MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN i DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ iii MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 8 1.1. Cơ sở lí luận 8 1.1.1. Khái niệm, mục tiêu của hoạt động trải nghiệm sáng tạo 8 1.1.1.1. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo 8 1.1.1.2. Mục tiêu của hoạt động trải nghiệm sáng tạo 14 1.1.2. Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo 16 1.1.2.1. Nội dung của hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang tính tích hợp và phân hóa cao 16 1.1.2.2. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng 17 1.1.2.3. Hoạt động trải nghiệm mang tính sáng tạo 18 1.1.2.4. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường 18 1.1.2.5. Học qua trải nghiệm giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được 19 1.1.3. Các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Toán 19 1.1.3.1. Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo 19 1.1.3.2. Phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo 22 1.1.4. Đánh giá hoạt động trải nghiệm sáng tạo 28 1.2. Cơ sở thực tiễn 32 1.2.1. Thực trạng dạy và học Tổ hợp xác suất ở trường phổ thông 32 1.2.2. Thực trạng của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Tổ hợp xác suất 33 Kết luận chương 1 35 CHƯƠNG 2. XÂY DỰNG MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC TỔ HỢP XÁC SUẤT 36 2.1. Cơ sở lựa chọn chủ đề 36 2.2. Yêu cầu chung về thiết kế hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học 37 2.3. Cấu trúc chung khi tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học 38 2.4. Xây dựng một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học tổ hợp xác suất lớp 11 43 2.4.1. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo 1 43 2.4.2. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo 2 57 Kết luận chương 2 69 CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 70 3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm 70 3.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 70 3.3. Thời gian và đối tượng thực nghiệm 71 3.4. Tiến hành thực nghiệm 71 3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm 72 3.5.1. Phân tích định tính 72 3.5.2. Phân tích định lượng 73 Kết luận chương 3 75 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78 PHỤ LỤC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
TRẦN THỊ THỦY
XÂY DỰNG CÁC HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TỔ HỢP – XÁC SUẤT CHƯƠNG TRÌNH
MÔN TOÁN LỚP 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN HỌC
HÀ NỘI – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, cố gắng làm việc một cách nghiêm túc, tôi
đã hoàn thành đề tài này Tôi xin bày tỏ lòng biết đến những người đã giúp
đỡ, bên cạnh tôi suốt thời gian qua
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Anh Vinh, ngườihướng dẫn khoa học đã giúp tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu, gợi ý cách thứctìm hiểu, tiếp cận với đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cáchthức làm đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô và các em học sinh tại trung tâmEdufly đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo, nhân viên Khoa
Sư phạm, Phòng Tư liệu Trường Đại học Giáo Dục- Đại học Quốc Gia HàNội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian qua
Trong quá trình làm luận văn, mặc dù đã rất cố gắng tìm hiểu và nghiêncứu nhưng vẫn khó có thể tránh khỏi những thiếu sót Do đó, tôi rất mongnhận được sự nhận xét, góp ý của các quý thầy cô và bạn đọc
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2018
Học viên
Trần Thị Thủy
Trang 5Bảng: 3.1 Mức độ hứng thú với bài học của học sinh khi được
Trang 6MỤC LỤC
Trang 7nó không phải là kiểm tra kiến thức sách vở tại trường học mà nó là xem xétnăng lực hiểu biết thực tế của học sinh Bài thi giúp đánh giá, kiểm tra khảnăng vận dụng các kiến thức Toán của học sinh vào giải quyết các vấn đề củathực tế, kiểm tra khả năng vận dụng những kiến thức khoa học vào lí giải cáctình huống Toán học Đồng thời bài thi giúp đo lường khả năng vận dụng kiếnthức vào đọc hiểu các tài liệu[7]
Ngay từ lần đầu tiên tham dự chương trình này, Việt Nam đã nằm trongtop 20 các nước có điểm chuẩn cao hơn điểm trung bình của OECD và caohơn nhiều nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Pháp, Anh [7] Đây quảthực là một niềm tự hào đối với giáo dục nước nhà Tuy nhiên, từ kết quả trên
có khẳng định được Việt Nam đã đi sâu vào việc dạy học thông qua các kiếnthức thực tế hay chưa, thực trạng việc dạy học ở nước ta đã gắn liền với thựctiễn đời sống chưa? Câu trả lời đó tự mỗi chúng ta đều có thể trả lời Do vậyviệc dạy học gắn với thực tiễn là thực sự cần thiết, nó cho học sinh được trải
Trang 8nghiệm và lĩnh hội kiến thức để giải quyết nhiều vấn đề cuộc sống đặt ra.Những điều đó, bây giờ nó được gọi dưới cái tên “Hoạt động trải nghiệm sángtạo”.
Từ giữa thế kỉ XX, John Dewey - nhà khoa học giáo dục nổi tiếng người
Mĩ đã chỉ ra rằng: để nâng cao hiệu quả giáo dục chúng ta cần có sự liên kếtgiữa người học, những kiến thức được học với thực tiễn cuộc sống TheoKolb (1984) nhận định rằng bản chất của hoạt động học là quá trình trảinghiệm trong đó kiến thức của người học được hình thành thông qua việcchuyển hóa kinh nghiệm thu được
Ngoài các ý kiến, nhận định trên, một số học giả quốc tế khác cho rằng
“giáo dục trải nghiệm coi trọng và khuyến khích mối liên hệ giữa các bài họctrừu tượng với các hoạt động giáo dục cụ thể để tối ưu hóa kết quả học tập(Sakofs, 1995); học từ trải nghiệm phải gắn kinh nghiệm của người học vớihoạt động phản ánh và phân tích (Chapman, McPhee and Proudman, 1995);chỉ có kinh nghiệm thì chưa đủ để được gọi là trải nghiệm; chính quá trìnhphản ánh đã chuyển hóa kinh nghiệm thành trải nghiệm giáo dục (Joplin,1995)”
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục được nhiều nướcquan tâm, đặc biệt là các nước có nền giáo dục phát triển như Đức, Anh, Mỹ,Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore
Tại Singapore, các chương trình của các nhóm nghệ thuật trong trườngphổ thông hay những kinh nghiệm để sáng tạo nghệ thuật đều được tài trợtoàn bộ bởi chương trình giáo dục nghệ thuật của chương trình giáo dục nghệthuật của hội đồng nghệ thuật quốc gia
Tại Netherlands, xây dựng các trang mạng nhằm trợ giúp học sinh cónhững sáng tạo làm quen với nghề nghiệp Tại đây, mỗi học sinh sẽ nhận
Trang 9được một khoản tiền nhỏ để thực hiện dự án do mình xây dựng, sáng tạo rathông qua việc gửi hồ sơ dự án của mình vào các trang mạng đó Đồng thờicác trang mạng cũng là nguồn để học sinh tìm hiểu thêm các thông tin.
Tại Vương quốc Anh học sinh được khuyến khích sự đổi mới, sáng tạo,dám nghĩ dám làm Học sinh được học tập thông qua các tình huống, bốicảnh phong phú, đa dạng Đồng thời đòi hỏi sự am hiểu về kiến thức và cócác kĩ năng cần thiết để phát triển sự sáng tạo và tư duy cho học sinh; đặt ranhiều cách thức khác nhau để giải quyết vấn đề chứ không dập khuông theomột phương pháp, sau đó phân tích, lựa chọn giải pháp tối ưu từ đó sẽ thuđược kết quả cao hơn
Tại Đức, ngay từ cấp Tiểu học học sinh đã được chú trọng đến phát triểncác kĩ năng cá nhân, trong đó có phát triển kĩ năng sáng tạo cho trẻ; phát triểnkhả năng học độc lập; tư duy phê phán và học từ kinh nghiệm của chính mình
Tại Nhật, trẻ được nuôi dưỡng năng lực ứng phó với sự thay đổi của xãhội, hình thành một cơ sở vững mạnh để khuyến khích sự sáng tạo
Tại Hàn Quốc, mục tiêu của hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hướngđến con người được giáo dục, có sức khỏe, độc lập và sáng tạo Ở mỗi cấphọc sẽ có những yêu cầu nhất định như ở cấp tiểu học và Trung học cơ sở họcsinh được chú trọng tới việc phát triển cảm xúc và ý tưởng sáng tạo, ở cấpTHPT chú trọng vào phát triển công dân toàn cầu có suy nghĩ sáng tạo
Ở Việt Nam, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định giáo dụcđào tạo cùng với Khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu Nghị quyết Hộinghị số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của Trung ương 8 khóa XI về đổi mới cănbản, toàn diện giáo dục đã chỉ ra rằng “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủyếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất ngườihọc” Do đó, trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, Bộ
Trang 10Giáo dục và Đào tạo đã coi hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một bộ phận củachương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015
Khi tham gia hoạt động trải nghiệm sáng tạo học sinh được trực tiếptham gia vào các hoạt động thực tiễn trong nhà trường hoặc trong xã hội dưới
sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạođức, các kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm riêng của các cá nhân Trải nghiệmsáng tạo là hoạt động được coi trọng trong từng môn học; đồng thời cũng có
sự tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo dục, kiến thức, kĩ năng khác nhau Quađây ta thấy hoạt động trải nghiệm sáng tạo là hoạt động có sự phối hợp nhuầnnhuyễn giữa trải nghiệm và sáng tạo, đồng thời nó tạo cơ hội cho học sinhđược tham gia trải nghiẹm để tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm, từ đó có thểtổng hợp và khái quát thành hiểu biết theo cách của mỗi cá nhân
Bên cạnh các môn học trong chương trình giáo dục bậc THPT, Toán làmột môn học chiếm vị trí quan trọng, là công cụ cho việc dạy và học các mônhọc khác Tuy nhiên, ở bậc THPT môn Toán việc dạy và học Toán thườngmang nặng tính lý thuyết và hàn lâm do môn Toán có tính trừu tượng Tuynhiên, môn Toán vẫn là môn học xuất phát và bắt nguồn từ thực tiễn, đồngthời nó cũng có rất nhiều ứng dụng trong xã hội Tiêu biểu ta có thể nói tớinội dung Tổ hợp – xác suất trong chương trình môn Toán lớp 11, đây là nộidung có rất nhiều các bài toán mang tính thực tiễn và cũng là nội dung ápdụng được rất nhiều kiến thức trong đời sống
Trong thực tế cuộc sống, Toán tổ hợp – xác suất xuất hiện đã từ rất lâu
Từ hàng nghìn năm trước, các ý niệm về tổ hợp - xác suất đã xuất hiện thôngqua việc chơi cờ bạc, tuy nhiên để mô tả các ý niệm đó bởi Toán học và được
sử dụng trong đời sống thực tế thì muộn hơn rất nhiều Toán về tổ hợp xácsuất nó không dừng lại ở phạm vi một môn học nữa mà nó còn đóng góp rấtlớn trong các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị Nhận thấy tầm quan trọngcủa Tổ hợp – xác suất trong xã hội hiện đại nên ở nhiều quốc gia, Tổ hợp -
Trang 11xác suất được đưa vào giảng dạy với nhiều mức độ khác nhau Ở nước taTrong chương trình Toán phổ thông, nội dung Tổ hợp – xác suất là một nộidung khó, thường xuất hiện trong các cuộc thi và các công trình nghiên cứu.Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu đi vào việc xây dựng các dạngbài tập, cách giải quyết các bài toán khó hay chỉ sai lầm học sinh thường mắcphải Đây đều là những nghiên cứu về mặt lý thuyết, kiến thức chứ chưa tậptrung vào khai thác các kĩ năng, hoạt động Những vấn đề này kết hợp cùnglượng kiến thức học được sẽ giúp hình thành các năng lực cho học sinh.
Từ những lí do trên tôi quyết định lựa chọn chủ đề “Xây dựng các hoạtđộng trải nghiệm sáng tạo trong dạy học chủ đề tổ hợp – xác suất chươngtrình môn Toán lớp 11” làm đề tài luận văn của mình
2. Mục đích nghiên cứu
Khẳng định vai trò và ý nghĩa của hoạt động học tập trải nghiệm sángtạo, từ đó đưa ra các hình thức và biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệmtrong dạy học chủ đề Tổ hợp – xác suất chương trình môn Toán lớp 11
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về hoạt động trải nghiệm sáng tạo như khái niệm,mục tiêu, đặc điểm, các hình thức và phương pháp tổ chức, cách đánh giá cáchoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Nghiên cứu thực trạng việc dạy học tổ hợp xác suất trong trường học cũngnhư thực trạng tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong nội dung Tổhợp – xác suất
- Xây dựng nội dung và cách thức tổ chức và đánh giá các hoạt động trảinghiệm sáng tạo trong dạy học chủ đề tổ hợp – xác suất
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá bước đầu hiệu quả của các hoạt động đượcxây dựng
4. Câu hỏi nghiên cứu
- Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học chủ
đề tổ hợp – xác suất có phát huy được sự hứng thú học tập, tính tích cực chohọc sinh không?
5. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
Trang 12- Khách thể nghiên cứu: hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học ở trườngTHPT.
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học chủ
đề tổ hợp – xác suất chương trình môn Toán 11 cho học sinh THPT
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Xây dựng và tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học chủ đề tổhợp xác suất góp phần nâng cao hứng thú, kĩ năng, nhận thức cho học sinhtrong môn Toán
7. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Quá trình tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trongdạy học chủ đề Tổ hợp – xác suất cho học sinh lớp 11
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các dự thảo, chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo về hoạtđộng trải nghiệm sáng tạo và cách tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạotrong dạy học
- Nghiên cứu các phương pháp dạy học môn Toán, các tài liệu giáo dục có liênquan tới đề tài, đặc biệt các tài liệu liên quan đến hoạt động trải nghiệm sángtạo
- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách tham khảo có liên quan đến chủ đề tổ hợp –xác suất, các nghiên cứu trước đây về tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo.8.2. Điều tra, quan sát
- Khảo sát thực trạng của việc dạy và học Tổ hợp – xác suất ở trường phổ thông
- Khảo sát định tính về tính sinh động, hấp dẫn của giờ dạy Toán khi học sinhđược tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo
8.3.Thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm nhằm bước đầu khẳng định tính khả thi, hiệu quảcủa việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm, sáng tạo trong dạy học chủ đề tổ hợp– xác suất cho học sinh lớp 11
8.4. Phỏng vấn
Phỏng vấn các học sinh để thu thập thêm thông tin về mức độ hứng thú củahọc sinh khi tham gia vào các hoạt động trải nghiệm trải nghiệm sáng tạo trongdạy học chủ đề tổ hợp – xác suất
Trang 139. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận vănđược chia thành 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2 Xây dựng một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạyhọc tổ hợp – xác suất
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm, mục tiêu của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
1.1.1.1 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Để tìm hiểu về khái niệm hoạt động trải nghiệm sáng tạo ta sẽ đi xem xét
từng khái niệm “hoạt động”, “trải nghiệm”,“sáng tạo” và xem xét mối
quan hệ qua lại giữa chúng với nhau
• Hoạt động
Cuộc sống con người là một chuỗi các hoạt động trong đó con người làchủ thể của các hoạt động Con người và thế giới có mối quan hệ tác động qualại với nhau để tạo ra sản phẩm cả về phía con người, cả về phái thế giới Mốiquan hệ giữa con người và thế giới bao gồm hai quá trình gắn bó, tác động lẫnnhau
Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa (xuất tâm) Quá trình nàychủ thể (con người) chuyển năng lực của mình thành sản phẩm hoạt động vàtrong quá trình này tâm lí con người được bộc lộ, được khách quan hóa trongquá trình làm ra sản phẩm Có nghĩa là tại quá trình này con người sẽ tác độngvào thế giới khách quan và sản phẩm tạo ra của quá trình này mang đặc điểmtâm lí của người tạo ra nó[20]
Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa (nhập tâm) Quá trình này chủthể (con người) chuyển những nội dung khách thể là những quy luật, bản chấtcủa sự vật vào bản thân mình tạo nên tâm lí, ý thức và nhân cách của bảnthân Đồng thời đây cũng là quá trình con người lĩnh hội thế giới, thông qua
đó con người tích lũy thêm được những vốn kinh nghiệm để có thể tác độngngược trở lại thế giới [20]
Trang 15Do vậy, ta thấy rằng trong quá trình con người tham gia và thực hiệncác hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ratâm lý của mình, hay nói cách khác thì tâm lí, ý thức, nhân cách sẽ được bộ
lộ và hình thành trong hoạt động
Đặc điểm của hoạt động
- Tính đối tượng: Đối tượng là tất cả những yếu tố tự nhiên, xã hội mà conngười hướng tới nhằm nhận thức, cải tạo, là cái con người cần làm ra, cầnchiếm lĩnh đó chính là là động cơ
- Tính chủ thể: Hoạt động do con người tiến hành, con người ở đây có thể xét
là một người hay một nhóm người, con người tác động một cách chủ động,tích cực và tực giác vào khách thể
- Tính mục đích: Mục đích của hoạt động là làm biến đổi thế giới(khách thể) và biến đổi bản thân chủ thể đồng thời nó gắn liền với tính đốitượng và bị nội dung xã hội chế ước, đồng thời nó phụ thuộc vào nhận thức và
sự phát triển nhân cách của cá nhân
- Tính gián tiếp: Con người sử dụng công cụ lao động, ngôn ngữ, hình ảnhtâm lí trong đầu tác động vào khách thể trong quá trình hoạt động của bảnthân
Cấu trúc của hoạt động
Sơ đồ: 1.1 Sơ đồ biểu thị cấu trúc của hoạt động
Trang 16Sơ đồ trên biểu thị mối quan hệ qua lại giữa động cơ và mục đích, giữađộng cơ chung và động cơ riêng, giữa mục đích và mục đích bộ phận, mốiquan hệ này được nảy sinh từ hoạt động Do vậy, hoạt động của con người đãtạo nên các mối quan hệ tác động qua lại này.Và cũng thông qua đó mà tâm
lý, ý thức và nhanan cách của con người được bộc lộ
Từ những yếu tố trên ta thấy rằng hoạt động là yếu tố quyết định trựctiếp tới sự hình thành và phát triển tâm lí, ý thức nhân cách của con người.Thông qua hoạt động mà con người có thể tiếp thu và lĩnh hội những kinhnghiệm và tích lũy thành kinh nghiệm của bản thân, đồng thời hình thành vàphát triển những phẩm chất, năng lực cho riêng cá nhân mình Thông qua haiquá trình tác động qua lại của hoạt động mà con người có thể nhận thức vàchiếm lĩnh được thế giới và cũng chính bằng hoạt động mà con người có thểcải tạo thế giới và cải tạo chính bản thân mình
• Trải nghiệm
Nhắc tới trải nghiệm hẳn ai cũng nghĩ tới hoạt động của con người, bảnchất của giáo dục là trải nghiệm Do vậy trong quá trình giáo dục chúng takhông thể chỉ dạy thuần lý thuyết mà phải cho học sinh được trải nghiệmthông qua các hoạt động, chúng ta phải chuyển từ việc dạy học tiếp cận kiếnthức sang hướng tiếp cận năng lực Con người của thời đại mới không chỉ họctập từ sách vở, trường lớp mà còn học tập từ thế giới bên ngoài, có như vậy
Trang 17con người mới tích lũy được nhiều kinh nghiệm, trí thức, đồng thời biết sửdụng những điều học được áp dụng vào thực tiễn của cuộc sống.
Quá trình trải nghiệm bao gồm hai yếu tố “thử” và “sai” Thông qua trảinghiệm con người học được nhiều vốn kinh nghiệm quý giá mà chỉ có chínhbản thân mình từng trải qua mới thấm thía và tự rút ra được Đôi khi nhữngkinh nghiệm của người khác sẽ không đúng với chính bản thân mình, do vậycần có trải nghiệm để học hỏi những kinh nghiệm của thế hệ trước, nhưng từ
đó lại rút ra kinh nghiệm riêng cho bản thân Đồng thời thông qua trải nghiệmcon người nhận ra được những năng lực của bản thân để có thể phát triển vàhoàn thiện mình
Đặc điểm của trải nghiệm
- Con người được trực tiếp tham gia vào các hoạt động và các mối quan hệmột cách tự giác
- Con người được thử nghiệm và thể hiện bản thân mình, thông qua đó cóthể phát hiện những năng lực của bản thân
- Con người được tham gia giao lưu, tương tác, làm việc cùng với ngườikhác, với tập thể cộng đồng, với các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống
- Con người được thành một chủ thể chủ động, tích cực, sáng tạo
Trải nghiệm luôn bao gồm hai yếu tố gắn liền với nhau đó là hành động
và cảm xúc, nếu thiếu đi một trong hai yếu tố này thì đều không mang lại kếtquả Kết quả hướng tới của trải nghiệm là hình thành được những hiểu biếtmới, kinh nghiệm mới, những năng lực, thái độ và giá trị mới
Các dạng trải nghiệm
Có rất nhiều các dạng trải nghiệm, dựa vào từng tiêu chí ta có thể phânthành các dạng trải nghiệm Ví dụ như căn cứ vào cơ quan tham gia hoạtđộng ta phân thành trải nghiệm trong đầu, trải nghiệm bằng thao tác tay chân,
Trang 18trải nghiệm các giác quan; căn cứ vào phạm vi diễn ra hoạt động ta phânthành trải nghiệm trên lớp và trải nghiệm ngoài trời; căn cứ vào các quá trìnhtâm lí ta có thể kể tới trải nghiệm cảm giác bên ngoài, trải nghiệm tư duy vàtưởng tượng, trải nghiệm tri giác, trải nghiệm các cung bậc cảm xúc, trảinghiệm về ghi nhớ.
Vì những yếu tố trên, ta thấy rằng trải nghiệm rất đa dạng và phong phúnên việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo cũng rất đa dạng Chúng takhông chỉ gò bó, ép buộc rằng việc trải nghiệm phải là được tham gia cáchoạt động ngoài trời mà tùy vào điều kiện thực tế chúng ta có thể tổ chức cáchoạt động trải nghiệm ngay tại lớp học Khi học sinh được tham gia, tiếp xúcvới các hoạt động trên lớp, các sự vật, hiện tượng cũng đã giúp học sinh hìnhthành kinh nghiệm cho bản thân và như thế cũng có nghĩa là học sinh đượctrải nghiệm thông qua việc hiểu đúng về trải nghiệm mà giáo viên, nhà giáodục có thể lựa chọn được các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt độngtrải nghiệm một cách phù hợp nhất
• Sáng tạo
Trong cuộc sống thường ngày, hẳn ai cũng từng nghe tới cụm từ sángtạo, nó thường được nhắc đến như con người sáng tạo, công ty sáng tạo, làmviệc sáng tạo Vậy sáng tạo là gì?
Có rất nhiều ý kiến nói về sáng tạo như:
+ Là dám nghĩ dám làm
+ Là nhìn nhận một vấn đề, một câu hỏi theo một khía cạnh khác + Là nghĩ ra một ý tưởng hay một sản phẩm mới hoặc cải biên lạichúng
Tất cả các định nghĩa ở trên chỉ đúng ở một khía cạnh nhất định, mộtcách đầy đủ sáng tạo là hoạt động tạo ra bất cứ cái gì có đồng thời tính mới
Trang 19và tính ích lợi (trong phạm vi áp dụng cụ thể) Sáng tạo là một đặc trưng nổibật của tâm lí con người, trong thời đại công nghệ, kinh tế trí thức đòi hỏi conngười phải luôn vận động và chuyển mình, khi đó năng lược thích nghi vànăng lực sáng tạo được phát huy tối đa.
Đặc điểm của sáng tạo
- Bao gồm cả yếu tố kiến thức và trình độ chuyên môn
- Khả năng tư duy nhạy bén, uyển chuyển và linh hoạt
- Trí tưởng tượng phong phú
- Phát hiện vấn đề, tạo ra cái mới và độc đáo trong môi trường hoạt động củacon người
* Các dạng sáng tạo
Cũng giống như trải nghiệm, sáng tạo cũng phân thành nhiều loại phụthuộc vào từng điều kiện khác nhau như sáng tạo trong học tập, sáng tạotrong lao động sản xuất, sáng tạo công nghệ kĩ thuật, sáng tạo sáng chế, sángtạo cải biến
Do vậy ta thấy rằng sáng tạo xuất hiện ở bất cứ lĩnh vực nào của thế giớivật chất và tinh thần nó tạo nên sự khác biệt của đối tượng và có thể mang lạilợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội
Thông qua việc tìm hiểu các thuật ngữ “hoạt động”, “trải nghiệm” và
“sáng tạo” chúng ta thấy rằng thuật ngữ “hoạt động trải nghiệm sáng tạo”không chỉ đơn thuần là việc ghép ý nghĩa của 3 thuật ngữ trên lại với nhau, vìnhư ở trên ta đã phân tích trong hoạt động vẫn còn bao gồm trải nghiệm vàsáng tạo Do đó, việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo sẽ đem lại chohọc sinh những cái nhìn mới mẻ, tạo điều kiện cho học sinh được thử nghiệmthực tế, được giao tiếp, trao đổi với mọi người Qua đó các em sẽ hình thànhđược nhân cách, phẩm chất, năng lực và cá tính riêng cho bản thân
Trang 20Do vậy, để một hoạt động được gọi là hoạt động trải nghiệm sáng tạo thìphải đảm bảo đủ ba yếu tố là hoạt động – trải nghiệm – sáng tạo Hay nói cáchkhác hoạt động đó cần đảm bảo việc tổ chức phải có mục đích, có tổ chức vàhình thành được những năng lực phẩm chất cho người học.
Theo tác giả Đinh Thị Kim Thoa nhận định rằng: “Hoạt động trảinghiệm sáng tạo là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn củanhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạtđộng khác nhau của đời sống nhà trường cũng như ngoài xã hội với tưcách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩmchất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình”
Nhà giáo dục lúc này chỉ đóng vai trò hướng dẫn, hỗ trợ và giám sáthọc sinh, để mỗi học sinh sẽ trở thành chủ thể của hoạt động, thông qua đóhọc sinh được tự mình tham gia hoạt động Điều đó sẽ phát huy tính tíchcực, chủ động ở mỗi cá nhân học sinh và kết quả mong muốn đạt được sẽ lànăng lực thực tiễn, phẩm chất năng lực sáng tạo ở mỗi cá nhân
Theo tác giả Ngô Thị Thu Dung, bản chất của hoạt động ở người là trảinghiệm sáng tạo Tính sáng tạo này là tính sáng tạo của mỗi cá nhân chứkhông phải của cả tập thể
Theo tác giả Ngô Thị Tuyên cho rằng hoạt động trải nghiệm trong nhàtrường cần được hiểu là hoạt động có động cơ, có đối tượng để chiếm lĩnh,được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh, được thực hiện trongthực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường
Từ các quan điểm trên, em đồng ý với quan điểm sau: “Hoạt động trải
nghiệm sáng tạo là một hoạt động giáo dục tích cực, tự giác có mục đích, được tổ chức theo phương thức tạo điều kiện cho học sinh tham gia trực tiếp vào các loại hình hoạt động và giao lưu, nhằm hình thành và phát triển cho học sinh những phẩm chất, tư tưởng, ý chí, tình cảm, giá trị và kĩ năng
Trang 21sống và những năng lực cần có của con người trong xã hội hiện đại (hay nói cách khác là phát triển toàn diện nhân cách học sinh), nhằm mục đích tạo nhiều cơ hội để học sinh được tham gia trực tiếp vào hoạt động, phát huy
khả năng sáng tạo, tạo ra cái mới có giá trị với bản thân và xã hội.”
1.1.1.2 Mục tiêu của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Dựa theo dự thảo Chương trình giáo dục phổ thông về hoạt động trảinghiệm của Bộ Giáo dục - Đào tạo ngày 19/1/2018, mục tiêu của hoạt độngtrải nghiệm sáng tạo như sau:
• Mục tiêu chung
Hoạt động trải nghiệm giúp hình thành và phát triển các năng lực cầnthiết cho học sinh thông qua các chủ đề hoạt động gắn liền với những nộidung về quê hương, đất nước, con người Thông qua hoạt động trải nghiệm,học sinh có cơ hội khám phá bản thân và thế giới xung quanh, phát triển đờisống tâm hồn phong phú, biết rung cảm trước cái đẹp của thiên nhiên và tìnhngười, có quan niệm sống và ứng xử nhân văn; bồi dưỡng cho học sinh tìnhyêu đối với quê hương, đất nước, ý thức về cội nguồn và bản sắc của dân tộc
để góp phần giữ gìn, phát triển các giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam [2]
• Mục tiêu theo các cấp học
+ Mục tiêu ở tiểu học
Ở cấp tiểu học, hoạt động trải nghiệm nhằm giúp học sinh hình thành các
kĩ năng sống cơ bản, biết tuân thủ các nội quy, quy định; có thói quen sinhhoạt tích cực trong cuộc sống hằng ngày, nền nếp học tập ở nhà cũng như ởtrường; bắt đầu có định hướng tự đánh giá và tự điều chỉnh bản thân; hìnhthành những hành vi giao tiếp, ứng xử có văn hóa; có ý thức làm việc nhóm, ýthức tham gia hoạt động lao động, hoạt động xã hội, hoạt động phục vụ cộngđồng; bước đầu biết cách tổ chức một số hoạt động đơn giản, làm quen vàhình thành hứng thú với một số nghề gần gũi với cuộc sống của học sinh [2]
Trang 22+ Mục tiêu ở trung học cơ sở
Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trung học cơ sở giúp học sinhtiếp tục củng cố và phát triển các kĩ năng sống cơ bản, thói quen tích cực, nềnnếp học tập, hành vi ứng xử văn hóa ở tiểu học Ở trung học cơ sở, hoạt độngtrải nghiệm tập trung hơn vào sự phát triển phẩm chất, trách nhiệm của mỗi cánhân, đó là trách nhiệm với gia đình, xã hội, trách nhiệm trong học tập Từ đóhọc sinh hình thành được các năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự điềuchỉnh và tự đánh giá, đồng thời hình thành các giá trị cá nhân Khi học sinhtham gia vào một hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở lứa tuổi này, học sinhđược tham gia vào các hoạt động phục vụ cho cộng đồng, các hoạt động laođộng từ đó hình thành trong đầu học sinh các ý niệm, hay những sự hứng thúvới một ngành nghề nhất nhất Qua đó các em sẽ có ý thức rèn luyện, kếhoạch học tập để đáp ứng các nhu cầu của người lao động tương lai [2]
+ Mục tiêu ở trung học phổ thông
Ở giai đoạn THPT, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo hướng tới cho họcsinh được thể hiện mình, khẳng định mình nhưng vẫn phù hợp với các chuẩnmực đạo đức chung Đồng thời các hoạt động đó sẽ giúp học sinh thể hiệntình yêu quê hương, đất nước, thể hiện trách nhiệm của một người công dân thông qua các việc làm, hành động cụ thể để tham gia phục vụ cộng đồng Ởgiai đoạn này, học sinh có thể tự định hướng được nghề nghiệp cho bản thândựa trên nhu cầu của thị trường, sự hiểu biết của bản thân, sự hứng thú củamỗi cá nhân với một ngành nghề nào đó, từ đó xây dựng cho mình một kếhoạch riêng để phát triển và phù hợp với những sự thay đổi của xã hội Giaiđoạn này các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cũng tếp tục hoàn thiện cácphẩm chất năng lực chung của chương trình giáo dục [2]
Trang 231.1.2 Đặc điểm của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
1.1.2.1 Nội dung của hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang tính tích hợp và phân hóa cao
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được tiến hành trên nhiều lĩnh vực mangtính tích hợp và tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học như: giáo dụcđạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị sống, giáodục thẩm mĩ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục an toàn giaothông, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống ma túy, giáo dục phòngchống HIV/AIDS và tệ nạn xã hội, giáo dục các phẩm chất người lao động,
… Thông qua đó giúp cho các nội dung giáo dục trở nên thiết thực và gần gũi
với cuộc sống thực tế hơn, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh,giúp các em vận dụng vào trong thực tiễn cuộc sống một cách dễ dàng, thuậnlợi hơn [2]
Việc xây dựng nội dung cho hoạt động trải nghiệm sáng tạo được xâydựng trên tinh thần các chủ đề mở và tương đối độc lập với nhau Khi tiếnhành lựa chọn tổ hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệmsáng tạo cần dựa trên những điều kiện, lĩnh vực đời sống, kinh tế, văn hóa,khoa học, chính trị của từng địa phương, vùng miền để có thể thực hiện phùhợp và đạt hiệu quả
Chương trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo tập trung vào việc hìnhthành các phẩm chất nhân cách, kỹ năng sống những thói quen, ở giaiđoạn giáo dục cơ bản Thông qua việc tham gia các hoạt động, học sinh được
tự mình trải nghiệm, tham gia vào các hoạt động, các dự án học tập, cácchương trình tham quan, các trò chơi hay những chương trình thiệnnguyện Nhờ vậy mà mỗi học sinh được kích thích sự tích cực, tinh thần hamhọc hỏi, biết cách điều chỉnh bản thân sao cho phù hợp Qua đó, học sinhđược phát huy hết những thế mạnh của bản thân, được thể hiện mình, đượctham gia đóng góp ý kiến và tự mình trải nghiệm để tích lũy tư tưởng, tình
Trang 24cảm, nhân cách, kiến thức, kĩ năng, đồng thời phát hiện ra năng lực và sởtrường của bản thân, trở thành một người công dân có trách nhiệm và có cátính riêng biệt.
Ở giai đoạn tiếp theo là giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, cáchoạt động trải nghiệm sáng tạo nên được tổ chức gắn liền với việc lựa chọnngành nghề Giai đoạn này hình thức câu lạc bộ tổ chức các buổi đàm thoại,talk show được sử dụng phổ biến Tại đó học sinh được đánh giá về năng lực, được trao đổi nói lên tâm tư nguyện vọng, ngành nghề yêu thích Đồngthời học sinh cũng được tư vấn hướng nghiệp, lựa chọn định hướng nghềnghiệp sau này Giai đoạn này học sinh được trải nghiệm với các nhiềungành nghề khác nhau thông qua nhiều hình thức khác nhau, thể hiện tínhphân hóa và tự chọn cao
1.1.2.2 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thực hiện dưới nhiều hình thức
đa dạng
Có rất nhiều hình thức để tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo như:diễn kịch, sân khấu hóa, trò chơi, tham quan, cuộc thi, câu lạc bộ Với mỗihình thức đó đều chứa đựng một khả năng giáo dục nhất định Do vậy, việc tổchức hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể sử dụng nhiều hình thức tạo nên
sự tự nhiên, hấp dẫn trong hoạt động phù hợp với từng lứa tuổi học sinh Vớinhiều hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo nên trong quá trìnhlập kế hoạch tổ chức, giáo viên và học sinh được chủ động lựa chọn các hìnhthức, tạo nên sự hứng thú đối với mỗi cá nhân, từ đó phát huy được tối đa sựsáng tạo của mỗi con người [9]
1.1.2.3 Hoạt động trải nghiệm mang tính sáng tạo
Thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo, học sinh được tham gia vàotất cả các bước của quá trình hoạt động, qua đó thúc đẩy tinh thần sáng tạo, tựgiác của mỗi em Tại đây các em được tự do bày tỏ quan điểm của mình, đồngthời được lắng nghe những góp ý của mọi người cùng tham gia Vì vậy, hoạt
Trang 25động trải nghiệm sáng tạo tạo ra cho học sinh cơ hội được trải nghiệm, đượcđắm mình vào thực tiễn, cơ hội được thể hiện bản thân, được khẳng định vànói lên tiếng nói của mình Từ đó giúp phát huy tối đa sự sáng tạo ở sâu trongmỗi con người đồng thời hình thành và phát triển cho học sinh những giá trịsống và các năng lực cần thiết.
1.1.2.4 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo đòi hỏi sự phối hợp, liên kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo yêu cầu có những điều kiện để tổ chứcnhất định như về kinh phí, địa điểm tổ chức, trang thiết bị sử dụng, nên nó
có khả năng thu hút sự tham gia của nhiều lực lượng như cán bộ giáo viên nhàtrường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương, hội cựu chiến binh, đoànthanh niên, tổ chức, danh nghiệp, các nghệ nhân Các lực lượng này sẽ phốihợp với nhau để giúp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo đạt hiệu quả.Với mỗi lực lượng giáo dục sẽ mang trong mình những thế mạnh và tiềmnăng riêng biệt Khi tham gia vào các hoạt động trải nghiệm sáng tạo các emđược giao lưu tiếp xúc với nhiều lực lượng khác nhau, tạo ra cho các em cơhội thể hiểu biết thêm nhiều kiến thức mới không có trên sách vở Đồng thờicác em được giải đáp những thắc mắc từ những lĩnh vực khác nhau Qua đólàm tăng tính hấp dẫn, đa dạng và hiệu quả cho hoạt động trải nghiệm sángtạo
1.1.2.5 Học qua trải nghiệm giúp lĩnh hội những kinh nghiệm mà các hình thức học tập khác không thực hiện được
Có nhiều con đường khác nhau để lĩnh hội kiến thức như học qua sách
vở, báo chí, học qua thầy cô bạn bè, Tuy nhiên chỉ có học qua trải nghiệmmới lĩnh hội được những kinh nghiệm mà không hình thức học tập nào làmđược Ví dụ như việc học tập về cảm nhận mùi hương, học sinh phải đượcngửi mới biết mùi hương này như nào; hay học về cảm thụ âm nhạc, học sinhphải được nghe bản nhạc đó; học về mùi vị, học sinh phải được nếm chúng tất cả những điều đó chỉ có được khi được được tham gia trải nghiệm Khi
Trang 26được trải nghiệm càng nhiều, trải nghiệm ở càng nhiều lĩnh vực thì vốn kínthức, kinh nghiệm của học sinh tích lũy được càng đa dạng và phong phú Tất
cả những điều này chỉ có thể là trải nghiệm mang lại chứ không thể thông quamột định lý hay mệnh đề nào
Do đó, học từ trải nghiệm là hình thức học tập hiệu quả và có thể thựchiện được ở tất cả các lĩnh vực của cuộc sống Học qua trải nghiệm cần đượctiến hành theo một quy trình, tổ chức nhất định để đạt được kết quả tốt Hoạtđộng để giáo dục nhân cách cho học sinh chỉ có thể tổ chức qua trải nghiệm
1.1.3 Các hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Toán
1.1.3.1 Hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể được tổ chức dưới nhiều hình
thức đa dạng và phong phú như: trò chơi; câu lạc bộ; diễn đàn; tham quan
dã ngoại;sân khấu tương tác; hội thi, cuộc thi; tổ chức sự kiện, giao lưu; hoạt động chiến dịch; hoạt động nhân đạo; hoạt động tình nguyện; lao động công ích; sinh hoạt tập thể; hoạt động nghiên cứu khoa học, … Với mỗi hình thức sẽ đều có một ý nghĩa giáo dục riêng [9]
Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo khá đa dạng vàphong phú, phù hợp với tất cả các cấp học, môn học Tuy nhiên đối vớihoạt động dạy học môn Toán THPT chúng ta thường sử dụng các hìnhthức như câu lạc bộ, trò chơi, hoạt động nghiên cứu khoa học, diễn đàn.Đồng thời khi tổ chức các hoạt động ta phải xem xét tới tính phù hợp vớiđiều kiện của từng địa phương và vùng miền nhất định
• Câu lạc bộ
Đây là hình thức hoạt động được tạo ra nhằm tạo môi trường vui chơi,giải trí lành mạnh cho học sinh Hình thức này thường được áp dụng khá phổbiến ở các trường, là nơi để kết nối các học sinh có cùng đam mê, sở thích có
Trang 27cơ hội trao đổi, giao lưu với nhau Đồng thời trong câu lạc bộ sẽ có cả các thầy
cô và những người cùng am hiểu lĩnh vực đó tham gia Có rất nhiều mô hìnhcâu lạc bộ lập ra, mỗi câu lạc bộ sẽ có những mục tiêu phát triển riêng Cáccâu lạc bộ ta hay bắt gặp và nghe tới như câu lạc bộ thể thao, câu lạc bộ âmnhạc, câu lạc bộ Toán, Việc tham gia sinh hoạt các câu lạc bộ học sinh đượctham gia trên tinh thần tự nguyện, thống nhất lịch sinh hoạt định kì [15]
Khi tham gia câu lạc bộ học sinh được giao lưu, làm quen và trao đổi vớimọi người Thông qua đó không chỉ học sinh được chia sẻ những kiến thức,kinh nghiệm của bản thân mà còn được nhận lại, được tiếp thu thêm nhiềukiến thức, kinh nghiệm mới từ những người khác Từ đó, nâng cao được cáckiến thức, kỹ năng cần thiết cho bản thân Đồng thời thông qua câu lạc bộ, cácthầy cô, nhà giáo dục sẽ hiểu và phát hiện ra nhiều năng lực tiềm ẩn của họcsinh Qua đó có định hướng, giúp đỡ các em phát triển hơn nữa [15]
Riêng đối với môn Toán, khi tham gia các câu lạc bộ liên quan tới Toánhọc, học sinh được củng cố các kiến thức đã học và được biết thêm nhiều kiếnthức mới bên ngoài Qua đó, giúp học sinh bồi đắp thêm kinh nghiệm và tăng
sự hứng thú học tập với môn học này
•Trò chơi
Trò chơi là hình thức hoạt động mà hầu như học sinh nào cũng đều thíchthú, đây được coi là hình thức giải trí nhưng nếu biết lồng ghép và đưa nhữngnội dung dạy học vào thì trò chơi là một hoạt động có tác dụng giáo dục tíchcực Trò chơi giúp tạo hứng thú, lôi cuốn học sinh vào bài học, xua tan căngthẳng giúp học sinh lĩnh hội bài tốt hơn
Khi tham gia trò chơi, học sinh được phát huy tính sáng tạo, tính tíchcực, khả năng tư duy của mỗi cá nhân Đồng thời, khi tổ chức trò chơi sẽ tạođược bầu không khí vui vẻ, giúp học sinh dễ dàng lĩnh hội được kiến thứchơn Trò chơi có thể được tổ chức và sử dụng trong nhiều tình huống và điều
Trang 28kiện khác nhau, có thể tổ chức trong lớp học, ngoài lớp học với mỗi điềukiện nhất định ta sẽ đưa ra hình thức trò chơi phù hợp.
Hình thức trò chơi có rất nhiều chức năng xã hội như: chức năng giaotiếp, chức năng giải trí, chức năng văn hóa, chức năng giáo dục Chỉ khi nómang đầy đủ các chức năng của mình thì nó mới có ý nghĩa và tác dụng [15]
• Hoạt động nghiên cứu khoa học
Đây là hình thức hoạt động được tạo ra giúp cho học sinh được tham gianghiên cứu, quan sát, tìm hiểu, thí nghiệm dựa trên các số liệu thu thậpđược để tìm ra được quy luật chung của sự vật, hiện tượng, tìm ra những kiếnthức mới, những ứng dụng kỹ thuật mới hay những mô hình mới có tính ứngdụng và có ý nghĩa trong thực tiễn
Hoạt động nghiên cứu khoa học khơi dậy cho học sinh nhiều hứng thúhọc tập, nghiên cứu, giúp học sinh chủ động hơn trong việc học, rèn luyệnđược cách làm việc tự lực, phát huy khả năng tự học để trau dồi được kiếnthức Qua đó các thầy cô giáo và gia đình cũng sẽ hiểu được đam mê của họcsinh và có hướng tạo điều kiện giúp đỡ học sinh hoàn thành [15]
• Tổ chức diễn đàn
Đây là một hình thức được tổ chức để học sinh có thể bày có ý kiến,quan điểm của mình trước bạn bè, thầy cô, gia đình Hình thức này giúp họcsinh có thể được bày tỏ suy nghĩ, quan điểm cá nhân của mình trước một haymột số vấn đề, đồng thời đưa ra các những đề xuất, nguyên vọng của các em.Đồng thời thông qua hình thức này các em cũng học được cách lắng nghe vàhọc tập được từ các bạn
Hình thức tổ chức diễn đàn như là một sân chơi cho các em học sinh,giúp các em có cơ hội được thể hiện bản thân, được nói lên những suy nghĩ,quan điểm của mình Tại đó các em học sinh được khẳng định mình, nói lên
Trang 29những tâm tư nguyện vọng, hay những điều còn băn khoăn lo lắng và nhữngmong đợi của các em về thầy cô, bạn bè, gia đình Đồng thời thông qua hìnhthức này gia đình sẽ hiểu hơn về con, thầy cô hiểu hơn về học sinh, bạn bè sẽhiểu nhau hơn, từ đó về phái nhà trường cũng sẽ có thể nắm bắt được vấn đềcủa học sinh để có những biện pháp giáo dục và xây dựng chính sách phù hợphơn với các em học sinh [15].
1.1.3.2 Phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo coi trọng tính tự chủ của mỗi cá nhândựa trên tinh thần hoạt động tập thể, giúp phát triển sự sáng tạo và cá tínhriêng của mỗi cá nhân trong tập thể Đây là những hoạt động đòi hỏi các hìnhthức và phương pháp tổ chức đa dạng, linh hoạt, tại đó học sinh sẽ tự hoạtđộng và trải nghiệm là chính, giáo viên chỉ là người hỗ trợ
Có 4 phương pháp chính để tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo là:
- Phương pháp giải quyết vấn đề (GQVĐ),
• Phương pháp giải quyết vấn đề
Phương pháp GQVĐ là phương pháp dạy học mà giáo viên đưa ra nhữngtình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, từ đó chiếm lĩnhtri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được các mục đích học tập [13]
Trang 30Phương pháp giải GQVĐ giúp học sinh có cái nhìn toàn diện hơn trướcmỗi sự vật, hiện tượng không chỉ nảy sinh trong học tập mà còn cả thực tếcuộc sống Phương pháp này được sử dụng khi cần xem xét, nhìn nhận vấn
đề, đề xuất những giải pháp
Để tiến hành tốt phương pháp này giáo viên cần đưa ra vấn đề sát vớimục tiêu của hoạt động đồng thời kích thích học sinh tìm tòi giải quyết.Việc giải quyết cần coi trọng nguyên tắc tôn trọng và bình đẳng, khônggây căng thẳng cho học sinh Ta tiến hành thông qua quy trình 4 bước sau[13]
Bước 1 Nhận biết vấn đề
Vấn đề cần được trình bày rõ ràng thông qua câu hỏi hoặc tình huốngphù hợp yêu cầu, mục đích cần đạt
Bước 2 Tìm các cách giải quyết vấn đề
Trong bước này, học sinh cần liên hệ, kết nối những kiến thức đã họchay kinh nghiệm đã biết để đưa ra tối thiểu một phương án giải quyết, giáoviên khuyến khích học sinh đưa ra được càng nhiều cách giải quyết càng tốt
- Nếu có nhiều phương án được đưa ra thì cần hệ thống hoá các phương án
- Nếu không đưa ra được phương án nào thì cần quay trở lại bước 1 đểnhận biết lại vấn đề
Bước 3 Lựa chọn phương án giải quyết và thực hiện
Từ hệ thống các phương án được đưa ra ở bước 2, học sinh cần so sánh,đánh giá lựa chọn phương án nào là tối ưu Nếu phương án được lựa chọn làchưa chính xác thì cần đánh giá lại các phương án ở bước 2 Nếu phương
án đã chọn là phù hợp, tức là vấn đề đã được giải quyết Trong trường hợp cónhiều phương án có mức độ phù hợp như nhau thì chúng ta sẽ thực hiện từngphương án một và xem xét kết quả sau khi thực hiện mỗi phương án
Trang 31Tùy theo mức độ độc lập của học sinh trong quá trình giải quyết vấn đề,chúng ta đề cập đến các cấp độ khác nhau khi dạy học theo phương pháp giảiquyết vấn đề.
(1) Tự nghiên cứu vấn đề
Đây là cấp độ mà tính độc lập của học sinh được phát huy cao nhất Họcsinh là người chủ động phát hiện và giải quyết vấn đề và thực hiện tất cả cáckhâu cơ bản của quá trình nghiên cứu Tuy nhiên giáo viên có thể giúp họctrò ở khâu phát hiện vấn đề
(2) Tìm tòi từng phần
Trong cách tổ chức này, học sinh giải quyết vấn đề không hoàn toànđộc lập mà là có sự gợi ý dẫn dắt của thầy khi cần thiết Giáo viên sẽ đưa ranhững câu hỏi, học sinh sẽ trả lời các câu hỏi gợi mở đó và sau đó kết nốichúng lại với nhau
Với hình thức này, ta nhận thấy dạy học giải quyết vấn đề có thể tiếnhành theo phương pháp đàm thoại hoặc tổ chức tự nghiên cứu sau đó báo cáolại Nét quan trọng của dạy học giải quyết vấn đề là tình huống có vấn đềchứ không phải là câu hỏi Trong một giờ học, giáo viên đặt nhiều câu hỏi
Trang 32nhằm mục đích tái hiện kiến thức thì đó không phải là dạy học nêu vấn đề.Ngược lại, trong một số trường hợp, học sinh tự giải quyết vấn đề đượcđặt ra mà không cần nhờ tới sự dẫn dắt, gợi ý của giáo viên.
(3) Trình bày giải quyết vấn đề
Mức độ độc lập của học sinh ở hình thức này thấp hơn so với hai hìnhthức trên Ở hình thức này giáo viên là người đưa ra tình huống có vấn đề,đồng thời cũng là người lần lượt giúp giải quyết vấn đề lớn bằng cách đặt racác vấn đề nhỏ hơn Như vậy, kiến thức được trình bày không phải dướidạng có sẵn mà chúng được khám phá ra bằng cách mô phỏng và rút ngắnquá trình khám phá thực
Đây là phương pháp có ý nghĩa lớn đối với học sinh vì:
- Phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, sáng tạo, năng động, ý thức tráchnhiệm của mỗi học sinh, tạo cơ hội cho các em tự thể hiện, tự khẳng địnhmình
- Hình thành ở học sinh các phẩm chất nhân cách và nhiều kĩ năng cần thiếtnhư: kĩ năng tổ chức, quản lí; kĩ năng giải quyết vấn đề; kĩ năng hợp tác; kĩnăng giao tiếp; tinh thần đồng đội;…
Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp làm việc nhóm
Thiết kế các Yêu cầu học sinh chia sẻ tài liệu
Trang 33Phân công các vai trò hỗ trợ để thực hiện một nhiệm vụchung
Người đánh giáTạo những
Điều tiết sự đi lại của học sinh xung quanh lớp học
Phân công nhiệm
Đánh giá mức độ tham gia của mỗi cá nhân đối vớicông việc của nhóm
Sử dụng nhiều Hình thành nhóm theo nhiệm vụ
Trang 34cách sắp xếp
nhóm làm việc
khác nhau
Hình thành nhóm học tập ngẫu nhiênPhân chia nhóm theo bàn hoặc tổHọc sinh tự chọn nhóm
Xếp nhóm theo giới tính, theo khả năng làm việc, …
Bước 3 Đánh giá hoạt động: các thành viên lần lượtđánh giá, nhóm nhận định và thống nhất về kếtquả,
Tóm lại, chúng ta học từ trải nghiệm và thực tế cho thấy chúng ta
không có cách học nào khác cả Do đó, các phương pháp, hình thức trảinghiệm để thu nhận kiến thức là vô cùng đa dạng, có thể xảy ra ở ngoài trờihay trong lớp, ngoài giờ học cũng như trong giờ học Vì vậy, chúng ta cóthể thu hẹp hay mở rộng các hoạt động để phù hợp với mỗi chủ đề sao chongười học có niềm tin rằng tôi có thể học và phát triển từ các kinh nghiệmsống của mình
1.1.4 Đánh giá hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Nội dung đánh giá
Nội dung đánh giá hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần cụ thể, có tiêuchí rõ ràng Việc đánh giá được thể hiện ở hai cấp độ: cá nhân và tập thể lớp
* Đánh giá cá nhân
- Đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh về nội dung các hoạt động
- Đánh giá trình độ đạt được các kĩ năng sau khi tham gia hoạt động
Trang 35- Đánh giá về thái độ, tình cảm của học sinh đối với hoạt động trải nghiệmsáng tạo
* Đánh giá tập thể lớp
- Số lượng học sinh tham gia
- Các sản phẩm hoạt động
- Ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên
- Tinh thần hợp tác trong khi tham gia hoạt động
- Kĩ năng hợp tác của học sinh trong hoạt động
Hình thức đánh giá [16]
Chương trình giáo dục phổ thông giúp học sinh hình thành và phát nhữngphẩm chất chủ yếu như: Sống yêu thương; Sống tự chủ; Sống trách nhiệm.Đồng thời giúp hình thành và phát triển cho học sinh những năng lực chungchủ yếu như: Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, năng lực thẩm mỹ,năng lực giao tiếp, năng lực tính toán, năng lực hợp tác, năng lực thể chất,năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT)
Ngoài ra hoạt động trải nghiệm sáng tạo con thúc đẩy người học hình thànhmột số năng lực đặc thù sau:
- Năng lực hoạt động và tổ chức hoạt động
- Năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống
- Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân
- Năng lực định hướng nghề nghiệp
- Năng lực khám phá và sáng tạo
Trang 36Do đó, hoạt động trải nghiệm sáng tạo cần sử dụng nhiều hình thức đánhgiá, nhiều bộ công cụ đánh giá, trong đó chú ý việc coi trọng nhận xét quátrình tiến bộ về nhiều mặt khác nhau của học sinh.
* Một số công cụ sử dụng đánh giá
Công cụ ghi chép
Giáo viên sẽ ghi lại những hành động thường nhật của học sinhhoặc những thái độ, hành vi được biểu hiện trong môi trường học cũngnhư trong quá trình hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Công cụ bảng kiểm
Giáo viên chuẩn bị sẵn bảng hỏi về những hành vi dự định quan sáthọc sinh trong giờ hoạt động trải nghiệm sáng tạo, trong quá trình quansát sẽ đánh dấu vào những nội dung ứng với biểu hiện, hành vi nhằmđánh giá khuynh hướng hoạt động của học sinh đó
Công cụ đánh giá theo cấp độ
Công cụ này sử dụng để đặt hệ thống câu hỏi và câu trả lời theo các cấp
độ quy ước trong hoạt động hay các đặc tính, yếu tố mà ta định quan sát
Công cụ khảo sát về suy nghĩ, thái độ của học sinh
Công cụ này thường sử dụng để tìm hiểu về thái độ tham gia, mức
độ quan tâm, động cơ, hứng thú… khi tham gia hoạt động trải nghiệm sángtạo của học sinh
Công cụ tự đánh giá
Công cụ được sử dụng để tự đánh giá, tự kiểm điểm và nhìn nhậnlại năng lực, thái độ hành vi được biểu hiện trong quá trình hoạt động trảinghiệm sáng tạo
Công cụ đánh giá đồng đẳng
Trang 37Giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi theo các tiêu chuẩn về thái độ vàhành động mà học sinh cần đạt được trong hoạt động trải nghiệm sángtạo, sau đó thì học sinh sẽ tìm ra và đánh giá xem bạn nào đạt được các tiêuchuẩn ấy.
Đánh giá sản phẩm
Đây là phương pháp truyền thống thường được áp dụng để đánh giásản phẩm làm được của cá nhân học sinh hoặc một nhóm học sinh Khi sửdụng hình thức này cần lưu ý không đánh giá mức độ đạt được hay chấtlượng của sản phẩm thời điểm đó mà cần xem xét, đối chiếu với mức độđạt được trước đây của học sinh để nhận định sự thay đổi, phát triển củahọc sinh đó
Hội ý giáo viên
Có thể sử dụng hình thức này trước khi hoạt động, trong quá trìnhhoạt động hoặc sau khi hoạt động trải nghiệm sáng tạo diễn ra giáoviên sẽ trao đổi thông tin về phương pháp và nội dung chỉ đạo cho từngloại hình hoạt động, sau khi kết thúc hoạt động sẽ cùng đánh giá kết quảthực hiện của học sinh
Quy trình đánh giá
* Yêu cầu của quy trình đánh giá
- Đảm bảo tính khách quan trong quy trình đánh giá
- Đảm bảo tính hệ thống của quy trình đánh giá
Trang 38- Bước 2 Nhóm học sinh đánh giá
- Bước 3 Giáo viên đánh giá xếp loại
Tiêu chí đánh giá
* Các tiêu chí đánh giá trải nghiệm
- Học sinh được trực tiếp tham gia vào các loại hình hoạt động trải nghiệmsáng tạo
- Học sinh được trải nghiệm tất cả các giác quan
- Học sinh được hoạt động, tương tác trực tiếp với đối tượng
- Học sinh được trải nghiệm cả trên lớp và hoạt động thực tiễn bên ngoàilớp học
* Các tiêu chí đánh giá sự sáng tạo của học sinh
- Tính độc đáo: Sản phẩm của học sinh thể hiện tính chất hiếm, lạ về ýnghĩa, chức năng sử dụng, tính chất, vai trò, vị trí của nó đối với vấn đềđặt ra
- Tính thành thục: Số lượng ý tưởng, ý kiến hay phương án được đưa ravới mỗi nhiệm vụ mà học sinh thực hiện khi tham gia hoạt động học tập
- Tính hiệu quả: Số lượng ý tưởng, phương án hay sản phẩm được ghinhận
Trang 391.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng dạy và học Tổ hợp- xác suất ở trường phổ thông
Chủ đề Tổ hợp - xác suất trong chương trình Toán được đưa vào trongsách Đại số và giải tích 11 Nội dung của phần này học sinh được giới thiệu
về quy tắc cộng, quy tắc nhân, tổ hợp, chỉnh hợp, nhị thức New-tơn, các quytắc tính xác suất Ta nhận thấy rằng nội dung này là một nội dung chiếm một
vị trí khá quan trọng và cũng có nhiều ứng dụng trong thực tiễn Đây là mộtnội dung khó và xuất hiện trong các đề thi đại học, tốt nghiệp THPT Do vậyhọc sinh không chỉ học trên lớp mà còn phải chủ động tìm hiểu thêm từ cáckiến thức bên ngoài để trau dồi thêm vốn kiến thức của mình Muốn vậy,người dạy phải gây được hứng thú tìm tòi, học hỏi cho học sinh để học sinh
1.2.2 Thực trạng của việc tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Tổ hợp- xác suất
Chúng ta đều biết quá trình dạy học là một thể thống nhất giữa giáoviên và học sinh Trong đó giáo viên giữ vai trò hướng dẫn, định hướng chohọc sinh để học sinh tự lĩnh hội kiến thức và phát triển bản thân Hoạt độngtrải nghiệm sáng tạo là hoạt động không chỉ đơn thuần là truyền đạt và lĩnhhội kiến thức nữa mà nó còn có trải nghiệm, trải nghiệm để học sinh tự rút ranhững bài học cho bản thân từ những kinh nghiệm thực tế có được Khi thamgia hoạt động thì học sinh được hòa mình vào hoạt động tập thể, động não đểphát huy hết sự sáng tạo của bản thân
Trang 40Hiện nay, hoạt động trải nghiệm sáng tạo đang được nhiều nhà trườngphổ thông đưa vào chương trình giáo dục Tuy nhiên, tùy điều kiện của từngkhu vực, vùng miền mà hoạt động trải nghiệm sáng tạo được diễn ra với cáchình thức khác nhau Trong chương trình môn Toán 11 có nội dung Tổ hợp-xác suất được xem là một nội dung khó trong chương trình, nhưng hầu nhưhọc sinh lại đang được dạy học theo lối truyền thống mà chưa được trảinghiệm để khắc sâu hơn kiến thức và khơi gợi sự hứng thú Đặc thù môn Toáncũng là một môn học có phần khô khan nên việc tổ chức hoạt động trảinghiệm sáng tạo cũng tương đối khó Riêng đối với nội dung Tổ hợp – xácsuất các trường còn chưa tổ chức được nhiều các hoạt động cho học sinh, họcsinh chưa được tổ chức nhiều hoạt động để khám phá, tìm tòi và mở rộng vốnkiến thức của bản thân.