2011, Tình hình nhiễm sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh Thái Nguyên, thời gian tồn tại của đốt và trứng sán dây ở ngoại cảnh, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XVIII, số 3, tr 77.. 1997,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐAỊ HỌC NÔNG LÂM
THUYẾT MINH ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP ĐẠI HỌC
1 TÊN ĐỀ TÀI
“Nghiên cứu xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò
bằng phương pháp sinh học phân tử, đặc điểm dịch tễ và
biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở
Giáo dục Y Dược Sở hữu trí tuệ
4 LOẠI HÌNH NGHIÊN CỨU
Cơbản
Ứngdụng
Triểnkhai
5 THỜI GIAN THỰC HIỆN 24 tháng
Từ tháng 01 năm 2013 đến tháng 12 năm 2014
6 CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
Tên cơ quan: Trường Đại học Nông Lâm
Điện thoại: 0280 3855564
E-mail: hctv_tuaf@vnn.vn
Địa chỉ: Xã Quyết Thắng – TP Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên
Họ và tên thủ trưởng cơ quan chủ trì: TS Trần Văn Điền
7 CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
Họ và tên: Phạm Diệu Thùy
Học vị: Thạc sỹ
Di động: 0987.435.789
Địa chỉ cơ quan: TP Thái Nguyên
Điện thoại cơ quan: 0280 3855564
E-mail: dieuthuy.vp@gmail.com
Năm sinh: 1985Đối tượng ưu tiên1: NCSĐịa chỉ nhà riêng: Xã Quyết Thắng - TPTNĐiện thoại nhà riêng : 0280 3846.663
8 NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
TT Họ và tên lĩnh vực chuyên môn Đơn vị công tác và Nội dung nghiên cứu cụ thể được
1 GS.TS Nguyễn Thị KimLan Trường ĐH Nông Lâm Thiết kế thí nghiệm
2 TS Nguyễn Văn Quang Trường ĐH Nông Lâm Triển khai thực hiện
9 ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
Tên đơn vị
trong và ngoài nước Nội dung phối hợp nghiên cứu Họ và tên người đại diện đơn vị
Viện sinh thái và tài nguyên
sinh vật – Hà Nội Định loài sán lá gan bằngphương pháp sinh học phân tử Bùi Thị Dung
10 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1 Nghiên cứu sinh, ứng viên GS, PGS
Trang 210.1 Ngoài nước (phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài trên thế giới, liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan)
Bệnh sán lá gan trâu, bò do hai loài sán lá Fasciola gigantica và Fasciola hepatica gây ra.
F hepatica được Linnaeus mô tả năm 1758, còn F gigantica được Cobbol mô tả năm
1855 và được Kendall phân loại năm 1965 (Kunio Terasaki và cs, 2010)
Theo Boray J.C (2011) cho biết, tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn thay đổi theo mùa và phụthuộc vào mức độ hoạt động nông nghiệp, thiếu hụt dinh dưỡng, quản lý đồng cỏ, vi sinh vật,khí hậu của khu vực và sự hiện phát triển của ốc nước ngọt - ký chủ trung gian của sán lá
Fasciola Tỷ lệ nhiễm sán lá gan do Fasciola gigantiga tại nhiều nơi trên thế giới [Coyle (1961),
Megard (1975)]: Kenya (33%), Sudan (37%), Cameroon (45%), Ethiopia (30 - 90%), Uganda(10%), Cộng hoà Trung Phi (62%) và Rwanda (50%)
Nghiên cứu về đặc điểm bệnh lý, Daves (1958) nhận xét rằng, gia súc bị suy nhược và
thiếu máu là do độc tố của F giganticca, độc tố của sán còn tác động gây hiện tượng protein
trong huyết thanh biến chất, lượng Albumin giảm và Globulin tăng Davtjan (1962) đã chứngminh, quá trình dị ứng của cơ thể súc vật là kết quả tác động của các kháng nguyên sinh ra từsán với kháng thể xuất hiện trong tổ chức gan, và các chất sinh ra từ tổ chức khác bị huỷ hoại.Quá trình dị ứng dẫn đến những rối loạn đầu tiên, biểu hiện bằng hiện tượng suy dinh dưỡng,thiếu vitamin A, bằng sự tăng quá nhiều bạch cầu ái toan trong cơ thể
Kendall S B (1965) cho biết, F gigantica phổ biến trên toàn thế giới và ký chủ trung gian
của chúng là các loài ốc không dễ dàng phân biệt về mặt hình thái hoặc sinh thái Tác giả cho rằng,
các loài vật chủ trung gian chính ở Nam, Tây và Đông châu Phi là L natalensis, ở Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan là L rufescens Các dòng L auricularia sensu lato đóng vai trò là vật chủ trung gian của F gigantica là ốc nước ngọt vùng nhiệt đới sống ở nước chảy chậm hoặc tĩnh, trong
với nồng độ oxy cao và thực vật thuỷ sinh nhiều
Kết quả nghiên cứu của Lee C.G và cs (2005) cho thấy: Khi gây nhiễm ấu trùng
Miracidium của sán lá Fasciola cho 3 lô ốc Lymnaea viridis, Miracidium phát triển thành Cercaria sớm nhất sau 27 ngày gây nhiễm Tác giả cũng cho biết: 1 ốc Lymnaea viridis nhiễm từ
3 - 5 Miracidium sinh sản ra số lượng Cercaria nhiều hơn những ốc chỉ nhiễm 1 Miracidium
trong cùng điều kiện thí nghiệm
Moayad M và cs (2011) đã tiến hành thí nghiệm gây nhiễm ấu trùng sán lá gan cho ốc
Lymnaea auricularia tại Đông Phi cho thấy: Thời gian phát triển của các giai đoạn ấu trùng sán lá
gan trong ốc trung bình 101,2 ngày (nhiệt độ 190C ± 1); 41,2 ngày (nhiệt độ 300C ± 1); Redia chỉ phát triển thành Cercaria khi nhiệt độ > 200C Thời gian hoàn thành các giai đoạn ấu trùng trong
ốc trung bình mùa hè là 75 ngày, mùa đông là 175 ngày Kết quả nghiên cứu còn cho thấy số
lượng Adolescaria sinh ra phụ thuộc vào số Miracidium nhiễm vào ốc, 1 ốc nuôi ở 250C ± 1 khi
Trang 3nhiễm 6 ấu trùng Miracidium sẽ sinh ra số Adolescaria trung bình là 603,1 Các tác giả đã
nghiên cứu và kết luận rằng: Thời gian hoàn thành các giai đoạn phát triển của ấu trùng sán lá
gan trong ốc bị ảnh hưởng đáng kể bởi nhiệt độ, độ tuổi của ốc và số lượng Miracidium nhiễm
vào ốc
Mas - Coma S và cs (2005) cho biết, sán lá gan lớn (Fasciola spp.) và ký chủ trung gian
của chúng ở các nước nhiệt đới phát triển quanh năm Trâu, bò bị nhiễm sán gầy yếu, tăng trọngchậm, sản lượng thịt, sữa thấp, rất nhiều buồng gan không sử dụng được do sán làm viêm, xơ
cứng Các tác giả cũng cho biết: Một sán lá Fasciola trưởng thành có thể đẻ 13.000 - 26.000
trứng/ngày (trung bình khoảng 16.000 trứng/ngày) Trứng sau khi thải ra ngoài theo phân phảigặp môi trường nước mới có thể phát triển được Khi trứng sán lá gan rơi vào nước sau 16 - 27
ngày nở ra Miracidium (trung bình là 22 ngày), nhiệt độ thích hợp 27 - 300C, pH từ 6,5 - 7,2
Miracidium sau khi nhiễm vào ốc nước ngọt (ký chủ trung gian của sán lá gan) phát triển thành Sporocyst Sau 9 - 10 ngày Sporocyst sinh sản ra Redia Redia phát triển thành Cercaria sau 25 - 30 ngày.
Theo Jorgen Hansen, Brian Perry (1994), nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của ốc
là 15 - 260C, khi ở nhiệt độ này chúng đẻ số lượng trứng rất lớn Trứng nở trong vòng 2 tuần vàsau 1 tháng ốc trưởng thành Một con ốc trong vòng 10 - 12 tuần có thể sinh sản ra hàng ngàncon ốc, ở dưới 100C, ốc không phát triển và ngừng hoạt động Tuy nhiên, ốc có thể chui vào bùn
và sống trong điều kiện bất lợi nhiều tháng
Guralp N và cs (1964) cho biết: Thời gian cho sự phát triển đến Miracidium trong trứng
F gigantica khác nhau phụ thuộc vào nhiệt độ Khoảng 10 - 11 ngày ở 37 - 38oC, 21 - 24 ngày ở
25oC và 33 ngày ở 17 - 22oC Grigoryan G A (1958) cho rằng, nhiệt độ 24 - 26oC và pH 6,5 - 7 làtốt nhất và ở điều kiện đó 70 - 80% trứng có thể phát triển Tác giả cho rằng, trứng không sống ởnhiệt độ trên 43 - 44oC và ở điều kiện khô thì trứng cũng nhanh chết Trứng F gigantica không phát triển đồng đều và nở thành Miracidium ở cùng một thời gian, vì vậy ở cùng một điều kiện
Miracidium có thể nở trong khoảng một thời gian tới 14 tuần, tăng cơ hội nhiễm vào ốc (Guralp N.
và cs, 1964 [65]) Tác giả cũng thấy rằng trứng bị kích thích nở khi tiếp xúc ánh sáng mặt trời hoặc
ánh sáng mạnh Khi thoát khỏi trứng Miracidium sống trong nước khoảng 18 - 26 giờ (Asanji M F.,
triển ấu trùng trong ốc sẽ chậm hơn khi nhiệt độ giảm và cuối cùng là ngừng phát triển Ở nhiệt
độ dưới 16°C, chỉ 1 thế hệ Redia con được sản sinh, nhưng chúng sẽ sản sinh Cercariae khi
nhiệt độ tăng lên đến 20°C
Theo thông báo của Ripert C và cs (1987) cho biết, bệnh sán lá gan lớn thường phát triển
Trang 4theo mùa Vào mùa mưa tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở gia súc cao hơn nhiều so với mùa khô Vì trongvòng đời của sán lá gan có vai trò của thực vật thuỷ sinh, nên sự nhiễm bệnh còn phụ thuộc vào mùa pháttriển của chúng.
10.2 Trong nước (phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở Việt Nam, liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan)
* Nghiên cứu xác định loài sán lá gan trâu, bò bằng phương pháp sinh học phân tử
Nguyễn Thế Hùng và cs (2008) đã thu thập ngẫu nhiên 25 sán lá gan lớn ở lò mổ HàNội và định loài bằng phương pháp PCR Kết quả cho thấy, tất cả các mẫu sán được xác
định là F gigantica.
Lê Thanh Hoà, Nguyễn Văn Đề (2002), (2007) đã nghiên cứu khi phân tích chỉ thị ditruyền hệ gen ty thể của sán lá gan lớn trên gia súc và trên người đã xác định sán lá gan lớn của
Việt Nam là F gigantica F gigantica của Việt Nam có hệ số đồng nhất nội loài rất cao khi so
sánh với các chủng khác vùng địa lý ở Việt Nam, nhưng tác giả cho rằng ở nước ta có “loài lai”
tự nhiên của F hepatica và F gigantica vì sự xuất hiện của một số cá thể có đặc điểm chung của
2 loài
* Nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu, bò
Trịnh Văn Thịnh, Đỗ Dương Thái (1978), cho biết, trâu trưởng thành mắc bệnh sán lá
gan do F.gigantica, tỷ lệ nhiễm tới 50 - 70%
Phan Địch Lân (1980) cho biết, ở nước ta, bệnh sán lá gan trâu bò được phát hiện ở khắpcác tỉnh từ Bắc đến Nam Tỷ lệ trâu bò ở miền núi nhiễm 30 - 35% Vùng đồng bằng và trung
du, trâu bò nhiễm cao hơn (40 70%) Các cơ sở chăn nuôi bò tập trung và bò sữa, tỷ lệ nhiễm 28 30%
-Phan Địch Lân (1985) tổng kết tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu, bò cho thấy, tỷ lệnhiễm tăng theo lứa tuổi và tăng dần từ miền biển đến miền núi, trung du và đồng bằng; tỷ lệnhiễm dao động từ 13,7 - 61,3%
Kết quả điều tra của Hồ Thị Thuận, Nguyễn Ngọc Phương (1987) ở các tỉnh miền Namcho thấy tỷ lệ trâu, bò nhiễm sán lá gan từ 1,4 - 36,2%
Phan Địch Lân (1994) đã điều tra 7359 trâu, bò ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, kếtquả thấy: Trâu, bò ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan cao nhất, sau đó đến vùng trung du, venbiển và miền núi (bình quân tỷ lệ nhiễm sán ở các vùng điều tra như sau: Vùng đồng bằng từ19,6% - 61,3%, vùng trung du từ 16,4% - 50,2%, vùng ven biển từ 13,7% - 39,6%, vùng núi từ14,7% - 44,0%)
Phan Địch Lân (1994, 2005) đã tổng hợp và cho biết, nước ta được xếp vào một trong 5nước ở châu Á trồng lúa nước có đàn trâu, bò nhiễm bệnh sán lá gan với tỷ lệ cao nhất Kết quảđiều tra ở một số vùng cho thấy:
Trang 5Ở 11 tỉnh miền núi, tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò là 39%
Ở 4 tỉnh trung du, tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò là 42,2%
Ở 5 tỉnh thuộc vùng đồng bằng, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 57,5%
Ở 6 tỉnh thuộc vùng ven biển, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 36,7%
Vương Đức Chất (1994) cho rằng, mặc dù được nuôi trong điều kiện vệ sinh tương đốitốt, đàn bò sữa ngoại thành Hà Nội vẫn bị nhiễm sán lá gan với tỷ lệ 34,42%
Đoàn Văn Phúc và cs (1995) cho biết: Trâu, bò ở khu vực Hà Nội nhiễm sán lá gan với tỷ
lệ 33,9%
Lương Tố Thu, Bùi Khánh Linh (1996) theo dõi tình hình nhiễm sán lá gan ở một số địaphương vùng đồng bằng sông Hồng, miền núi và trung du Bắc Bộ cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lágan chung ở trâu, bò là 44,53% Tác giả nhận xét tỷ lệ bò nhiễm sán lá gan là 54,21% nặng hơntrâu là 33,92%
Nguyễn Trọng Kim, Phạm Ngọc Vĩnh (1997) công bố tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở trâu, bò ở
Hà Bắc (cũ) là 49,95%; ở Nghệ An từ 25,27 - 32,65%; tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung ở miền BắcViệt Nam là 43,56%
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Hữu Khương và cs (2001) cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lágan trung bình ở vùng miền núi và trung du Bắc Bộ là 58,46% trong đó ở Tuyên Quang tỷ lệ trâu
bò nhiễm sán là 57,14% trên cả nước ở trâu là 46,23%, dao động từ 8,74 - 61,09%, ở bò là30,64%, tỷ lệ này tăng dần từ Nam ra Bắc
Đỗ Đức Ngái và cs (2006) thông báo, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở Đắk Lắk là 34,22%.Phạm Văn Lực, Phạm Ngọc Doanh (2006) và các cán bộ Phòng Ký sinh trùng, Viện Sinhthái và Tài nguyên sinh vật đã tiến hành điều tra, nghiên cứu hiện trạng các bệnh ký sinh trùnglây truyền giữa người và động vật ở Gia Lai và Đắk Lắk Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ nhiễmsán lá gan lớn ở trâu, bò khá cao (35 - 65%) Kết quả điều tra sán lá gan lớn cho thấy, tỷ lệnhiễm sán lá gan lớn bình quân ở trâu, bò của nước ta như sau:
Vùng ven biển từ 13,7% đến 39,6%
Vùng núi từ 14,7% đến 44%
Vùng trung du từ 16,4% đến 50,2%
Vùng đồng bằng từ 19,6% đến 61,3%
Theo Giang Hoàng Hà và cs (2008) cho biết, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở bò sữa tại Hà Nội
là 29,45%, trong đó, bê có tỷ lệ nhiễm là 22,03%, bò tỷ lệ nhiễm là 34,48%
Vũ Đức Hạnh, Nguyễn Thị Kim Lan (2009) đã kiểm tra 1170 mẫu phân trâu, bò ở một số
xã của huyện Yên Sơn ở tỉnh Tuyên Quang, cho thấy, có 641 trâu bò nhiễm sán lá gan chiếm tỷ
lệ 54,79%
Nguyễn Hữu Hưng (2009) kiểm tra 981 mẫu phân bò, kết hợp mổ khám 309 bò tại 4
Trang 6huyện ở tỉnh Đồng Tháp, cho thấy, bò nhiễm sán lá gan với tỷ lệ khá cao (53,31%), tỷ lệ nhiễmtăng dần theo lứa tuổi, nhiễm thấp nhất ở lứa tuổi dưới 1 năm tuổi (15,31%), cao nhất ở bò trên 2năm tuổi (63,09%).
Võ Thị Hải Lê (2010) đã kiểm tra 269 mẫu phân trâu bò (150 trâu, 119 bò) tại 2 huyện ởtỉnh Nghệ An, cho thấy, tỷ lệ nhiễm là 61,6 % ở trâu và 26,86 ở bò Mổ khám 150 trâu, 131 bò,kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm ở trâu là 67,76% và ở bò 30,68%
Kết quả điều tra 800 trâu, bò cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung trên cả 3 miền (Bắc,Trung và miền Nam Việt Nam) qua xét nghiệm phân trung bình là 35,0%, dao động từ 0 - 60%,qua xét nghiệm gan là 10,0 - 50,0%, với cường độ nhiễm từ 1 - 246 cá thể sán/bộ gan mật Tỷ lệnhiễm sán lá gan giảm dần từ miền Bắc đến Nam: Tỷ lệ nhiễm trung bình ở các tỉnh miền Bắc là50,0%, dao động 36 - 60%; ở miền Trung và Tây Nguyên là 38,7%, dao động 24 - 56%; ở miềnNam là 7,0%, dao động 0 - 28% (Hoàng Văn Hiền và cs, 2011)
Theo Nguyễn Hữu Hưng (2011), tỷ lệ nhiễm sán lá gan qua kiểm tra phân của đàn bò tại
3 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Sóc Trăng, Đồng Tháp và An Giang) là 51,91% Tỷ lệ nhiễmtăng dần theo lứa tuổi bò: Bò dưới 1 năm tuổi (30,43%), bò trên 2 năm tuổi (62,81%)
* Nghiên cứu vòng đời của sán lá gan
Theo Phan Địch Lân (2005) cho biết: Trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28 - 30oC), có
ốc vật chủ trung gian (Lymnae swinhoei và Lymnaea viridis), có vật chủ cuối cùng (trâu, bò, dê,
cừu) thì vòng đời của sán lá gan ở nước ta được xác định với các mức thời gian sau:
- Ở trong ốc vật chủ trung gian:
Mao ấu (Miracidium) phát triển thành bào ấu (Sporocyst) cần 7 ngày.
Bào ấu (Sporocyst) phát triển thành lôi ấu (Redia) cần 8 - 21 ngày.
Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu (Cercaria) non cần 7 - 14 ngày, thành vĩ ấu trưởng
thành cần 13 - 14 ngày
- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: Vĩ ấu phát triển thành kén (Adolescaria) sau 2 giờ.
- Ở trâu, bò: Khi trâu, bò, bê nghé nuốt phải Adolescaria, sau 79 - 88 ngày trong ống dẫn
mật của trâu, bò đã có sán lá gan trưởng thành đẻ trứng theo phân ra ngoài
* Nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng
Phan Địch Lân (1994, 2005) đã theo dõi 37 trâu bị bệnh sán lá gan nặng, thấy các triệuchứng thường lặp đi lặp lại như: Gầy rạc, suy nhược cơ thể (37/37); phân nhão không thànhkhuôn, có lúc ỉa lỏng (32/37); niêm mạc mắt nhợt nhạt, thiếu máu kéo dài (27/37); lông xù, damốc, lông dễ rụng (26/37); phân đen, thối khắm (22/37); mắt sâu, có dử (18/37); bụng ỏng, ỉachảy kéo dài (13/37); thuỷ thũng ở nách, hai chân trước, gan to (11/37); thuỷ thũng ở ngực, ứcliên tục (9/37)
* Nghiên cứu cách phòng và lựa chọn thuốc điều trị bệnh sán lá gan trâu, bò.
Nguyễn Trọng Kim, Phạm Ngọc Vĩnh (1997) đã làm thử quy trình tẩy sán 3 lần/năm
Trang 7bằng thuốc Fasifannida và Dertil B thấy đạt hiệu quả cao so với tẩy sán lá gan 2 lần/năm, độ táinhiễm giảm rõ rệt.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2000) đã thử nghiệm một số thuốc tẩy sán lá gan cho dê địaphương ở tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn, kết quả thấy: Thuốc Dertil (liều 5 - 8 mg/kg TT) có tácdụng tẩy sạch 100% và an toàn đối với dê; thuốc Fasciolid (liều 0,04 ml/kg TT) có hiệu lực tẩysạch là 95% và tương đối an toàn cho dê; thuốc Vermitan (chứa 20% Albendazol, liều 35 mg/kgTT) đạt hiệu lực tẩy sạch và an toàn đều là 100%, ngoài ra Vermitan còn có tác dụng tẩy cả sándây và giun tròn ở dê
Nguyễn Hữu Vũ, Nguyễn Đức Lưu (2000) đã đưa ra cách phòng bệnh Fasciola: Trong
đó diệt ký chủ trung gian bằng dung dịch CuSO4 (3 - 4%) phun vào cây thuỷ sinh, cỏ mọc ở dướinước cỏ mọc ở dưới nước để tiêu diệt ốc - ký chủ trung gian
Phan Địch Lân (2005) cho biết, từ thập niên 50 chính phủ Hungary đã có những điềukhoản để xây dựng những vùng không nhiễm sán lá gan Năm 1952 sử dụng rộng rãi CCl4
trong điều trị bệnh sán lá gan, những năm 80 bắt đầu sử dụng Dertil B cho uống và tiêm.Tỉnh Fejer của Hungary đã mất 20 năm để tiêu diệt triệt để sán lá gan, kết quả từ tỷ lệ nhiễmgiảm 30 - 42 % xuống còn 2,66%
Nguyễn Văn Diễn và cs (2006) đã thử nghiệm 2 loại thuốc tẩy sán lá gan cho bò tạiĐắk Lắk, kết quả cho thấy: Thuốc Dovenix (liều 10 mg/kg TT), Han-Dertil-B (liều 12mg/kgTT) và cả 2 loại thuốc này đều có hiệu lực tẩy sạch 100%
Nguyễn Hữu Hưng (2011) đã thử nghiệm 3 loại thuốc Praziquantel với liều 25 mg/kg TTcho uống, Nitroxinil liều 12 mg/kgTT tiêm dưới da cổ và Bilevor-M liều 4,5 mg/kgTT cho uống
để tẩy sán lá gan cho trâu bò Kết quả cho thấy, cả 3 loại thuốc đều có thể tẩy sạch sán lá gan100% Thuốc an toàn và không gây phản ứng phụ trong điều trị
10.3 Danh mục các công trình đã công bố thuộc lĩnh vực của đề tài của chủ nhiệm và những
thành viên tham gia nghiên cứu (họ và tên tác giả; bài báo; ấn phẩm; các yếu tố về xuất bản)
* Công trình của Ths Phạm Diệu Thùy
[1] (2010), Một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh Thái Nguyên, Tạp chí
Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XVII, số 5, tr 34.
[2] (2011), Tình hình nhiễm sán dây ở gà thả vườn tại tỉnh Thái Nguyên, thời gian tồn tại của
đốt và trứng sán dây ở ngoại cảnh, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XVIII, số 3, tr 77.
* Công trình của GS TS Nguyễn Thị Kim Lan
[1] (1979), Một số nhận xét mới về bệnh phân trắng của lợn con, Tạp chí Khoa học và kỹ thuật
nông nghiệp - Bộ nông nghiệp – Hà Nội, Số 202,
[2] (1997), Bệnh sán dây ở dê và biện pháp phòng trị, Tạp chí khoa học và công nghệ - Đại học
Thái Nguyên, Tập 1, số 2, tr 5.
[3] (1997), Kết quả nghiên cứu bệnh giun xoăn dạ múi khế ở dê cỏ nuôi tại tỉnh Thái Nguyên,
Bắc Kạn và hiệu lực của thuốc Synanthic, Levamisol và Mebenvet, Tạp chí khoa học và
công nghệ - Đại học Thái Nguyên, Tập 2, số 3, tr 4.
[4] (1997), Tình hình nhiễm giun sán đường tiêu hoá ở đàn dê tỉnh Bắc Thái, Tạp chí khoa học
Trang 8kỹ thuật Thú y, tập IV, số 1, tr 5.
[5], (1997), Tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hoá của dê cỏ nuôi ở Bắc Thái và biện pháp phòng trị,
Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập IV, số 3, tr 6.
[6] (1998), Biến động nhiễm giun sán đường tiêu hoá ở đàn dê Bắc Thái theo tuổi, mùa vụ và tính biệt,
Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập V, số 1, tr 8.
[7] (1998), Những nhận xét về bệnh tích đại thể và một số chỉ tiêu huyết học của dê nhiễm giun
sán đường tiêu hoá, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập V, số 3, tr 5.
[8] (1999), Phát hiện bệnh giun sán đường tiêu hoá ở dê và dùng thuốc điều trị, Tạp chí khoa
học và công nghệ - chuyển giao canh tác lâu bền trên đất dốc - Đại học Thái Nguyên, Tập
1, số 9, tr 6
[9] (1999), Nhận xét về sự phát triển của ấu trùng giun xoăn dạ múi khế ở dê và sức đề kháng
của chúng với nhiệt độ, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập VI, số 1, tr 5.
[10] (1999), Xác định mối tương quan giữa số giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá dê và số trừng
giun trong một gam phân, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập VI, số 4, tr 6.
[11] (1999), Hiệu quả của việc dùng thuốc tẩy phòng bệnh giun sán đường tiêu hoá cho dê địa
phương ở miền núi, Tạp chí khoa học và công nghệ - chuyển giao canh tác lâu bền trên đất
dốc - Đại học Thái Nguyên, Tập 4, số 12, tr 5.
[12] (2000), Một số kết quả nghiên cứu về bệnh giun sán đường tiêu hoá của dê địa phương ở
một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, Nông nghiệp & công nghiệp thực phẩm - Tạp chí
khoa học - công nghệ và quản lý kinh tế, số 6, tr 2.
[13], (2000), Kết quả thử nghiệm một số loại thuốc điều trị bệnh giun sán ở đường tiêu hoá dê,
Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập VII, số 4, tr 5.
[14] (2001), Tình hình nhiễm cầu trùng ở đàn gà nuôi gia đình tại thành phố Thái Nguyên, Tạp
chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập VIII, số 4, tr 3.
[15] (2003), Tình hình bệnh phù đầu của lợn con do E coli ở một số địa phương thuộc tỉnh Thái
Nguyên, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập X, số 1, tr 5.
[16] (2003), Những biểu hiện lâm sàng và bệnh tích của lợn con bị bệnh phù đầu do E coli ở
Thái Nguyên, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập X, số 3, tr 4.
[17] (2003), Ảnh hưởng của diện tích bãi chăn đến khả năng sản xuất của gà thịt lông màu
Lương Phượng và Sasso nuôi tại Thái Nguyên, Tạp chí Chăn nuôi, số 4 (54), tr 3.
[18] (2004), Ảnh hưởng của việc tập cho lợn con ăn sớm đến sinh trưởng và cảm nhiễm bệnh
giai đoạn sơ sinh đến 60 ngày tuổi, Tạp chí Chăn nuôi, số 1 (59), tr 3.
[19] (2004), Thử nghiệm phòng và trị bệnh Coli dung huyết cho lợn con ở Thái Nguyên và Bắc
Giang, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập XI, số 3, tr 5.
[20] (2004), Bệnh Coli dung huyết (phù đầu) của lợn con ở một số địa phương thuộc tỉnh Bắc
Giang, Tạp chí Chăn nuôi, số 5 (63), tr 4.
[21] (2004), Xác định vi khuẩn E coli gây bệnh phù đầu ở lợn con tại tỉnh Bắc Giang, Tạp chí
nông nghiệp & phát triển nông thôn - Tạp chí khoa học công nghệ của Bộ nông nghiệp và
phát triển nông thôn, số 4 (40), tr 2.
[22] (2005), Một số đặc điểm của vi khuẩn E coli gây bệnh phù đầu lợn con ở Thái Nguyên và
Bắc Giang, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XII, số 3.
[23] (2005), Tình hình nhiễm cầu trùng lợn tại một số địa phương của tỉnh Thái Nguyên, Tạp
chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XII, số 3.
[24] (2005), Một số đặc điểm dịch tễ và vai trò của cầu trùng trong hội chứng tiêu chảy ở lợn,
Trang 9Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XII, số 4.
[25] (2005), Tình trạng ô nhiễm cầu trùng lợn ở khu vực chuồng nuôi và thời gian phát triển của
Oocyst tới giai dđạn cảm nhiễm, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XII, số 5.
[26] (2006), Vai trò của ký sinh trùng đường tiêu hoá trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai
sữa tại Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập XIII, số 3.
[27] (2006), Kết quả giám sát dịch cúm gia cầm ở tỉnh Thái Nguyên trong hai năm 2004, 2005,
Tạp chí Nông nghiệp & PTNT, số 11.
[28] (2006), Kết quả giám sát công tác tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm ở tỉnh Thái Nguyên,
Tạp chí Nông nghiệp & PTNT, số 12.
[29] (2006), Kết quả tiêm phòng vắc xin cúm gia cầm 6 tháng đầu năm tại Thái Nguyên, Tạp
chí Khoa học kỹ thuật Chăn nuôi, số 10.
[30] (2006), “Vai trò của ký sinh trùng đường tiêu hoá trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa
tại Thái Nguyên”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, Tập XIII, số 3, tr 36 – 40.
[31] (2008), “Sự phát triển và khả năng tồn tại của Oocyst cầu trùng lợn trong đất”, Tạp chí
khoa học kỹ thuật thú y, Tập XV, số 1, tr 41 – 47.
[32] (2008), “Xác định một số loài cầu trùng gây bệnh ở lợn tại Thái Nguyên Sự tồn tại, phát
triển của Oocyst trong phân và nước thải chuồng”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, Tập
XV, số 1, tr 48 – 53
[33] (2008), “Một số đặc điểm dịch tễ bệnh cầu trùng lợn ở một số huyện thuộc tỉnh Thái
Nguyên”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, Tập XV, số 2, tr 63 – 67.
[34] (2008), “Gây nhiễm để xác định đặc điểm gây bệnh của các loài cầu trùng ký sinh ở lợn tại
Thái Nguyên”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, Tập XV, số 4, Tr 66 – 72.[30] (2008),
“Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hoá của chó nuôi ở Hà Nội và thử thuốcđiều trị”
[35] (2008), “Giun đũa Neoascaris vitulorum trong hội chứng tiêu chảy của bê, nghé dưới 3
tháng tuổi tại Tuyên Quang”
[36] (2009), Nghiên cứu thử nghiệm biện pháp phòng bệnh cầu trùng lợn Tạp chí Khoa học kỹthuật Thú y, Tập XVI, số 1, tr 47 – 52
[36] (2009), Tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và tỷ lệ nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảytại Thái Nguyên Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XVI, số 1, tr 36 – 41
[37] (2009) Một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun xoăn dạ múi khế gà bò của tỉnh Thái Nguyên ,Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XVI, số 6, tr 62 – 65
[38] (2009) Vai trò của sán lá gan (Fasciola spp.) trong hội chứng tiêu chảy và thiếu máu của gà
bò ở huyện Yên Sơn – Tuyên Quang và biện pháp phòng trị , Tạp chí Khoa học kỹ thuậtThú y, tập XVI, số 4
[39] (2009) Vai trò ký sinh trùng đường tiêu hoá trong hội chứng tiêu chảy ở lợn sau cai sữa vàbiện pháp phòng trị, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XVII, số 1, tr 39 – 43
[40] (2010) Sự phát triển, tồn tại của trứng và ấu trùng giun lươn Strongyloides ransomi ở ngoại
cảnh Kết quả gây nhiễm giun lươn cho lợn con ở Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học kỹ thuậtThú y, Tập XVII, số 5, tr 18 – 23
[41] (2010), Tình hình nhiễm giun xoăn dạ múi khế ở gà bò, sự ô nhiễm trứng và ấu trùng giun ởngoại cảnh Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XVII, số 1, tr 62 – 67
[42] (2010), Đặc điểm bệnh do giun xoăn Haemonchus contortus qua gây nhiễm trên bê nghé.Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XVII, số 6, tr 59 - 64
Trang 10[43] (2010), Định lòai cầu trùng ký sinh ở lợn tại tỉnh Thái Nguyên, gây nhiễm thực nghiệm đểxác định vai trò gây bệnh của chúng, Tạp chí nông nghiệp & PTNT, tháng 11/2010.
[44] (2011), Sự phát triển và khả năng sống của trứng và ấu trùng giun xoăn H contortus ởngoại cảnh, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, Tập XVIII, số 2, tr 39 – 45
* Công trình của TS Nguyễn Văn Quang
[1] (1997), Kết quả nghiên cứu bệnh giun xoăn dạ múi khế ở dê cỏ nuôi tại tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn
và hiệu lực của thuốc Synanthic, Levamisol và Mebenvet, Tạp chí khoa học và công nghệ - Đại
nghiệp & công nghiệp thực phẩm - Tạp chí khoa học - công nghệ và quản lý kinh tế.
[6] (1998), Độ dài miễn dịch của vắc xin tụ dấu nhũ hoá đối với bệnh đóng dấu lợn, Nông
nghiệp & công nghiệp thực phẩm - Tạp chí khoa học - công nghệ và quản lý kinh tế
[7] (1999), Độ an toàn của vắc xin tụ dấu nhũ hoá trên động vật thí nghiệm và bản động vật, Tạp
chí khoa học và công nghệ (Chuyên đề canh tác lâu bền trên đất dốc - Đại học Thái Nguyên).
[8] (2001), Tình hình nhiễm cầu trùng ở đàn gà nuôi gia đình tại thành phố Thái Nguyên, Tạpchí Khoa học kỹ thuật Thú y Tập VIII, số 4, tr 81 - 83
[9] (2003), Tình hình bệnh phù đầu của lợn con do E coli ở một số địa phương thuộc tỉnh Thái
Nguyên, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y (Tập X, số 1), tr 64- 68
[10] (2004), Bệnh Coli dung huyết (phù đầu) của lợn con ở một số địa phương thuộc tỉnh BắcGiang, Tạp chí Chăn nuôi - Số 5 (63), tr 6 -8
[11] (2004), Xác định vi khuẩn E coli gây bệnh phù đầu ở lợn con tại tỉnh Bắc Giang, Nông
nghiệp & phát triển nông thôn - Tạp chí khoa học công nghệ của Bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn - Số 4
11 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bệnh sán lá gan là một bệnh phổ biến và gây tác hại lớn ở trâu, bò Bệnh thường ở thểmãn tính làm cho con vật gầy yếu, thiếu máu, chậm lớn và giảm sức đề kháng với các bệnhkhác Người chăn nuôi ở các địa phương miền núi thường không quan tâm đến việc phòng trịbệnh sán lá gan cho trâu, bò
Trong những năm gần đây điều kiện tự nhiên và xã hội có nhiều thay đổi Sự thay đổi rõnét về điều kiện thời tiết khí hậu và đời sống xã hội có khả năng dẫn đến hậu quả là có sự phátsinh và phát triển của các loài sán lá gan mới và đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan thay đổi Vìvậy, việc nghiên cứu định loài sán lá gan bằng công nghệ sinh học phân tử, về đặc điểm dịch tễ,
từ đó có biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò ở các tỉnh miền núi nói riêng, ở tất
cả các vùng sinh thái nói chung là vấn đề cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh Thái Nguyên, chúngtôi thực hiện đề tài này