Với xu thế ngày càng phát triển như hiện nay, Việt Nam đang đưa ra những giải pháp để cải cách tài chính, trong đó có Nghị định 16/2015/ND_CP có hiệu lực từ ngày 06/04/2015, nghị định nà
Trang 1MAI THỊ XUÂN BÌNH
VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
ĐÀ NẴNG - NĂM 2018
Trang 2MAI THỊ XUÂN BÌNH
VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số : 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐOÀN NGỌC PHI ANH
ĐÀ NẴNG - NĂM 2018
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả phương án nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Mai Thị Xuân Bình
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của luận văn 2
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÁC ĐƠN VỊ Y TẾ THUỘC HỆ DỰ PHÒNG 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ 7
1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị 7
1.1.2 Lịch sử phát triển của kế toán quản trị 8
1.1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị 9
1.1.4 Vai trò của kế toán quản trị 10
1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ Y TẾ DỰ PHÒNG 11
1.2.1 Đặc điểm của các đơn vị y tế thuộc Hệ dự phòng 11
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị y tế thuộc Hệ dự phòng 11
1.2.3 Đặc điểm hoạt động tài chính của các đơn vị y tế thuộc hệ dự phòng 12
1.3 KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC ĐƠN VỊ Y TẾ THUỘC HỆ DỰ PHÒNG 14
1.3.1 Sự cần thiết vận dụng kế toán quản trị vào các đơn vị y tế thuộc hệ dự phòng 14
1.3.2 Kế toán quản trị trong việc lập dự toán 15
1.3.3 Vận dụng kế toán trong việc kiểm tra đánh giá thực hiện dự toán 19
1.3.4 Vận dụng kế toán quản trị trong việc ra quyết định 23
Trang 5TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 26
2.1 TỔNG QUAN VỀ TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 26
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 26
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm 28
2.1.3 Cơ cấu tổ chức và lĩnh vực hoạt động của Trung tâm Y tế dự phòng TPĐN 30
2.1.4 Đặc điểm tổ chức kế toán tại Trung tâm Y tế dự phòng 35
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG TP ĐÀ NẴNG 40
2.2.1 Công tác lập dự toán 41
2.2.2 Kiểm tra, kiểm soát, đánh giá tình hình thực hiện dự toán 56
2.2.3 Cung cấp thông tin thích hợp cho việc ra quyết định 59
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG ĐÀ NẴNG 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 65
CHƯƠNG 3 VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 66
3.1 TÍNH TẤT YẾU VÀ YÊU CẦU VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ ĐỐI VỚI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 66
3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VIỆC VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG ĐÀ NẴNG 67
3.2.1 Hoàn thiện công tác lập dự toán theo yêu cầu của kế toán quản trị 67
3.2.2 Hoàn thiện công tác kiểm tra kiểm soát, đánh giá phân tích chi 70
3.2.3 Cung cấp thông tin hỗ trợ việc ra quyết định 73
Trang 6TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG TP ĐÀ NẴNG 80
3.3.1 Đối với nhà nước và các cơ quan chức năng 80
3.3.2 Đối với Trung tâm Y tế dự phòng TP Đà Nẵng 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
Trang 7Từ viết tắt Diễn giải
KTQT KTTC
: Kế toán quản trị : Kế toán tài chính
Trang 8Số hiệu
2.1 Danh mục và mẫu báo cáo kế toán được áp dụng tại Trung
2.2 Dự toán thu dịch vụ, phí, lệ phí năm 2015-2017 45
2.5 Dự toán chi chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định năm
2.7 Dự toán chi hoạt động Phòng chống Sốt rét năm 2016 53
2.8 Kết quả thực hiện nguồn thu của Trung tâm giai đoạn 2013
2.9 Các khoản chi NS thường xuyên của Trung tâm giai đoạn
3.3 Chi phí xét nghiệm khám sức khỏe Công ty TNHH
Trang 9Số hiệu
2.1 Sơ đồ tổ chức Trung tâm Y tế Dự phòng Đà Nẵng 31
2.2 Sơ đồ bộ máy kế toán tại Trung tâm Y tế dự phòng TP Đà
2.3 Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Chứng từ ghi sổ 40
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kế toán có vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và kiểm soát hoạt động kinh tế tài chính Tuy nhiên, để kế toán phát huy toàn diện chức năng thông tin và chức năng kiểm tra thì cần phải xây dựng một hệ thống kế toán hoàn chỉnh bao gồm cả hai phần là kế toán tài chính và kế toán quản trị Trong đó kế toán tài chính phản ánh thông tin xảy ra trong quá khứ mang tính chất khách quan Thông tin do kế toán quản trị cung cấp mang tính linh hoạt, phản ánh xu hướng biến động, có tính dự báo, có thể phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng kế hoạch tài chính phù hợp với mục tiêu đã được xác lập Vì vậy, việc xây dựng hệ thống kế toán hoàn chỉnh trong đó đề cao vai trò của kế toán quản trị là một vấn đề quan trọng cho mọi đơn vị kế toán
Với xu thế ngày càng phát triển như hiện nay, Việt Nam đang đưa ra những giải pháp để cải cách tài chính, trong đó có Nghị định 16/2015/ND_CP
có hiệu lực từ ngày 06/04/2015, nghị định này quy định các nguyên tắc, quy định chung về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực: Giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác, đồng thời Nghị định này ban hành đưa ra rõ lộ trình tính giá dịch
vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước buộc các đơn vị sự nghiệp có thu phải tự chủ kinh tế đặc biệt là các đơn vị sử nghiệp có thu như Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng thì việc điều chỉnh quản lý các họat động thu chi một cách hợp lý trong thời gian cải cách các hoạt động của đơn vị sao cho phù hợp với Nghị định 16/2015/ND-CP là một điều còn rất khó khăn và nan giải Vì vậy muốn chủ động kiểm soát thu chi hiện tại, chúng ta cần đưa
ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính Tuy nhiên việc vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng còn có nhiều vấn
Trang 11đề, chưa cung cấp đầy đủ thông tin cho các chức năng khác nhau của quản lý Với đề tài “Vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Đà Nẵng” tác giả mong muốn góp phần tăng tính hiệu quả trong việc quản lý tài chính tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng nói riêng và các đơn
vị y tế thuộc hệ dự phòng nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận về kế toán quản trị tại các đơn vị sự nghiệp công lập
- Phân tích thực trạng vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng
- Đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường vận dụng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài chính tại Trung tâm
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung kế toán quản trị được vận dụng cho
Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự
phòng Đà Nẵng trong năm 2015-2017
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp mô tả kết hợp với phương pháp so sánh, phân tích số liệu qua các năm tại Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng với dữ liệu thứ cấp thu thập từ Trung tâm Y tế dự phòng Đà Nẵng Ngoài ra, luận văn còn kế thừa các kiến thức, kinh nghiệm tiếp thu được từ các tài liệu, công trình nghiên cứu về lĩnh vực có liên quan đến đề tài
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày thành 3 chương: Chương 1: Lý luận cơ bản về Kế toán quản trị tại các đơn vị Y tế thuộc
Trang 126 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Kế toán quản trị ngày càng có vai trò quan trọng trong các tổ chức dù là các công ty doanh nghiệp tư nhân hay các đơn vị hành chính sự nghiệp có thu bởi vì bất cứ tổ chức nào cũng phải cần thông tin thích hợp do kế toán quản trị cung cấp trong việc hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra kiểm soát và ra quyết định Việc nghiên cứu vận dụng kế toán quản trị tại các đơn vị sự nghiệp có thu cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đặc biêt là về trường học Trong đó có thể kể đến:
Đầu tiên có thể kể đến đó là đề tài : “Vận dụng kế toán quản trị vào các trường chuyên nghiệp” của tác giả Dương Thị Cẩm Vân (2007) được nghiên cứu và bảo vệ đề tài tại Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Đề tài này tác giả đã đánh giá thực trạng kế toán tại các trường chuyên nghiệp (các trường trung học chuyên nghiệp và cao đẳng), các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị, nội dung và giải pháp vận dụng kế toán quản trị tại các trường chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh An Giang và các tỉnh lân cận Đề tài đã chỉ rõ được những hạn chế của hệ thống kế toán tại một số trường chuyên nghiệp Từ đó, tác giả cho thấy cũng có một vài biểu hiện của
kế toán quản trị như tiến hành lập dự toán, xây dựng định mức chi phí và phân tích quyết toán, Tuy nhiên nghiên cứu này mới chỉ đánh giá một cách chung chung công tác kế toán của các Trường chuyên nghiệp, không có một đại diện cụ thể nào, do vậy việc vận dụng KTQT đối với các Trường chuyên nghiệp trong phạm vi nghiên cứu của tác giả chỉ mới dừng lại ở việc chỉ ra
Trang 13hướng vận dụng, còn nặng về lý thuyết, chưa mang tính thực tiễn Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp chung là nghiên cứu
lý luận về kế toán quản trị theo quan điểm phát triển kết hợp xem xét tình hình thực tiễn kế toán tại các đơn vị trường chuyên nghiệp để ứng dụng lý luận vào thực tiễn
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hường (2008) với đề tài: “Vận dụng kế toán quản trị tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng" được nghiên cứu và bảo vệ đề tài tại Đại học Đà Nẵng Đề tài này, tác giả đã đánh giá được tính thực tiễn về vận dụng kế toán quản trị đối với các trường đại học theo quy chế tài chính mới, nhận diện biểu hiện của việc vận dụng kế toán quản trị
và đưa ra hướng vận dụng kế toán quản trị trong Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng Đề tài đã nêu rõ được những biểu hiện của kế toán quản trị tại Trường Đại học Ngoại ngữ để từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện một số nội dung kế toán quản trị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính cho đơn
vị Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng kết lý luận, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp mô tả
so sánh để làm rõ các vấn đề về lý luận, thực trạng và định hướng vận dụng
kế toán quản trị trong Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
Một đề tài nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải năm 2013
có đề tài “Vận dụng công tác kế toán quản trị tại trường Cao Đẳng Điện Lực Miền Trung” Đề tài này tác giả đã đưa ra những nội dung kế toán quản trị phù hợp có thể áp dụng đối với trường cao đẳng công lập, đánh giá những biểu hiện của việc vận dụng kế toán quản trị tại trường cao đẳng điện lực Miền Trung và đưa ra những giải pháp tổ chức thực hiện kế toán quản trị tại Trường Cao Đẳng Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống để khái quát những vấn đề lý luận về kế toán trị và tiến hành nghiên cứu trực tiếp tại Trường Cao đẳng Điện lực miền
Trang 14Trung để từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện KTQT cho Trường Cao đẳng Điện lực miền Trung Qua nhận xét trên, tác giả nhận thấy các bài viết đã được nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào việc nhìn nhận thực trạng công tác kế toán tại đơn vị để từ đó đưa ra giải pháp tổ chức thực hiện kế toán quản trị Để nâng cao khả năng vận dụng kế toán quản trị đối với các đơn vị sự nghiệp có thu trong giai đoạn mở cửa hội nhập, cạnh tranh việc nghiên cứu vận dụng kế toán quản trị tại Trường Cao đẳng Điện Lực nhằm khẳng định thêm tính thiết thực của công tác kế toán này, qua đó cũng giúp nhà quản lý chủ động trong công tác tài chính, có những quyết định mau chóng, kịp thời nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đào tạo và khả năng cạnh tranh
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện quản lý tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” của tác giả Trần Thanh Mỹ, năm
2012, chuyên ngành Tài chính ngân hàng, Học viện hành chính quốc gia Luận văn mô tả thực trạng tài chính trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm
2011 và đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác kế toán tại
BV Đa khoa Thành phố Buôn Ma Thuột Từ đó đề ra những giải pháp và kiến nghị để nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại BV Đa khoa Thành phố Buôn
Ma Thuột, đáp ứng nhu cầu người dân địa phương và khai thác tiềm năng của bệnh viện Luận văn đưa ra được những đề xuất để phát triển bệnh viện như: xây dựng hệ thống định mức, tiêu chuẩn chế độ chi tiêu nội bộ hợp lý; nâng cao hiệu quả công tác tài chính - kế toán của BV Đa khoa thành phố Buôn Ma Thuột; xây dựng đội ngũ cán bộ tài chính kế toán chuyên trách có tinh thần trách nhiệm, có nghiệp vụ cao; tận dụng các tiện ích của công nghệ ngân hàng hiện đại ứng dụng vào công tác kế toán; rà soát sắp xếp lại cơ cấu các khỏan chi theo nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả
Một nghiên cứu khác liên quan tới công tác kế toán tại bệnh viện là
“Hoàn thiện công tác kế toán tài chính tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam –
Trang 15Cu Ba Đồng Hới” tác giả Đoàn Nguyên Hồng, năm 2010 Luận văn đề cập đến thực trạng công tác kế tóan tại tài chính tại Bệnh viện, từ đó đưa ra những giải pháp bổ sung, hoàn thiện công tác tài chính tại Bệnh đơn vị, nâng cao hiệu quả hoạt động, khắc phục những hạn chế tồn tại trong công tác quản
lý, hướng đến việc nâng cao năng lực quản lý, sử dụng được nguồn kinh phí một cách hiệu quả, tránh được thất thoát
Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện Mắt thành phố Đà Nẵng” của tác giả Hồ Thị Như Minh, năm 2014 được nghiên cứu và bảo vệ đề tài tại Đại học Đà Nẵng Luận văn đã nêu lên được những bất cập trong công tác tài chính kế toán và từ đó đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính trong cơ chế tự chủ hiện nay
Luận văn thạc sỹ “Vận dụng kế toán quản trị tại Đại học Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Hạnh, năm 2012 Luận văn đã nêu được những tồn tại trong quá trình vận dụng kế toán quản trị từ đó đánh giá những ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân của những tồn tại khi vận dụng kế toán quản trị Tuy nhiên hiện nay chưa có đề tài nào nhắc đến việc vận dụng công tác
kế toán quản trị trong hoạt động tài chính tại các đơn vị Y tế dự phòng, và đây
là một thiếu sót bởi KTQT giúp cho lãnh đạo đơn vị có cái nhìn mới trong cách quản lý, KTQT đưa ra những thông tin hữu ích giúp nhà quản lý lập kế hoạch và quản lý đơn vị một cách dễ dàng hơn
Tuy nhiên, việc nghiên cứu vận dụng KTQT trong các đơn vị dự phòng còn nhiều hạn chế Đó chính là lý do đề tài này được thực hiện
Trang 16CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI
CÁC ĐƠN VỊ Y TẾ THUỘC HỆ DỰ PHÒNG
1.1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ
1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị
Có nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị:
Theo Luật Kế toán Việt nam, Kế toán quản trị “là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.” [15, tr.9]
Theo Viện nghiên cứu Kế toán quản trị của Mỹ, “Kế toán quản trị là một quy trình nhận dạng, tổng hợp, trình bày, giải thích và truyền đạt thông tin thích hợp cho nhà quản trị thiết lập chiến lược kinh doanh, hoạch định và kiểm soát hoạt động, ra quyết định kinh doanh, sử dụng có hiệu quả nguồn lực kinh tế, cải tiến và nâng cao giá trị doanh nghiệp, đảm bảo an toàn cho tài sản, kết hợp chặt chẽ việc quản trị và kiểm soát nội bộ” [5, tr.13]
Theo Kaplan và Atkinson thì “Kế toán quản trị là hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những nhà quản lý trong việc lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động của đơn vị Hoạt động của kế toán quản trị bao gồm việc thu thập, sắp xếp, phân loại, xử lý phân tích và báo cáo thông tin cho các nhà quản trị Không như thông tin do kế toán tài chính cung cấp cho những người sử dụng bên ngoài đơn vị như nhà đầu tư, chủ nợ, nhà cung cấp và cơ quan thuế, thông tin kế toán quản trị giúp cho việc ra quyết định trong nội bộ đơn vị” [16, tr.1]
Tóm lại, tùy thuộc vào các quan điểm khác nhau, có thể có những định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị Tuy nhiên sự khác nhau là không nhiều Các định nghĩa trên đều nhìn nhận kế toán quản trị là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của hệ thống kế toán, có nhiệm vụ tổ chức thông tin kế
Trang 17toán trong đơn vị, KTQT có quan hệ chặt chẽ với KTTC trong việc sử dụng
số liệu kế toán chi tiết của KTTC, song KTQT không phải là kế toán chi tiết
Có thể nói, nhìn từ góc độ phục vụ cho việc quản lý và ra quyết định thì kế toán quản trị là công việc ghi chép, thu thập, đo lường, phân tích và xử lý các thông tin kinh tế tài chính nhằm phục vụ cho các nhà quản lý doanh nghiệp trong việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định kinh doanh
1.1.2 Lịch sử phát triển của kế toán quản trị
Lịch sử phát triển của kế toán quản trị được chia làm 4 giai đoạn như sau:
-Giai đoạn 1 (Trước năm 1950): Trong giai đoạn này, kế toán quản trị
được xem như là một hoạt động kế toán cần thiết nhằm đạt đươc mục tiêu của
tổ chức
- Giai đoạn 2 (Vào những năm 1960): Sử dụng các phương pháp như
phân tích ra quyết định, kế toán trách nhiệm quản lý
- Giai đoạn 3 (Vào những năm 1980): Tập trung vào việc giảm thiểu
hao phí nguồn lực trong quá trình sản xuất kinh doanh bằng cách sử dụng kỹ thuật phân tích quá trình quản lý chi phí
- Giai đoạn 4 (Vào những năm 1990): sử dụng hiệu quả các nguồn lực,
công nghệ thông tin, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng và tổ chức, có thể nói từ giai đoạn 3 trở đi, kế toán quản trị được xem là một bộ phận cấu thành của quá trình quản lý vì tất
cả những nhà quản trị đều có thể trực tiếp tiếp cận với thông tin
Trong từng giai đoạn cả quá trình phát triển thể hiện sự thích nghi với những điều kiện mới đặt ra cho tổ chức, thể hiện bằng sự hoà nhập, kết cấu lãi Mỗi giai đoạn là sự kết hợp giữa cái cũ và cái mới, trong đó cái cũ được kết cấu lại để phù hợp với cái mới
Hiển nhiên, sự phát triển của kế toán quản trị sẽ được liên tục tiếp diễn
Trang 18Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, nhiều công cụ mạnh được áp dụng vào việc xây dựng hệ thống kế toán quản trị, giúp cho hệ thống ngày càng hoàn thiện và phát huy được hiệu quả trong điều kiện môi trường hoạt động luôn thay đổi
1.1.3 Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị
- Mục tiêu của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho lãnh đạo ra quyết định quản trị có trọng tâm, giúp lãnh đạo có thể tham gia vào quá trình quản trị và điều hành hoạt động Thông qua nhiệm vụ của mình, Kế toán quản trị cố gắng đạt được các mục tiêu sau:
+ Biết được các thành phần chi phí, tính toán, tổng hợp chi phí sản xuất, giá thành cho từng loại sản phẩm, từng loại công trình dịch vụ
+ Xây dựng các khoản dự toán ngân sách cho các mục tiêu hoạt động + Kiểm soát quá trình thực hiện và giải trình các nguyên nhân chênh lệch chi phí giữa dự toán và thực tế
+ Cung cấp các thông tin cần thiết để có các quyết định kinh doanh hợp
lý
- Nhiệm vụ của kế toán quản trị: Để thực hiện tốt các chức năng cơ bản
của mình, Kế toán quản trị phải làm tốt các nhiệm vụ sau:
+ Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị của đơn vị xác định theo từng thời kỳ Muốn vậy kế toán phải sử dụng hệ thống các chứng từ và sổ sách để ghi chép một cách có hệ thống hoạt động kinh doanh hàng ngày
+ Kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán
+ Cung cấp thông tin theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán quản trị
+ Tổ chức phân tích thông tin phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của Ban lãnh đạo doanh nghiệp
Trang 191.1.4 Vai trò của kế toán quản trị
Kế toán quản trị là công cụ đánh giá việc thực hiện những mục tiêu thông qua việc phân tích chi phí, là công cụ kiểm tra quá trình thực hiện quá trình hoạt động theo kế hoạch đã đề ra, từ đó có những quyết định hợp lý để họat động ngày càng đạt hiệu quả cao hơn
- Vai trò của kế toán quản trị là cung cấp thông tin hữu ích liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức điều hành hoạt động, kiểm tra kiểm soát và đưa ra quyết định
- Cung cấp thông tin cho quá trình lập kế họach: Việc lập kế hoạch trong một tổ chức phụ thuộc vào 2 yếu tố là mục tiêu họat động của tổ chức và dự toán ngân sách Do đó kế toán quản trị phải cung cấp thông tin liên quan đến từng họat động về chi phí, doanh thu, hiệu quả công việc cho nhà quản trị để lập kế hoạch trong tương lai nhằm phát triển tổ chức
- Cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành hoạt động: Để thực hiện vai trò này, nhà quản trị cần một lượng rất lớn thông tin, đặc biệt là những thông tin phát sinh hằng ngày để kịp thời điều chỉnh, tổ chức hoạt động Kế toán quản trị phải tổ chức ghi chép, xử lý thông tin, sắp xếp thông tin phù hợp cho từng tình huống khác nhau để các nhà quản trị xem xét ra quyết định đúng đắn nhất trong quá trình điều hành hoạt động
- Cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát: Để giúp các nhà quản trị có thể kiểm soát được hoạt động, kế toán quản trị sẽ cung cấp những báo cáo thực hiện thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch đã được lập, qua đó phát hiện những khâu, những chỗ chưa đạt được của quá trình thực hiện các kế hoạch cũng như những chỉ tiêu chưa hợp lý trong kế hoạch đã lập,
từ đó có những điều chỉnh thích hợp trong kế hoạch và trong quá trình thực hiện kế hoạch
- Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định: Thông tin kế toán
Trang 20thường là nhân tố chính trong việc ra quyết định của nhà quản trị Nó là nguồn tin mang tính chính xác cao, thật kịp thời, thật chi tiết, thật đầy đủ hữu ích nhất không chỉ trong quá khứ mà còn ở cả hiện tại và tương lai.Những thông tin này phần lớn được cung cấp từ Kế toán quản trị để cho nhà quản trị
ra các quyết định thích hợp
- Mối liên hệ của các chức năng như sau: cung cấp thông tin cho việc lên
kế hoạch, cung cấp thông tin cho tổ chức điều hành hoạt động, cung cấp thông tin cho quá trình kiểm soát, cung cấp thông tin cho quá trình đưa ra quyết định
1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ Y TẾ DỰ PHÒNG
1.2.1 Đặc điểm của các đơn vị y tế thuộc Hệ dự phòng
- Là một đơn vị sự nghiệp có thu do cơ quan thẩm quyền của nhà nước
thành lập ra được cấp kinh phí và tài sản để thực hiện các chức năng do nhà nước đề ra, đồng thời đơn vị còn tự tạo được nguồn thu thông qua nguồn thu phí, lệ phí, thu dịch vụ
- Là một đơn vị có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính
kế toán theo chế độ Nhà nước quy định;
- Có mở tài khoản tại kho bạc Nhà nước và ngân hàng để ký gửi các khoản thu, chi tài chính
1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị y tế thuộc Hệ dự phòng
Thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực y tế dự phòng, bao gồm: phòng, chống bệnh truyền nhiễm, bệnh chưa rõ nguyên nhân, bệnh xã hội; phòng, chống bệnh không lây nhiễm; sức khỏe trường học; dinh dưỡng cộng đồng; kiểm dịch y tế biên giới; hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu và nâng cao sức khỏe cho người dân tại cộng đồng; sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế; xét nghiệm thuộc lĩnh vực y tế dự phòng, an toàn sinh học trong xét nghiệm; quản
lý nhà nước các dịch vụ công cộng thuộc lĩnh vực y tế dự phòng,
Trang 211.2.3 Đặc điểm hoạt động tài chính của các đơn vị y tế thuộc hệ dự phòng
Đặc điểm hoạt động của các đơn vị y tế thuộc hệ dự phòng là việc triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội do Sở Y tế và Bộ Y tế giao phó Để hoàn thành nhiệm vụ trên đòi hỏi các đơn vị phải bảo đảm được nguồn kinh phí hoạt động của mình và công tác thu, chi ngân sách là yếu tố góp phần tạo nên nguồn kinh phí để hoạt động Theo cơ chế quản lý tài chính hiện nay, đặc điểm hoạt động tài chính của các đơn vị y tế thuộc hệ dự phòng được thể hiện như sau:
- Nguồn tài chính bao gồm: Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp; nguồn
thu từ dịch vụ; nguồn thu phí, lệ phí
- Nội dung chi của các đơn vị sự nghiệp có thu
+ Chi thường xuyên
+ Chi không thường xuyên
- Các đơn vị Y tế dự phòng được phân thành nhiều loại hình tự chủ khác nhau Tuỳ thuộc vào mỗi đơn vị, hàng năm sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi hoạt động thường xuyên, đơn
vị được sử dụng theo trình tự như sau:
+ Đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên
Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập: tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định;
Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích
Trang 22lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
+ Đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên:
Trích tối thiểu 15% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định;
Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 2 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
Phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) sau khi đã trích lập các quỹ theo quy định được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn
vị được quyết định sử dụng theo trình tự sau: Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập; Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ khác (nếu có)
+ Đối với đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường
xuyên
Trích tối thiểu 5% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
Trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 01 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định;
Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 01 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
Trang 23 Trích lập Quỹ khác theo quy định của pháp luật;
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, đơn
vị được quyết định mức trích vào các quỹ cho phù hợp theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
- Việc lập dự toán, chấp hành dự toán, hạch toán kế toán và quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước được các đơn vị thuộc hệ y tế dự phòng thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Luật kế toán, các văn bản hướng dẫn luật
1.3 KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG CÁC ĐƠN VỊ Y TẾ THUỘC HỆ
Với cơ chế quản lý tài chính mà nhà nước mới ban hành như hiện nay là việc tự chủ tài chính theo nghị định 16/2015/ND-CP buộc các đơn vị dự phòng phải đưa ra các phương pháp để hoạt động có hiệu quả các nguồn lực hiện có đồng thời phát triển thêm các dịch vụ mới để tạo thêm nguồn thu Các đơn vị y tế thuộc hệ dự phòng phải hoạch định, kiểm soát chi phí, đánh giá trách nhiệm cá nhân, đánh giá việc hoàn thành mục tiêu đề ra và ra các quyết
Trang 24định thích hợp Hơn nữa, trong giai đoạn nền kinh tế mở cửa hội nhập, ngày càng nhiều đơn vị tư nhân được mở ra để phục vụ khách hàng do đó càng làm gia tăng sự cạnh tranh đã và đang diễn ra trong lĩnh vực y tế Vì vậy để thu hút người dân và các nguồn tài trợ buộc các nhà quản lý phải xây dựng được thương hiệu riêng cho đơn vị của mình, nghĩa là chất lượng phục vụ khách hàng phải ngày càng tăng cao đạt chất lượng toàn diện, chứng tỏ được khả năng quản lý thật sự hiệu quả
Như vậy, có thể nói việc vận dụng kế toán quản trị vào các đơn vị y tế thuộc hệ dự phòng với những nội dung phù hợp trong bối cảnh hiện nay là một tất yếu khách quan Mặc dù việc vận dụng diễn ra có phần chậm hơn so với lĩnh vực sản xuất kinh doanh vì y tế không vì mục tiêu lợi nhuận nhưng
nó vẫn phải diễn ra cho phù hợp với xu thế phát triển hiện nay
Với công cụ KTQT sẽ giúp các đơn vị y tế thuộc hệ dự phòng về:
- Dự toán nguồn thu và chi hoạt động của các đơn vị
- Thực hiện kiểm soát chặt chẽ tình hình thực hiện so với dự toán
- Cung cấp thông tin thích hợp để lãnh đạo các đơn vị có những quyết định mang lại hiệu quả tài chính cao
Với những công cụ này việc vận dụng KTQT vào hoạt động của các đơn vị y tế thuộc hệ dự phòng là hoàn toàn phù hợp với xu thế hội nhập như hiện nay
1.3.2 Kế toán quản trị trong việc lập dự toán
Dự toán là cách diễn đạt về lượng hóa các mục tiêu của quản lý và là một công cụ được dùng để phân tích quá trình hướng đến các mục tiêu kế hoạch
đó Một bảng dự toán hiệu quả phải gắn chặt với chức năng quản trị
Ví dụ: Việc lập dự toán đòi hỏi sự phối hợp giữa các bộ phận bán hàng, sản xuất và mua hàng Trưởng bộ phận bán hàng cung cấp dự báo về doanh số cho giám đốc sản xuất, giám đốc sản xuất dựa vào đó để ước tính số sản phẩm
Trang 25cần sản xuất để đáp ứng cho việc bán hàng Với sản lượng sản xuất ước tính,
bộ phận mua hàng dự tính lượng và giá trị các loại nguồn lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu sản xuất Dự báo về doanh số bán còn giúp cho nhà quản lý ước tính được các khoản chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Dự toán là công cụ quan trọng cho việc hoạch định và kiểm soát Thông qua dự toán, nhà quản trị tiến hành đánh giá tình hình thu, chi dựa theo kế hoạch và thực tế đạt được trong phạm vi ngân sách đã dự toán, thấy được những thay đổi so với dự toán
Trong hoạt động của các đơn vị dự phòng, dự toán có các tác dụng sau:
- Là cơ sở để được xét duyệt và cấp kinh phí hoạt động hàng năm
- Là cơ sở để tổ chức, xây dựng bộ máy biên chế, tính toán cụ thể chế độ đãi ngộ đối với CCVC
- Là cơ sở để tính toán đầu tư cơ sở vật chất nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu phục vụ khách hàng
Cách tiến hành lập dự toán:
a Dự toán nguồn thu sự nghiệp
Dự toán các khoản thu sự nghiệp được lập đầu tiên và là căn cứ để xây dựng các dự toán khác
Dự toán các khoản thu sự nghiệp là một hoạt động rất quan trọng đối với các các đơn vị dự phòng, song theo nghị định 16/2015/NĐ-CP buộc các đơn
vị phải chủ động hơn cho trong việc chi tiêu, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn thu NSNN Dự toán này cần được thực hiện một cách nghiêm túc và đúng quy định của Luật ngân sách
Dự toán thu phí, lệ phí: Dự toán thu phí, lệ phí được tính dựa vào số
lượng khách hàng năm trước để làm kế hoạch lập dự toán cho năm nay
Đối với các khoản thu này thì căn cứ vào nhu cầu tài chính của đơn vị, căn cứ vào chi phí bỏ ra và dựa vào quy định của nhà nước để xây dựng dự
Trang 26toán với các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp chi phí và có tích lũy
b Dự toán chi sự nghiệp
- Dự toán chi hoạt động thường xuyên của đơn vị: theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao và chi các hoạt động sự nghiệp Dự toán chi bao gồm chi từ ngân sách nhà nước và chi từ nguồn thu dịch vụ và nguồn thu phí, lệ phí được để lại
+ Dự toán chi thanh toán cá nhân được xây dựng dựa vào số lượng cán
bộ CNV hiện có, các dự toán còn lại được xây dựng chủ yếu vào số thực hiện của năm trước và nhu cầu cụ thể của năm dự toán
+ Dự toán nhóm chi cho con người (nhóm thanh toán cá nhân): bao gồm các khoản chi về lương, phụ cấp về lương (được tính theo chế độ hiện hành,
kể cả nâng bậc lương hàng năm trong từng đơn vị hành chính sự nghiệp), tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản nộp theo lương: Bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn Đây là khoản bù đắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động cho y bác sỹ, y tá, cán bộ công nhân viên của đơn vị
+ Dự toán nhóm chi về hàng hóa, dịch vụ, bao gồm các khoản chi: tiền điện, tiền nước, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc, hội nghị, đoàn ra, đoàn vào, xăng xe, chi mua hàng hoá, vật tư dùng cho công tác chuyên môn; trang thiết bị kỹ thuật; sách, tài liệu chuyên môn y tế…Nhóm này nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy quản lý của đơn vị và phụ thuộc vào cơ sở vật chất và quy mô hoạt động của đơn vị
+ Dự toán nhóm các khoản chi khác: Bao gồm chi các khoản lệ phí cầu đường, sân bay, bến bãi, bảo hiểm phương tiện, chi phí tiếp khách, chi lập quỹ bổ sung thu nhập, chi lập quỹ phúc lợi, khen thưởng, chi lập quỹ phát triển sự nghiệp và các chi phí khác
Trang 27+ Dự toán nhóm chi hỗ trợ vốn cho đơn vị, các quỹ và đầu tư vào tài sản: Bao gồm chi mua sắm, sửa chữa tài sản Hàng năm do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của tài sản cố định dùng cho hoạt động chuyên môn cũng như quản lý nên thường phát sinh nhu cầu kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã xuống cấp
+ Chi hoạt động chuyên môn quản lý: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao
và khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
- Dự toán chi hoạt động không thường xuyên: Đơn vị chi theo quy định của Luật NSNN và pháp luật hiện hành với từng nguồn kinh phí như: chi các khoản sửa chữa phát sinh đột xuất, chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học
và công nghệ, chi dự án …Đối với chi hoạt động không thường xuyên này, các đơn vị lập kế hoạch chi theo đúng nội dung mục chi được Nhà nước giao
dự toán
c Dự toán kết quả hoạt động tài chính
Dự toán kết quả hoạt động tài chính là phần chênh lệch thu lớn hơn chi giữa tổng dự toán thu và tổng dự toán chi của đơn vị Đây là phần dôi ra để trích lập 4 quỹ: Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ phúc lợi, Quỹ khen thưởng, Quỹ bổ sung thu nhập
d Dự toán phân phối kết quả hoạt động tài chính
Được xây dựng sau khi đã có dự toán kết quả hoạt động tài chính thu lớn hơn chi Dự toán phân phối kết quả hoạt động tài chính được xây dựng và sử dụng tuỳ theo mỗi loại hình đơn vị và được thực hiện theo nghị định 16/2015/NĐ-CP Các quỹ được sử dụng như sau:
- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất,
Trang 28mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc; phát triển năng lực hoạt động sự nghiệp; chi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ; đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho người lao động trong đơn vị; góp vốn liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (đối với đơn vị được giao vốn theo quy định) để tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và các khoản chi khác (nếu có)
- Quỹ bổ sung thu nhập: Để chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong năm và dự phòng chi bổ sung thu nhập cho người lao động năm sau trong trường hợp nguồn thu nhập bị giảm
Việc chi bổ sung thu nhập cho người lao động trong đơn vị được thực hiện theo nguyên tắc gắn với số lượng, chất lượng và hiệu quả công tác Hệ số thu nhập tăng thêm của chức danh lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công tối đa không quá 2 lần hệ số thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện của người lao động trong đơn vị
- Quỹ khen thưởng: Để thưởng định kỳ, đột xuất cho tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị (ngoài chế độ khen thưởng theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng) theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp vào hoạt động của đơn vị Mức thưởng do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
- Quỹ phúc lợi: Để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi; chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị; trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động, kể cả trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức; chi thêm cho người lao động thực hiện tinh giản biên chế
Việc sử dụng Quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
1.3.3 Vận dụng kế toán trong việc kiểm tra đánh giá thực hiện dự toán
Vận dụng kế toán quản trị kiểm tra bằng cách tiến hành so sánh kết quả
Trang 29thực hiện với dự toán được lập Thông qua kết quả so sánh đó cho thấy sự khác nhau giữa thực hiện và dự toán để từ đó nhà quản trị chủ động có biện pháp để điều chỉnh kịp thời, tránh rơi vào tình trạng dư thừa dẫn đến lãng phí hay bị thiếu hụt kinh phí
Dự toán, kiểm tra và đánh giá hoạt động tài chính là công cụ chủ yếu để điều hành và quản lý các hoạt động thu - chi tài chính nhằm đạt các mục tiêu, chương trình, kế hoạch hoạt động đã đề ra Về mặt thủ tục nó là kiểm tra giữa thu, chi thực tế với thu, chi dự toán để đánh giá, xem xét tiến độ cũng như có
cơ sở lập dự toán cho kỳ đến
a Kiểm tra công tác thu
Hàng năm các đơn vị xây dựng kế hoạch thu tài chính của từng nguồn kinh phí: NSNN, nguồn dịch vụ, nguồn thu phí lệ phí Kế hoạch tài chính này được xây dựng dựa vào tình hình thu thực tế của năm trước để làm căn cứ xây dựng kế hoạch cho năm sau
Sau khi được cơ quan chủ quản giao kế hoạch thu chi tài chính, Các đơn vị triển khai tổ chức thực hiện việc thu tài chính của đơn vị làm sao thu đúng, thu đủ theo pháp luật của nhà nước, cụ thể:
Nguồn kinh phí Ngân sách nhà nước:
+ Nguồn kinh phí thường xuyên Nhà quản lý nhận dự toán giao hàng năm của cơ quan chủ quản về việc chi tiền lương và các hoạt động chuyên môn của đơn vị;
+ Nguồn kinh phí không thường xuyên: nguồn kinh phí này được cấp chi tiết theo từng danh mục mua sắm, sửa chữa, chống dịch mà đơn vị đã xây dựng dự toán đầu năm, số kinh phí mà đơn vị đề xuất sẽ được cơ quan chủ quản cân đối trong phần ngân sách của thành phố để cấp cho đơn vị Đơn vị căn cứ trên từng danh mục cụ thể để triển khai thực hiện
Nguồn thu phí, lệ phí: Các đơn vị sẽ thực hiện thu đúng, thu đủ các
Trang 30nguồn thu phí, lệ phí theo thông tư 240/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của
Bộ tài chính quy định giá tối đa dịch vụ kiểm dịch y tế, y tế dự phòng tại cơ
sở y tế công lập
Nguồn thu dịch vụ: mức thu các dịch vụ như tiêm chủng được thực hiện theo Thông tư 56/2014/TT-BTC ngày 28/4/2014 và Thông tư 233/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ tài chính
Đến khoảng cuối quý III các đơn vị thuộc hệ dự phòng kiểm tra cân đối lại số thực nhận và thực chi nguồn kinh phí không thường xuyên của NSNN theo từng danh mục nếu có thừa, thiếu cần thay đổi, bổ sung thì làm tờ trình gửi Sở y tế để xin điều chỉnh danh mục để chuyển từ những mục thừa sang
sử dụng cho những khoản kinh phí bị thiếu hoặc bổ sung thêm những danh mục mới phát sinh theo nhu cầu hoạt động chuyên môn Việc kiểm soát các nguồn thu của đơn vị do bộ phận Tài chính kế toán phụ trách, bộ phận kế toán có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thu các khoản cho đúng, đủ theo
đúng quy định về giá đã niêm yết hoặc giá theo quy định của Bộ tài chính
b Kiểm tra công tác chi
Tiết kiệm chi là yêu cầu cần thiết đối với bất cứ một đơn vị có thu nào trong điều kiện hiện nay Tiết kiệm chi làm giảm chi phí không cần thiết, tăng thu để có điều kiện đầu tư cơ sở vật chất, tăng thu nhập cho người lao động để
từ đó nâng cao tinh thần làm việc và phục vụ khách hàng Đồng thời theo Thông tư số 37/2015/TTLT-BYT-BTC từ 01/03/2016 các chi phí liên quan đến chi phí trực tiếp (thuốc men, tiền điện, tiền nước…) và các khoản phục cấp đặc thù sẽ được tính vào nguồn viện phí, đến ngày 01/07/2016 tiền lương cũng sẽ được tính vào nguồn viện phí, theo thông tư mới này hướng tới việc
tự chủ tài chính, với xu hướng như hiện này buộc các đơn vị phải đưa ra các chính sách để quản lý nguồn chi sao cho hợp lý
Kiểm soát chi là việc phân tích tình hình chi thực tế so với dự toán để
Trang 31đảm bảo chi đúng theo dự toán đã phê duyệt và để cân đối thực hiện mục tiêu chi, tránh tình trạng có mục chi thì quá nhiều dẫn đến lãng phí hoặc mục chi thì quá ít do thiếu hụt kinh phí Đồng thời phải xác định rõ nội dung, nguyên nhân làm thay đổi dự toán, nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện chi không đúng với tổng dự toán và dự toán chi tiết đã được phê duyệt
Các khoản chi được lập kế hoạch định mức chi hàng năm theo từng nhóm mục chi trên cơ sở tình hình tài chính của năm trước Để thực hiện tốt các khoản chi không sai mục đích thì các đơn vị phải có định mức chi từng tháng, quý Các khoản chi được phòng Kế hoạch Tài chính lập và theo dõi chi cho đúng mục chi theo bảng kế hoạch đề ra
Những khoản chi đã xây dựng theo kế hoạch đầu năm không sử dụng đến thì phải điều chỉnh qua mục chi khác cho hợp lý, hạn chế tình trạng dư thừa kinh phí cuối năm
Giám sát các khoản chi: Các đơn vị xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ căn cứ trên cơ sở định mức kinh tế kỹ thuật và chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước để đảm bảo hoạt động thường xuyên cho phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị mình, đồng thời tăng cường công tác quản lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả trong phạm
vi nguồn tài chính của mình
c Đánh giá tình hình hoạt động giữa thực hiện và dự toán
Dự toán, kiểm tra và đánh giá hoạt động tài chính là công cụ chủ yếu để điều hành và quản lý các hoạt động thu, chi tài chính của đơn vị nhằm đạt các mục tiêu chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng, chương trình, kế hoạch hoạt động đã đề ra Về mặt thực hiện thì nó là kiểm soát giữa chi thực tế với chi dự
toán để đánh giá, xem xét cũng như có cơ sở lập dự toán cho kỳ tiếp theo
Nội dung chủ yếu của việc đánh giá là:
- Đánh giá và tính toán hiệu quả của các hoạt động chuyên môn về y tế
Trang 32dự phòng các hoạt động dịch vụ khác
- Kiểm tra và giám sát tình hình thực hiện các chỉ tiêu so với kế hoạch,
dự toán và so với các năm trước
- Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố, phát hiện tiềm năng và đề
ra biện pháp khai thác hiệu quả
1.3.4 Vận dụng kế toán quản trị trong việc ra quyết định
Cũng giống như việc hoạch định, việc ra quyết định chỉ đề cập đến khuôn khổ kinh tế của từng hoạt động dự phòng, mục này chỉ đề cập đến các khía cạnh về chi phí của việc ra quyết định Tuy nhiên các chi phí không phải
là tiêu chí duy nhất trong việc ra quyết định nhưng quyết định lại ảnh hưởng đến các chi phí
Quyết định mang tính ngắn hạn
Là việc ra quyết định có liên quan đến các lựa chọn tức thời, đến từng giao dịch một như thể đó là hoạt động duy nhất và được đánh giá dựa trên giá trị của từng hoạt động
Các quyết định mang tính ngắn hạn như: quyết định mức giá khám nghĩa
vụ quân sự trong đợt tuyển quân, khám sức khỏe tổng quát cho một đơn vị nào đó, quyết định lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa,
Muốn đưa ra các quyết định này thì đòi hỏi cần phải có những thông tin
cụ thể về chi phí mà trong đó chi phí được phân loại thành chi phí cố định và chi phí biến đổi Chi phí cố định là những chi phí không thể bỏ đi được như là tiền lương, tiền phụ cấp, tiền khấu hao tài sản cố định, Khi các chi phí cố định gia tăng thì yêu cầu đặt ra là phải tính toán giá dịch vụ là bao nhiêu? Những dịch vụ nào sẽ được đưa vào để phục vụ cho khách hàng? Lượng khách hàng từng đợt, với nguyên tắc lấy thu bù chi và có được mức tích lũy mong muốn
Đối với những loại quyết định này cần đưa ra những phân tích liên quan
Trang 33đến chi phí đầu vào: như hóa chất, vật tư, thuốc men, vật tư y dụng cụ…, số cán bộ tham gia hoạt động dịch vụ, sau đó tổng lại mức chi phí cho từng hoạt động từ đó so sánh mức giá theo quy định của nhà nước, từ đó nhà quản trị mới đưa ra quyết định
Quyết định mang tính dài hạn
Là quyết định giúp nhà quản lý giải quyết được bài toán kinh tế hoạch địch chiến lược lâu dài
Các quyết định mang tính dài hạn là các quyết định về việc mua sắm trang thiết bị mới hay sửa chữa trang thiết bị cũ, quyết định về đầu tư mở rộng
cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động lâu dài của đơn vị
Hiện nay việc công bố mức giá dịch vụ theo Thông tư BTC và Thông tư 233/2016/TT-BTC cũng là một trong những yếu tố để các nhà quản trị đưa ra các quyết định liên quan đến chi phí trực tiếp như việc mua sắm thuốc men, hóa chất,… sao cho phù hợp nhất Tuy nhiên cũng có các loại dịch vụ mà các đơn vị thực hiện nhưng chưa có mức giá theo các văn bản quy định của nhà nước, vì vậy mỗi đơn vị phải xây dựng cho mình một mức giá dịch vụ cụ thể để kiểm soát được lợi nhuận thu được từ các hoạt động dịch vụ đó
Trang 3456/2014/TT-KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Ở Chương 1, luận văn tập trung nghiên cứu, hệ thống hóa những nội dung cơ bản của KTQT Cụ thể: Khái niệm, vai trò, lịch sử phát triển, mục tiêu nhiệm vụ và đặc điểm thông tin của kế toán quản trị Luận văn cũng trình bày đặc điểm, hoạt động tài chính của các đơn vị thuộc hệ Y tế dự phòng và ảnh hưởng của quản lý tài chính đối với công tác kế toán ở các đơn vị đó Từ
đó nêu ra những nội dung KTQT có thể vận dụng ở các đơn vị Y tế dự phòng như: Lập dự toán, kiểm tra đánh giá thực hiện dự toán, vận dụng KTQT cho việc ra quyết định Những vấn đề đưa ra chắc chắn chưa được đầy đủ và toàn diện nhưng đây là những vấn đề cơ bản và thiết thực của kế toán quản trị nhằm xác lập cơ sở lý luận nghiên cứu cho việc phản ánh thực trạng kế toán quản trị tại Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Đà Nẵng ở Chương 2 và đưa
ra hướng vận dụng ở Chương 3
Trang 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1 TỔNG QUAN VỀ TRUNG TÂM Y TẾ DỰ PHÒNG THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Sau ngày 29 tháng 03 năm 1975 cùng với niềm vui giải phóng quê hương, ngành Y tế tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng được sự chi viện của ngành Y tế thành phố Hải Phòng đã tổ chức thành lập Trạm Vệ sinh phòng dịch gồm có 18 người bao gồm cả số cán bộ y tế từ trên căn cứ xuống và một số cán bộ y tế lưu dung Với nhiệm vụ hết sức bề bộn do hậu quả chiến tranh để lại, môi trường sống bị
ô nhiễm nghiêm trọng, dịch tả, dịch hạch xảy ra thường xuyên trên địa bàn, song với niềm tự hào quê hương được giải phóng, cán bộ công nhân viên toàn trạm đã nỗ lực thi đua, tích cực vận động nhân dân tổng vệ sinh, phun hóa chất tẩy uế môi trường, tiêm phòng cho nhân dân, hướng dẫn nhân dân vùng mới giải phóng thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường sống
Được sự quan tâm của UBND tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, Bộ Y tế, Trạm
Vệ sinh phòng dịch đã từng bước được đầu tư cả về cơ sở hạ tầng và trang thiết bị Đến năm 1996, sau 21 năm giải phóng cùng với sự lớn mạnh của các đơn vị trong ngành Y tế tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng cũ, Trung tâm Y tế dự phòng đã không ngừng phát triển và lớn mạnh, luôn hoàn thành tốt các nhiệm
vụ y tế dự phòng trên địa bàn, triển khai có hiệu quả các chương trình y tế quốc gia như: tiêm chủng mở rộng, phòng chống bệnh tiêu chảy, phòng chống HIV/AIDS Trung tâm đã có 60 cán bộ công chức, trong đó gần 30% là cán
bộ có trình độ đại học, phòng xét nghiệm đã triển khai được các xét nghiệm
cơ bản phục vụ giám sát dịch tễ và vệ sinh môi trường, phục vụ kịp thời công
Trang 36tác phòng chống dịch bệnh
Năm 1997 là một mốc đáng ghi nhớ khi thành phố Đà Nẵng được Chính phủ cho phép tách ra từ tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng cũ và trở thành thành phố trực thuộc trung ương Một bộ phận với 14 cán bộ công nhân viên nhận nhiệm vụ mới vào Quảng Nam để xây dựng Trung tâm Y tế dự phòng Quảng Nam, nhiều trang bị, phương tiện phải ưu tiên chuyển cho đơn vị mới thành lập Là thành phố trực thuộc trung ương, sự thiếu hụt về con người và trang thiết bị là một thách thức to lớn đối với cán bộ công nhân viên Trung tâm Y tế dự phòng Để xứng đáng là công dân của thành phố trực thuộc trung ương, được sự lãnh đạo của Sở Y tế, tập thể cán bộ công nhân viên trong đơn vị đã đồng tâm nhất trí, đoàn kết nỗ lực phấn đấu không ngừng, vượt qua muôn vàn rào cản, khó khăn, cần mẫn và chăm chỉ
để xây dựng và phát triển Trung tâm
Về trang thiết bị, được sự quan tâm của UBND thành phố, Sở Y tế và tranh thủ sự hỗ trợ của trung ương, đến nay Trung tâm đã có một labo xét nghiệm khá hoàn chỉnh, đã triển khai thực hiện được nhiều chỉ tiêu xét nghiệm mà theo quy định phải gửi đi Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh Không thoả mãn với những thành quả đó, Trung tâm Y tế dự phòng thành phố tiếp tục không ngừng củng cố và hoàn thiện cả về cơ sở vật chất, kỹ thuật trang bị và con người để xứng đáng với vị thế của thành phố đô thị loại I trực thuộc trung ương; nâng cao đời sống cán bộ công chức, phục vụ ngày càng tốt hơn sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân
Trung tâm Y tế dự phòng thành phố Đà Nẵng nhiều năm qua được tặng bằng khen và Cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Y tế, UBND thành phố Đà Nẵng và đặc biệt là được tặng Huân chương Lao động hạng Ba, Hạng Nhì của Chủ tịch nước Liên tục nhiều năm Chi bộ đạt danh hiệu Chi bộ trong sạch vững mạnh Công đoàn là tổ chức công đoàn vững mạnh xuất sắc
Trang 372.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm
Chức năng
- Trung tâm Y tế dự phòng TPĐN là đơn vị sự nghiệp y tế công lập trực thuộc Sở Y tế TPĐN, có chức năng chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng trên địa bàn thành phố; tổ chức thực hiện các dịch vụ công về y tế theo quy định của pháp luật
- Trung tâm Y tế dự phòng TPĐN có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản riêng, có trụ sở làm việc chính tại 315 Phan Châu Trinh và cơ sở tiêm chủng tại 103 Hùng Vương TPĐN
- Trung tâm Y tế dự phòng TPĐN chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, hoạt động và các nguồn lực của Sở Y tế; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Y tế
Nhiệm vụ và quyền hạn
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng trên cơ sở định hướng, chính sách, chiến lược, kế hoạch của Bộ Y tế và tình hình thực tế của địa phương trình Sở Y tế phê duyệt: giám sát, phòng chống dịch, bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, các bệnh xã hội; kiểm dịch y tế; sức khỏe môi trường, sức khỏe lao động, sức khỏe trường học; chất lượng nước ăn uống, nước sinh hoạt; xét nghiệm an toàn thực phẩm; dinh dưỡng cộng đồng; vệ sinh phòng bệnh; quản
lý, sử dụng vắc xin và sinh phẩm y tế; an toàn sinh học; phòng chống tai nạn thương tích; các hoạt động nâng cao sức khỏe, phòng chống các yếu tố nguy
cơ tác động lên sức khỏe; khám sàng lọc phát hiện bệnh sớm và quản lý, điều trị dự phòng ngoại trú các bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm
- Chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng đối với các Trung tâm Y tế hoặc Trung tâm Y tế dự phòng quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là Trung tâm y tế huyện), cơ sở y tế và Trạm
Trang 38y tế xã, phường, thị trấn trên địa bàn
- Triển khai các hoạt động truyền thông nguy cơ; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện công tác thông tin, truyền thông, giáo dục sức khỏe thuộc lĩnh vực y tế dự phòng
- Xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo liên tục về chuyên môn, kỹ thuật cho công chức, viên chức, người lao động của Trung tâm; tham gia đào tạo, đào tạo liên tục về chuyên môn, kỹ thuật thuộc lĩnh vực y tế dự phòng theo kế hoạch của Thành phố, Trung ương trên địa bàn; là cơ sở thực hành của các cơ
sở đào tạo nhân lực y tế trên địa bàn và của Trung ương trong lĩnh vực y tế dự phòng
- Nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật thuộc lĩnh vực y tế dự phòng
- Đề xuất, quản lý và tổ chức thực hiện các đề án, dự án, chương trình mục tiêu y tế quốc gia và hợp tác quốc tế về y tế dự phòng trên địa bàn thành phố khi được cấp có thẩm quyền giao, phê duyệt
- Tổ chức thực hiện các hoạt động dịch vụ về y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe cộng đồng và khám sàng lọc phát hiện bệnh sớm, quản lý, điều trị
dự phòng ngoại trú các bệnh truyền nhiễm, không lây nhiễm
- Tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động thuộc lĩnh vực y tế dự phòng trên địa bàn
- Thực hiện quản lý cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và quản lý tài chính, tài sản của đơn vị theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các chế độ thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các quyền hạn, nhiệm vụ khác do Sở Y tế và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao
Trang 392.1.3 Cơ cấu tổ chức và lĩnh vực hoạt động của Trung tâm Y tế dự phòng TPĐN
a Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Y tế dự phòng được thể hiện qua Sơ đồ 2.1
Tổ chức bộ máy của Trung tâm có: 9 khoa, phòng (02 phòng chức năng,
07 khoa chuyên môn) Tổng cộng nhân sự là 80 người
b Nhiệm vụ, chức năng của từng bộ phận
- Giám đốc: Giám đốc Trung tâm là người đứng đầu Trung tâm, chịu
trách nhiệm trước cấp trên trực tiếp về mọi hoạt động của Trung tâm
- Phó giám đốc: phó giám đốc là người giúp giám đốc về từng mặt công
tác do giám đốc phân công và chịu trách nhiệm trước giám đốc về những
quyết định của mình Phó giám đốc được quyền thay giám đốc giải quyết
những công việc theo giấy uỷ quyền của giám đốc và phải báo cáo lại những công việc đã giải quyết với giám đốc
- Phòng Tổ chức - Hành chính: Đầu mối giúp Giám đốc Trung tâm
trong công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; các chế độ chính sách tiền lương, khen thưởng, kỷ luật của Trung tâm theo quy định của pháp luật và bảo vệ chính trị nội bộ của Trung tâm; Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ hành chính, quản trị, văn thư, lưu trữ phục vụ cho hoạtđộng của Trung tâm; Đầu mối, phối hợp với các khoa, phòng trong công tác đào tạo, đào tạo liên tục về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ của Trung tâm
và cho tuyến dưới; Đầu mối, phối hợp với các khoa, phòng tổ chức hội thảo, hội nghị, tập huấn; Quản lý cơ sở vật chất, kho, tài sản của Trung tâm; Thực hiện chế
độ thống kê, báo cáo theo quy định.
Trang 40Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Trung tâm Y tế Dự phòng Đà Nẵng
Phòng Khám
tư vấn
và điều trị dự phòng
Khoa Xét nghiệm
Khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm
Khoa Sức khoẻ nghề nghiệp
Khoa Sức khoẻ môi trường và Sức khoẻ trường học
Khoa Kiểm soát bệnh không lây nhiễm và dinh dưỡng
Khoa Sốt rét
ký sinh trùng và côn trùng