ quan điểm này đã chi phối cách thức diễn đạt của các

nhà văn đó là ưa sử dụng điển tích, điển cố Vì sử dụng điển cố, điển tích là nhằm diễn đạt sao cho ngắn gọn, cô đọng, trí tuệ và trang nhã vấn đề mà tác giả muốn gửi gắm Thử đọc một đoạn tả Diệu Thiện mượn sức oai thần của thiên đình để dẹp yên giặc loạn Phụng Hà khi có ý định cướp ngôi vua của cha mình:

Thuở ấy thiên tướng linh quan/ Mình mặc thiết giáp đội hoàng kim khôi

Chân thì chuốc Lệ thủy hài/ Cầm tiết ma trúc việt đài hăm hăm (Lê Mạnh Thát,

2018, tr.660)

Trong Thiền tịch phú có đoạn giới thiệu con người trượng phu, đấng quân tử - một

mẫu hình lý tưởng của con người trung đại, mà cụ thể hơn con người trung đại thế kỷ XV

- XVIII là con người “mang đậm dấu ấn của tam giáo” theo cách nói của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử Bởi vì ở đó “đạo Nho nói tới đạo đức, chính trị, nghĩa vụ Đạo Lão

-9

Trang 10

Trang chỉ đề cao tính chất tự do, tự tại của con người Đạo Phật chỉ chú ý con đường giải thoát khỏi vòng luân hồi khổ ải Do vậy, khi gặp thời thì dựa vào Nho, khi thất thế thì theo Đạo, lúc cùng quẫn thì đi theo Phật” (Nguyễn Hữu Sơn (chủ biên), 2010, tr.90).

Khi nói về con người thiền sư đã đem những hình ảnh tươi đẹp của thiên nhiên để điểm

tô, ngợi ca đạo đức của con người lý tưởng theo quan điểm Nho giáo:

Sư quân tử cấy trúc ngô đồng/ Đệ trượng phu trồng thông tùng bách Trăm thức hoa đua nở kề hiên/ Bảy báu chất đầy kẽ ngạch

Ngào ngạt mùi xạ lan/ Thơm tho hương trầm bạch (Lê Mạnh Thát, 2018,

tr.726)

Tất nhiên, con người ấy đã nếm đủ thăng trầm của cuộc đời, rồi cũng đến lúc gác lại mọi ân oán, bụi trần để rẽ vào bến đổ của bờ giác theo con đường của Phật gia:

Sãi chưng nay/ mộ đạo tu hành/ xả đường kinh lịch Chí dốc nên Phật tổ siêu thăng/ Lòng nguyện độ chúng sinh trầm nịch (Lê

Mạnh Thát, 2018, tr.726 - 727)

Nói đến yếu tố thẩm mỹ trong thi học Nho gia, Phật gia và Đạo gia, Phương Lựu

trong Thi học cổ điển Trung Hoa đã đưa ra lập luận khá thú vị: “Có thể hình dung sơ bộ

là nếu thi học Nho gia mang tính chất nhập thế can dự vào xã hội, thi học Đạo gia mang tính chất xuất thế, quay về với tự nhiên, thì thi học Thiền gia không xuất không nhập đi đâu cả, mà an vị “tu tại gia”, không lánh đời, nhưng nhìn đời (cả thiên nhiên và xã hội) bằng con mắt gián cách mà lới lạ” (Phương Lựu (chủ biên), 2017, tr.78) Điều này rất đúng trong trường hợp của các vị vua tu Phật của Trần Triều, mà trong Thiền tông bản hạnh tác giả đã nói rất rõ chí nguyện sống đời và tu đạo của vua Trần Thái Tông để tạo

tác phúc lành, cứu giúp muôn dân:

Muốn được nên Bụt phát lòng xuất gia/ Trước là độ lấy thân ta

Sau là cứu được mẹ cha tổ huyền/ Vua Trần tước lộc binh quyền

10

Ngày đăng: 29/11/2021, 21:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đoàn Lê Giang. (2020). Tư tưởng lý luận vă học trung đại Việt Nam. TP.HCM:TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng lý luận vă học trung đại Việt Nam
Tác giả: Đoàn Lê Giang
Năm: 2020
2. Đoàn Lê Giang. (2020). Tư tưởng lý luận văn học cổ điển Trung Quốc. TP.HCM:TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng lý luận văn học cổ điển Trung Quốc
Tác giả: Đoàn Lê Giang
Năm: 2020
3. Đoàn Thị Thu Vân. (1998). Thơ Thiền Lý - Trần. TP.HCM: Văn nghệ TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Thiền Lý - Trần
Tác giả: Đoàn Thị Thu Vân
Năm: 1998
4. Đoàn Trung Còn. (2011). Phật học từ điển. (Tái bản lần thứ nhất). TPHCM: Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học từ điển
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Năm: 2011
5. Hòa thượng Phụng Sơn. (2015). Những nét văn hóa đạo Phật. Hà Nội: Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nét văn hóa đạo Phật
Tác giả: Hòa thượng Phụng Sơn
Năm: 2015
6. Lê Mạnh Thát. (2018). Toàn tập Chân Nguyên Tuệ Đăng tập 2. TP.HCM: Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập Chân Nguyên Tuệ Đăng tập 2
Tác giả: Lê Mạnh Thát
Năm: 2018
7. Lê Thị Thanh Tâm. (2016). Thơ ca Phật giáo Việt Nam - Đông Á nhìn từ mỹ học Thiền. Hà Nội: Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ ca Phật giáo Việt Nam - Đông Á nhìn từ mỹ học Thiền
Tác giả: Lê Thị Thanh Tâm
Năm: 2016
8. Nguyễn Công Lý. (2018). Văn học Việt Nam thời Lý - Trần. TP.HCM: Đại học quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thời Lý - Trần
Tác giả: Nguyễn Công Lý
Năm: 2018
9. Nguyễn Công Lý. (2018). Văn học Việt Nam thời Lê - Mạc, Nam Bắc phân tranh.TPHCM: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thời Lê - Mạc, Nam Bắc phân tranh
Tác giả: Nguyễn Công Lý
Năm: 2018
10. Phương Lựu (chủ biên). (2017). Thi học cổ điển Trung Hoa - Học phái, phạm trù, mệnh đề. Hà Nội: Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi học cổ điển Trung Hoa - Học phái, phạm trù,mệnh đề
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Năm: 2017
11. Viện văn học. (1977b). Thơ văn Lý - Trần tập II. Hà Nội: Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn Lý - Trần tập II

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w