Để đạt được thành công, linh hoạt viên cần ý thức về bầu khí, khung cảnh, đối tượng tham gia và mục tiêu nhắm tới để chuẩn bị cho xứng hợp. Cần chú ý các yếu tố sau: 1. Về bài hát sinh hoạt Nên sáng tác hoặc chọn các bài hát ngắn, chân phương, 4 hoặc 8 câu, có âm vận, có ý tứ đơn giản dễ thương, trải ra trong 16 trường canh (ô nhịp), theo nhịp 24 tươi tắn khỏe mạnh hoặc nhịp 34 duyên dáng nhẹ nhàng. 2. Về cử điệu kèm theo Mỗi câu hát chỉ nên chọn minh họa bằng 1 hoặc 2 cử điệu đơn giản, nhịp ăn khớp với tiết tấu nhạc, thường sử dụng các ngón tay, bàn tay, cánh tay, phối hợp với động tác chân và sự di chuyển thân mình, đồng thời hài hòa với ánh mắt và nét mặt. 3. Về tập thể tham dự Nên chọn hình thức vòng tròn cho sinh hoạt ngoài trời, bán cung nếu nhắm đến một nghi thức như cầu nguyện, tĩnh tâm, cũng đôi khi phải ứng biến ngay trong lớp học. 4. Về linh hoạt viên Nên hát mẫu kèm theo cử điệu mẫu một cách chậm rãi rõ ràng, tập cho tập thể, sau đó làm nháp và chính thức. Có thể cho điểm số 1–2, nếu cần có các cặp làm cử điệu đối xứng. Có thể giới thiệu ý nghĩa bài hát trước hoặc sau khi đã cùng làm.
Trang 1GIÁO ÁN
BÀI 1: KỸ NĂNG TẬP HÁT VÀ SÁNG TÁC CỬ ĐIỆU CHO BÀI HÁT SINH HOẠT
A KỸ NĂNG TẬP HÁT SINH HOẠT
I BÀI HÁT TRONG SINH HOẠT
Trong các dịp sinh hoạt tập thể, đặc biệt là với các em thiếu nhi và các bạn trẻ, một bài hát ngắn có ít nhất là 3 hiệu quả sau:
1 Gây dựng bầu khí
Nhanh chóng tạo được bầu khí vui tươi cho tập thể tham dự không phân biệt nam nữ, chênh lệch tuổi tác, xoá nhoà mọi e dè ngại ngần hay bàng quan khép kín, vốn là thứ tâm lý bị “đóng băng” gây khó khăn cho linh hoạt viên trong sinh hoạt.
2 Chuyển tải ý nghĩa
Dễ dàng chuyển tải những ý nghĩa chủ đề chung của chương trình sinh hoạt, một bài học giáo dục nhân bản trong xã hội hoặc một đề tài tôn giáo, mà cứ bình thường linh hoạt viên rất khó trình bày bằng lời nói cho lôi cuốn và hấp dẫn được.
3 Hỗ trợ giảng dạy
Đặc biệt trong sinh hoạt giáo lý, đây là một trong các phương tiện sư phạm huấn giáo đạt hiệu năng sinh động nhất và cao nhất, giúp cho giáo lý viên có thể dẫn nhập, minh hoạ và củng cố cho
Trang 2đề tài giáo lý, cho sứ điệp Tin Mừng khi đứng lớp giáo lý.
II CHỌN BÀI HÁT SINH HOẠT
Khi chuẩn bị cho một chương trình sinh hoạt, linh hoạt viên nên chọn sẵn một số bài hát sinh hoạt với các tiêu chuẩn:
1 Phù hợp với chủ đề
Bài hát sinh hoạt giới thiệu được một phần hoặc toàn bộ chủ đề của chương trình, thường là một bài ngắn, giai điệu vui tươi phấn khởi, tiết tấu rõ, đơn giản, có cử điệu sinh động, đệm được bằng đàn Guitar Nếu là bài hát giáo lý thì tóm gọn được nội dung giáo lý hoặc sát với lời Kinh Thánh.
2 Phù hợp với đối tượng
Bài hát sinh hoạt cần có nội dung hợp với tâm lý từng lứa tuổi, với từng giới tham dự Ngoài
ra cần nhớ nguyên tắc tỷ lệ nghịch giữa khối lượng người tham dự với tầm cỡ của bài hát: Càng đông thì lại càng đơn giản.
3 Phù hợp với khung cảnh
Bài hát sinh hoạt cần hợp với khung cảnh gặp gỡ ở hội trường, tại đám tiệc, trong phòng sinh hoạt, ngoài sân chơi, giữa thiên nhiên, trong nhà thờ (nếu được phép) hoặc ở lớp giáo lý Hoặc có các loại sáng tác riêng để mở đầu làm quen, kết thúc chia tay hoặc kèm theo trò chơi, để thưởng phạt sau một trò chơi.
4 Phù hợp với khả năng bản thân
Cần nhớ là bài hát sinh hoạt được chọn còn phải quen thuộc thông thạo và vừa sức đối với bản thân linh hoạt viên Hãy hát được một bài hát có thể tới mức thuộc lòng trước khi tập lại cho
Trang 3mọi người.
III CÁCH THỨC TẬP HÁT SINH HOẠT
Có nhiều cách thức tập hát khác nhau, nên uyển chuyển thay đổi cho phù hợp với từng loại bài, với từng tình huống và đối tượng tham dự, có thể chọn một trong những cách dưới đây hoặc phối hợp chung nhiều cách cho thêm phần sinh động:
1 Hát trước toàn bài 2, 3 lần cho tập thể nghe quen tai nhạc, lời và nhịp điệu, sau đó tập lại
từng câu [mỗi câu thường chỉ có 4 trường canh (ô nhịp)].
2 Hát mẫu từng câu ngắn rồi mời tập thể lặp lại ngay, lại qua câu kế tiếp cho tới hết bài.
3 Vừa hát mẫu vừa minh hoạ bằng cử điệu, sau đó tập lại cả bài, mời tập thể cùng hát theo
từng cử điệu đã gợi ý (mỗi câu thường diễn tả bằng 1, 2 cử điệu đơn giản).
4 Vừa hát mẫu vừa dẫn dắt bằng câu chuyện hoặc cắt nghĩa từng chữ từng câu một cách lý
thú và sinh động.
5 Chép trọn cả bài lên bảng, sau khi tập thể hát đã tương đối vững sẽ xoá dần một số chữ
hoặc xoá từng câu cho đến khi sạch bảng là mọi người đã thuộc lòng bài hát.
6 Sau khi tập hát đã tương đối vững, có thể chia phe hát đuổi, hát chồng lên nhau mà vẫn
khớp về hoà âm, hòa thanh và tiết tấu nhịp điệu.
IV KẾT LUẬN
Linh hoạt viên trong công việc này được gọi là một quản ca, nghĩa là người điều khiển cả tập thể hát chung một bài hát Mức độ hiệu quả thành công của chương trình nói chung phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của người quản ca Trong sinh hoạt hướng đạo, để được trao chuyên hiệu
Trang 4quản ca, ít nhất phải biết được 40 bài hát sinh hoạt và có dịp chứng tỏ khả năng tập hát thành công tất cả những bài hát ấy cho tập thể 1
B KỸ NĂNG SÁNG TÁC CỬ ĐIỆU CHO BÀI HÁT SINH HOẠT
Trang 5viên yêu cầu mọi người đứng nghiêm trang, hướng dẫn vài lời đưa vào chủ đề, mời hát chậm rãi, vừa đủ nghe, không vỗ tay, không làm động tác hay cử điệu.
Ví dụ: “Anh em chúng ta chung một đường lên…”
2 Bài hát có vỗ tay
Trong sinh hoạt, để gây bầu khí vui tươi nhộn nhịp, linh hoạt viên có thể đề nghị vỗ tay theo nhịp hoặc theo tiết tấu của bài hát, vỗ toàn bài hay chỉ vỗ cuối câu, hoặc chỉ vỗ một số từ nào đó trong câu thay vì phải hát thành lời.
Ví dụ: “Tang tang tang tình tang tính, ta ca ta hát…”
“Vỗ tay, vỗ tay, cùng nhau hát mà vui cười…”
3 Bài hát có động tác
Trong sinh hoạt, linh hoạt viên có thể dùng các động tác đơn giản, dứt khoát kèm theo từng câu của bài hát sinh hoạt, thường là 4 động tác (nếu là nhịp 2/4 và 4/4) hoặc 3 động tác (nếu là nhịp 3/4) cứ lặp đi lặp lại, ăn với các phách mạnh nhẹ của câu nhạc Loại bài hát này có tác dụng gây bầu khí sôi nổi, giúp thư giãn, tỉnh ngủ khi phải ngồi một chỗ đã lâu.
Ví dụ: “Ta hát to hát nhỏ nhỏ nhỏ…”
4 Bài hát có vũ điệu
Loại bài dùng làm các tiết mục trình diễn của một nhóm, một đội, các bạn trẻ trên các sân khấu bỏ túi, văn nghệ quần chúng, hoặc trong các dịp đốt lửa trại Vì mang nhiều tính nghệ thuật nên cần phải được tập luyện nhuần nhuyễn, đạt mức độ tương đối khá về nghệ thuật.
Ví dụ: “Anh em ta về cùng nhau ta quây quần ”
“Tình bằng có cái trống cơm ”
Trang 65 Bài hát có cử điệu
Loại bài hát sinh hoạt đặc biệt này vẫn còn ít được sử dụng Thật ra, dạng bài hát này rất dễ sáng tác, dễ lồng các cử điệu vào, lại dễ tập cho cả tập thể đứng vòng tròn hoặc ngồi hoặc đứng ngay trong lớp học Mọi lứa tuổi đều có thể tham gia một cách hứng thú, sinh động, gây ấn tượng sâu xa nhờ ý nghĩa của lời hát được minh họa bằng các cử điệu đơn sơ, gần gũi với đời sống thường nhật
Ví dụ: “Người khôn xây trên đá ngôi nhà…”
“Chiều nay em đi câu cá ”
II ĐỊNH NGHĨA BÀI HÁT CÓ CỬ ĐIỆU
Cử chỉ: Cách làm, cách minh họa, cách biểu diễn một sự vật, một sự việc hay một ý tưởng trừu tượng bằng bàn tay.
Dáng điệu: Vẻ bề ngoài của khuôn mặt, của toàn thân mình ăn khớp với nhịp độ của công việc, của âm nhạc.
Vậy bài hát có cử điệu chính là một dạng bài hát ngắn có kèm theo các cử chỉ và dáng điệu đơn giản rõ nét, để diễn tả tối đa nội dung của từng câu, từng ý trong bài hát.
III GIÁ TRỊ CỦA CỬ ĐIỆU
Các cử điệu mang tính cách tế nhị, kín đáo, lại vừa phong phú về mặt biểu hiện cảm xúc của người Đông Phương (Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam…) cho nên các cử điệu, dẫu không dùng đến lời nói, vẫn có thể diễn đạt nhiều ý tứ sâu sắc
Các cử điệu còn được ứng dụng một cách tự nhiên trong việc giáo dục nhân bản và tâm linh không chỉ đối với trẻ em mà cho cả người lớn trong các mối tương quan với chính mình, với tha
Trang 7nhân, với thiên nhiên và với Thượng Đế
Cử điệu diễn tả lòng tri ân, sự kính trọng, quan niệm sống bác ái, vui tươi lạc quan… Cử điệu giúp bày tỏ những tính cách và ước nguyện kín ẩn của nội tâm như vâng phục, khiêm tốn, hồn nhiên trong sáng…
Với tín ngưỡng, cử điệu có thể thay cho một lời tuyên xưng về các nhân đức như xác tín, phó thác, yêu mến…
IV CHUẨN BỊ CHO MỘT BÀI HÁT CÓ CỬ ĐIỆU
Để đạt được thành công, linh hoạt viên cần ý thức về bầu khí, khung cảnh, đối tượng tham gia và mục tiêu nhắm tới để chuẩn bị cho xứng hợp Cần chú ý các yếu tố sau:
1 Về bài hát sinh hoạt
Nên sáng tác hoặc chọn các bài hát ngắn, chân phương, 4 hoặc 8 câu, có âm vận, có ý tứ đơn giản dễ thương, trải ra trong 16 trường canh (ô nhịp), theo nhịp 2/4 tươi tắn khỏe mạnh hoặc nhịp 3/4 duyên dáng nhẹ nhàng.
2 Về cử điệu kèm theo
Mỗi câu hát chỉ nên chọn minh họa bằng 1 hoặc 2 cử điệu đơn giản, nhịp ăn khớp với tiết tấu nhạc, thường sử dụng các ngón tay, bàn tay, cánh tay, phối hợp với động tác chân và sự di chuyển thân mình, đồng thời hài hòa với ánh mắt và nét mặt.
Trang 8Nên hát mẫu kèm theo cử điệu mẫu một cách chậm rãi rõ ràng, tập cho tập thể, sau đó làm nháp và chính thức Có thể cho điểm số 1–2, nếu cần có các cặp làm cử điệu đối xứng Có thể giới thiệu ý nghĩa bài hát trước hoặc sau khi đã cùng làm.
V DIỄN XUẤT CÁC CỬ ĐIỆU
Linh hoạt viên đòi hỏi có nhiều sáng kiến, biến báo và có tâm hồn sâu sắc, giàu cảm xúc, nên
có thể dễ dàng chọn, sáng tác và thể hiện các cử điệu cho đúng ý nghĩa, cân đối, duyên dáng, đạt mức nghệ thuật tối thiểu Dưới đây là một số nguyên tắc cần lưu ý về các cử điệu:
1 Thống nhất đầu-cuối
Nhanh hay chậm, dí dỏm hay trang trọng, sôi nổi hay dịu dàng, sao cho thích hợp với nội dung và tính cách của bài hát, tuy vậy đôi khi vẫn có thể thay đổi nhịp độ và tiết điệu để gây ấn tượng, đồng thời kết hợp các tiếng hò, tiếng hô, tiếng gọi, băng reo để tạo bầu khí sinh động.
VI HIỆU QUẢ CỦA MỘT BÀI HÁT CÓ CỬ ĐIỆU
Bài hát có cử điệu thường được linh hoạt viên vận dụng nhằm các mục đích sau:
Trang 93 Góp phần giáo dục
Bài hát có cử điệu chuyển tải được các nội dung giáo dục hướng thượng và vị tha một cách nhẹ nhàng mà lại thấm thía, tránh được kiểu nói nặng về huấn đức khô khan.
4 Minh họa sứ điệp
Bài hát có cử điệu trong giáo lý thường là các bài ca ý lực, diễn ý các câu Lời Chúa, diễn tả cách đơn giản các mệnh đề tín lý và luân lý, có thể dùng trong sinh hoạt hoặc cầu nguyện ở đầu,
ở giữa hay ở cuối tiết dạy giáo lý 2
2 Tôn Thất Sam, Tiến Lộc, Lửa Trại Và Kỹ Năng Dẫn Chương Trình (Hà Nội: Nhà Xuất Bản Trẻ, 2002), 77.
Trang 10BÀI 2 : ĐỐ VUI GIÁO LÝ VÀ DIỄN KỊCH - HOẠT CẢNH
- ĐỐ VUI GIÁO LÝ
Nhằm kiểm tra học lực của học viên đồng thời tạo tinh thần thi đua học hỏi, chúng ta có thể tổ chức những cuộc thi ‘vui mà học, học mà vui’ gọi là đố vui Giáo Lý giữa các đội trong một lớp, giữa các lớp trong một họ đạo, giữa các họ đạo trong một hạt hay rộng hơn nữa
1- Cách tổ chức :
a/ Trước cuộc thi :
– Soạn câu hỏi.
– Mời người điều khiển (có thể chính là Giáo Lý Viên ).
– Mời vài giám khảo (cho biết trước câu hỏi và đáp án).
– Phòng ốc, bàn ghế.
– Chuông hoặc những mảnh thăm xếp nhỏ (tùy hình thức).
– Bảng để ghi điểm số.
b/ Trong cuộc thi :
Phải qui định trước một số luật lệ :
– Ấn định số người thi trong một nhóm, có được thay không ? Lúc nào ?
– Ấn định số điểm cho mỗi câu hỏi.
– Ấn định thời gian trả lời cho mỗi câu hỏi.
– Có quyền bổ sung câu trả lời không ? Mấy lần ? Điểm ?
Trang 11– Trả lời sai thì sao ?
(Ngoài ra, tùy theo hình thức tổ chức – bốc thăm – hái hoa dân chủ hay nghe đặt câu hỏi rồi bấm chuông, rung chuông vàng, đường lên đỉnh, thách thức … mà chúng ta có thể quy định thêm những luật lệ để chế tài cho phù hợp với từng hình thức).
Để cho bầu không khí thêm sinh động, vui tươi, nên động viên khán thính giả vỗ tay tán thưởng những câu nói đúng, bắt đầu một bài hát hoặc cho biết điểm số sơ khởi…
2- Cách đặt câu hỏi
Dùng chính những câu hỏi trong sách Giáo Lý của các em cũng được, nhưng để kích thích trí thông minh, nhạy bén và thận trọng của học viên, cũng nên mở rộng những ‘câu hỏi thi đua’ – Câu hỏi tổng hợp (‘Tên mẹ Chúa Giêsu là gì ? Tại sao bà được gọi là Mẹ Thiên Chúa’…) – Câu hỏi sắp xếp (thứ tự thời gian các nhân vật, biến cố …)
– Câu hỏi lựa chọn (chọn 12 tên thánh Tông Đồ trong một dãy tên nhân vật …)
– Câu hỏi giải quyết một tình huống cụ thể.
– Câu hỏi đòi hỏi trí nhớ (Câu đó trong bài học nào hoặc Thánh ký nào ghi lại ? Chương mấy?
… Tiếp theo câu đó hay trước câu đó là gì?…)
– Câu hỏi suy luận (‘Tổ phụ Abraham có bao nhiêu cháu nội ? …’)
– Câu hỏi áp dụng (‘Chúa Giêsu chữa lành 10 người cùi mà chỉ có một người đến cám ơn Chúa Điều đó dạy cho em bài học gì ? …’)
– Câu hỏi thực hành (‘Em hãy phát biểu một lời cầu nguyện tự phát, xin Chúa chúc lành cho Cha Sở’).
Trang 12– Câu hỏi đánh lạc hướng (‘Tại sao Chúa Thánh Thần lại lấy hình chim bồ câu đậu xuống các Tông Đồ trong ngày lễ Ngũ tuần ?’…)
– Câu hỏi có vật dụng bên ngoài phụ họa (‘Hãy chỉ Thành Bêlem nơi Chúa Giêsu sinh ra trên bản đồ nước Do Thái’…)
Tùy theo khả năng và nơi chốn mà ta có thể sử dụng các hình thức khác nhau :
– Giáo Lý Viên viết kịch bản rồi tập dợt cho các học viên; hoặc các học viên tự làm lấy, Giáo Lý Viên duyệt trước khi diễn.
– Các diễn viên có thể đối thoại trực tiếp bằng lời nói khác nhau (kịch nói) hay chỉ làm những cử điệu dễ hiểu (kịch câm) hay chỉ ra điệu bộ, người khác ở trong hậu trường đọc lời đối thoại (hoạt cảnh).
Trang 13– Hoạt cảnh hoạt diễn kịch bằng bóng (buổi tối) : Các nhân vật đứng bên trong màn, hình ảnh và
cử điệu nổi lên trên màn nhờ một bóng đèn pha Người xem chỉ thấy bóng các nhân vật.
2- Vài hình thức
– Các diễn viên đóng các vai Chúa, Đức Mẹ, các Thánh … nên nghiêm trang tề chỉnh, không nên giễu cợt làm mất sự tôn kính.
– Các buổi diễn này thường ồn ào, gây mất trật tự, cần phải có sự chuẩn bị tập dợt trước.
– Một kinh nghiệm riêng : Các em được chọn làm diễn viên rất thích được hóa trang Giáo Lý Viên nên nhắc nhở và kiểm tra các em, đừng quan trọng quá nó, chỉ nên đơn giản thôi (nếu không tự các em hoá trang sẽ rất kỳ dị, cổ quái, không xứng hợp).
ẢO THUẬT
1 Ảo thuật là gì?
Thế giới ảo thuật muôn hình muôn vẻ, các bạn có thể thích ảo thuật, mong muốn được khám phá
ra những bí quyết của ảo thuật, nhưng ít ai có thể hiểu được rõ ràng thế nào là Ảo thuật.
Theo như cách hiểu đơn giản nhất, chúng ta sẽ phân tích về từ ngữ như sau:
• Ảo: Ảo giác, ảo ảnh, ảo mộng v.v…
• Thuật: Kỹ thuật, thủ thuật, xảo thuật v.v…
Vậy chúng ta có thể biết được ngay rằng, ẢO THUẬT chính là nghệ thuật của ẢO GIÁC, là sử dụng kiến thức của đời sống để tạo nên những điều không thể.
Trang 14• Ảo thuật là kỹ xảo sử dụng đôi bàn tay khéo léo để tạo nên những động tác điêu luyện,
thoắt ẩn thoắt hiện để đánh lừa và làm lạc hướng đôi mắt khán giả.
• Ảo thuật là sử dụng kiến thức vật lý, hóa học, sinh học, toán học, tâm lý học v.v… để sáng tạo ra những tiết mục ảo thuật thần kỳ.
Vậy ảo thuật có phải là một trò bịp bợm, đánh lừa người khác nhằm moi tiền thiên hạ hay không ?
Câu trả lời là KHÔNG, mà đây là một bộ môn nghệ thuật thông minh, kích thích trí sáng tạo, khả năng phát triển tư duy vượt bậc Bên cạnh đó, ảo thuật không lừa đảo một ai cả, mà chỉ đơn giản
là kiến tạo nên những niềm vui đặc biệt hơn những niềm vui cơ bản của đời sống.
Như vậy: Ảo thuật là loại hình nghệ thuật trình diễn những hiện tượng biến hoá kỳ lạ, được tạo
ra bằng những kỹ xảo hoặc đạo cụ đặc biệt, gây ngạc nhiên cho khán giả Đặc điểm chính của môn ảo thuật là tính phi lý, lạ thường Những nghệ sĩ ảo thuật được gọi là ảo thuật gia
2 Vài hình thức ảo thuật đơn giản:
SINH HOẠT
Khởi động: Anh em ơi, chị em ơi
1 Chịu chơi, chịu chơi, chịu chơi sức mấy mà buồn Chịu chơi, chịu chơi, chịu chơi, sức mấy mà buồn, buồn là cù lần, không buồn là chịu chơi, chịu chơi, chịu chơi, chịu chơi.
2 Cử điệu: Chịu chơi (vỗ tay đều) (đến chữ buồn nghỉ không vỗ tay).
Trang 15 Phản ứng nhanh: QT: a - Đáp: ô - QT: a a - Đáp: ô ô
QT Hát: Nhún nhún nhún là mình cùng nhún nhún nhún sờ cái tai nhau đi, xem ai có
ngại ngần gì, sờ cái tai nhau đi xem ai có ngại ngần chi, mình là anh em có chi đâu mà
ngại ngần, sờ cái tai nhau đi ta hãy sờ cái tai nhau đi.
Nào bạn vui mà muốn tỏ ra thì vỗ đôi tay (vỗ 3 cái bộp bộp bộp) Nào bạn vui mà muốn tỏ ra thì dậm đôi chân (dậm chân 3 cái bầm bầm bầm) Nào bạn vui mà muốn
tỏ ra thì gật cái đầu (gật 3 cái và đọc khực khực khực)
QT: lần đầu tiên thức dậy các bạn làm gì- Đáp: Mở mắt
Đàng sau quay Hãy trả lại tất cả những gì vừa nhận được.
Phản xạ nhanh: QT: Trò chơi rất đơn giản: đứng (nâng tay lên), ngồi (tay rụt xuống),
nằm (đưa tay nằm).
QT hát: (Hô đến động tác nào ta làm như vậy): lắc tay trái là lắc tay trái, lắc tay phải
là lắc tay phải, lắc chân trái là lắc chân trái, lắc chân phải là lắc chân phải Lắc tay trái, lắc tay phải, lắc chân trái, lắc chân phải
QT Bài hát: ( trò chơi yêu thương để thể hiện yêu thương nhau)
Bên trái tôi là người tôi yêu tôi thương, bên phải tôi là người tôi yêu tôi thương, trước mặt tôi là người tôi yêu tôi thương, sau lưng tôi là người tôi yêu tôi thương Người tôi
Trang 16yêu tôi thương đang ngồi bên phải của tôi, người tôi yêu tôi thương đang bên ngồi bên trái của tôi, người tôi yêu tôi thương đang ngồi trước mặt tôi đó, người tôi yêu tôi thương đang ngồi xung quanh tôi đây.
QT: Gió thổi, gió thổi.
Đáp: Thổi ai, thổi ai thổi những ai không bắt tay bạn thổi những ai không đứng
thành 1 cặp 2 người thổi cặp 2 người nào mà không đứng 2 chân (tiếp tục thổi)
Thổi ngành nào không ôm anh chị huynh trưởng của mình thổi ngành nào không tập 1,2 hàng dọc thẳng hàng trong 5 giây.
QT: vỗ tay to nhỏ theo động tác nâng tay lên xuống của người quản trò.
Hát cử điệu: Anh, em, đoàn kết (cử điệu: anh nhảy sang phải, em nhảy trái, đoàn
nhảy lên trước, kết nhảy lùi dưới.
QT Hát: Vui tươi khi gặp khó khăn, vui tươi khi gặp gian nan Vui tươi Hiên ngang.
Trang 17BÀI 3 VÀI ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI DẠY GIÁO LÝ (T LƯƠNG)
– Mỗi bước trong một bài Giáo Lý không nhất thiết phải bằng nhau về thời gian.– Có thể rút ngắn (hay kéo dài) phần này hay phần kia để cho bài Giáo Lý thêmlinh động, phù hợp.…
– Như chúng ta đã thấy, phần cầu nguyện được đặt ở trung tâm bài Giáo Lý, rồi mởđầu và kết thúc của bài Giáo Lý cũng là cầu nguyện; như vậy đủ thấy tầm quantrọng của nó, đồng thời cũng thấy sự khác biệt giữa một giờ học Giáo Lý và mộtlớp học phổ thông
– Lược đồ 10 bước này rất thích hợp cho các học viên nhỏ tuổi (7-16 tuổi) nhưng
có vẻ không phù hợp lắm cho những học viên ở tuổi lớn hơn
- Một lớp học quá đông học sinh giáo lý sẽ rất khó khăn về mặt sưphạm
I CẦU NGUYỆN TRONG BÀI GIÁO LÝ
Như trên ta thấy, trong một bài Giáo Lý có ba lần cầu nguyện Hình thức và nộidung của phần cầu nguyện mở đầu và kết thúc hơi giống nhau nhưng lại khác hẳn
so với phần cầu nguyện ở trung tâm bài Giáo Lý (được gọi là phần cầu nguyệnđỉnh cao của bài Giáo Lý)
Trang 181- Cầu nguyện mở đầu và kết thúc
Một Giáo Lý Viên giàu kinh nghiệm có thể đánh giá gần đúng tâm lý các học viên,những gì các em học hỏi được cũng như kết quả của một bài Giáo Lý bằng cáchquan sát cử điệu và tâm tình của các em trong lời cầu nghyện mở đầu và kết thúc.– Mục đích chính của cầu nguyện mở đầu và kết thúc là: xin Chúa thánh hoá giờhọc và tạ ơn Chúa về giờ học đã qua
– Hình thức nên ngắn gọn và luôn thay đổi để khỏi nhàm chán, trở thành một ‘thủtục’
Có nhiều hình thức: Hát một bài ngắn, đọc một lời nguyện tắt do Giáo Lý Viênhoặc một học viên tự phát (với các em nhỏ, Giáo Lý Viên có thể đọc từng câu chocác em lặp lại, hoặc làm dấu Thánh Giá rồi thinh lặng giây lát cầu nguyện riêng…)nhưng thường gặp nhất là đọc một kinh (mở đầu: kinh Lạy Cha; kết thúc: kinhSáng Danh)
2- Cầu nguyện đỉnh cao
Giáo Lý Viên cần huấn luyện cho học viên của mình có một tinh thần cầu nguyện
a Thái độ đối với Thiên Chúa:
Đây là một thái độ của tâm hồn Muốn có thái độ đúng đắn khi cầu nguyện, trướctiên phải xác định vị trí của chúng ta đối với Thiên Chúa (nói khác đi, phải tự vấnđáp : ‘Thiên Chúa là ai đối với tôi ?’
Trang 19– Thái độ của một tạo vật đối với Đấng Tạo Hoá:
+ Thờ lạy (Thiên Chúa là chủ tể tuyệt đối)
+ Ca tụng (Thiên Chúa là Đấng tuyệt mỹ)
+ Tri ân (Thiên chúa là Đấng nhân hậu và giàu tình thương…)
– Thái độ của một người con đối với cha hiền:
+ Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta và cho chúng ta trở thành con của Ngài + Nhờ Chúa Giêsu, chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, được ChúaThánh Thần hướng dẫn (‘Abba’ – Cha ơi !)
+ Giống như Chúa Giêsu, đối với Chúa Cha, chúng ta cũng có tâm tình củamột người con: yêu mến, kính trọng, vâng lời, cậy trông, phó thác…
– Thái độ của một tội nhân :
+ Khao khát Ơn Cứu Độ
+ Tin tưởng và cậy trông vào lòng nhân lành của Chúa
+ Ý thức thân phận dòn mỏng, yếu đuối, dễ sai phạm… của một tạo vật bấttoàn
# Nếu thật sự có được những tâm tình ấy, giờ cầu nguyện sẽ hết sức thâm trầm,
sâu lắng và đạt được kết quả tốt
b Những điều kiện thiết yếu:
Trang 20Cần phải có vài điều kiện thuận lợi để có thể gặp gỡ Thiên Chúa thật sự trong lờicầu nguyện.
– Đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa :
Nói chuyện với ai thì tiên vàn người ấy phải có mặt ; vậy phải ý thức rằng ThiênChúa đang hiện diện với mình rồi cố gắng hiện diện với Thiên Chúa và nói vớiNgài bằng những tâm tình thật sự của mình (để cho trẻ ý thức Thiên Chúa hiệndiện, Giáo Lý Viên nên hướng dẫn các em bằng những kiểu nói cụ thể, bằng tranhảnh – ảnh tượng – bàn thờ – nến … hoặc qua thiên nhiên)
– Có chuyện để nói với Thiên Chúa:
Cần tập cho các em hiểu: cầu nguyện là nói với Thiên Chúa những điều mình có ởtrong lòng; Do đó sau khi đã đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa nên gợicho các em một tâm tình thích hợp, (trong bài Giáo Lý, tâm tình này đã đượcchuẩn bị trước bằng bài giảng) sau đó giúp các em tìm những lời nói và cử chỉthích hợp để diễn tả tâm tình
– Tạo một bầu khí thuận lợi:
Phải cố gắng lo liệu sao cho phần cầu nguyện được lồng trong một bầu khí tônnghiêm, tự do và yên tĩnh
+ Tôn nghiêm: vì có Thiên Chúa hiện diện