Ngay từ đầu năm học, tôi đánh giá đa số học sinh còn hạn chế trong chuyển đổi đơn vị đo đại lượng như sau: Đối với việc đổi các đơn vị đo độ dài và khối lượng các em thường mắc ở dạng đ
Trang 1BÁO CÁO BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC
I Thông tin chung
Tên biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục: Rèn kĩ năng chuyển đổi đơn
vị đo độ dài và đơn vị đo khối lượng cho học sinh lớp 5A2 Trường Tiểu học
II Nội dung
1 Lý do lựa chọn biện pháp
Qua kiểm tra khảo sát, qua quan sát học sinh học tập trong các tiết học
môn toán Ngay từ đầu năm học, tôi đánh giá đa số học sinh còn hạn chế trong chuyển đổi đơn vị đo đại lượng như sau:
Đối với việc đổi các đơn vị đo độ dài và khối lượng các em thường mắc ở dạng đổi từ đơn vị nhỏ sang đơn vị lớn của hai số đo không liền kề (gọi là đổi ngược) Và dạng đổi từ một đơn vị đo thành hai hay ba đơn vị đo (và ngược lại)
Từ những tồn tại trên tôi nhận thấy những khó khăn đối với chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng là do các yếu tố sau:
Do một số em chưa thuộc tên các đơn vị đo, sắp xếp chưa đúng thứ tự các đơn vị trong từng bảng đơn vị đo đại lượng
Một số em lại chưa hiểu bản chất của mối quan hệ giữa các đơn vị đo đại lượng Thế rồi do còn nhầm lẫn về mối quan hệ giữa 2 đơn vị đo liền kề trong bảng đơn vị đo độ dài với đơn vị đo diện tích,
Các bảng đơn vị đo đại lượng có nhiều đơn vị đo nên khó nhớ Mối quan
hệ ở mỗi loại đơn vị đo khác nhau làm cho các em dễ nhầm lẫn
Từ việc không nhớ tên, thứ tự và mối quan hệ của các đơn vị đo đại lượng dẫn đến việc các em không thực hiện được việc đổi các đơn vị đo đại lượng (Đối với cả hai trường hợp đổi xuôi và đổi ngược) Từ đó dẫn đến việc giải các bài toán có liên quan đến đại lượng cũng khó khăn
Kỹ năng tính toán ở một số em còn hạn chế dẫn đến việc thực hiện chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng cũng hạn chế theo
Một số em chưa nắm chắc các bước trong quá trình chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng
Khả năng phân tích tổng hợp và tư duy chưa nhanh
Từ những tồn tại nêu trên tôi nhận thấy rằng việc áp dụng giải pháp mới sẽ giúp các em khắc phục được những hạn chế của phương pháp cũ Đồng thời giúp các
em khắc sâu cách đổi các đơn vị đo đại lượng của mỗi dạng bài tập liên quan đến đại lượng và đo đại lượng mà đôi khi không cần phải đặt tính Học sinh vận dụng vào giải các bài toán liên quan đến đại lượng và đo đại lượng
Để biết được mức độ đạt được của việc chuyển đổi đơn vị đo đại lượng, ngay đầu năm học 2020 - 2021, tôi đã tiến hành khảo sát 31 học sinh lớp 5A2 và thu được kết quả thu được sau:
Trang 2Tổng số
học sinh
khảo sát
Mức độ đạt được
Có kĩ năng thành thạo
Thực hiện được nhưng chưa thành
thạo
Chưa thực hiện được
Qua quan sát và theo dõi các em về việc chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng trong các tiết học hàng ngày, tôi nhận thấy kỹ năng về chuyển đổi các đơn
vị đo đại lượng của học sinh còn hạn chế trong việc ghi nhớ các đơn vị đo đại lượng và mối quan hệ của chúng Chính vì vậy mà cần phải sớm giải quyết vấn
đề này để nâng cao chất lượng học tập môn Toán cho 31 học sinh của lớp 5A2
và tiến tới vận dụng tới 5/5 lớp của khối 5 tại trường Tiểu học thị trấn Than Uyên nói riêng và tất cả học sinh của khối 5 trong toàn trường nói chung
2 Thực hiện áp dụng biện pháp
Khi biết được những khó khăn trên, Ngay từ đầu năm học 2020 -2021 này tôi đã áp dụng biện pháp cũng như cách thực hiện sau:
Biện pháp: Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo độ dài, đơn vị đo khối lượng và đơn vị đo diện tích.
Mở rộng bảng đơn vị đo độ dài theo kiến thức của từng lớp Giúp học sinh nắm vững bản chất của phép đổi đó là mối quan hệ giữa các đơn vị đo trong một bảng đơn vị đo đại lượng theo kiến thức của lớp trên với lớp dưới
Đối với Bảng đơn vị đo độ dài, được hoàn thiện ở lớp 3 Trong sách giáo khoa Toán 3 trang 45 được trình bày ở mức đơn giản như sau:
1km
= 10hm
=1000m
1hm
= 10dam
= 100m
1dam
= 10m
1m
=10dm
= 100cm
=1000mm
1dm
=10cm
= 100mm
1cm
=10mm
1mm
Lên lớp 4, vì học sinh đã được học về phân số nên tôi mở rộng bảng đơn
vị đo độ dài như sau:
Lớn hơn m
= 10hm
=10dam
= 101 km
=10m
= 101 hm
=10dm
= 101 dam
=10cm
= 101 m
=10mm
= 101 dm
= 101 cm
Trang 3Cũng với bảng đơn vị đo độ dài này, lên lớp 5, vì học sinh đã được học về
số thập phân nên tôi cũng mở rộng bảng đơn vị đo độ dài như sau:
= 10hm
=10dam
= 0,1km
=10m
= 0,1hm
= 0,01km
=10dm
= 100cm
= 0,1dam
= 0,01hm
=0,001km
=10cm
= 0,1m
=0,01dam
=10mm
= 0,1dm
= 0,1cm
Đối với đơn vị đo khối lượng và đơn vị đo độ dài thực chất chúng giống nhau hoàn toàn về bản chất của mối quan hệ giữa các đơn vị đo đó là: "Hai đơn
vị đo khối lượng (độ dài) liền kề gấp (kém) nhau 10 lần"
Trong sách giáo khoa Toán lớp 4, Bảng đơn vị đo khối lượng trang 24 được trình bày thành hai bảng như sau:
Lớn hơn kg
1tấn
= 10tạ
=1000kg
1tạ
=10yến
= 100kg
1yến
=10kg
1kg
=10hg
= 1000g
1hag
=10dag
= 100g
1dag
Tương tự với cách làm trên tôi cũng thực hiện tương tự với bảng đơn vị đo độ dài khi dạy ở lớp 5
= 10tạ
=10yến
= 101 tấn
(0,1 tấn)
=10kg
= 101 tạ (0,1 tạ) (0,01 tấn)
=10hag
= 101 yến (0,1 yến) (0,01 tạ) (0,001 tấn)
=10dag
= 101 kg (0,1 tấn)
=10g
= 101 hag (0,1 tấn)
= 101 dag 0,1 dag
Từ các bảng trên tôi vận dụng và tìm ra một số cách hướng dẫn học sinh cách chuyển đổi các đơn vị đo sao cho dễ hiểu, dễ nhớ và dễ chuyển đổi mà không cần phải thực hiện phép tính như sau:
Cách dạy thông thường:
Dựa vào hai bảng đơn vị đo trên, học sinh chỉ việc học thuộc thứ tự của bảng và mối quan hệ để vận dụng vào giải quyết một số dạng bài tập chuyển đổi
Trang 4đơn vị đo bằng cách thực hiện đổi xuôi làm phép tính nhân; mà đổi ngược thì thực hiện phép tính chia Tuy nhiên ở cách dạy này mặc dù học sinh có thuộc lòng bảng đơn vị đo xong vẫn còn mơ hồ về bản chất của mối quan hệ Chính vì vậy mà học sinh rất nhanh quên và đôi lúc còn vận dụng máy móc nhờ quan sát vào bảng đơn vị đo để làm bài tập
Cách dạy khác:
Ta thấy 10 lần ở đây có thể hiểu là mỗi một đơn vị đo ứng với 1 chữ số 0 Nên khi chuyển đối hai đơn vị đo liền kề để học sinh dễ hiểu và dễ nhớ, dễ vận dụng thì ta
sẽ hướng dẫn học sinh thực hiện như sau:
: 100
: 10 : 10 : 10 : 10 : 10 : 10 Đổi ngược
Km; hm; dam; m ; dm; cm; mm
10 10 10 10 10 10 Đổi xuôi 100
Như vậy khi chuyển đổi hai đơn vị đo độ dài (hay khối lượng) liền kề ta
có thể không cần phải thực hiện phép tính nhân (Đối với đổi xuôi) và chia (Đối với đổi ngược); mà chỉ cần bớt đi (hay thêm vào) 1 chữ số 0 của số đã cho là được Việc làm này vừa tiết kiệm được thời gian làm bài, lại giúp các em dễ nhớ hơn và ghi nhớ lâu hơn
VD: 5 tấn = 50 tạ (lấy 5 10 tạ = 50 tạ, đây là cách đổi thông thường theo sách giáo khoa Nhưng ta có thể coi đây là dạng đổi xuôi nên ta thêm 1 chữ số 0 vào bên phải của số 5 ta được 50 tạ); 5000m = 5km (vì 1km = 1000m nên ta lấy 6000m : 1000m = 6km, đây là cách đổi thông thường theo sách giáo khoa Trường hợp này ta coi đây là dạng đổi ngược nên ta bớt đi 3 chữ số 0 ở tận cùng bên phải của số 6000m
Ở lớp 5 ta thấy: 3,45m = 345cm (vì 1m = 100cm nên lấy 100cm 3,45
= 345cm, đây là cách đổi thông thường theo sách giáo khoa Nhưng ta có thể coi đây là dạng đổi xuôi nên ta dịch chuyển dấy phẩy của số 3,45 sang bên phải 2 chữ số ta được 345cm)
Chúng ta cũng thực hiện tương tự với đơn vị đo khối lượng: Tấn, tạ, yến,
kg, hg, dag, g
Đổi số đo đại lượng từ đơn vị lớn sang đơn vị bé hơn (ta quy ước là đổi xuôi) và đổi số đo đại lượng từ đơn vị bé về đơn vị lớn hơn (ta quy ước là đổi ngược), thông thường với các yêu cầu như: Viết số thích hợp vào chỗ chấm hoặc viết các số đo sau dưới dạng số thập phân có đơn vị đo là ki lô mét (ki – lô -gam, ); Viết số thập phân thích hợp vào chỗ chấm; Viết số thích hợp vào chỗ chấm (theo mẫu) Trong dạng bài này chúng tôi đã giúp học sinh nhận biết một cách cụ thể như sau:
Trường hợp đổi xuôi: (từ đơn vị lớn sang đơn vị bé)
VD: 2,5kg = g; 3,1736m = cm;
Ta có bằng cách nhẩm đọc lần lượt các chữ số từ trái sang phải: 2kg, 5hg,
Trang 50 dag, 0 g) = 2500g Vậy 2,5kg = 2500g.
Tương tự với: 3,1736m = cm (nhẩm đọc vừa viết 3m, 1dm, 7cm nên dịch chuyển dấu phẩy sang phải 2 chữ số dừng ở đơn vị cần đổi là cm) = 317,36
cm Vậy 3,1736m = 317,36cm
Chuyển đổi từ danh số đơn sang danh số đơn (tức là số đo đại lượng đó chỉ có một tên đơn vị đo)
VD: 5 tấn = tạ; 3,45m = cm
Chuyển đổi từ danh số phức sang danh số đơn (tức là từ hai số đo đại lượng
có hai tên đơn vị đo khác nhau đổi thành một số đo đại lượng có một tên đơn vị đo)
VD: 40m35cm = m; 3tấn548kg = tấn;
Chuyển đổi từ danh số đơn sang danh số phức (tức là từ một số đo đại lượng có một tên đơn vị đo đổi thành hai số đo đại lượng có hai tên đơn vị đo khác nhau) Dạng bài tập này chủ yếu ở lớp 5
VD: 35,76m = m cm; 1265 kg = tấn kg
Giải bài toán có liên quan đến các đơn vị đo đại lượng (là một bài toán cụ thể gần gũi với cuộc sống với các tình huống để giúp học sinh biết liên hệ vận dụng thực tế)
VD: Bài toán về tính khối lượng: Bài 4 (trang 23 sách giáo khoa Toán 4)
“Một xe ô tô chuyến trước chở được 3 tấn muối, chuyến sau chở được nhiều hơn chuyến trước 3 tạ Hỏi cả hai chuyến xe đó chở được bao nhiêu tạ muối?”
Hay Bài 4 (trang 24 sách giáo khoa Toán 4) có bài: "Có 4 gói bánh, mỗi gói bánh cân nặng 150g và 2 gói kẹo, mỗi gói cân nặng 200g Hỏi có tất cả mấy
ki - lô - gam bánh và kẹo?"
Với nhưng bài toán dạng này bắt buộc các em phải có kĩ năng thành thạo trong việc chuyển đổi đơn vị đo khối lượng (ở cả dạng đổi đơn và dạng phức) thì mới vận dụng giải được bài toán một cách hoàn chỉnh được
Hay bài toán về tính chiền dài, chiều rộng, chiều cao, diện tích, thể tích các hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác Có dạng bài toán kết hợp giữa tính chiều dài, chiều rộng với tính diện tích và tính khối lượng như bài 4 (trang
117 sách giáo khoa Toán 4) có bài:
"Một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài 120m, chiều rộng bằng 32 chiều dài Người ta cấy lúa ở đó, tính ra cứ 100m2 thu hoạch được 50 kg thóc Hỏi đã thu hoạch được ở thửa ruộng đó bao nhiêu tạ thóc?"
Học sinh vận dụng cả đơn vị đo độ dài và đơn vị đo khối lượng để giải như sau:
Chiều rộng thửa ruộng đó là:
120 2
3
= 80 (m) Diện tích thửa ruộng đó là:
120 80 = 9600 (m2)
Số thóc thu hoạch được ở thửa ruộng đó là:
50 (9600 : 100) = 4800 (kg)
Đổi 4800 kg = 48 tạ
Trang 6Đáp số: 48 tạ thóc
ở bước đổi đơn vị đo kg sang tạ, học sinh không phải thực hiện phép chia cho 100 mà chỉ bớt đi 2 chữ số 0 dựa vào sơ đồ ven ở trên
Biện pháp này nhằm giúp học sinh nắm chắc cách đổi đơn vị đo độ dài và đơn vị đo khối lượng theo sơ đồ ven mà không cần thực hiện làm tính Vận dụng làm tốt các dạng bài tập về 2 đại lượng này Đồng thời học sinh tự tin, hứng thú không bị áp lực hay chán nản Giáo viên có phương pháp rèn kĩ năng đổi các đơn vị đo đại lượng phù hợp với đối tượng của lớp mình
3 Kết quả
- Những kết quả đạt được
Phương pháp "Rèn kĩ năng chuyển đổi đơn vị đo dộ dài và đơn vị đo khối
lượng cho học sinh lớp 5A2 Trường Tiểu học thị trấn Than Uyên”, giúp giáo viên rút bớt thời gian hướng dẫn và dạy theo sách giáo khoa ít nhất là 3 tiết học tăng thời gian luyện tập thực hành cho học sinh Từ đó các em có kĩ năng đổi các đơn vị đo đại lượng, vận dụng vào giải toán đối với các bài toán có liên quan đến đại lượng và đo đại lượng Các em biết vận dụng cách chuyển đổi này vào thực tế cuộc sống Để tính
và chuyển đổi các đơn vị đo độ dài, diện tích, thể tích hay thời gian cho trong cuộc sống hàng ngày Như vậy khi chuyển đổi hai đơn vị đo độ dài (hay khối lượng) liền kề ta có thể không cần phải thực hiện phép tính nhân (Đối với đổi xuôi) và chia (Đối với đổi ngược); mà chỉ cần bớt đi (hay thêm vào) 1 chữ số 0 của số đã cho là được Việc làm này vừa tiết kiệm được thời gian làm bài, lại giúp các em
dễ nhớ hơn và ghi nhớ lâu hơn
Sau khi thực hiện áp dụng biện pháp trên đối với 31 học sinh lớp 5A2 của Trường Tiểu học thị trấn Than Uyên, kết quả đã có sự chuyển biến rõ rệt Giáo viên nắm chắc và hệ thống được nội dung chương trình và các dạng bài tập cơ bản về đại lượng và đo đại lượng Có các “mẹo’ để hướng dẫn học sinh cách đổi đơn vị đo đại lượng nhanh, dễ hiểu và dễ nhớ hơn Học sinh có kĩ năng chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng, vận dụng vào giải toán và trong cuộc sống
- Số liệu minh chứng cho hiệu quả của biện pháp:
Kế quả khảo sát thăm dò tính đến thời điểm tháng 11/ 2020 như sau:
Lớp
Thời
điểm
khảo
sát,
thăm dò
Tổng số học sinh khảo sát
Mức độ đạt được
Có kĩ năng thành thạo
Thực hiện được nhưng chưa thành
thạo
Chưa thực hiện được
Trang 75A2 11/2020Tháng 31 29 93,5 2 6,5 0
Sau gần 3 tháng nghiên cứu và áp dụng trên đối tượng học sinh, phương pháp này đã giúp học sinh dễ dàng vận dụng vào chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng Số lượng học sinh biết chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng được nâng cao hơn so với năm học trước, so với đầu năm học và so với các lớp không áp dụng
Từ đó các em thêm yêu thích môn Toán, nhất là dạng chuyển đổi các đơn vị đo
độ dài và diện tích
Đối với giáo viên: Nắm chắc nội dung chương trình thuộc các loại bài liên quan đến các đơn vị đo đại lượng trong chương trình học môn Toán lớp 3, 4, 5
nắm được bản chất của phép đổi ở mọi phương diện Biết lựa chọn phương pháp,
hình thức tổ chức dạy học đối với các dạng bài tập liên quan đến chuyển đổi đơn vị
đo sao cho linh hoạt Đặc biệt là có kĩ năng (mẹo) hướng dẫn phù hợp với đối tượng học sinh Từ đó góp phần nâng cao chất lượng môn Toán nói riêng và chất lượng học sinh đạt chuẩn và trên chuẩn nói chung
Đối với học sinh: Củng cố phát triển kĩ năng nhận diện, đọc, viết, chuyển đổi các đơn vị đo đã học ở các lớp dưới (đã hình thành sau các lớp 1, 2, 3 của bậc học) cho học sinh Đặc biệt là giúp học sinh nắm vững ký hiệu tên đơn vị đo, vị trí, bản chất của mối quan hệ giữa các đơn vị đo trong cùng một bảng đơn vị đo
và chuyển đổi các đơn vị đo một cách thành thạo, ít bị nhầm lẫn, thực hiện tốt các bài toán có lời văn liên quan đến đại lượng và đo đại lượng
Học sinh có phương pháp học tập sáng tạo, làm việc khoa học phù hợp với mục đích học tập của mình Đặc biệt là có kĩ năng chuyển đổi đơn vị đo độ dài và khối lượng
Đề tài sáng kiến này có sử dụng các phương pháp đổi các đơn vị đo đại lượng một cách khoa học, sáng tạo Có sự khác biệt so với các phương pháp truyền thống mà vẫn mang lại hiệu quả nhất cao
Người báo cáo
Lê Thị Oanh
BÁO CÁO BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC
I Thông tin chung
Tên biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục: Rèn kĩ năng chuyển đổi đơn
vị đo độ dài và đơn vị đo khối lượng cho học sinh lớp 5A2 Trường Tiểu học
Trang 8II Nội dung
1 Lý do lựa chọn biện pháp
Qua kiểm tra khảo sát, qua quan sát học sinh học tập trong các tiết học
môn toán Ngay từ đầu năm học, tôi đánh giá đa số học sinh còn hạn chế trong chuyển đổi đơn vị đo đại lượng như sau:
Đối với việc đổi các đơn vị đo độ dài và khối lượng các em thường mắc ở dạng đổi từ đơn vị nhỏ sang đơn vị lớn của hai số đo không liền kề (gọi là đổi ngược) Và dạng đổi từ một đơn vị đo thành hai hay ba đơn vị đo (và ngược lại)
Từ những tồn tại trên tôi nhận thấy những khó khăn đối với chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng là do các yếu tố sau:
Do một số em chưa thuộc tên các đơn vị đo, sắp xếp chưa đúng thứ tự các đơn vị trong từng bảng đơn vị đo đại lượng
Một số em lại chưa hiểu bản chất của mối quan hệ giữa các đơn vị đo đại lượng Thế rồi do còn nhầm lẫn về mối quan hệ giữa 2 đơn vị đo liền kề trong bảng đơn vị đo độ dài với đơn vị đo diện tích,
Các bảng đơn vị đo đại lượng có nhiều đơn vị đo nên khó nhớ Mối quan
hệ ở mỗi loại đơn vị đo khác nhau làm cho các em dễ nhầm lẫn
Từ việc không nhớ tên, thứ tự và mối quan hệ của các đơn vị đo đại lượng dẫn đến việc các em không thực hiện được việc đổi các đơn vị đo đại lượng (Đối với cả hai trường hợp đổi xuôi và đổi ngược) Từ đó dẫn đến việc giải các bài toán có liên quan đến đại lượng cũng khó khăn
Kỹ năng tính toán ở một số em còn hạn chế dẫn đến việc thực hiện chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng cũng hạn chế theo
Một số em chưa nắm chắc các bước trong quá trình chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng
Khả năng phân tích tổng hợp và tư duy chưa nhanh
Từ những tồn tại nêu trên tôi nhận thấy rằng việc áp dụng giải pháp mới sẽ giúp các em khắc phục được những hạn chế của phương pháp cũ Đồng thời giúp các
em khắc sâu cách đổi các đơn vị đo đại lượng của mỗi dạng bài tập liên quan đến đại lượng và đo đại lượng mà đôi khi không cần phải đặt tính Học sinh vận dụng vào giải các bài toán liên quan đến đại lượng và đo đại lượng
Để biết được mức độ đạt được của việc chuyển đổi đơn vị đo đại lượng, ngay đầu năm học 2020 - 2021, tôi đã tiến hành khảo sát 31 học sinh lớp 5A2 và thu được kết quả thu được sau:
Lớp
Tổng số
học sinh
khảo sát
Mức độ đạt được
Có kĩ năng thành thạo
Thực hiện được nhưng chưa thành
thạo
Chưa thực hiện được
Trang 9
Qua quan sát và theo dõi các em về việc chuyển đổi các đơn vị đo đại lượng trong các tiết học hàng ngày, tôi nhận thấy kỹ năng về chuyển đổi các đơn
vị đo đại lượng của học sinh còn hạn chế trong việc ghi nhớ các đơn vị đo đại lượng và mối quan hệ của chúng Chính vì vậy mà cần phải sớm giải quyết vấn
đề này để nâng cao chất lượng học tập môn Toán cho 31 học sinh của lớp 5A2
và tiến tới vận dụng tới 5/5 lớp của khối 5 tại trường Tiểu học thị trấn Than Uyên nói riêng và tất cả học sinh của khối 5 trong toàn trường nói chung
2 Thực hiện áp dụng biện pháp
Khi biết được những khó khăn trên, Ngay từ đầu năm học 2020 -2021 này tôi đã áp dụng biện pháp cũng như cách thực hiện sau:
Biện pháp: Rèn kĩ năng đổi đơn vị đo độ dài, đơn vị đo khối lượng và đơn vị đo diện tích.
Mở rộng bảng đơn vị đo độ dài theo kiến thức của từng lớp Giúp học sinh nắm vững bản chất của phép đổi đó là mối quan hệ giữa các đơn vị đo trong một bảng đơn vị đo đại lượng theo kiến thức của lớp trên với lớp dưới
Đối với Bảng đơn vị đo độ dài, được hoàn thiện ở lớp 3 Trong sách giáo khoa Toán 3 trang 45 được trình bày ở mức đơn giản như sau:
Lớn hơn m
1km
= 10hm
=1000m
1hm
= 10dam
= 100m
1dam
= 10m
1m
=10dm
= 100cm
=1000mm
1dm
=10cm
= 100mm
1cm
=10mm
1mm
Lên lớp 4, vì học sinh đã được học về phân số nên tôi mở rộng bảng đơn
vị đo độ dài như sau:
= 10hm
=10dam
= 101 km
=10m
= 101 hm
=10dm
= 101 dam
=10cm
= 101 m
=10mm
= 101 dm
= 101 cm
Cũng với bảng đơn vị đo độ dài này, lên lớp 5, vì học sinh đã được học về
số thập phân nên tôi cũng mở rộng bảng đơn vị đo độ dài như sau:
= 10hm
=10dam
= 0,1km
=10m
= 0,1hm
=10dm
= 100cm
=10cm
= 0,1m
=10mm
= 0,1dm
= 0,1cm
Trang 10= 0,01km = 0,1dam
= 0,01hm
=0,001km
=0,01dam
Đối với đơn vị đo khối lượng và đơn vị đo độ dài thực chất chúng giống nhau hoàn toàn về bản chất của mối quan hệ giữa các đơn vị đo đó là: "Hai đơn
vị đo khối lượng (độ dài) liền kề gấp (kém) nhau 10 lần"
Trong sách giáo khoa Toán lớp 4, Bảng đơn vị đo khối lượng trang 24 được trình bày thành hai bảng như sau:
1tấn
= 10tạ
=1000kg
1tạ
=10yến
= 100kg
1yến
=10kg
1kg
=10hg
= 1000g
1hag
=10dag
= 100g
1dag
Tương tự với cách làm trên tôi cũng thực hiện tương tự với bảng đơn vị đo độ dài khi dạy ở lớp 5
Lớn hơn kg
= 10tạ
=10yến
=
10
1
tấn (0,1 tấn)
=10kg
=
10
1
tạ (0,1 tạ) (0,01 tấn)
=10hag
=
10
1
yến (0,1 yến) (0,01 tạ) (0,001 tấn)
=10dag
=
10
1
kg (0,1 tấn)
=10g
=
10
1
hag (0,1 tấn)
= 101 dag 0,1 dag
Từ các bảng trên tôi vận dụng và tìm ra một số cách hướng dẫn học sinh cách chuyển đổi các đơn vị đo sao cho dễ hiểu, dễ nhớ và dễ chuyển đổi mà không cần phải thực hiện phép tính như sau:
Cách dạy thông thường:
Dựa vào hai bảng đơn vị đo trên, học sinh chỉ việc học thuộc thứ tự của bảng và mối quan hệ để vận dụng vào giải quyết một số dạng bài tập chuyển đổi đơn vị đo bằng cách thực hiện đổi xuôi làm phép tính nhân; mà đổi ngược thì thực hiện phép tính chia Tuy nhiên ở cách dạy này mặc dù học sinh có thuộc lòng bảng đơn vị đo xong vẫn còn mơ hồ về bản chất của mối quan hệ Chính vì vậy mà học sinh rất nhanh quên và đôi lúc còn vận dụng máy móc nhờ quan sát vào bảng đơn vị đo để làm bài tập
Cách dạy khác:
Ta thấy 10 lần ở đây có thể hiểu là mỗi một đơn vị đo ứng với 1 chữ số 0 Nên khi chuyển đối hai đơn vị đo liền kề để học sinh dễ hiểu và dễ nhớ, dễ vận dụng thì ta
sẽ hướng dẫn học sinh thực hiện như sau:
: 100