Dựa trên cácđiều kiện đã được pháp luật quy định có thể định nghĩa bán hàng đa cấp như sau:Bán hàng đa cấp là một phương thức bán hàng trực tiếp,theo đó doanh nghiệp bánhàng hoá thông qu
Trang 1MỞ ĐẦU
Như là một xu thế tất yếu của quá trình đổi mới nền kinh tế đất nước, cùng với việchàng hóa nước ngoài tràn vào Việt Nam thì các phương thức bán hàng “phi truyềnthống” rất mới lạ cũng nhanh chóng được du nhập vào nước ta Bắt đầu xuất hiện ởViệt Nam vào khoảng năm 1998 phát triển mạnh bắt đầu từ năm 2000, sự xuất hiện
và bùng nổ của phương thức bán hàng đa cấp trên thực tế đã tạo ra sự hoang mangcho người tiêu dùng và sự lúng túng trong xử lý của các cơ quan quản lý Hoạtđộng của đa số các công ty sử dụng phương thức bán hàng đa cấp đã phát sinhnhiều quan hệ phức tạp giữa Doanh nghiệp và người tham gia bán hàng đa cấp.Đồng thời vấn đề chất lượng cũng như giá cả của sản phẩm được cung cấp thôngqua phương thức bán hàng đa cấp có nguy cơ gây tổn hại lớn tới quyền và lợi íchcủa người tiêu dùng Trước thực trạng cấp bách trên, Luật cạnh tranh được quốchội thông qua ngày 3/12/2004 (có hiệu lực ngày 1/7/2005) đã quy định về việcngăn cấm bán hàng đa cấp bất chính Để hiểu rõ hơn về những quy định của pháp
luật về vấn đề này em xin đi sâu làm sáng tỏ đề tài “Thực trạng pháp luật cạnh
tranh Việt Nam về bán hàng đa cấp bất chính”
NỘI DUNG
I, Một số vấn đề lý luận về bán hàng đa cấp bất chính
1 Khái niệm và đặc trưng của bán hàng đa cấp
1.1 Khái niệm bán hàng đa cấp
Ở Việt Nam, bán hàng đa cấp là một khái niệm mới và lần đầu tiên được chínhthức ghi nhận trong Luật Cạnh tranh năm 2004 Trước đó, kiểu kinh doanh nàythường được gọi dưới tên là “truyền tiêu đa cấp”,“kinh doanh theo mạng”,“tiếp thị
đa tầng” Trên thế giới phương thức này thường được sử dụng dưới tên gọi “kinh
Trang 2doanh đa cấp” (Multi- Level -Marketing), đây là phương thức tiêu thụ sản phẩm donhà hóa học người Mỹ Karl Ranborg(1887 – 1973) sáng tạo ra trong khoảng thờigian từ năm 1927 đến năm 1934
Pháp luật Việt Nam đã không định nghĩa trực tiếp bán hàng đa cấp là gì mà thayvào đó là đưa ra các điều kiện để xác định ranh giới “chân chính” hay, tức là xácđịnhtính hợp pháp hay bất hợp pháp của hoạt động bán hàng này Nếu hoạt độngbán hàng đa cấp đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 11, Điều 3 Luật cạnhtranh năm 2004 nêu trên thì các thương nhân được phép sử dụng để áp dụng vàochiến lược kinh doanh của mình và nhà nước sẽ bảo hộ hoạt động đó Dựa trên cácđiều kiện đã được pháp luật quy định có thể định nghĩa bán hàng đa cấp như sau:Bán hàng đa cấp là một phương thức bán hàng trực tiếp,theo đó doanh nghiệp bánhàng hoá thông qua mạng lưới những người tham gia ở nhiều cấp, nhiều nhánhkhác nhau, trong đó người tham gia sẽ nhận được tiền hoa hồng, tiền thưởngvà/hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả bán hàng của mình và của người tham giakhác do mình tổ chức ra và được doanh nghiệp chấp nhận
1.2.Các đặc trưng của bán hàng đa cấp
Dựa theo nội hàm quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 về bán hàng đa cấp, cóthể chỉ ra những đặc trưng sau đây:
- Một là, bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị để bán lẻ hàng hóa;
- Hai là, doanh nghiệp bán hàng đa cấp tiếp thị và tiêu thụ hàng hóa thông quanhững người tham gia được tổ chức ở nhiều cấp khác nhau (đa cấp);
- Ba là, người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợiích kinh tế khác từ kết quả bán hàng của mình và của người tham gia khác trongmạng lưới do họ tổ chức ra
Trang 32, Khái niệm và bản chấtcủa bán hàng đa cấp bất chính
2.1 Khái niệm bán hàng đa cấp bất chính
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hộp nhập kinh tế khu vực và thếgiới, nhiều phương thức kinh doanh đã du nhập vào nước ta và phát triển một cáchnhanh chóng, trong đó có bán hàng đa cấp Tuy nhiên, bên cạnh bán hàng đa cấpchân chính – một phương thức kinh doanh thực thụ, còn có một mô hình lừa đảodạng tháp mà nhiều người lầm tưởng đó là bán hàng đa cấp (ở phương Tây thườnggọi là pyramid Scheme)
- Dưới góc độ kinh doanh, bán hàng đa cấp bất chính được hiểu theo hiệp hội bánhàng trực tiếp Hoa Kỳ thì “ Kinh doanh đa cấp bất chính là một chuỗi người (baogồm nhiều tầng) mà trong đó những người thuộc tầng cuối cùng trả tiền cho mộtvài người ở tầng cao nhất ”
Như vậy, định nghĩa của hiệp hội bán hàng trực tiếp Hoa Kỳ cho thấy cấu trúc của
mô hình kinh doanh đa cấp bất chính cũng giống như kinh doanh đa cấp chânchính, phân phối viên tham gia mạng lưới có quyền tuyển thêm phân phối viên mới
và nhờ đó quy mô mạng lưới ngày càng mở rộng Tuy nhiên trong kinh doanh đacấp bất chính, những người cấp dưới sẽ trả tiền cho những người thuộc cấp trêndưới hình thức các khoản đóng góp phát sinh từ việc tham gia mạng lưới
- Dưới góc độ pháp lý, pháp luật Việt Nam không đưa ra một định nghĩa chínhthức nào về bán hàng đa cấp bất chính mà liệt kê những hành vi nào sẽ được coi làbán hàng đa cấp bất chính tại Điều 48 Luật cạnh tranh năm 2004 Cụ thể là: “ Bánhàng đa cấp bất chính: Cấm doanh nghiệp thực hiện các hành vi sau đây nhằm thulợi từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp:
Trang 41) Yêu cầu người mua muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượnghànghóa banđầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lướibán hàng đa cấp;
2) Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán chongười tham gia để bán lại;
3) Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ
dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;
4) Cung cấp thông tin gian d ối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đacấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hóa để dụ dỗ người kháctham gia”
Những quy định trên cho thấy, việc bán hàng đa cấp được coi là bất chính khi đápứng đủ hai điều kiện: một là thực hiện một trong các hành vi mà luật liệt kê; hai lànhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới Như vậy, dấuhiệu khách quan của hành vi bán hàng đa cấp bất chính là việc thực hiện một trongbốn hành vi trên; và dấu hiệu chủ quan của nó là mục đích thu lợi bất chính màdoanh nghiệp bán hàng đa cấp mong muốn thụ hưởng Luật Cạnh tranh của chúng
ta đã sử dụng đồng thời cả hai dấu hiệu này để làm cơ sở cấu thành hành vi viphạm Dưới góc độ so sánh, Luật Cạnh tranh của Việt Nam có những quy định khátương đồng với các nước trong việc mô tả dấu hiệu khách quan của hành vi bánhàng đa cấp bất chính Tuy nhiên, khi xác định các dấu hiệu chủ quan để kết luận
về tính bất chính của sự vi phạm, các nhà làm luật Việt Nam có cách tiếp cận rấtđặc thù Pháp luật của chúng ta xác định sự bất chính dựa vào mục đích của cáchành vi vi phạm là nhằm thu lợi bất chính.Trong khi đó, pháp luật của một số nướckhác như Canada, Đài Loan tập trung phân tích về bản chất gian dối của hành vi vi
Trang 5phạm Trong đó các nhà làm luật ở những quốc gia này tập trung mô tả các thủđoạn gian dối của doanh nghiệp khi đưa ra thông tin về (i) lợi ích mà những ngườiđang tham gia được hưởng, hoặc (ii) lợi ích sẽ được hưởng khi tham gia vào mạnglưới, để từ đó thiêt lập được hệ thống phân phối đa cấp Trở lại với các quy địnhcủa Luật Cạnh tranh Việt Nam, mặc dù Luật đã xác định tương đối rõ ràng về hành
vi vi phạm và bản chất bất chính của nó, song lại chưa làm rõ được thế nào là
“nhằm thu lợi bất chính từ việc tuyển dụng người tham gia mạng lưới bán hàng đacấp”.Tóm lại, dù hiểu ở góc độ nào thì bán hàng đa cấp bất chính cũng là một kếhoạch, một âm mưu mà trong đó doanh nghiệp và những người thuộc tầng trêntrong mạng lưới người tham gia được hưởng các khoản lợi ích kinh tế chủ yếu từtiền đóng góp của những người mới tham gia chứ không phải lợi nhuận của việcbán lẻ sản phẩm cho người tiêu dùng
2.2 Bản chấtcủa bán hàng đa cấp bất chính
Nếu như bản chất của bản hàng đa cấp chân chính là phương thức tiêu thụ sảnphẩm dựa trên phương pháp quảng cáo truyền khẩu và các mối quan hệ thân quengiữa các phân phối viên với người tiêu dùng Mục đích của bản hàng đa cấp chânchính là bán sản phẩm cho người tiêu dùng để thu lợi nhuận do đó bản lẻ sản phẩm
là công việc cốt lõi của mọi phân phối viên Trái lại, hoạt động chủ yếu của ngườitham gia mạng lưới bán hàng đa cấp bất chinh là nhằm chiêu dụ, tuyển dụng ngườikhác tham gia mạng lưới Mặc dù trong bán hàng đa cấp bất chính cũng có việctuyển người nhưng việc tuyển người này là nhằm mục đích đào tạo họ thành nhữngphân phối viên có khả năng tổ chức bán lẻ sản phẩm cho người tiêu dùng Trongkhi đó,ở bán hàng đa cấp bất chính cũng có việc bán lẻ sản phẩm, nhưng thực chấtviệc bán lẻ sản phẩm chỉ nhằm vào những người muốn tham gia mạng lưới chứ
Trang 6không hướng tới tiêu thụ thuần túy Và thu nhập của người tham gia mạng lưới bánhàng đa cấp bất chính có nguồn gốc chủ yếu từ tiền đóng góp của người mới thamgia mạng lưới.
Có thể nêu ra một số đặc điểm mang tính bản chất của bán hàng đa cấp bất chínhnhư sau:
- Thứ nhất, bán hàng đa cấp bất chính mang bản chất của sự chiếm dụng vốn Xét
về bản chất, bán hàng đa cấp bất chính là một mô hình gây quỹ trong một nhómngười được tổ chức thành nhiều cấp, theo đó thành viên cấp dưới với số lượngđông hơn sẽ góp tài chính cho các thành viên cấp trên Những người tại cấp dướicùng, cũng là những thành viên mới gia nhập nhóm thực chất sẽ phải gánh chịutoàn bộ khoản tiền mà tất cả các cấp trên được hưởng Để thu lại khoản tiền đã mất
và thu được lợi nhuận từ mô hình, những người buộc phải tìm kiếm, lôi kéo thêmnhững người mới trở thành thành viên cấp dưới đóng tiền cho họ Tức là lúc này,doanh nghiệp không hề chú trọng đến việc bán lẻ sản phẩm nữa và hoa hồng màngười tham gia được hưởng cũng không phải từ bán lẻ hàng hóa mà là từ tuyểndụng thêm người vào mạng lưới Và tiền sẽ đổ về những người thuộc tầng caonhất Khi bản chất chiếm dụng ốn dần bộc lộ cũng là lúc những kẻ “cầm đầu” sẽ
ôm trọn toàn bộ tiền mà mạng lưới tầng dưới góp vào và bỏ trốn
- Thứ hai, bán hàng đa cấp bất chính phản ánh chiến lược dồn hàng cho ngườitham gia Theo Luật Cạnh tranh năm 2004, việc dồn hàng cho người tham gia đượcthực hiện thông qua các hành vi: doanh nghiệp(DN) bán hàng đa cấp yêu cầungười muốn tham gia phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu để được quyềntham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;hoặc không cam kết mua lại với mức giá ítnhất là 90% giá hàng hoá đã bán cho người tham gia để bán lại Các hàng hóa, dịch
Trang 7vụ kinh doanh mà DN kinh doanh không có giá trị thực, hoặc giá trị thấp hơn nhiều
so với bán hàng Cũng vì lý do đó sản phẩm bán ra với giá trị cao hơn rất nhiều giátrị thực tế và chất lượng sản phẩm cũng không cao nên doanh nghiệp chỉ có thểtiêu thụ sản phẩm trong mạng lưới, không thể tìm kiếm khách hàng, bán hàng nhưcác phương pháp bán lẻ truyền thống khác
- Thứ ba, bán hàng đa cấp bất chính tập trung chủ yếu vào việc lôi kéo, dụ dỗngười tham gia Luật cạnh tranh quy định cấm các doanh nghiệp không được thựchiện hành vi cho người tham gia được nhận hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tếkhác chủ yếu từ việc giới thiệu người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đacấp Theo hệ thống bán hàng đa cấp truyền thống, những người tham gia đượchưởng hoa hồng, tiền thưởng hoặc các lợi ích kinh tế khác từ hai nguồn:
+ Từ kết quả tiếp thị, bán lẻ sản phẩm của họ
+ Từ kết quả tiếp thị, bán hàng hóa của người tham gia bán hàng đa cấp dưới dạngmạng lưới do họ đã xây dựng và bảo trợ trong một phạm vi nhất định (có một giớihạn về cấp nhất định)
Điều này giúp cho DN đồng thời đạt được hai mục đích:
+ Một là, kích thích người tham gia nỗ lực tiếp thị hàng hóa
+ Hai là, thúc đẩy người tham gia xây dựng, tổ chức và vận hành một mạng lướicấp dưới
Còn đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính, với lợi ích được hưởng từ việc lôikéo người mới tham gia mạng lưới, người tham gia sẽ chỉ chú trọng đến việc dụ dỗngười khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp mà không nỗ lực tiến hànhcác hoạt động tiếp thị và bán hàng hóa
Trang 8- Thứ tư, bán hàng đa cấp bất chính mang tính lừa dối Luật cạnh tranh cấm doanhnghiệp bán hàng đa cấp cung cấp những thông tin gian dối về lợi ích của việc thamgia vào mạng lưới bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng củahàng hóa Việc đưa ra các thông tin gian dối có thể nhằm mục đích sau đây:
+ Dụ dỗ, lôi kéo người khác tham gia bằng cách tác động vào bản tính hám lợi của
quanhữngthôngtinvềlợiíchcủangườithamgiađangđượchưởnghoặcsẽđượchưởng nếutham gia;
+ Thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm với những thông tin vềtínhchấtcông dụnggâyra
sự nhầm lẫn để những người tham gia tiếp thị, bán hàng hóa cho người tiêu dùng
Sự lừa dối này không chỉ làm giảm uy tín của người tham gia trước người tiêudùng mà còn đe dọa đến lợi ích chính đáng của khách hàng, của xã hội, nhất là khinhững sản phẩm được tiêu thụ là sản phẩm kém chất lượng
3 Sự biến tướng từ bán hàng đa cấp sang bán hàng đa cấp bất chính và sự cần thiết trong việc điều chỉnh pháp luật đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính.
Bán hàng đa cấp là một phương thức kinh doanh phức tạp nhưng có nhiều ưu điểmnhất định như làm giảm chi phí quảng cáo sản phẩm, góp phần tạo nên việc làmcho xã hội…Tuy nhiên, chính từ mô hình bán hàng đa cấp lại dễ phát sinh nhữngbiến tướng, vi phạm, gây mất ổn định môi trường kinh doanh và thiệt hại chongười tiêu dùng Trong thời gian qua, thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệpkinh doanh đa cấp cho thấy một số những dấu hiệu của sự biến tưởng từ mô hìnhbán hàng đa cấp chân chính sang bán hàng đa cấp bất chính Lý giải cho việc này
đó là lợi nhuận mà những người cấp trên của mô hình bán hàng đa cấp bất chính
Trang 9này thu được là cao hơn rất nhiều lần so với bán hàng đa cấp chân chính Lợi íchthu được của họ không phải xuất phát từ việc bán lẻ sản phẩm cho người tiêu dùng
mà chủ yếu từ việc tuyển người mới tham gia vào mạng lưới Và khi báo chí đưatin nhiều người đã có quan điểm sai lầm rằng tất cả các doanh nghiệp bán hàng đacấp thực chất là trò lừa đảo và tẩy chay cách bán hàng này Như vậy, bán hàng đ
a cấp bất chính với biểu hiện bên ngoài rất giống bán hàng đa cấp chân chính đãlàm cho người tiêu dùng có cái nhìn sai lệch về mô hình này, đồng thời gây bất ổncho thị trường kinh doanh nói chung Điều đó cũng gây phương hại đến hai lợi íchquan trọng mà nhà nước luôn có trách nhiệm bảo vệ đó là: lợi ích của người thamgia mạng lưới, lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của các chủ thể bán hàng đacấp chân chính Chính vì vậy mà nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình ápdụng phương thức kinh doanh đa cấp, phải đặt ra pháp luật bảo vệ mô hình kinhdoanh đa cấp chân chính, ngăn chặn sự biến tướng từ bán hàng đa cấp chân chínhsang bán hàng đa cấp bất chính và chống lại một cách quyết liệt với hình thức bánhàng đa cấp bất chính Vì những lý do này mà hành vi bán hàng đa cấp bất chínhđược xếp vào một dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh
II, Pháp luật cạnh tranh về bán hàng đa cấp bất chính
1, Một số quy định của pháp luật về hoạt động bán hàng đa cấp bất chính ở Việt Nam
Trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, bên cạnh Luật Cạnh tranh 2004,bán hàng đa cấpđược điều chỉnh bởi Nghị định số 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng
đa cấp, Nghị định số 120/2005/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vựccạnh tranh, Thông tư số 19/2005/TT-BTM hướng dẫn một số nội dung quy định tạiNghị định số 110/2005/NĐ-CP và Thông tư số 35/2011/TT-BCT sửa đổi bổ sung
Trang 10Thông tư số 19/2005/TT-BTM.Mặc dù là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên vàcao nhất điều chỉnh đối với hoạt động bán hàng đa cấp nhưng Luật Cạnh tranh chỉđưa ra khái niệm về bán hàng đa cấp và quy định cấm một số hành vi bán hàng đacấp bất chính bị cấm mà chưa đưa ra cơ chế quản lý đối với hoạt động này.
Nghị định 110/2005/NĐ-CP chính thức thiết lập một cơ chế quản lý đối với hoạtđộng bán hàng đa cấp từ trung ương đến địa phương với sự tham gia của Bộ CôngThương (thông qua Cục Quản lý cạnh tranh) và Ủy ban nhân dân các tỉnh (thôngqua các Sở Công Thương) Theo Nghị định 110/2005/NĐ-CP, các doanh nghiệpmuốn tổ chức bán hàng đa cấp thì phải đăng ký với Sở Công Thương và sau đó mởrộng hoạt động ra địa bàn nào thì thông báo với Sở Công Thương tỉnh đó Mộttrong những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp được đăng ký hoạt động bánhàng đa cấp đó là phải ký quỹ tối thiểu 5% vốn điều lệ nhưng không thấp hơn một
tỷ đồng
Để đảm bảo hiệu quả của cơ chế quản lý tại Nghị định 110/2005/NĐ-CP, Nghịđịnh 120/2005/NĐ-CP quy định chế tài xử lý đối với hành vi bán hàng đa cấp bấtchính với mức tiền phạt cao nhất là 100 triệu đồng Thủ tục hành chính liên quanđến hoạt động bán hàng đa cấp và các vấn đề cụ thể chưa được quy định tại LuậtCạnh tranh và các Nghị định nêu trên được quy định tại Thông tư số 19/2005/TT-BTM và Thông tư số 35/2011/TT-BCT
Sau gần 10 năm thực hiện, các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý bán hàng đacấp đã bộc lộ một số bất cập, hoạt động bán hàng đa cấp xuất hiện nhiều biếntướng theo chiều hướng tiêu cực, nhiều chủ thể lợi dụng các khe hở của pháp luật
để thực hiện các hành vi bất chính khiến cho hoạt động bán hàng đa cấp ngày càngtrở nên xấu đi trong mắt cộng đồng xã hội và gây khó khăn cho công tác quản lý
Trang 11nhà nước đối với hoạt động này Từ thực tiễn đó, năm 2014, Chính phủ đã banhành các văn bản quy phạm pháp luật mới thay thế cho hệ thống văn bản cũ đểtăng cường hiệu quả quản lý hoạt động bán hàng đa cấp Ngoại trừ Luật Cạnhtranh, các Nghị định và Thông tư cũ điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp đều bịthay thế với cơ chế quản lý chặt chẽ hơn, chế tài xử lý nghiêm khắc hơn.
Nghị định số 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, được ký banhành ngày 14 tháng 5 năm 2014, chính thức có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2014.Nghị định này thay thế cho Nghị định 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động bánhàng đa cấp với những thay đổi cơ bản, quan trọng theo hướng thắt chặt quản lýđối với hoạt động bán hàng đa cấp như nâng cao điều kiện gia nhập, nâng cao tráchnhiệm của doanh nghiệp đối với hoạt động của người tham gia, bổ sung nhiều quyđịnh cấm, tăng cường sự tương tác giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý cũngnhư giữa các cơ quan quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn công tác đào tạo người thamgia của doanh nghiệp
Cùng quan điểm thắt chặt quản lý hoạt động bán hàng đa cấp của Nghị định42/2014/NĐ-CP, Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về
xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh (thay thế Nghị định số 120/2005/NĐ-CP) cũng nâng cao mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật trong hoạtđộng bán hàng đa cấp lên tối đa 200 triệu đồng và bổ sung quy định xử lý đối vớinhiều hành vi mới được quy định tại Nghị định 42/2014/NĐ-CP Thủ tục hànhchính trong hoạt động bán hàng đa cấp được quy định chặt chẽ tại Thông tư24/2014/TT-BCT, thay thế cho các quy định tại Thông tư 19/2005/TT-BTM và35/2011/TT-BCT
Trang 122, Các dạng hành vi bán hàng đa cấp bất chính theo quy định của pháp luật Việt Nam
Như đã trình bày ở trên, pháp luật Việt Nam không đưa ra một định nghĩa cụ thểnào về bán hàng đa cấp bất chính mà chỉ liệt kê những hành vi được coi là bánhàng đa cấp bất chính Theo quy định tại Điều 48 Luật cạnh tranh 2004 và Điều 5Nghị định số 42/2014/ NĐ – CP của chính phủ về quản lý hoạt động bán hàng đacấp, ta có thể khái quát lại các dạng hành vi sau đây được coi là bán hàng đa cấpbất chính và bị cấm tại Việt Nam:
2.1 Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc, phải mua một số lượng hàng hóa ban đầu hoặc phải trả một khoản tiền để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp
Những hành vi này được quy định cụ thể tại Điểm a, b,c Khoản 1 Điều 5 Nghị đinh
số 42/2014/ NĐ- CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, cấm các Doanh nghiệp
có các hành vi sau đây:
“a) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải đặt cọc hoặc đóng mộtkhoản tiền nhất định dưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lướibán hàng đa cấp;
b) Yêu cầu người muốn tham gia bán hàng đa cấp phải mua một số lượng hàng hóadưới bất kỳ hình thức nào để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp;c) Yêu cầu người tham gia bán hàng đa cấp phải trả thêm một khoản tiền dưới bất
kỳ hình thức nào để được quyền duy trì, phát triển hoặc mở rộng mạng lưới bánhàng đa cấp của mình;”
Các khoản tiền DN yêu cầu người muốn tham gia đặt cọc hoặc phải trả sẽ là chiphí mà người tham gia phải trả để được quyền tham gia mạng lưới Các DN bán
Trang 13hàng đa cấp này đưa ra lập luận để bảo vệ cho những yêu cầu trên của mình là cácnghĩa vụ đặt cọc hat trả tiền của người tham gia được coi như một biện pháp bảođảm an toàn, uy tín, bình đẳng trong kinh doanh; rằng đó là ràng buộc vật chất đểđảm bảo chắc chắn một điều người tham gia phải tôn trọng uy tín của DN và củasản phẩm Thoạt nghe thì có vẻ như những lập luận này hợp lý bởi lẽ bất kỳ một
DN nào khi tham gia vào thị trường kinh doanh đều muốn đảm bảo được thứ quantrọng nhất đó là “uy tín” và khi đánh vào “kinh tế” của những người tham gia thìđồng nghĩa với việc sẽ buộc họ phải giữ uy tín cho DN mình nếu như không muốn
bị mất khoản tiền đặt cọc kia Nhưng nếu nhìn nhận một cách sâu sắc thì việc đặtcọc này là bất hợp lý bởi lẽ: Người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp chỉ đơnthuần là một người tiếp thị để bán lẻ sản phẩm trực tiếp từ nơi sản xuất đến tayngười tiêu dùng giúp DN Khi người tham gia trực tiếp bán lẻ sản phẩm hàng hóacho khách hàng, họ phải thực hiện hình thức “mua vào bán lại” sản phẩm để hưởngchênh lệch chứ DN không hề ký gửi hàng hóa cho người tham gia Chính vì vậy,nghĩ vụ đặt cọc trả tiền cho việc tham gia là không có căn cứ Mặt khác, chủ các
DN hướng tới mục đích mở rộng mạng lưới là nhằm bán hàng hóa cho nên vềnguyên tắc, chủ DN kinh doanh đa cấp phải là người đầu tư mạng lưới, đầu tưtuyển dụng và đào tạo phân phối viên Do đó, chủ DN kinh doanh đa cấp sẽ khôngtìm kiếm lợi nhuận từ khâu kết nạp phân phối viên
Dạng hành vi này có thể coi là vi phạm cơ bản của hành vi bán hàng đa cấp bấtchính, theo đó thu tiền từ các thành viên mới tham gia ở cấp thấp nhất để trả chocấp cao hơn Trên thực tế, các DN kinh doanh đa cấp bất chính luôn “ngụy trang”một cách khéo léo và đưa ra những lý lẽ để giải thích cho hành vi vi phạm phápluật này của mình, thậm chí, một số DN còn tìm cách “lách” luật bằng việc chấp
Trang 14nhận người tham gia vào mạng lưới một cách tự do, nhưng sự tham gia này chỉmang tính hình thức Và chỉ khi họ đáng ứng được điều kiện đặt cọc, mua hàng hayđóng tiền thì họ mới có đủ các quyền kinh doanh và được hưởng lợi nhuận từ việctham gia mạng lưới.
2.2 Không cam kết mua lại với mức giá ít nhất là 90% giá hàng hóa đã bán cho người tham gia để bán lại
Chúng ta cần hiểu chính xác một điều rằng, bán hàng đa cấp là phương thức tiếpthị để bán lẻ sản phẩm đến tay người tiêu dùng, những người tham gia chỉ là nhữngngười giúp DN tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm mà không phải đại lý bao tiêu hayngười tiêu thụ sản phẩm của DN Vì thế, hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp cótính chất của hợp đồng hợp tác giữa DN và người tham gia Người tham gia khôngphải là người tiêu dùng trong trường hợp này Trong quá trình tiếp thị người thamgia sẽ tìm kiếm khách hàng sau đó mua sản phẩm từ DN để bán lẻ cho người tiêudùng với mong muốn được hưởng hoa hồng, tiền thưởng…Họ tìm kiếm kháchhàng rồi mới mua sản phẩm từ DN Đương nhiên, khi người tham gia không bánđược hoặc bán không hết số sản phẩm đã mua, thì DN phải có nghĩa vụ mua lại vớimức giá hợp lý (90%) để không gây thiệt hại quá lớn cho người tham gia Dạnghành vi này không biểu hiện bản chất vi phạm về bán hàng đa cấp bất chính, màthực chất là một biện pháp quản lý mà pháp luật đặt ra để ngăn chặn, khắc phụcthiệt hại cho người tham gia Quy định này cho phép người tham gia có thể rútkhỏi mạng lưới và lấy lại được khoản tiền đã đóng Khi được bảo đảm quyền này,
họ sẽ không bị thúc ép phải lôi kéo những người khác tham gia, đóng tiền để bùđắp vào khoản tiền mà họ đã nộp, từ đó “tiếp tay” cho DN mở rộng hành vi viphạm Tuy nhiên, khi yêu cầu DN cam kết mua lại hàng hóa đã bán cho người tiêu
Trang 15dùng, pháp luật cũng đặt ra những điều kiện hợp lý nhằm đảm bảo quyền lợi cho
DN kinh doanh hợp pháp đó là: Người tham gia phải trả lại khoản hoa hồng và cáclợi ích nhận được kèm theo việc mua hàng, các hàng hóa trả lại phải trong tìnhtrạng có thể bán lại được và DN được quyền chiết khấu trừ một số chi phí hợp lýphát sinh (chỉnh sửa sổ sách, chứng từ, lưu kho…) nhưng không quá 10% giá trịhàng hóa Trên thực tế có nhiều DN yêu cầu thậm chí là ép buộc người tham giacam kết từ bỏ quyền bán lại hàng hóa nói trên Đây có thể coi là một thỏa thuận cónội dung trái với quy định của pháp luật do đó mà nó là một giao dịch dân sự bịđương nhiên vô hiệu Trong trường hợp này, DN cố tình lẩn tránh những nghĩa vụluật quy định cũng có thể bị xem xét động cơ bán hàng đa cấp bất chính vi phạmkhoản 2 Điều 48 Luật cạnh tranh Điều khoản này cũng có thể áp dụng trongtrường hợp DN cam kết mua lại hàng hóa nhưng không thực hiện trên thực tế, gâytrở ngại, khó khăn cho người tham gia khi họ thực hiện quyền hợp pháp của mình
2.3 Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác chủ yếu từ việc dụ dỗ người khác tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp.
Đây là hành vi DN cho người tham gia được nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợiích kinh tế khác chủ yếu từ việc giới thiệu người khác tham gia vào mạng lưới bánhàng đa cấp mà không quan tâm đến kết quả kinh doanh của họ Với lợi ích nhưvậy, người tham gia sẽ chỉ chú trọng đến việc lôi kéo người khác tham gia vàomạng lưới bán hàng đa cấp để hưởng lợi từ hoạt động này mà không nỗ lực tiếp thịsản phẩm Thu nhập của DN sẽ chủ yếu từ mạng lưới bán hàng chứ không phải từhoạt động bán hàng hóa, sản phẩm Càng lôi kéo được nhiều người tham gia thì sốtiền hoa hồng sẽ càng lớn Số tiền đó thực chất là một phần số tiền mà nhữngngười bị dụ dỗ nộp cho DN Suy cho cùng, người được hưởng lợi nhất chính là DN